1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thi pháp của truyện cổ viết lại sau 1975

100 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Thi Pháp Của “Truyện Cổ Viết Lại” Sau 1975
Tác giả Nguyễn Thị Kiều Thu
Người hướng dẫn TS. Bùi Thanh Truyền
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về mảng sáng tác theo phong cách nhưng nhìn chung chưa nhấn mạnh, đào sâu vào đặc trưng thi pháp của nó; vì thế chưa đánh giá hết được vị thế của Truyê ̣n cổ v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

NGUYỄN THỊ KIỀU THU

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA “TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI” SAU 1975

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THANH TRUYỀN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

NGUYỄN THỊ KIỀU THU

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA “TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI” SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Người cam đoan

Nguyễn Thị Kiều Thu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 15

1.1 KHÁI QUÁT TRUYÊ ̣N CỔ VIẾT LẠI 15

1.1.1 Khái niệm Truyện cổ viết lại 15

1.1.2 Truyện cổ viết lại - hình thức kể chuyện hiê ̣n đa ̣i trên cơ sở kế thừa từ VHDG 17

1.2 TRUYÊ ̣N CỔ VIẾT LẠI TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 21

1.2.1 Diện mạo của Truyê ̣n cổ viết lại trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam 21

1.2.2 Vai trò của Truyê ̣n cổ viết lại trong tiến trình phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam 24

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG CỦA TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI 28

2.1 NHÂN VẬT 28

2.1.1 Nhân vật mang vẻ đẹp huyền thoại, cổ tích 28

2.1.2 Nhân vật mang dáng vẻ của con người hiện đại 31

2.1.3 Nhân vật mang tính phổ quát – triết lý 36

2.2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 40

2.2.1 Không gian đậm tính kì ảo 41

2.2.2 Không gian trần tục 43

2.2.3 Sự giao thoa giữa hai không gian thần tiên - trần thế 45

2.3 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 46

2.3.1 Thời gian phiếm chỉ, tăng tốc, đứt quãng 47

Trang 5

2.3.2 Thời gian nghịch đảo, đan xen 49

2.3.3 Thời gian mang tính chất hiện tại hóa 54

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN CỔ

VIẾT LẠI 60

3.1 CỐT TRUYỆN 60

3.1.1 Cốt truyện sử dụng mô típ cổ tích 60

3.1.2 Cố t truyện xáo trô ̣n, đứt đoa ̣n, phi tuyến tính 66

3.2 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 68

3.2.1 Giọng giễu nha ̣i và khuynh hướng dân chủ, phi thiêng hóa 69

3.2.2 Giọng hoài nghi, day dứt và nỗ lực truy tầm bản nguyên hiện thực, nhân sinh 73

3.2.3 Giọng quan hoài da diết và cảm hứng trước nỗi đau và thân phâ ̣n con người 75

3.3 NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT 78

3.3.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 78

3.3.2 Ngôn ngữ đa nghĩa, giàu hình ảnh 81

3.3.3 Ngôn ngữ nhiều cảm giác 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Ti ́nh cấp thiết của đề tài

1.1 Trong quá trình tồn tại và phát triển, văn học dân gian (VHDG) và

văn học viết Việt Nam là hai hệ thống tồn tại song song Mặc dù có những đặc trưng và phương thức phản ánh hiện thực khác nhau nhưng giữa chúng luôn có sự ảnh hưởng và tác động qua lại, góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền văn học dân tộc

VHDG từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam nói chung và người nghệ sĩ nói riêng, trở thành kho kinh nghiệm, đề tài cho bao

văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bính, Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp… đã kế thừa những tinh hoa của cội nguồn dân tộc Ảnh hưởng của VHDG đối với nền văn học viết diễn ra ở nhiều phương diện Điều

dù ở phương diện nào thì đích đến cũng đều nhằm chỉ chỉ ra sức sống và vai trò của văn học truyền khẩu trong văn học thành văn

1.2 Sau 1975, trong bối cảnh xã hội nửa cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, với sự du nhập ồ ạt của văn hóa phương Tây, văn hóa đô thị trỗi dậy mạnh mẽ thì mảng truyện ngắn tìm về với cổ tích, với những huyền thoại là một hướng đi có phần mới mẻ và khác lạ Các sáng tác viết theo xu hướng này có điểm tựa là những huyền thoại đã in sâu trong tiềm thức của mỗi con người Việt Nam Nằm trong quy luật phát triển chung của văn học nhân loại:

quả của sự vận động và phát triển từ nội lực truyền thống văn học dân tô ̣c Sự

Trang 7

tham gia củ a nhiều tác giả vào mảng đề tài này đã góp phần hình thành một

1.3 Các công trình nghiên cứu về mảng sáng tác theo phong cách

nhưng nhìn chung chưa nhấn mạnh, đào sâu vào đặc trưng thi pháp của nó; vì thế chưa đánh giá hết được vị thế của Truyê ̣n cổ viết la ̣i trong quá trình hiện đại hóa nền văn học sau 1975

Truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang, Truyện cổ viết

lại của Lê Đạt và Lê Minh Hà, Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp, Câu hát

1975, góp phần tạo nên sự đa dạng cho nền văn học đương đại nước nhà Khẳng định những giá trị thẩm mĩ đặc thù và sức lan tỏa của những sáng tác theo phong cách “lạ mà quen” này là chủ trương, mục đích mà chúng tôi kì

vọng qua đề tài Đặc điểm thi pháp của Truyê ̣n cổ viết lại sau 1975

Từ việc hệ thống hóa và làm sáng tỏ được những đặc điểm thi pháp cơ bản của dạng truyê ̣n ngắn viết theo phong cách Truyê ̣n cổ viết lại trong văn xuôi sau 1975, đề tài giúp độc giả có được một cái nhìn bao quát về quá trình sinh thành, diện mạo, đặc trưng cùng những đóng góp của nó cho đời sống văn học Việt Nam đương đại Trên tinh thần đó, nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao nhận thức của người đọc về mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết, sức sống và ảnh hưởng của văn học truyền miệng trong văn học thành văn Kết quả khoa học của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phù hợp trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học ở nhà trường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu

trong văn xuôi sau 1975, đặc biệt là trong truyện ngắn Nghiên cứu đặc điểm thi pháp của mảng sáng tác này, đề tài hướng trọng tâm tìm hiểu một số bình diện cơ bản như: nhân vật, không gian nghê ̣ thuâ ̣t, thời gian nghê ̣ thuâ ̣t, cốt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tự ha ̣n định phạm vi nghiên cứu trên một số

như ̃ng ngày đe ̣p trời (Hòa Vang), Câu hát (Lưu Sơn Minh),… Ngoài ra,

4 Phương pháp nghiên cứu

được những đóng góp của các tác giả vào sự đổi mới thi pháp truyện ngắn

hiện nay

Trang 9

4.3 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp giúp người nghiên cứu nhận ra được sự kế thừa và cách tân của Truyện cổ viết lại so với các truyện cổ dân gian; đồng thời nó cũng là cách thức hữu hiệu để luận văn có thể chỉ ra được những nét riêng của chúng trong đời sống văn xuôi đương đại nói chung, truyện ngắn nói riêng

Trang 10

5 Bố cu ̣c của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liê ̣u tham khảo, Nô ̣i dung của luận văn gồm ba chương:

đương đại

6 Tổng quan ta ̀i liê ̣u nghiên cứu

6.1 Những bài viết, công trình đề cập đến yếu tố cổ tích trong văn học đương đại nói chung

Trong bài viết Để tiến tới xác định rõ ràng hơn nữa vai trò làm nền của

VHDG trong lịch sử văn học dân tộc, Nguyễn Đình Chú khẳng định: “Chính

văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển kết tinh của văn học dân tộc”

Và khi nền văn học viết ra đời, “VHDG không những không teo lại, trái lại

vẫn tồn tại như một dòng riêng và tiếp tục phát triển, do đó vẫn tiếp tục tăng

cường vai trò làm nền cho sự kết tinh văn học viết” [6]

Tác giả Chu Xuân Diên đã mượn lời của nhà văn M.Gorki: “Nhà văn

không biết đến VHDG là nhà văn tồi” để mở đầu cho bài viết Nhà văn và sáng tác dân gian Sau khi nêu tên của các nhà văn đã từng xem VHDG như

là chiếc nôi của sáng tạo nghệ thuật, tác giả khẳng định: “Sáng tác dân gian cung cấp nhiều tài liệu quý cho nhà văn xây dựng những biện pháp nghệ thuật

và ngôn ngữ văn học phù hợp với yêu cầu thẩm mĩ có truyền thống lâu đời của quảng đại quần chúng lao động” [7]

Trang 11

Với bài Một số vấn đề lý thuyết chung về quan hệ VHDG - văn học viết,

đứng trên bình diện lí luận chung, tác giả Lê Kinh Khiên đã chỉ ra tính chất của mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết và đi đến kết luận rằng, có thể nghiên cứu ảnh hưởng của VHDG đối với văn học viết trên nhiều cấp độ và những quy mô khác nhau Tuy chỉ dừng lại ở những vấn đề có tính chất lý thuyết nhưng vấn đề tác giả đặt ra có cơ sở khoa học và có tính thuyết phục cao Điều này đã mở ra nhiều hướng đi trong việc nghiên cứu về mối quan hệ,

sự ảnh hưởng của hai loại hình văn học [31]

Trong công trình Vai trò của VHDG Việt Nam trong văn xuôi Việt Nam

hiện đại, tác giả Võ Quang Tro ̣ng đã chỉ ra mối quan hệ giữa hai bộ phận văn

học này của các nhà nghiên cứu ở châu Âu, đặc biệt là ở nước Nga Người viết đặc biệt nhấn mạnh đến tình hình nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam, đồng thời đề cao chức năng thẩm mĩ của VHDG trong văn xuôi Việt Nam hiện đại trong việc xây dựng nhân vật kể chuyện, xây dựng tính cách nhân vật… cũng như vai trò cấu trúc, thể loại và phong cách dân gian trong văn xuôi Việt Nam hiện đại [53]

Lại Nguyên Ân trong bài viết Thần thoại, văn học, văn học thần thoại

đã chỉ ra: “Vẫn biết rằng thần thoại là cái “ý thức xã hội” phổ quát đầu tiên bao hàm cả văn học, rằng thần thoại là cái kho tàng đầu tiên cung cấp văn liệu cho một nền văn học dân tộc và sẽ hình thành dần dần về sau, nhưng trong nghiên cứu các giai đoạn văn học dân tộc, hầu như chưa có nhà nghiên cứu nào tập trung khảo sát xem cái kho tàng thần thoại Việt và những kho thần thoại quanh vùng để lại dấu ấn ra sao trong văn học dân tộc qua các thời đại” Đồng thời cũng trong bài viết, tác giả khẳng định: “Như thế, sáng tác huyền thoại - tức là phương diện thi ca vốn có trong thần thoại nguyên hợp cổ xưa vẫn còn chỗ đứng trong văn học và văn hóa thế kỷ XX” [2]

Trang 12

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được sự ảnh hưởng và mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết Các tác giả đều thống nhất xem truyện kể dân gian, đặc biệt là truyện cổ tích, là “cội nguồn”, là

“gốc rễ”, là chất liệu để những nhà văn hiện đại sáng tạo, hình thành nên những phong cách mới, góp phần đổi mới, đa dạng hóa nền văn học hiê ̣n đại Việt Nam

6.2.1 Về Truyê ̣n cổ viết lại của Nguyễn Huy Thiệp

Trên văn đàn Việt Nam đương đại, sáng tác của Nguyễn Huy thiệp trở

thành một “hiện tượng” Trong đó, mảng Truyện cổ viết lại của nhà văn này

cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm

Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Huy Thiệp - người kể chuyện cổ

tích hiện đại đã chú trọng “cách viết” của Nguyễn Huy Thiệp Theo bà, nhà

văn đã biết quý trọng vẻ đẹp của sự thật, của hiện thực: “Cách kể chuyện đơn giản bằng ngôn ngữ của nhân vật là thi pháp có từ trong truyền thống như đã từng có trong truyện cổ tích Việt Nam” [24]

Trong Đối thoại với VHDG và bản lĩnh của người viết, tác giả Lê Đình

Kỵ đã làm phép đối chiếu, so sánh giữa nhân vật Trương Chi của truyện cổ và Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp và nhận xét: “Dù sao Nguyễn Huy Thiệp

có được ý nghĩ cũng là nương nhờ bóng thiên tài dân gian” [32]

6.2.2 Truyện cổ viết lại của Lê Đạt và Lê Minh Hà

đô ̣c đáo trong truyê ̣n ngắn Lê Đa ̣t là từ những điển cố văn nghê ̣, tư liê ̣u nhân

Trang 13

vật, ông đã phu ̣c dựng những câu chuyê ̣n sinh đô ̣ng đến từng chi tiết Lê Đa ̣t

Nam sau 1986, qua viê ̣c phân tích tác phẩm Gióng, đã nhâ ̣n xét về những tác

6.2.3 Mảng Truyê ̣n cổ viết lại của Hòa Vang

Tác giả Hồ Anh Thái trong bài viết Họ trở thành nhân vật của tôi nhận

xét những tác phẩm của Hòa Vang chứa đựng nhiều yếu tố hiện thực kỳ ảo

Nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời

đậm đặc yếu cổ tích [43]

chương Hòa Vang lúc nào cũng mang một điệu hồn cổ tích” Tác giả cho

rằng: “Không phải ngẫu nhiên mà những truyện thành công nhất của Hòa Vang đều được gợi tứ từ huyền thoại gốc, hoặc là từ vốn văn hóa văn học truyền thống… Nhất quán trong một trường nhìn cổ tích, Hòa Vang đã hướng

về lưng vốn văn hóa truyền thống mang tính cổ tích làm đối tượng khám phá” [17]

6.2.4 Mảng Truyê ̣n cổ viết lại của Võ Thị Hảo

Đọc tập truyện Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo, Đoàn Minh Tuấn cho

rằng yếu tố cổ tích đóng vai trò quan trọng làm nên điểm sáng tư tưởng của

Trang 14

nó Cũng với tác phẩm này, tác giả Bùi Việt Thắng nhận xét Võ Thị Hảo “như

là người kể chuyện cổ tích hiện đại… Nhân vật của Võ Thị Hảo thường có nét

sinh - hi sinh mình để cứu rỗi kẻ khác” [61]

Nam sau 1986 nhâ ̣n xét về tác phẩm Hành trang của người đàn bà Âu Lạc

hoặc cũng đề cập đến yếu tố cổ tích trong sáng tác của Y Ban, Đoàn Lê, Lương Minh Hinh, Chu Văn, Lưu Sơn Minh… Tinh thần chung đều ghi nhận

biến di sản văn học quá khứ

Dù chưa bao quát tất cả, nhưng những công trình trên đây, trong một chừng mực nào đó, cũng cho thấy Truyện cổ viết lại là một mảng sáng tác thâ ̣t

khách quan mà nói, những nghiên cứu này chỉ mới chú trọng các sáng tác của một hoặc một vài tác giả cụ thể trên một số phương diện riêng lẻ, chưa thành hệ thống Việc tìm hiểu những đặc trưng cơ bản về nội dung và phương thức biểu hiện góp phần làm nên thế giới nghệ thuật khó lẫn của chúng, như thế, vẫn là một vấn đề bảo lưu đầy đủ tính thời sự, cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của nó

Trang 15

CHƯƠNG 1

VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1.1 Khái niệm Truyê ̣n cổ viết lại

tươ ̣ng la ̣ đó là sự xâm nhâ ̣p của huyền thoa ̣i vào đời sống văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t:

điều này đã làm cho những tác phẩm sau 1975 mang nhiều nét mới Đây được

gian trong văn xuôi Viê ̣t Nam từ 1986 đến nay đã đưa ra mô ̣t thuâ ̣t ngữ về

đươ ̣c viết theo hình thức Truyê ̣n cổ viết la ̣i, và chỉ ra được đă ̣c điểm nổi bâ ̣t

Trang 16

củ a nhóm tác phẩm thuô ̣c kiểu này đó là chúng đều có điểm tựa là mô ̣t truyê ̣n

để có sự kế thừa hay sáng ta ̣o, bổ sung Điều này có thể nhâ ̣n thấy trong nhiều

Gio ́ ng), Nguyễn Huy Thiê ̣p (Trương Chi)…

Hua Ta ́ t (Nguyễn Huy Thiê ̣p), Khát vọng muôn đời, Nàng tiên xanh xao (Võ

truyền thố ng

Trang 17

truyện cổ dân gian, nhưng cổ tích trong quá trính tiếp nhâ ̣n được các tác giả

thường, trần thế nảy sinh và phát triển trong xã hô ̣i có giai cấp, nhân vâ ̣t thường là con người và thường đề câ ̣p đến những vấn đề của nhân tình thế

Như vâ ̣y, trên cơ sở nhâ ̣n da ̣ng về loa ̣i Truyê ̣n cổ viết la ̣i, chúng tôi

Trương Chi của Nguyễn Huy Thiê ̣p, Câu hát của Lưu Sơn Minh…

thừa từ VHDG

Văn hóa dân gian nói chung, VHDG nói riêng là những giá tri ̣ tinh thần vô

Trang 18

hội,văn hóa dân gian luôn được vâ ̣n du ̣ng, khai thác những giá tri ̣ đa ̣o đức,

tranh bom đa ̣n đã thực sự lùi xa vào dĩ vãng, nhưng phải đương đầu với

đầy bí ẩn là con người VHDG trở thành mô ̣t cứu cánh cho nhà văn phản ánh

văn đã dùng VHDG như mô ̣t phương thức nghê ̣ thuâ ̣t để ta ̣o ra những hình

Ở da ̣ng truyê ̣n ngắn Truyê ̣n cổ viết la ̣i, các nhà văn không chỉ làm mới cốt

Đo ̣c Sự tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang, Truyện cổ viết lại của Lê

Đa ̣t và Lê Minh Hà, Trương Chi của Nguyễn Huy Thiê ̣p… có thể so sánh,

Trang 19

Trong khi đó, với các Truyê ̣n cổ viết la ̣i, nhân vâ ̣t không chỉ được miêu tả

đến tính cách… Điều này những tưởng khâ ̣p khiễng nhưng hoàn toàn phù

miền vi tế của con người thời đổi mới, qua đó tác giả dễ dàng thể hiê ̣n được ý tưởng nghê ̣ thuâ ̣t của mình Trong bối cảnh văn ho ̣c có sự phát triển ma ̣nh mẽ, phương thức sáng ta ̣o này hoàn toàn được chấp nhâ ̣n Với nó, các hình thức

văn đươ ̣c khuyến khích

ẩn chứa sức ma ̣nh kì diê ̣u hấp dẫn tuổi thơ Những nàng tiên cá, những con

Trong khi đó, những truyê ̣n ngắn viết theo phong cách Truyê ̣n cổ viết la ̣i tự

đông đảo nhân vâ ̣t thần linh và người thường Ho ̣ sống chen chúc trên cõi

dân ngưỡng mô ̣ và tôn thờ Nhưng với Hòa Vang, Bu ̣t cũng có những nét tính

Trang 20

cách giố ng người trần Bu ̣t cũng nhầm lẫn, cũng thiên vi ̣, cũng phán xét

Đằng sau vẻ đe ̣p lung linh huyền ảo là hiê ̣n thực cuô ̣c sống Người đo ̣c cùng

Ở truyê ̣n cổ dân gian nhân vâ ̣t cổ tích chưa bô ̣c lô ̣ rõ tính cách, tâm lý

Trang 21

Không ai có thể khẳng đi ̣nh truyê ̣n cổ dân gian hạn chế hơn Truyê ̣n cổ

đã kế thừa những yếu tố trong truyê ̣n truyền thống và nỗ lực gia công, làm

tâm lí hiện đại khó nói tường tận, đủ đầy Mo ̣i tiếp nhâ ̣n từ VHDG trở thành phương tiê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t đắc lực để thể hiê ̣n tư tưởng nghê ̣ thuâ ̣t của nhà văn

ĐƯƠNG ĐẠI

1.2.1 Diện mạo của Truyê ̣n cổ viết lại trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam

ở mo ̣i thời đa ̣i

Trang 22

viết đã làm cho loa ̣i truyê ̣n cổ này không còn huyền hồ, xa ngái trong vời vợi thời gian mà chúng được thổi hồn đương đại, nâng lên tầm cao mới, chuyên

văn hóa dân tô ̣c được hồi sinh ở mỗi người và ở mỗi thời đa ̣i Lấy cảm hứng

nước - đã ta ̣o điều kiê ̣n cho văn ho ̣c áp sát đời sống, tâm hồn con người, thay đổi cách nhìn, cách quan niê ̣m về con người theo đúng bản chất của nó

Vì thế, để phản ánh những vấn đề sai trái, tiêu cực của xã hô ̣i thời hiê ̣n đa ̣i,

Trang 23

nhà văn rất cần mô ̣t đô ̣ lùi về không gian và thời gian nghê ̣ thuâ ̣t để giúp người đo ̣c suy xét mô ̣t cách khách quan nhất Sự quay về với những huyền

ánh những vấn đề gai góc nhất của xã hô ̣i Viê ̣c sử du ̣ng những yếu tố của VHDG trong văn ho ̣c không phải là điều mới la ̣, những nhà văn giai đoa ̣n

nhưng sự vâ ̣n du ̣ng VHDG trong thời kì đổi mới có những đă ̣c trưng đă ̣c biê ̣t

Trên văn đàn Viê ̣t Nam đương đa ̣i, da ̣ng truyê ̣n ngắn viết la ̣i “chuyê ̣n xưa tích cũ” đang nở rô ̣ khác thường Đây được xem là mô ̣t hiê ̣n tượng giàu ý

văn ho ̣c và hiện thực xã hô ̣i Viê ̣c viết la ̣i các “chuyê ̣n xưa tích cũ” có nhiều

thay đổi nhưng cũng không phải là kể la ̣i hoă ̣c di ̣ch la ̣i nguyên văn chuyện cũ,

Trang 24

thứ c Chính điều đó đã làm cho dấu ấn truyê ̣n dân gian được thể hiê ̣n những

cho văn xuôi hôm nay trên tham vọng đầy tính nhân văn của đội ngũ sáng tác

là tạo lực để văn học nước nhà “đến hiện đại từ truyền thống”

1.2.2 Vai trò của Truyê ̣n cổ viết lại trong tiến trình phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam

Cho đến nay, sau chă ̣ng đường 20 năm đi ̣nh hình và phát triển, người ta đã không còn do dự khi thừa nhâ ̣n sự tồn ta ̣i và đóng góp của mô ̣t bộ phâ ̣n văn xuôi nhâ ̣n thức và phản ánh cuô ̣c sống bằng đă ̣c trưng và ưu thế của

đường mà giới nghiên cứu văn ho ̣c quen go ̣i bằng cái tên kì ảo (fantastic) Sau 1975, đă ̣c biê ̣t sau 1986, cùng với sự phát triển của đất nước, con người

riêng Đất nước được đổi mới và văn ho ̣c đã được thổi mô ̣t cơn gió lạ, tươi

người, những mối quan hê ̣ phức ta ̣p… Kế thừa thế hê ̣ với nhiều thành tựu trong văn ho ̣c trước đó, nhiều nhà văn trẻ đã quan tâm nhiều đến vấn đề cá

Đời sống xã hô ̣i ngày càng phát triển, con người cha ̣y theo lối sống đô

Trang 25

bao bộn bề, lo toan của cuô ̣c sống, con người dường như không còn đủ thời gian để tìm về với những huyền thoa ̣i cổ tích Những câu chuyê ̣n kể với

“Hiê ̣n nay, cổ tích không còn được sáng ta ̣o thêm những cốt truyê ̣n mới nhưng nó vẫn được tiếp tu ̣c làm phong phú bằng cách ta ̣o thêm những biến

văn Cu ̣ thể Trương Chi của Nguyễn Huy Thiê ̣p, Truyê ̣n cổ viết lại của Lê Đa ̣t

đáo, mới mẻ trong văn dòng văn ho ̣c đương đa ̣i; giúp người viết chuyển tải cách nhìn, cách nghĩ cùng lương tâm, trách nhiệm của mình trước sự đa diện,

đa chiều của cuộc sống, con người thời đổi mới

Ở Truyê ̣n cổ viết la ̣i, các nhà văn không chỉ đứng từ quan điểm giáo

Trang 26

những tâm tư riêng của chính mình Lúc này các nhân vâ ̣t không được nhìn từ

(M.Bkhtin)

Dễ nhận thấy rằng, trong Truyện cổ viết lại, quá trình huyền thoa ̣i hóa đã trở thành quá trình giải huyền thoa ̣i hóa, các tích truyê ̣n cổ dân gian tưởng đươ ̣c dùng như các ước lê ̣ thì la ̣i trở thành biểu tượng của viê ̣c phản ước lê ̣ Đó là cách ứng xử rất đô ̣c đáo với các chất liê ̣u dân gian của Nguyễn Huy

ngắm những hiê ̣n tượng đa chiều, phức ta ̣p trong xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i Nhà văn

Như vậy, sẽ không quá võ đoán khi cho rằng, Truyê ̣n cổ viết la ̣i đã thực sự có

Trang 27

vai trò quan tro ̣ng nhằm góp phần phong phú hóa, hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam đương đại

Trang 28

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG CỦA TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI

2.1 NHÂN VẬT

con người trong nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ Bên ca ̣nh con người, nhân vâ ̣t văn ho ̣c có

đă ̣c điểm giống với con người” [20, tr.203] Theo tinh thần đó, những truyê ̣n

nay

2.1.1 Nhân vật mang vẻ đẹp huyền thoại, cổ tích

ban đầu nhân vâ ̣t chi ̣u thiê ̣t thòi, trải qua nhiều khổ na ̣n rồi được người khác

để sống sung sướng đến cuối đời Nàng Tấm trong truyê ̣n cổ tích – mô ̣t cô gái đầy bất ha ̣nh, mồ côi me ̣ từ nhỏ, cha chết sớm, sống với dì ghẻ và đứa em

Vang thường để cho những người đe ̣p, người tốt gă ̣p những khổ na ̣n khôn lường nhưng rồi thể nào ho ̣ cũng vượt qua, cũng được đền bù tương xứng

Trang 29

phú c mãn nguyện, sung sướng nhất Nhưng hóa ra, nàng bi ̣ cái lòng thầm yêu

mưu sinh, của quan hê ̣ nhân thế, mà còn có những đau khổ, hệ lụy của đời sống tinh thần Nhưng lòng mong mỏi của nhà văn đối với cuô ̣c đời này, với

Trương Chi trong truyê ̣n cổ tích vốn nghèo và xấu xí nhưng có gio ̣ng

tươ ̣ng nhân vâ ̣t này để gửi gắm nhiều thông điê ̣p khác Trương Chi trong

Trang 30

vố n đã nuôi dưỡng tâm hồn chàng – nên tiếng hát thánh thót vút cao, bay

muôn đời của con người: tiền tài, danh vo ̣ng và tình yêu dường như không

Sơn Minh nhe ̣ nhàng hơn, không khắc khoải, đơn đô ̣c trước cuô ̣c đời như Trương Chi của Nguyễn Huy Thiê ̣p Lưu Sơn Minh ca ngợi nét đe ̣p tâm hồn, đề cao giá tri ̣ tinh thần Bằng tiếng hát của mình, Trương Chi chính là biểu tươ ̣ng đe ̣p gơ ̣i cho Mi ̣ Nương có cảm nhâ ̣n mới về cuô ̣c sống Tiếng hát chính

người, “những câu hát làm người ta quên đi mê ̣t mỏi để sống với ước mơ”

Người thì thâ ̣m xấu hát thì thâ ̣m hay

tươ ̣ng Trong Trương Chi của tôi, nhà văn Bão Vũ không khai thác chi tiết

Trương Chi để đến với chàng thì Đă ̣ng Văn Sinh la ̣i để Mi ̣ Nương thanh

Trang 31

minh: “Em yêu tiếng hát Trương Chi nhưng không không hiểu Trương Chi

điê ̣u ở tâm linh” Và những gio ̣t nước mắt của Mi ̣ Nương là nỗi thương cảm

Nương la ̣i chỉ là thứ xướng ca tô điểm thêm chút ít cho cuô ̣c sống vương giả

2.1.2 Nhân vật mang dáng vẻ của con người hiện đại

biên củ a Lỗ Tấn vẫn mang dáng vẻ của thời đa ̣i cũ thì ở trong tác phẩm của

Thị Hảo… những người như Trương Chi, Tấm, Châu Long, Sơn Tinh, Thủy

hơn là đã viết tiếp câu chuyê ̣n cổ Sơn Tinh Thủy Tinh vốn rất quen thuô ̣c với

trong truyền thuyết Chàng chỉ là mô ̣t người tình cô đơn suốt đời đau khổ vì

Nương Tôi hiểu em hoàn toàn Hãy trở về đi và gắng sống Tôi cũng vâ ̣y Tôi

Trang 32

sẽ nghe lời em Còn nếu nhớ tôi, thì đúng mỗi năm mô ̣t lần, đúng tiết thu,

đi cái giây phút mă ̣t trời nhấc hẳn mình ra khỏi chân mây, không giu ̣c giã ngay đám tùy tùng khênh lễ vâ ̣t bước hẳn vào sân chầu ra mắt vua Hùng” nên đã vào sân chầu châ ̣m hơn Sơn Tinh – vị Sơn thần lúc nào cũng bình tĩnh, tự

Dương Vương, Gióng,… nhà văn Lê Minh Hà đã biến những truyê ̣n cổ xa

xưa thành những bi ki ̣ch lớn nhỏ, xới lên từ đó những nỗi niềm khuất lấp

Đo ̣c Ngày xưa, cô Tấm…, độc giả sẽ dễ dàng nhâ ̣n ra mô ̣t cô Tấm khác

trong mơ chỉ có mô ̣t mình Cám nói Trong mơ, Tấm tê liê ̣t vì kinh hoàng và căm giâ ̣n Và gio ̣ng Cám ai oán, ảm đa ̣m sẽ như tiếng tinh nứa siết vào nhau

Trang 33

tú y thể chất Nó làm Tấm rã rời Từng đêm… Từng đêm…” [18, tr.164]

đã khóc chỉ vì không được sống Nàng đã khóc khi đã tước đi sự sống của

yêu thương mô ̣t người vợ tàn ba ̣o như thế: “Mô ̣t chiều kia, Tấm chua xót nhâ ̣n

nước chợt nhuốm đầy vẻ khinh bỉ và ghê sợ khi cha ̣m phải cái nhìn của nàng

thường hay xuất hiê ̣n những lúc Tấm gă ̣p khó khăn và bảo ban, giúp đỡ cho

nước, mô ̣t người cha đã giết con gái mình Lời của An Dương Vương vừa tự

Trang 34

có thể xóa đi lỗi lầm nhưng khó có thể xóa đi đươ ̣c khi ngay trong lòng mình

Người ta tự cổ không ai chết Ta đâu mong gì hâ ̣u thế lưu danh

đó… [18, tr.178]

xem như là sự phán xét khách quan của dư luâ ̣n, của thế hê ̣ sau dành cho vua

duy mang đâ ̣m tính hiê ̣n đa ̣i, những băn khoăn, lý giải đã thể hiê ̣n rõ hình ảnh

Thương gio ̣t máu mình không biết giờ còn phiêu ba ̣t trên đầu ngo ̣n gió nào”

[18, tr.256]

Trang 35

Mỗi câu chuyện mà Lê Minh Hà kể ra là mô ̣t nỗi buồn tê tái về những điều mà huyền thoa ̣i không kể và đánh đô ̣ng nơi người đo ̣c những cảm xúc da diết lắ ng sâu về nhân thế

năm trước “đã đau đớn thế này, đã căm giâ ̣n thế này” Trương Chi đã căm

căm giâ ̣n thế này [47, tr.374]

Như thế, cả Lê Đa ̣t, Lê Minh Hà, Hòa Vang, Nguyễn Huy Thiê ̣p… đều

đa ̣i Nhân vâ ̣t ở đây có những nét tính cách, suy nghĩ, tâm tư tình cảm khác

Trang 36

lập xen cài Nghĩa là, nhà văn đã phá bỏ quy luâ ̣t nhâ ̣n thức bất biến trong

để nhân vâ ̣t vốn hoàn toàn đáng yêu, tốt bu ̣ng trong cổ tích trở thành xấu xa,

đáng ghét như Ngày xưa, cô Tấm…, Châu Long,… Đôi lúc, nhà văn hóa giải

Sư ̣ tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang hoă ̣c những nhân vâ ̣t vốn nha ̣t

tư, tình cảm như Châu Long, Sơn Tinh, Thủy Tinh… Bằng cách kế thừa

2.1.3 Nhân vật mang tính phổ quát – triết lý

mười để truyền tải khối lượng thông tin đồ sô ̣ từ cuô ̣c sống, làm sao mỗi sự

thông điê ̣p cuô ̣c sống đến với mo ̣i người Trong văn ho ̣c giai đoa ̣n 1930 –

văn ho ̣c sử thi, ca ngợi chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách ma ̣ng,

của ngu ̣ ngôn dân gian trong viê ̣c ta ̣o ra nhiều tầng nghĩa cho tác phẩm

Trang 37

Trước những giá tri ̣ nguồn cô ̣i tưởng như đã ổn đi ̣nh, những nhà văn như Hòa Vang, Lê Đa ̣t, Lê Minh Hà, Nguyễn Huy Thiê ̣p… đã nghĩ la ̣i, đánh

đô ̣ng, mới mẻ Trong Sự tích những ngày đẹp trời, Hòa Vang sử du ̣ng la ̣i các

đô ̣c ác, hay thù oán và gây nhiều tai ho ̣a cho nhân dân Nhưng đến Sự tích

như ̃ng ngày đe ̣p trời, Thủy Tinh trở thành nhân vâ ̣t chính diê ̣n, là mô ̣t người

đã biến Mi ̣ Nương - mô ̣t nhân vâ ̣t chức năng khá nhạt nhòa trong truyê ̣n cổ, là

Nương nghe thấu tiếng sóng ngâ ̣m trong các thớ vách gỗ ấy Hàng ngày, hàng

Trang 38

Nương, Phật, Tấm, Cám… tất cả đều mang những tâm tính người, ái ố hỉ nô ̣,

đáng nhất để con người tha thiết với nó, sống chết vì nó Chàng Sa Tăng trong

Nhân Sư ́ sau bao nhiêu năm theo hầu Đường Tăng sang Tây Trúc lấy kinh,

đươ ̣c mô ̣t chân lý mới: niềm ha ̣nh phúc lớn lao nhất, chân thực nhất là được

ước mong ha ̣nh phúc của mô ̣t dân chài: “Như hơi ấm đã quần bám, đã đi theo

đám bu ̣i vẩn hồng hồng vừa khỏa lấp vừa thâu nhâ ̣n thêm mô ̣t ha ̣t bu ̣i người – Nơi xóm chợ chân núi, xao xác đủ tiếng chó gà, tiếng trâu ngựa, tiếng ve ̣t

đa ̣o đức, lương tri

con người Trong bản thân mỗi người, cái tốt – cái xấu, cái cao cả – cái thấp

Trang 39

toan tính Con người dù ở đẳng cấp giàu – nghèo, sang – hèn đều chông chênh

nga ̀ y đe ̣p trời của Hòa Vang… là triết luâ ̣n về giới ha ̣n và khát vo ̣ng của con

người, về lẽ công bằng cũng như cái đa đoan, phức ta ̣p của cuô ̣c sống Trương

Chi cu ̉ a Nguyễn Huy Thiê ̣p là triết luâ ̣n về bản chất của nghê ̣ thuâ ̣t Còn Nhân

Sư ́ của Hòa Vang gồ m có ba truyê ̣n, mỗi truyê ̣n cũng nói về mô ̣t chủ đề,

nhưng đều toát lên mô ̣t tiếng nói chung Hành trình tìm ra mô ̣t “Nhân Sứ” –

Viênan, Chư ̉ ơi, Những kẻ lạ, Thất thanh Phần mô ̣t và phần ba nói về những

Dung Ở đó, chúng ta thấy hình ảnh của ho ̣ thâ ̣t mới mẻ, đến với nhau và sống

tưởng sống trong cảnh nghèo túng mới khổ, đằng này Chử sống trong cảnh đầy đủ mà không vui sướng được bao lâu Chàng buồn nhớ và thầm khát khao

ăn nhâ ̣p gì với nhau nhưng đều có mô ̣t mối liên hê ̣ Con người từ cổ chí kim đều không bao giờ thỏa mãn hết những ham muốn của chính bản thân mình,

Trang 40

Trong truyện Trương Chi của Nguyễn Huy Thiê ̣p, nhân vâ ̣t trung tâm

Viên quan trưởng bảo chàng:

Trương Chi tức nghe ̣n ho ̣ng Chàng biết, hát về điều ấy thâ ̣t là trò

trước nu ̣ cười ấy Chàng khò khè trong cổ Chưa bao giờ chàng hát mô ̣t

đông người [47, tr.245]

Trên cơ sở văn bản gốc, các nhà văn đương đa ̣i đã xây dựng những ngữ

giàu có về tính biểu tượng…

tươ ̣ng nghê ̣ thuâ ̣t” [20, tr.134] Bất kì mô ̣t sáng tác ngôn từ nào cũng tồn ta ̣i

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w