Ca dao Việt Nam là tấm gương phản chiếu chân thật nhất về thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam. Ca dao gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi người con đất Việt từ thuở ban sơ đến thời hiện đại. Ca dao là kho tàng tri thức vô hạn về lối sống và nếp nghĩ của nhân dân ta từ ngàn xưa. Từ ca dao, ta có thể tìm đến những chân trời mới lạ, nhìn thấy được quá khứ của ông cha. Ca dao đã vận dụng mọi khả năng của ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách đầy đủ và chính xác cuộc sống sinh hoạt cũng như những tâm tư nguyện vọng của nhân dân ta. Sẽ không quá lời khi nói rằng muốn hiểu được những đặc điểm, tâm lý, sở trường, sở đoản, ước mơ và khát vọng của người Việt Nam không gì bằng đi từ ca dao. Nếu nói rằng dân tộc Việt Nam có những nét văn hóa rất riêng, không thể pha lẫn với bất kì dân tộc nào khác trên thế giới thì việc nghiên cứu ca dao sẽ đóng góp những luận cứ thuyết phục để chứng minh cho luận điểm này. Ca dao là một ngôn ngữ rất đặc trưng, ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thuần Việt. Đi vào nghiên cứu ca dao theo hướng tiếp cận thi pháp giúp ta thấy được những nét riêng, mà đằng sau đó là một nổ lực, một niềm tự hào mãnh liệt trong việc giữ gìn và phát huy những gì được cho là “hồn” dân tộc của ông cha ta. Tin rằng, nghiên cứu ca dao theo hướng tiếp cận thi pháp sẽ cho phép ta thấy được cách thể hiện độc đáo và sâu sắc về đời sống tinh thần của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Xa hơn là thấy được nét văn hóa dân gian Việt Nam từ trong lời ca dao mộc mạc mà chân tình. Xuất phát từ những lí do trên, ở bài tiểu luận cuối kì môn Văn hóa dân gian Việt Nam tôi chọn đề tài “Đặc điểm thi pháp của ca dao dân gian Việt Nam”. Chọn nghiên cứu ca dao dân gian Việt Nam theo hướng tiếp cận thi pháp nhằm mục đích tìm hiểu những đặc tính nghệ thuật, phong cách và cấu trúc của ca dao dân gian Việt Nam. Để thấy được cái mới mẻ, sáng tạo và sự nổ lực của cha ông trong việc giữ gìn tiếng nói và bản sắc dân tộc, đi tìm những giá trị ẩn trong những câu ca dao mộc mạc, để từ đó có được những nhận thức và định hướng cơ bản trong vấn đề bảo tồn và phát triển ca dao dân gian Việt Nam.
Trang 1*
* * ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA
CA DAO DÂN GIAN VIỆT NAM
Trang 2
MỤC LỤC
TỔNG QUAN 1
NỘI DUNG 2
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 2
1 Các khái niệm của đề tài……… ………2
2 Việc nghiên cứu thi pháp ca dao dân gian ở nước ta……… 3
3 Phạm vi khảo sát của đề tài……… 4
Chương II: Thể thơ……….……… 4
1 Thể lục bát………4
2 Thể song thất lục bát………7
3 Thể song thất và thể hỗn hợp……… 8
Chương III: Các dạng kết cấu của ca dao……… ………11
1 Kết cấu một vế đơn giản………11
2 Kết cấu một vế có phần vần……… …11
3 Kết cấu hai vế tương hợp……… ………….12
4 Kết cấu hai vế đối lập……….…13
5 Kết cấu nhiều vế nối tiếp………13
Chương IV: Thời gian và không gian nghệ thuật……… 14
1 Khái quát chung……….14
2 Thời gian nghệ thuật……… 15
3 Không gian nghệ thuật……… 18
Chương V: Một số biểu tượng, hình ảnh thường gặp trong ca dao……… 20
1 Cây trúc, cây mai……… 20
2 Con cò………22
3 Hoa nhài (hoa lài)……… 23
KẾT LUẬN……… ……….25
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… ………26
Trang 3Nếu nói rằng dân tộc Việt Nam có những nét văn hóa rất riêng, không thể pha lẫn với bất kì dân tộc nào khác trên thế giới thì việc nghiên cứu ca dao sẽ đóng góp những luận cứ thuyết phục để chứng minh cho luận điểm này Ca dao là một ngôn ngữ rất đặc trưng, ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thuần Việt Đi vào nghiên cứu ca dao theo hướng tiếp cận thi pháp giúp ta thấy được những nét riêng, mà đằng sau đó là một nổ lực, một niềm tự hào mãnh liệt trong việc giữ gìn và phát huy những gì được cho là “hồn” dân tộc của ông cha ta Tin rằng, nghiên cứu ca dao theo hướng tiếp cận thi pháp sẽ cho phép ta thấy được cách thể hiện độc đáo và sâu sắc về đời sống tinh thần của con người Việt Nam qua bao thế hệ Xa hơn là thấy được nét văn hóa dân gian Việt Nam từ trong lời ca dao mộc mạc mà chân tình
Xuất phát từ những lí do trên, ở bài tiểu luận cuối kì môn Văn hóa dân gian Việt Nam tôi chọn đề tài “Đặc điểm thi pháp của ca dao dân gian Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Chọn nghiên cứu ca dao dân gian Việt Nam theo hướng tiếp cận thi pháp nhằm mục đích tìm hiểu những đặc tính nghệ thuật, phong cách và cấu trúc của ca dao dân gian Việt Nam Để thấy được cái mới mẻ, sáng tạo và sự nổ lực của cha ông trong việc giữ gìn tiếng nói và bản sắc dân tộc, đi tìm những giá trị ẩn trong những câu ca dao mộc mạc, để từ đó có được những nhận thức và định hướng cơ bản trong vấn đề bảo tồn và phát triển ca dao dân gian Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc tính nghệ thuật, phong cách và cấu trúc của ca dao dân gian Việt Nam
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên kiến thức liên ngành của các ngành: Xã hội học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Lịch sử học, Dân tộc học Sử dụng và phối hợp các phương pháp: phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích ngôn ngữ học, phương pháp so sánh Kết hợp với các công cụ nghiên cứu như sưu tầm, tổng hợp, phân tích tài liệu
5 Dự kiến kết quả sau khi nghiên cứu
Dự kiến sau khi nghiên cứu đề tài Đặc trưng thi pháp của ca dao dân gian Việt Nam
người nghiên cứu sẽ nắm được những đặc tính nghệ thuật, phong cách và cấu trúc, có được những nhận thức và định hướng cơ bản trong vấn đề bảo tồn và phát triển ca dao dân gian Việt Nam
NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1 Các khái niệm của đề tài
1.1 Thi pháp
Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm hình thức nghệ thuật sáng tác, diễn xướng dân gian của tập thể nhân dân, phản ánh bằng ngôn từ giới hạn trong những khuôn mẫu định sẵn mang phong cách dân tộc, khu vực và địa phương nhất định
Theo Nguyễn Xuân Kính, “Ngày nay, chúng ta hiểu thi pháp là tổ hợp những đặc
tính thẩm mĩ – nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng” (Nguyễn Xuân Kính, 2006: 14)
1.2 Ca dao
Về cơ bản, có thể hiểu ca dao là lời ca tiếng hát của người bình dân, được truyền miệng và không theo một điệu nhất định Ca dao thường được sáng tác theo ngẫu hứng,
ý thế nào thì thể hiện như thế ấy
Theo Nguyễn Ngọc Hỗ “Ca dao là danh từ kép ở chữ Hán mà ra, ca có nghĩa là
bài hát như ca xướng, dao là câu hát ngắn không thành chương, không thành khúc
Trang 5Như vậy ca dao là bài hát ngắn không có chương khúc rõ ràng, cảm hứng ra thế nào thì nói ra thế ấy và lưu hành truyền khẩu trong dân gian.” (Nguyễn Ngọc Hỗ, 1960:13)
Vũ Ngọc Phan lại cho rằng “Theo định nghĩa về hình thức của ca dao thì câu thành
khúc điệu gọi là ca, không thành khúc điệu gọi là dao Như vậy, ở ca dao có bài đã thành khúc điệu và có bài chưa thành khúc điệu” (Vũ Ngọc Phan, 2005: 29)
2 Việc nghiên cứu thi pháp ca dao dân gian ở nước ta
Ở Việt Nam, trước và sau những năm 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu thi pháp có nhiều thay đổi cả về chất và lượng
Trước những năm 80, việc nghiên cứu thi pháp đặc biệt là thi pháp văn học dân gian
ở Việt Nam chưa được tiến hành một cách có hệ thống Đặc biệt, thi pháp ca dao nói riêng và thi pháp văn học dân gian nói chung là một khái niệm được hình thành muộn khiến nhiều người không tránh khỏi nhầm lẫn rằng ca dao chỉ là sự ngẫu hứng xuất phát
từ cuộc sống của người bình dân do đó không có thi pháp
Từ sau những năm 80, đã có nhiều cuốn sách viết về thi pháp xuất hiện ở Việt Nam: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp (1997) của Nguyễn Thái Hòa, Phong cách và thi pháp trong nghệ thuật cải lương (1995) của Hà Văn Cầu, Những vấn đề thi pháp văn học dân gian (2003) của Nguyễn Xuân Đức, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999) của Trần Đình Sử, Về thi pháp ca dao có tác phẩm Thi pháp ca dao (2006) của Nguyễn Xuân Kính đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu các đặc điểm của thi pháp ca dao ở nước ta
Trải qua thời gian, bên cạnh sự biến thiên của dòng văn học viết, từ thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi, thơ chữ Nôm, đến phong trào thơ mới, thơ ca lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 hay tiểu thuyết lãng mạn theo khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật rồi đến thơ ca cách mạng, văn học thời hậu chiến… ca dao dân gian vẫn tồn tại cùng thời gian Những câu hát quen thuộc vẫn được truyền từ đời này sang đời khác, vẫn đều đặn cất lên dưới rặng tre làng sau mỗi buổi làm đồng, nơi cây đa, bến nước, giếng làng trong những đêm trăng sáng Do trải qua thời gian và không gian khác nhau nên đôi khi
ở ca dao xuất hiện dị bản để phù hợp với hoàn cảnh
Thật may mắn nếu được sinh ra ở nông thôn, nơi những câu ca dao được cất lên từ lời ru của mẹ, lời răng dạy của cha hay những câu chuyện bà kể Trẻ em thành thị và cả người lớn dần trở nên xa lạ với những câu ca dao thấm đượm hồn quê Cần có những biện pháp để người trẻ ngày nay biết nhiều đến ca dao dân gian như lồng ghép nhiều hơn các bài học về ca dao vào chương trình học, cần có thêm nhiều nguồn tàiliệu, sách
vở viết về ca dao, có những buổi ngoại khóa về ca dao Đặc biệt là tổ chức những
Trang 6chương trình giải trí có nội dung liên quan đến ca dao, để ca dao đi vào đời sống của người trẻ như nó đã từng chứ không phải là việc học một cách gượng ép
3 Phạm vi khảo sát của đề tài
Bài tiểu luận này chọn khảo sát đặc điểm thi pháp ca dao dân gian Việt Nam qua các câu ca dao trong các quyển: Tuyển chọn ca dao Việt Nam (2007) của NXB Văn hóa – Dân tộc do Minh Thư tuyển chọn, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (2005) của Vũ Ngọc Phan và Thi pháp ca dao (2006) của Nguyễn Xuân Kính
Chương II: Thể thơ
Cơm ăn một bát sao no,
Kẻ về người ở, sao cho đành lòng
Về nhịp điệu, các nhịp chẵn 2/2/2 (câu 6) và 2/4/2, 4/4 (câu 8) thường dùng để diễn
tả những tình cảm yêu thương, buồn đau:
Chờ chờ,/ đợi đợi,/ trông trông Bao nhiêu chờ đợi,/ mặn nồng bấy nhiêu
Yêu nhau/ trao một miếng trầu, Giấu thầy giấu mẹ,/ đưa sau bóng đèn
Trang 7Các nhịp lẻ 3/3, 1/5 (câu 6) thường dùng để diễn tả những sự trắc trở, thay đổi đột ngột, mạnh mẽ (đây là một dạng của lục bát biến thể):
Chồng gì anh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
Tiếc/ nồi cơm trắng để ôi, Tiếc con người lịch mà soi gương mờ
Về vần, các cách gieo vần điển hình của thể lục bát là:
1 Tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát, tiếng thứ tám của câu bát phải vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp:
Muốn / cho / biển / hẹp / như / ao (bằng) (trắc) (bằng)
(vần)
Bắc / cầu / đòn / gánh / mà / trao / nhân / tình
(bằng) (trắc) (bằng) (bằng)
(vần) (vần)
2 Tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ tư của câu bát
Vắn / tay / với / chẳng / tới / kèo (trắc) (bằng)
(vần)
Cha / mẹ / anh / nghèo, / cưới / chẳng / đặng / em (bằng) (trắc) (bằng) (vần) (vần)
1.2 Hiện tượng lục bát biến thể trong ca dao
Theo Mai Ngọc Chừ “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao
có hình thức lục bát nhưng không khít khịt “trên sáu dưới tám” mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng).” (Mai Ngọc Chừ, 1989: 16)
Lục bát biến thể có ba loại:
- Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:
Trang 8Cầm vàng ném xuống vực sâu, (6 tiếng) Mất vàng không tiếc, tiếc mắt bồ câu hữu tình (10 tiếng)
Ngọc còn ẩn bóng cay ngâu, (6 tiếng)
Em đang tùng phụ mẫu dám đâu tự tình (9 tiếng)
- Dòng bát giữ nguyên, dòng lục thay đổi:
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì (7 tiếng) Giàu ăn, khó chịu lo gì mà lo (8 tiếng)
Chồng chung, chồng chạ (4 tiếng)
Ai khéo hầu hạ, thì được chồng riêng (8 tiếng)
- Cả dòng lục và dòng bát đều thay đổi:
Chân trời lính mộ chàng ra đi, (7 tiếng)
Lo chàng lao khổ, chớ sá gì mẹ con tôi (10 tiếng)
Ơn cha như biển, nghĩa mẹ như trời (8 tiếng) Thương mừng ghét sợ, không dám trao lời thở than (10 tiếng)
Theo Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình về hiện tượng biến thể trong ca dao, có thể giải thích từ các nguyên nhân: thứ nhất, ca dao biến thể xuất hiện trong giai đoạn thể lục bát chưa thự định hình Thứ hai, biến thể xuất hiện do việc đem thể lục bát phục vụ cho diễn xướng Thứ ba, biến thể có thể được xuất hiện từ chủ ý của người sáng tác nhầm mục đích thể hiện một tâm tư, tình cảm, sự việc nào đó
Đôi ta nghĩa nặng tình dày (6 tiếng)
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa (13 tiếng)
Vô duyên vô phúc múc phải anh chồng già (9 tiếng)
Ra đường người hỏi rằng: Cha hay chồng? (8 tiếng)
Nói ra đau đớn trong lòng (6 tiếng)
Ấy cái nợ truyền kiếp chứ có phải chồng em đâu… (11 tiếng)
Giấy trắng mực đen (4 tiếng) Duyên ai phận nấy, chớ ghen mà già (8 tiếng)
Trang 9Lục bát biến thể có thể được sử dụng để diễn đạt sự trùng điệp, cách trở qua đó khẳng định quyết tâm vượt mọi khó khăn để tìm đến tình yêu, hạnh phúc Ngoài ra việc kéo dài câu một cách bất thường hay những câu ngắn đột ngột còn nhầm dụng ý nhấn mạnh sự đay nghiến, chì chiết, cũng có thể là để chiếm thế chủ động trong các cuộc tranh luận, đôi khi lục bát biến thể còn được dùng để biểu thị sự mỉa mai, châm biếm (thường gặp trong ca dao châm biếm, hài hước)
Khuôn vần của thể song thất lục bát được ghi nhận như sau:
Lụa / làng / Trúc / vừa / thanh / vừa / bóng (trắc) (bằng) (trắc)
Trang 10Thang / mô / cao / bằng / thang / danh / vọng (vần)
Nghĩa / mô / trọng / bằng / nghĩa / chồng / con?
Biến thể của song thất lục bát chỉ xảy ra ở ca dao, còn thơ trữ tình bát học thì hoàn toàn không có:
Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược (8 tiếng) Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang (8 tiếng) Thuyền em xuống bến Thuận An (6 tiếng) Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ơi! (8 tiếng) Bên đây sông bắc cầu mười tấm ván, (8 tiếng) Bên kia sông lập cái quán mười hai từng (9 tiếng) Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng, (6 tiếng) Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh (8 tiếng)
Do có nhịp điệu thơ mang sắc thái giãi bày nên thể song thất lục bát thường được dùng trong những bài hát có âm điệu “nói lối” và ca xướng
3 Thể song thất và thể hỗn hợp
Bên cạnh thể lục bát và song thất lục bát phổ biến hơn cả, trong ca dao còn ghi nhận các thể song thất và thể hỗn hợp tuy nhiên chỉ chiếm số lượng ít
3.1 Thể song thất
Trang 11Thể song thất trong ca dao không phổ biến:
Áo vá vai vợ ai không biết,
Áo vá quàng chí quyết vợ anh
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, Năm canh chầy thức đủ vừa năm
Hiện tượng lời ca dao được cấu tạo từ hai cặp song thất (trong đó có một cặp biến thể) lại càng hiếm hoi hơn:
Trầu không vôi ắt là thuốc lạt (7 tiếng) Cau không hạt ắt là cau già (7 tiếng)
Mình không lấy ta ắt là mình thiệt (8 tiếng)
Ta không lấy mình ta biết lấy ai? (8 tiếng)
3.2 Thể hỗn hợp
Theo Nguyễn Xuân Kính, thể hỗn hợp trong ca dao chỉ chiếm số lượng khoảng 1%,
sự hỗn hợp này khá đa dạng:
Bốn câu bốn tiếng và hai câu mười tiếng:
Con chim nho nhỏ, Cái đuôi nó đỏ, Cái mỏ nó vàng,
Nó đậu cành bàng,
Nó kêu, bớ tiết Đinh Sơn, bớ chàng Ninh Sĩ!
Em có chồng rồi, em không thể nghĩ đến anh
Chỉ có bốn câu, mỗi câu bốn tiếng:
Củ lang Đống Ngỗ,
Đỗ phụng Đồng Đinh Chàng bòn thiếp mót
Để chung một gùi
Sự kết hợp giữa hai cặp lục bát biến thể:
Bướm xa hoa bướm còn nhớ cảnh Vượn xa ngành vượn còn nhớ cội cây
Trang 12Em xa anh trách mẹ cùng thầy Không phải vì anh xảo ngôn lệch sắc quá tay không gặp nường
Mở đầu bằng một cặp lục bát, kết thúc bằng một dòng lục, ở giữa là hai cặp song thất, bên cạnh nhịp điệu êm ái của cặp lục bát còn bổ sung thêm nhịp ¾ của cặp song thất thể hiện sự trắc trở, éo le:
Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái, như ai không chồng
Gái có chồng như gông đeo cổ Gái không chồng như phản gỗ long đanh Phản long đanh anh còn đóng được Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi Không chồng khổ lắm ai ơi!
Thường gặp nhất là thể hỗn hợp có một cặp lục bát xen giữa là hai câu thất:
Đêm qua nguyệt lặn về tây (6 tiếng)
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài (8 tiếng) Trúc với mai, mai về trúc nhớ (7 tiếng) Mai trở về, mai nhớ trúc không? (7 tiếng) Bây giờ kẻ bắc, người đông (6 tiếng)
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư (8 tiếng)
Từ thể lục bát đến lục bát biến thể, từ song thất lục bát đến song thất lục bát biến thể, từ những thể hỗn hợp có những câu rút ngắn chỉ ba bốn từ đến những câu dài tận mười ba từ thậm chí là hơn thế đã cho thấy sự tự do trong sáng tác của người bình dân,
họ không tuân theo những niêm luật khắc khe như các tác phẩm văn học viết ( tiêu biểu
là các thể thơ Đường luật) Từ sự tự do trong sáng tác có thể nhận xét về cuộc sống, sinh hoạt của người bình dân là một cuộc sống thoải mái giữa ruộng đồng, nhà tranh vách nứa chan hòa với cỏ cây không có những khuôn khổ ràng buộc khắc khe Ngoài
ra từ các thể thơ của ca dao cũng có thể nhận thấy sự hạn chế của tác giả dân gian trong việc tung hoành ý thơ giữa các niêm luật khắc khe, trong khi các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát,… lại làm rất tốt Sự ngắn gọn của lời ca dao cũng phần nào phản ánh được tâm lý của người bình dân, họ thường trực tiếp bày tỏ cảm xúc ngay lúc cảm xúc xuất hiện, không có sự chất chứa, quan sát tỉ mỉ hay có sự tham khảo, vận dụng các điển cố điển tích như các nhà thơ của văn học viết
Chương III: Các dạng kết cấu của ca dao
Trang 131 Kết cấu một vế đơn giản
Trong kết cấu một vế đơn giản, nội dung của lời ca dao là một ý lớn do các phán đoán tạo thành
Chim khôn lựa nhánh, lựa cành (a) Gái khôn lựa chốn trai lành gửi thân (b)
Cả hai vế a và b đều nhằm diễn đạt một lời khuyên, một kinh nghiệm về việc lựa chọn chốn tựa nương tốt để có được cuộc sống bình yên và hạnh phúc dài lâu
Làng tôi có lũy tre xanh,
Có sông Tô Lịch uốn quang xóm làng Bên bờ vải, nhãn, hai hàng, Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
Tất cả các vế của lời ca dao trên đều cùng chỉ một địa điểm là “làng tôi”, một ngôi làng xưa của mảnh đất thủ đô nằm yên bình bên dòng Tô Lịch ngàn năm trôi chảy tưới mát cho cây cối hai bên bờ sông, mang đến nguồn thủy sản trù phú
Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây, Hàng đào tơ lụa làm say lòng người
Ở lời ca dao trên hai câu là ba phán đoán chỉ những đặc sản và địa danh nổi tiếng của Hà Nội
Những lời được kết cấu theo dạng một vế đơn giản ít nhất phải có một phán đoán xét
về mặt logic và hai dòng thơ xét về mặt cấu trúc
2 Kết cấu một vế có phần vần
Trong kết cấu một vế có phần vần, lời ca dao được cấu tạo từ hai phần rõ rệch bao gồm phần miêu tả ngoại cảnh mà Đinh Gia Khánh gọi là phần gợi hứng và phần chính của lời
Quả cau nho nhỏ Cái vỏ vân vân Nay anh học gần Mai anh học xa Lấy anh từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con
Trang 14Ra đường người nghĩ còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng
Ở lời ca dao trên, quả cau là hình ảnh gọi hứng và “thiếp” năm con là hình ảnh chính Giữa hai phần của lời ca dao còn có thêm mối liên hệ hồi tưởng: quả cau –> ngày cưới -> cuộc sống hôn nhân hiện tại (năm con)
Bướm vàng đậu đọt mù u, Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn
Ở lời ca dao trên đây quan hệ giữa hai phần là một sự liên tưởng gián tiếp Ngoài ra còn có trường hợp giữa hai phần là mối liên hệ về mặt ngữ âm, mặt vần thuần túy:
Trên trời có ông sao vàng
Có ai đâu nữa mà chàng phụ tôi?
Mười hai cửa bể, tình ơi Gửi thư, thư lạc, gửi lời, lời bay Nhạn ơi, trăm sự nhờ mày Gửi thư đem tới tận tay cho chàng
Giải thích cho việc giữa phần gợi hứng và phần chính chỉ có mối liên hệ về ngữ âm
và vần thuần túy Chu Xuân Diên cho rằng nên đi từ đặc điểm của quá trinh sáng tác ca dao, dân ca Trong các cuộc thi hát đối đáp người hát phải vừa hát vừa suy nghĩ để đối đáp lại đối phương cho hay lại phái sát và phải nhanh nên các từ chỉ mang tính chất đưa đẩy, bắt vần xuất hiện Hơn nữa nhiều câu miêu tả thiên nhiênđã xuất hiện ở các lời ca dao khác nên người sáng tác không thể hát lại vì sẽ mắc lỗi “vi phạm bản quyền”
3 Kết cấu hai vế tương hợp
Kết cấu hai vế tương hợp thường xuất hiện trong hát đối đáp với nội dung gồm hai