Chương 5: AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG CHÁY
5.7. Các phương pháp chữa cháy
Trong thực tế các phương pháp chữa cháy không chỉ dựa trên một phương pháp dập tắt đám cháy mà kết hợp nhiều phương pháp. Có như vậy mới dập tắt đám cháy nhanh
chóng và đem lại hiệu quả cao. Mỗi một dụng cụ hoặc chất chữa cháy có một hoặc nhiều tác dụng của nó như bạt chữa cháy dùng để cách ly vật cháy với không khí ở trong phạm vi hẹp. Bọt hoá học, khí CO2…dùng để chữa cháy, một mặt có tác dụng làm lạnh đám cháy, mặt khác, nó còn có tác dụng ngăn cách oxy của không khí với vật cháy làm cho vật cháy lạnh đi và tắt lửa. Bột hoá học hoà không khí dùng để chữa các chất lỏng bị cháy, nhưng vẫn phải làm lạnh vật cháy bằng nước liên tục thì bọt mới không bị phá huỷ và đạt hiệu quả chữa cháy cao vv…
Ngoài phương pháp chữa cháy chung, trong công tác chữa cháy còn có chiến thuật dập tắt đám cháy. Chiến thuật chữa cháy là một biện pháp chữa một đám cháy cụ thể để đạt hiệu quả cao. Trong chiến thuật chữa cháy có chiến thuật bao vây tiêu diệt từng điểm cháy tới tiêu diệt toàn bộ đám cháy. Việc áp dụng chiến thuật chữa cháy nào thích hợp phải căn cứ vào đặc điểm của đám cháy, con người, phương tiện, dụng cụ chữa cháy có hiệu quả để quyết định cứu chữa.
5.7.2. Chữa cháy ở khu vực sinh hoạt
- Xử lý thật nhanh đối với những vụ cháy lớn.
- Khói có thể tràn ngập khu vực sinh hoạt nên cần phải trang bị các thiết bị hô hấp.
- Nên phun nước thành dạng sương. Các chất bắt cháy trong khu vực sinh hoạt thường là các chất bắt cháy loại A (gỗ, vải sợi…).
- Ngừng ngay các quạt thông gió, đóng các cửa chắn lửa.
- Cắt cầu dao điện, không dùng nước để chữa lửa điện mà phải dùng các bình chữa cháy bằng hoá học.
5.7.3. Cháy trong buồng máy
Buồng máy là nơi hay xảy ra những nguy hiểm, rủi ro hơn các khu vực khác.
Nguyên nhân cháy có thể là do điện, nhưng các vụ tai nạn cháy xảy ra ở buồng máy phần lớn là do dầu chứa ở trong các két nhiên liệu và thường gây ra cháy nghiêm trọng hơn.
Người thợ máy trực ca khi phát hiện thấy cháy trong buồng máy trước hết phải cố gắng dập lửa. Nếu có người nào đó ở bên cạnh thì phải yêu cầu người đó phát tín hiệu báo động khẩn cấp toàn tàu. Nếu không có ai xung quanh thì phải đặt thiết bị cứu hoả ở vị trí có thể phun chất chống cháy vào đám cháy và tự mình phát tín hiệu báo động và báo cáo về sự cố xảy ra, sau đó quay trở lại khu vực cháy và tiếp tục chữa cháy cho đến khi có người đến tiếp viện.
Cán bộ thuyền có trách nhiệm có thể cần thiết phải vào buồng máy để đánh giá tình hình và phải:
- Tổ chức cung cấp thêm thiết bị và chất chữa cháy đến khu vực bị ảnh hưởng của cháy.
- Thực hiện các biện pháp ngăn chặn cháy lan truyền ra ngoài khu vực các khoang máy móc thiết bị.
- Cứu chữa người bị thương.
- Giữ liên lạc với thuyền trưởng để thông báo tình hình xảy ra bằng máy phát cầm tay (nếu có).
- Khi cần thiết, dưới sự chỉ huy của máy trưởng, thợ máy phải khởi động máy đèn sự cố, phun nước làm lạnh các vách của buồng máy và di chuyển các chất dễ cháy, nổ ra khỏi khu vực gần đám cháy.
- Trên tàu có hệ thống chữa cháy cố định bằng khí CO2 thì khi chữa cháy cần phải cho ngừng hoạt động của các quạt thông gió và đóng kín các cửa ở buồng máy. Có thể đợi một vài phút để thực hiện các công việc này rồi mới cho phun khí vào buồng máy.
Thuyền trưởng phải đảm bảo các khu vực trong buồng máy đều được đóng kín so với phía bên ngoài và tạo ra các tình thế trên biển có lợi nhất để sơ tán những người không cần thiết.
Nếu trên tàu có lắp đặt hệ thống chữa cháy bằng bọt ở các khu vực mà khả năng xảy ra nguy hiểm cao thì phải sử dụng thiết bị này với thời gian tối đa để đảm bảo được hiệu quả của nó.
5.7.4. Xác định tổn thất sau sự cố cháy
Cháy theo quan điểm của người bảo hiểm là tai nạn do lửa gây ra nhưng phải nghiêm trọng tới mức làm gián đoạn công việc của tàu, kể cả trường hợp cháy ngầm (không phát ánh sáng lửa) hoặc cháy không tìm ra nguyên nhân cũng như do sơ suất của thuyền viên đều thuộc phạm vi bồi thường của bảo hiểm.
Theo thông lệ, người bảo hiểm sẽ không bồi thường các hàng hoá tự cháy khi họ chứng minh được hàng hoá xếp lên tàu trong tình trạng không phù hợp. Tuy nhiên, những hàng hoá khác bị tổn hại do cháy thì được bảo hiểm bồi thường hàng bị cháy lan.
Trường hợp cháy hàng hoá được khống chế và dập tắt kịp thời, nghĩa là không có hành động không bình thường như ghé vào cảng lánh nạn, vứt hàng xuống biển… thì đây là tổn thất riêng của hàng hoá.
Trường hợp cháy dẫn đến tổn thất chung, cháy đến mức độ phải hành động không bình thường như vứt hàng xuống biển, bơm nước cứu hoả làm hư hại hàng hoá một cách nghiêm trọng thì thuyền trưởng phải đặc biệt chú ý đến việc đánh giá tổn thất của các chuyên viên giám định. Nếu sự đánh giá của chuyên viên giám định quá chung chung thì việc phân bố
tổn thất chung không thể thực hiện được, lúc này thuyền trưởng phải buộc tuyên bố tổn thất chung (nộp kháng tố hàng hải) và xử lý theo tổn thất chung.
Khi xảy ra cháy, thuyền trưởng phải làm báo cáo cho chủ tàu và xin ý kiến chỉ dẫn nếu cần thiết trong việc bồi thường tổn thất.