1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN HÓA NHÀ Ở CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN VÙNG TÂY NAM BỘ

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước Việt Nam với đường bờ biển dài ba nghìn hai trăm sáu mươi kilomét, với những đặc điểm tự nhiên và phong tục tập quán đặc trưng riêng của từng vùng, từng dân tộc. Từ đó cũng hình thành kiến trúc nhà ở riêng cho mỗi vùng, miền. Nhà ở nói nôm na là nơi để ở, sinh sống của cá nhân hoặc tập thể gia đình. Ngoài việc để tránh mưa tránh nắng thì nhà còn mang ý nghĩa rất cao cả về tinh thần. Người xưa hay có câu “ an cư lạc nghiệp” ý nói người đàn ông trước hết phải xây nhà, lấy vợ ,sau mới lập được nghiệp lớn. Nhưng với từng thời kỳ khác nhau, thì kiến trúc nhà ở cũng dần thay đổi. Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao,cộng với đó là xu thế toàn cầu hóa dẫn đến văn hóa của các nước cũng theo đó du nhập vào nước ta, làm cho nền kiến trúc nước ta có sự thay đổi lớn ngay cả trong kiến trúc nhà ở nói chung và nhà ở vùng Tây Nam bộ nói riêng. “Nhà ở” là thứ luôn đi đôi với sự tồn tại và phát triển của con người. Tìm hiểu về quá trình phát triển kiến trúc nhà ở của một vùng nào đó là con đường đơn giản nhất để nâng cao vốn hiểu biết về lịch sử phát triển và con người của vùng đất đó. Vì thế, em đã chọn đề tài “Văn hóa nhà ở của người bình dân vùng Tây Nam bộ” với mong muốn có thể hiểu rõ hơn về kiến trúc nhà ở của người bình dân nơi đây, đồng thời để giới thiệu đến mọi người về quá trình phát triển cũng như nét đặc trưng của kiến trúc nhà ở miền Tây Nam bộ từ góc nhìn văn hóa.

Trang 1

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

VĂN HÓA NHÀ Ở CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN VÙNG

TÂY NAM BỘ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

NÔI DUNG 3

CHƯƠNG I : SƠ LƯỢC VỀ VÙNG TÂY NAM BỘ 3

CHƯƠNG II: VĂN HÓA NHÀ Ở CỦA NGƯỜI BÌNH DÂN VÙNG TÂY NAM BỘ 4

1 Vài nét về văn hóa cư trú của người bình dân miền Tây Nam Bộ 4

2 Khái niệm chung về nhà ở 5

3 Kiến trúc nhà ở vùng Tây Nam bộ 5

3.1 Một số loại hình nhà ở phổ biến ở vùng Tây Nam bộ 7

3.1.1 Nhà tường, nhà mái ngói truyền thống 7

3.1.2 Nhà mái lá miền Tây 10

3.1.3 Nhà không cửa 13

3.1.4 Nhà Bè 14

3.1.5 Nhà Sàn chống lũ 16

3.2 Yếu tố thiên nhiên tác động đến kiến trúc nhà ở Tây Nam bộ 17

KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam với đường bờ biển dài ba nghìn hai trăm sáu mươi mét, với những đặc điểm tự nhiên và phong tục tập quán đặc trưng riêng củatừng vùng, từng dân tộc Từ đó cũng hình thành kiến trúc nhà ở riêng chomỗi vùng, miền

ki-lo-Nhà ở nói nôm na là nơi để ở, sinh sống của cá nhân hoặc tập thể gia đình.Ngoài việc để tránh mưa tránh nắng thì nhà còn mang ý nghĩa rất cao cả vềtinh thần Người xưa hay có câu “ an cư lạc nghiệp” ý nói người đàn ôngtrước hết phải xây nhà, lấy vợ ,sau mới lập được nghiệp lớn

Nhưng với từng thời kỳ khác nhau, thì kiến trúc nhà ở cũng dần thay đổi.Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu của con người ngày càng đượcnâng cao,cộng với đó là xu thế toàn cầu hóa dẫn đến văn hóa của các nướccũng theo đó du nhập vào nước ta, làm cho nền kiến trúc nước ta có sự thayđổi lớn ngay cả trong kiến trúc nhà ở nói chung và nhà ở vùng Tây Nam bộnói riêng “Nhà ở” là thứ luôn đi đôi với sự tồn tại và phát triển của conngười Tìm hiểu về quá trình phát triển kiến trúc nhà ở của một vùng nào đó

là con đường đơn giản nhất để nâng cao vốn hiểu biết về lịch sử phát triển vàcon người của vùng đất đó Vì thế, em đã chọn đề tài “Văn hóa nhà ở củangười bình dân vùng Tây Nam bộ” với mong muốn có thể hiểu rõ hơn về kiếntrúc nhà ở của người bình dân nơi đây, đồng thời để giới thiệu đến mọi người

về quá trình phát triển cũng như nét đặc trưng của kiến trúc nhà ở miền TâyNam bộ từ góc nhìn văn hóa

Trang 4

NÔI DUNG

CHƯƠNG I : Sơ lược về vùng Tây Nam Bộ

Hình 1 : Bản đồ các tỉnh Tây Nam bộ Nguồn Internet

Trang 5

Vùng Tây Nam Bộ, hay còn được gọi là vùng Đồng Bằng Sông CửuLong,miền Tây, là vùng cực nam của Việt nam, có điện tích hơn 40 nghìn ki-lo-mét vuông, nằm liền kề vùng Đông Nam bộ, phía Bắc giáp với Cam- pu-chia, phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía Đông giáp với biển Đông, baogồm 12 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, HậuGiang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau)

và 1 thành phố (Cần Thơ) trực thuộc Trung Ương Là vùng nằm trong lưuvực sông Mê Kông và ở vào trung tâm gió mùa nhiệt đới của Châu Á nênvùng Tây Nam bộ có hai mùa mưa, khô rõ rệt với hai hướng gió chính làĐông-Bắc và Tây Nam Dân cư ở đây chủ yếu là người Kinh và các dân tộcnhư người Khmer, người Chăm theo đạo Hồi, và người Hoa, nhưng tộcngười chủ thể và có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất này là ngườiViệt Các tộc người này sống với nhau khá hòa thuận và chưa từng có cuộcchiến tranh nào về sắc tộc diễn ra giữa họ Cư dân ở đây sinh sống chủ yếubằng nông nghiệp trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản Đây là một trongnhững vựa lúa lớn nhất cả nước (chiếm hơn 50% diện tích lúa cả nước), vàcũng là vùng có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn( với 71% diện tích cảnước) Ngoài ra, vùng này còn nổi tiếng với đặc sản là những vườn cây ănquả đa dạng về số lượng và chất lượng Không những thế, nghề nuôi vịt đàn

ở nơi đây cũng rất phát triển ở một số tỉnh như Đồng Tháp, Hậu Giang, BạcLiêu, Cà Mau, Và ở một số nơi đất đai bằng phẳng nghề nuôi bò cũng rấtphổ biến Ngày nay, với sự phát triển các loại hình kinh tế mới, du lịch cũngđược xem là một trong những cái nghề kiếm cơm của người dân nơi đây

CHƯƠNG II: Văn hóa nhà ở của người bình dân vùng Tây Nam bộ

1 Vài nét về văn hóa cư trú của người bình dân miền Tây Nam Bộ

Trang 6

Do được hình thành và phát triển bởi sự bồi đắp của hệ thống sông Mê Kôngnên vùng Tây Nam bộ có địa hình bằng phẳng, phù sa màu mỡ, có hệ thốngsông ngòi dày đặt và sự đa dạng về môi trường sinh thái tự nhiên Và cùngvới đó chính là sự hình thành đa dạng các loại hình cư trú khác nhau như cưtrú ven sông, rạch; cư trú trên giồng, trên cù lao, hoặc giữa vườn cây, Khácvới cư dân vùng Châu Thổ Bắc Bộ đắp đê phòng lũ, người dân vùng TâyNam Bộ lại đào các con mương, con kênh để dẫn nước từ sông vào ruộng lúa

và vườn cây ăn trái phục vụ cho việc canh tác, tưới tiêu Mặt khác, đây làvùng đất được hình thành trong quá trình di cư, khai hoang lập địa của nhữngcon người từ mọi vùng đất khác nhau đến đây với khát khao và dũng khímạnh mẽ Họ là những con người nghèo khổ từ những vùng đất khác nhauvới tinh thần đầy dũng khí, họ đến với vùng đất này với cùng một hy vọng vềmột cuộc sống mới Vì vậy mà họ xem nhau như anh em như máu mủ, họgiúp đỡ lẫn nhau, sống hòa đồng với nhau như câu nói “ bán anh em xa, mualáng giềng gần” Có lẽ vì đều là những con người nghèo khổ, không còn gì đểmất phải tha hương để mưu sinh, cùng nhau trải qua cuộc đấu tranh cải tạothiên nhiên nên từ sâu bên trong họ ta thấy được một chút gì đó sự gan góc,

sự nhiệt tình và cả tính năng động, thích nghi tốt với môi trường tự nhiên Từ

đó hình thành nên tính cách đặc trưng của người dân vùng này đó là sự năngđộng, cởi mở,hào phóng, nhiệt tình, khoáng đạt, trọng tình trọng nghĩa.Chính từ sự đa dạng về sinh thái đó, và các đặc trưng của từng tộc người sinhsống ở đây đã tạo nên sự đa dạng về văn hóa, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng,cũng như là sự phong phú trong kiến trúc nhà ở Kiến trúc nhà ở nơi đây vừathể hiện được khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên của cư dân nơiđây, đồng thời mang nét đặc trưng vốn có của vùng đất màu mỡ này Về tổchức đời sống ở đây cũng khác khác biệt so với đồng bằng Bắc bộ, đồngbằng Bắc bộ do mật độ dân số cao và diện tích đất ở chật hẹp nên con ngườithường sống quây tụ lại thành từng cụm, còn làng xã ở đồng bằng Nam bộ ,

do đất đai rộng rãi, nhiều bãi sình nên phải chọn những nơi khô ráo để xây

Trang 7

nhà vì vậy mà không có giới hạn không gian chặt chẽ Đa phần các làng xãnơi đây được hình thành dọc theo các con sông, hoặc kênh rạch nhằm thuậntiện cho giao thông đi lại và giao lưu buôn bán miền sông nước Nhà thườnghướng mặt ra sông , có sân trước phơi thóc lúa và thường thì nhà nào cũng cóghe, thuyền để đi lại do xung quanh có nhiều kênh rạch.

2 Khái niệm chung về nhà ở

Nhà ở là loại công trình gắn liền với quá trình thích nghi với môi trường tựnhiên của con người Nó đảm bảo cho con người có nơi trú ẩn, tránh đượcthú dữ, mưa gió Theo quá trình phát triển của xã hội, nhà ở dần được pháttriển, nó không còn đơn thuần là nơi trú ẩn nữa mà còn là cơ sở để bảo vệ nòigiống và còn là nơi để sản xuất kinh tế quy mô gia đình

3 Kiến trúc nhà ở vùng Tây Nam bộ

Trang 8

Cùng là nơi để ở, sinh hoạt đời sống gia đình, nhưng với đặc trưng vùngmiền khác nhau sẽ dẫn kiến trúc nhà ở và nguyên vật liệu xây nhà cũng khácnhau Điển hình như việc xây nhà phải phù hợp với điều kiện địa hình mà cấtnhà trên đất giồng hay mé sông; khí hậu; khả năng tài chính để xây lớn haynhỏ, nhà tường hay nhà lá; và đặc biệt là dựa vào văn hóa phong tục của từngvùng để chọn hướng nhà cho phù hợp Khuôn viên ngôi nhà Nam bộ có cấutrúc đơn giản, hướng nhà thường quay theo hướng có thể thuận lợi nhất chocuộc sống và làm ăn, nhà cửa thường gắn liền với thửa ruộng, mảnh vườn Vì

là vùng đồng bằng màu mỡ, ruộng ở đây thường để trồng lúa, vườn chủ yếu

để trồng cây ăn trái, còn sân láng xi măng,lát gạch tàu để phơi thóc lúa, phơicủi hoặc đặt một vài chậu kiểng để trang trí, vài ba cây ớt cây hành, cũng cókhi là cây mít hay cây xoài ở góc sân để lấy bóng mát Ở một số nhà, người

ta còn trồng giàn bầu, giàn mướp trước sân nhà vừa để cung cấp rau quả vừalàm giảm đi cái nắng chói chang Mép ngoài của sân trước thường được đặtmột cái bàn thiên để thờ trời, mép trong là hàng ba nhằm làm dịu đi ánhsáng , nắng rọi và tránh mưa tạt vào nhà vì nơi đây thường có cường độ nắngnóng cao Phía sau nhà thường sẽ là một vườn cây ăn trái, nhà xí, hồ chứanước để sinh hoạt, sàn nước để giặt giũ, tắm rửa và chuồng nuôi gia súc, giacầm Toàn bộ khuôn viên nhà thường được bao quanh bởi các mương dẫnnước vào vườn hoặc hàng rào kẽm vì lối sống cởi mở, phóng khoáng nênviệc làm hàng rào ở đây chỉ để tượng trưng chứ không kiên cố Cổng cũngvậy, người ta làm cổng là để trang trí, đôi khi không cần đóng, cổng đượclàm bằng tre hoặc thậm chí chỉ là hai cây bông giấy hay bông dâm bụt uốnvòm tạo thành cổng Hai bên lối dẫn vào nhà có thể là hàng dừa, hàng cauhoặc các loại cây kiểng tạo nên một khung cảnh hữu tình Tuy nhiên, đó chỉ

là khái quát chung về khuôn viên nhà ở vùng này , ngoài ra, tùy vào điềukiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình mà có sự điều chình cho phù hợp

Trang 9

Hình 2: Nhà Cổ ở Cù Lao Ông Hổ Nguồn Internet.

Điều kiện khí hậu ổn định, ít giông bão, đất đai rộng lớn, phù sa màu mỡ, từ

đó đã hình thành nên các loại hình nhà ở đa dạng, từ nhà lá, nhà tường, đếnnhà nổi, nhà bè, nhà sàn chống lũ

3.1Một số loại hình nhà ở phổ biến ở vùng Tây Nam bộ

Các loại hình nhà ở của Đồng Bằng Nam bộ đa số được hình thành theođiều kiện địa hình, ở các nơi có địa hình bằng phẳng, gò cao sẽ là những cănnhà tường, mái ngói phổ biến và nhà lá; còn ở các nơi trũng thấp dễ ngập lụtthì sẽ là những căn nhà sàn chống lũ; và thậm chí còn có các loại hình nhà ởtrên sông như nhà nổi, nhà bè; và nhà lưỡng cư ven sông

3.1.1 Nhà tường, nhà mái ngói truyền thống

Nhắc đến kiến trúc Nam bộ là không thể không nhắc đến những ngôi nhàtường mái ngói với ba gian hai chái như nhà Chữ Đinh, nhà Thảo Bạt, nhàXếp Đọi, nhà Bát Dần, Nhà chữ Đinh là dạng nhà được thiết kế theo hình

Trang 10

dạng chữ “ Đinh” trong Hán tự Là kiểu nhà phân bố một căn ngang và mộtcăn xuôi liền vách, gồm hai căn chính là nhà trên (nằm ngang) và nhàdưới(nằm xuôi), cửa nhà cùng hướng ra một hướng và chung mái hiên trước.Dạng nhà này có phần tương đồng với kiến trúc nhà chữ Đinh ở miền Trung,

và miền Bắc do có nhiều di dân từ đó vào, tuy nhiên, tuy nhiên nhà ở Nam bộvẫn một phần nào đó mang cốt cách, đặc trưng của con người Nam bộ Đấtrộng nên nhà ở đây thường được xây với quy mô lớn hơn so với ở đồng bằngBắc bộ, và không bị bó buộc bởi luật lệ của quan lại thời phong kiến như ởmiền Trung Thường thì nhà trên của nhà chữ Đinh sẽ được xây rộng rãi,nghiêm trang với vị trí ưu tiên nhất vì đây là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, là bộ mặtcủa ngôi nhà để tiếp đãi khách khứa và là nghỉ ngơi của gia chủ Tùy theo sởthích mà gia chủ có thể bày trí nội thất trong nhà nhưng điều cơ bản mà cănnhà trên phải có đó là bàn thờ gia tiên, bộ bàn ghế chính giữa, hai bên là bộphản hoặc đi văng Nhà được xây với bốn mái có đầu hồi, kèo và đòn tayđược liên kết với nhau bằng kỹ thuật guốc chèo không cần dùng đinh, máinhà cao, thông gió, được lợp bằng ngói âm dương, nền là nền gạch tàu hoăcgạch bông đối với những nhà khá giả, các chi tiết trong nhà được chạm khắchoa văn khá tỉ mỉ Phần nhà dưới là nơi sinh hoạt hàng ngày của gia chủ nhưnấu nướng, ăn uống, và là nơi chứa thóc, lúa Nhà dưới không được xây trangnghiêm như nhà trên nhưng là thành phần không thể thiếu trong mỗi ngôi nhàchữ Đinh Vì có diện tích lớn và vật liệu có giá thành cao nên vào thời xưadạng nhà này thường chỉ xây ở những gia đình trung lưu khá giả, và quan lại,địa chủ, tuy nhiên, sau đó nhà chữ Đinh trở nên khá phổ biến với nhiều biếnthể hiện đại khác nhau, tùy theo điều kiện của từng gia đình.Nhà chữ Đinhngày nay thường được xây theo lối kiến trúc và vật liệu hiện đại, nên các chitiết cũng không còn giống với kiểu nhà chữ Đinh truyền thống nữa, cột gỗtrong nhà cũng được thay thế bằng cột xi măng, mái có thể là tôn và các họatiết chạm khắc trong nhà cũng được tiết chế khá nhiều Và do xã hội pháttriển, mật độ dân số ngày càng tăng, đất đai ngày càng đắt đỏ, “tấc đất,tấc

Trang 11

vàng” đã làm cho các biến thể nhà chữ Đinh không còn rộng như kiểu kiếntrúc truyền thống nữa.

Hình 3: Nhà Chữ Đinh Tây Nam Bộ Nguồn Internet

Nhà Thảo Bạt là dạng nhà có hàng hiên trước nhà được xây khá rộng để tậndụng cho việc buôn bán; còn nhà Bát Dần là nhà có hai chái được mở rộng rahai phía để làm nơi ngủ nghỉ, bếp ăn và kho chứa lương thực lúa gạo

Ngoài những dạng nhà truyền thống trên, thì ngày nay với quá trình đô thịhóa , và đời sống kinh tế xã hội của người dân ngày càng ổn định, đã dầnhình thành một dạng nhà mới với kiến trúc hiện đại , tiện lợi hay còn đượcgọi với cái tên “nhà cấp bốn” Nhà cấp bốn là dạng nhà tường với kết cấu đadạng như nhà cấp bốn mái thái, mái bằng, mái nông thôn, được phổ biếnrộng rãi và được nhiều người lựa chọn làm nơi ở của mình Ở một số tỉnh vàthành phố có đời sống phát triển hơn, còn hình thành dạng nhà chung cư, nhàphố trong các khu đô thị mới , là kết quả của quá trình công nghiệp hóa hiềnđại hóa của vùng

Trang 12

Hình 4: Nhà Cấp 4 mái bằng Nguồn Internet

3.1.2 Nhà mái lá miền Tây

Hình 5: Nhà lá dừa miền Tây Nguồn Internet

Với cường độ nắng nóng cao và giờ nắng kéo dài , cư dân nơi đây đã cónhiều cách ứng phó khác nhau, tuy nhiên phổ biến vẫn là những căn nhàbằng lá với khả năng cách nhiệt khá tốt Mặt khác, vì đây là vùng có hệ sinh

Trang 13

thái rừng khá phong phú, lâm thổ sản đa dạng nên phần lớn vật liệu để xâynhà thường là nguồn nguyên vật liệu tại chỗ như cây tràm, cây đước , lá dừanước, Các cây này được trồng phổ biến ở đây và chịu được nước, mau khôthích hợp với môi trường sông nước ẩm ước và khả năng kinh tế của ngườidân Loại hình nhà lá miền Tây là loại hình nhà ở truyền thống và phổ biến ởvùng này , qua quá trình phát triển xã hội, loại hình này vẫn tồn tại và pháttriển như một nét đặc trưng vốn có của miền đất phù sa này Hình ảnh ngôinhà mái lá cùng với hàng dừa ngả nghiêng rợp bóng là hình ảnh quen thuộccủa người miền Tây tuy đơn sơ giản dị nhưng ẩn hiện đâu đó là nét đẹpduyên dáng , chân chất của người miền Tây Nam Bộ trong nhịp sống hiệnđại Ngôi nhà với lối kiến trúc đơn giản, chủ yếu được làm bằng lá dừa vàcác loại gỗ như tràm, đước Về phần lá dừa, là sự lựa chọn rất tỉ mỉ , phải là

lá vừa chín tới và không có sâu bọ Mái nhà muốn đẹp thì lá dừa phải trải quanhiều công đoạn, phải chọn những lá già, có nhiều ngày tuổi đem chặt rồi xélàm đôi đối với các tàu lá nhỏ , đem phơi khoảng mười đến mười lăm ngàymới đem đi lợp Còn đối với các tàu lá dừa lớn người ta sẽ đem đi chằm đểtạo thành từng mảnh, kĩ thuật chằm lá dừa ở đây được xem như là bước quantrọng để hoàn thành một ngôi nhà lá dừa hoàn chỉnh Lá dừa sau khi rọc, táchlìa thì dùng dây buộc lại, kẹp vào phần trục là một cây tròn nhỏ và đan lạithành từng mảnh lớn có độ dài khoảng một mét, sau đó đem phơi thì có thểdùng được Tùy theo điều kiện của mỗi gia đình mà mái được lợp thấp hoặccao, vì nếu mái lá cao, nhà sẽ thông thoáng, sáng sủa hơn nhưng như vậy mái

lá sẽ nhanh mục hơn, còn mái lá thấp tuy hơi tối nhưng giữ được độ bền của

lá lâu hơn Một mái nhà lá như vậy có thể chịu đựng dược trong khoảng thờigian là bốn đến năm năm tùy vào công đoạn lựa chọn và xử lý lá có thực hiệntốt hay không, khi mái nhà lá có biểu hiện của sự xuống cấp như dột, lámục, người ta sẽ thay lá bằng cách chằm những mảnh lá dừa lớn rồi móc lênchồng vào lớp mái cũ, cứ như thế, mái nhà lá tồn tại từ năm này qua nămkhác Phần kèo, cột, đòn tay trong nhà được làm bằng gỗ tràm, gỗ đước hoặc

Ngày đăng: 12/03/2022, 10:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w