1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về bác hồ

258 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, thời gian, không gian…tất cả những đặc điểm ấy đã được các tác giả dân gian vận dụng khá linh hoạt, góp phần làm nổi bật tình cảm của Bác đối với nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THUÝ KIỀU

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA

VIỆN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Điệp – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã rất tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của :

- Quý thầy cô giáo

- Phòng sau Đại học trường ĐHSP TP.HCM

- Các cơ sở cung cấp dữ liệu (thư viện-trang web-các bài báo-các cá nhân có tài liệu hỗ trợ)

- Gia đình, người thân

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ca dao là một thể loại của văn học dân gian Việt Nam, là những sáng tác trữ tình biểu hiện tình cảm, nỗi niềm của con người trong cuộc sống như tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình, quê hương, đất nước,…Những tâm tư ấy xuất phát từ trái tim của con người Đối tượng

mà ca dao hướng đến có thể là người bạn, người yêu, người thân, người anh hùng dân tộc…

Chủ tịch Hồ Chí Minh là đề tài vô tận cho thơ ca Tìm hiểu về Bác bao giờ cũng là một nhu cầu lớn và khẩn thiết của nhân dân Hàng loạt các bài viết, các công trình nghiên cứu về cuộc đời Bác, tấm gương đạo đức của Bác, sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp thơ văn của Bác…ra đời Hình tượng Bác được xây dựng chân thật và đẹp đẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật như: hội họa, âm nhạc, điện ảnh, điêu khắc, sân khấu, …nhưng có lẽ thành công nhất là thơ ca, trong đó có ca dao

Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật lịch sử thời hiện đại được ca dao hướng đến

để nhận thức Ca dao về Bác chiếm số lượng khá lớn trong mảng ca dao hiện đại Thế nhưng, hiện nay bộ phận ca dao về Người chưa được nghiên cứu bao nhiêu Để hiểu sâu hơn mảng ca dao này, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ

Ca dao bày tỏ tình cảm, nguyện vọng, suy nghĩ của nhân vật trữ tình nhưng không phải chỉ bày tỏ tình cảm cá nhân mà còn đại diện cho quảng đại quần chúng nhân dân Cho nên, khảo sát đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình cảm của nhân dân đối với Bác

Nghệ thuật ca dao nói chung và ca dao về Bác nói riêng rất đa dạng Thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, thời gian, không gian…tất cả những đặc điểm ấy đã được các tác giả dân gian vận dụng khá linh hoạt, góp phần làm nổi bật tình cảm của Bác đối với nhân dân cũng như tình cảm của nhân dân đối với Bác

Hơn nữa, đặc điểm nghệ thuật của ca dao thì hầu như đã được các nhà nghiên cứu chú ý tới từ lâu, phân tích, mổ xẻ rất nhiều Riêng về đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác thì rải rác chỉ một số bài viết Chính vì thế, người viết mong muốn với đề tài luận văn này có thể góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao nói trên

2 Lịch sử vấn đề

Việc tìm hiểu ca dao về Bác đã và đang được nhiều người quan tâm Liên quan đến đề tài

“Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ” có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau đây:

Trang 4

Thi Nhị có bài “Bác Hồ và nguồn ca dao mới” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số

4/1984 Bài viết chủ yếu nói về tình cảm mãnh liệt, sâu đậm của nhân dân đối với Bác Hồ kính yêu qua ca dao Tác giả cũng đề cập đến một đặc điểm về ngôn ngữ của mảng ca dao này, đó là việc sử dụng phương pháp tỉ dụ quen thuộc của ca dao cổ truyền để khắc họa một cách chân

thực, gần gũi, mộc mạc hình ảnh của lãnh tụ “ …với phương pháp tỉ dụ quen thuộc của ca dao

truyền thống, đã khắc họa một cách chân xác và nghệ thuật song lại rất gần gũi, mộc mạc hình ảnh của lãnh tụ: Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” [ 64,5]

Với hai công trình “ Suy nghĩ về cảm quan dân gian qua hình tượng Bác Hồ” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian , số 1/1990 và “ Một nét đẹp trong bức tranh văn hóa dân gian

đương đại: ca dao về Bác Hồ” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 4/1991, Nguyễn Xuân

Lạc đã đề cập đến cảm quan dân gian đối với Bác qua ca dao Tác giả cho rằng hình tượng Bác

Hồ trong ca dao đã được sáng tác theo cảm quan “ thần thánh hóa” Với cảm quan này, ca dao tìm đến những biểu trưng của cái đẹp tuyệt đối, cái đẹp toàn bích, lý tưởng để thể hiện lãnh tụ

Và chính cảm quan ấy đã chi phối bút pháp nghệ thuật của ca dao về Bác Đó là bút pháp thiên

về tượng trưng, khái quát hơn là miêu tả những chi tiết sống thật của con người Bác, cuộc đời Bác

“Để diễn tả một con người có “tầm vóc thế kỷ” như Bác, thì sử dụng bút pháp tượng

trưng và khái quát là thích hợp, bút pháp này có nhiều khả năng để tôn cao đối tượng thẩm mỹ theo cảm quan “thần thánh hóa” của nhân dân ta Bằng bút pháp ấy, ca dao quần chúng đã dựng lên những hình ảnh cao đẹp, rộng lớn, hùng vĩ, thiêng liêng về Bác với nghệ thuật so sánh

ví von truyền thống đậm đà: mặt trời, vầng Thái Dương, sao Bắc Đẩu, gương Hồ Thủy, hòn Thái Sơn, trời đất, sông bể, hoa sen, hương quế, hương trầm…bởi vì chỉ có những hình ảnh ấy thì mới xứng đáng với tầm vóc vĩ đại của Bác và mới thỏa tấm lòng ngưỡng mộ, tôn kính, biết

ơn của nhân dân ta đối với Bác”.[34, 9]

Trần Gia Linh với bài viết “Bốn mươi lăm năm ca dao dâng Bác” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 1/1990 đã khẳng định: “ Ca dao diễn tả về Người như một sự thống nhất

tuyệt diệu giữa cái vĩ đại trong sự bình dị; giữa những hình ảnh kì vĩ có tính chất thần thoại với những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với mọi người; giữa cái tượng trưng cao độ với cái hiện thực sâu sắc trong phương pháp biểu hiện.” [ 39,30]

Với tiểu luận “Tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ qua ca dao” trong

công trình biên soạn “Ca dao về Bác Hồ”, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội-2003, Trần Quang Nhật đã có những đóng góp đáng kể trong việc khẳng định ca dao về Bác đa số sử dụng lối so

Trang 5

sánh Hướng so sánh thứ nhất là “so sánh hai cuộc đời: cuộc đời lầm than của người dân mất

nước trong xiềng xích nộ lệ, dưới hai tầng áp bức bóc lột của thực dân phong kiến và cuộc đời sống trong độc lập tự do hòa bình mà Bác và Đảng đã dành lại cho đất nước” [58, 15] Hướng

so sánh thứ hai là “so sánh công ơn của Bác với những gì thiêng liêng nhất, kì vĩ nhất trong

cuộc sống trần gian và trong thiên nhiên vũ trụ”[ 58, 17] “Để tỏ rõ niềm tin của mình đối với Bác Hồ, một lần nữa qua ca dao, nhân dân ta đã dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh So sánh Bác như sao Bắc Đẩu, như vầng Thái Dương soi đường chỉ lối cho nhân dân ta đi lên” [58, 30]

Với bài viết “Tìm hiểu công thức truyền thống trong một số bài ca dao mới Nam Bộ về

hình ảnh Bác Hồ” đăng trên website http://cadaotucngu.daitudien.com, Trần Tùng Chinh đã

cho thấy ca dao về Bác có sự kế thừa một số công thức truyền thống của ca dao cổ truyền “Các

bài ca dao mới nói chung và ca dao về Bác nói riêng còn thiếu sự trau chuốt nhưng lại thừa sự mộc mạc tự nhiên Tuy nhiên, những công thức truyền thống quen thuộc của ca dao xưa vẫn in dấu và làm nên chất dân gian trong những bài ca” [4]

Theo Hà Công Tài trong bài viết “Vấn đề sưu tầm nghiên cứu thơ ca dân gian hiện

đại” đăng trong cuốn “Một thế kỷ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian”, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội – 2001, thì mảng ca dao về Bác chưa được nghiên cứu bao nhiêu, dù đây

là bộ phận có khối lượng lớn nhất trong ca dao hiện đại Khi nghiên cứu về bộ phận này, Hà Công Tài nhận thấy rằng chúng có nhiều đặc điểm rất tiêu biểu cho ca dao thời hiện đại, từ cách cảm nhận và phản ánh cuộc sống tới đặc điểm thi pháp, từ hoàn cảnh lưu truyền tới sự gắn bó với truyền thống ca dao của dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử

Nhìn chung, ở các công trình nghiên cứu trên, bên cạnh việc bàn về nội dung thì cũng bàn đến thi pháp của ca dao về Bác, trong đó có một số đặc điểm nghệ thuật như kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh Tuy nhiên, vẫn chưa có một chuyên luận nào về đặc điểm nghệ thuật của ca dao

về Bác, nếu có thì có lẽ chúng tôi chưa đọc được Đa phần, khi bàn về nghệ thuật của mảng ca dao này, các nhà nghiên cứu nói về sự kế thừa các công thức truyền thống trong kết cấu, các biện pháp tu từ trong ngôn ngữ và các hình ảnh thiên nhiên đã trở thành biểu tượng Còn các đặc điểm nghệ thuật khác thì người nghiên cứu ít chú ý

Kế thừa thành tựu của người đi trước, chúng tôi phát triển thành một chuyên luận về Đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ Chúng tôi hi vọng đề tài sẽ góp thêm một tiếng nói mới về đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao này

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

Đây là một đề tài chưa được nghiên cứu chuyên sâu, vì thế, mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là hệ thống một số đặc điểm nghệ thuật chủ yếu để từ đó nhận thức rõ hơn giá trị của bộ phận ca dao về Bác Luận văn góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ thuật của ca dao về Bác ở ba phương diện: thể thơ, kết cấu và ngôn ngữ Từ đó làm rõ hơn giá trị đặc sắc của mảng ca dao này, hiểu thêm về thể loại ca dao, hiểu thêm mối tương quan giữa ca dao

về Bác với ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại

ở nhiều dân tộc trong đại gia đình Tổ quốc Việt Nam Bộ sưu tập này gồm 145 bài của dân tộc Kinh và 16 bài của dân tộc ít người ở Nam bộ

- Công trình “Ca dao về Bác Hồ” của Trần Hữu Thung do Nxb Hà Tĩnh, 1981 Công trình này bao gồm hai phần Phần thứ nhất là một vài cảm nhận của tác giả nhân đọc ca dao về Bác Hồ Phần thứ hai tác giả giới thiệu các bài ca dao đã sưu tầm được nhưng không sắp xếp theo một trật tự nhất định nào Tất cả gồm 227 bài ca dao

- Công trình sưu tầm “Ca dao về Bác Hồ” của Trần Quang Nhật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003 Tập sách gồm hai phần chính: tiểu luận và sưu tầm Trong phần sưu tầm, để độc giả tiện tra cứu, tác giả đã sắp xếp các bài ca dao theo chủ đề: Bác Hồ - công ơn trời biển, Bác Hồ - mối quan hệ máu thịt với quần chúng, Bác Hồ - niềm tin tất thắng của dân tộc, Bác

Hồ - động lực thúc đẩy toàn dân thi đua chiến đấu và sản xuất, Bác Hồ trong lòng đồng bào dân tộc ít người Tuy nhiên, tác giả cho rằng cách sắp xếp trên đây chỉ là tương đối, bởi vì các khía cạnh tình cảm của nhân dân đối với Bác Hồ thường đan chéo với nhau Trong một bài ca dao nhiều khi có cả khía cạnh này, và khía cạnh kia, cái này là nguyên nhân, cái kia là sự thể hiện

và ngược lại, khó mà phân định rạch ròi được Tổng số bài ca dao trong tập này là 253

- Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo những quyển như: “ Ca dao Bảo Định Giang”, “ Tục ngữ ca dao Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, “ Ca dao chống Mỹ -tập 2”, “ Ca dao chiến sĩ -tập 5”,“ Ca dao chiến sĩ -tập 6”, “ Ca dao Đồng Tháp Mười”, “ Ca dao sưu tầm - Từ 1945 đến nay”,

Trang 7

ca dao Nam bộ, ca dao Nam Trung bộ, ca dao dân ca đất Quảng, ca dao Hải Hưng, ca dao ngoại thành…

Sau khi tổng hợp, loại bỏ những bài trùng lặp, chúng tôi thống kê được tất cả 521 bài Ở luận văn này, người viết chỉ khảo sát ca dao về Bác Hồ của người Kinh không khảo sát ca dao của dân tộc thiểu số

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, người viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: hệ thống,

so sánh, liên ngành, thống kê

Mỗi bài ca dao được sản sinh và tồn tại theo hệ thống ca dao cùng thể loại Do vậy, phương pháp hệ thống và so sánh được tiến hành dựa trên nguyên lý về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, dùng cái chung (ca dao) để hiểu cái riêng (ca dao về Bác) và từ cái riêng (ca dao về Bác) để hiểu cái chung (ca dao), thấy được sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của ca dao Đặt ca dao về Bác trong hệ thống của nó để phát hiện ra các đặc điểm chung và nét độc đáo riêng về nghệ thuật của nó Cụ thể là đặt ca dao về Bác vào hệ thống ca dao nói chung, hệ thống

ca dao hiện đại nói riêng Phương pháp này giúp xác định vị trí hay “tọa độ” của ca dao về Bác trong mối quan hệ với các bộ phận ca dao khác như ca dao cổ truyền, ca dao hiện đại để giúp đánh giá đầy đủ giá trị và ý nghĩa của bộ phận ca dao về Bác Những đặc điểm chung của thể loại chi phối bộ phận ca dao này rất nhiều về mặt nghệ thuật Từ những đặc điểm nghệ thuật của thể loại ca dao mà nhận ra được những đặc điểm nghệ thuật phổ biến nhất của bộ phận ca dao về Bác (chẳng hạn về dung lượng, đề tài, thủ pháp nghệ thuật) Đồng thời bộ phận ca dao này chắc chắn có những đặc điểm riêng về mặt nghệ thuật Từ những điểm chung và điểm riêng

đó mà xác định vị trí của nó trong một hệ thống và đánh giá được ý nghĩa của nó trong hệ thống

đó Ca dao về Bác không tồn tại biệt lập trong nền văn học dân gian nên không thể thiếu phương pháo so sánh khi nghiên cứu Người viết sẽ tiếp cận đa diện để hiểu rõ bản chất và vị trí của bộ phận ca dao này trong mối tương quan đa chiều với các bộ phận ca dao khác Nhìn từ nhiều góc độ sẽ giúp đánh giá chính xác và toàn diện về đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Trước hết người viết so sánh đặc điểm nghệ thuật giữa các bài ca dao về Bác với nhau để tìm ra nét chung tiêu biểu Sau đó, còn so sánh với ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại về mặt kết cấu, thể loại và ngôn ngữ

Phương pháp liên ngành (phương pháp ứng dụng khoa học liên ngành) là một phương pháp đặc biệt quan trọng Nhìn chung phương pháp này được diễn ra theo hai hướng song song Một là người viết tiếp cận ca dao về Bác bằng những kiến thức ngữ văn học, cụ thể là những lý

Trang 8

luận về phương diện nghệ thuật Đối với hướng tiếp cận này, người viết sử dụng các phương pháp phân tích văn học, vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng cần thiết của văn (gồm lý luận văn học, lịch sử văn học, ngôn ngữ học) Đặc biệt, ca dao về Bác là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ nên phải được tiếp nhận, cảm thụ và “giải mã” thông qua ngôn ngữ học Đồng thời tiếp cận tác phẩm trong đời sống dân gian của nó Hai là người viết tiến hành lí giải, cắt nghĩa đặc điểm nghệ thuật ca dao về Bác bằng kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học tương cận là dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, lịch sử học, địa lý học, văn hóa học…Những dữ kiện đó là truyền thống, phong tục, tập quán, những đặc điểm tự nhiên, những

sử kiện lịch sử, …nhất là lịch sử dân tộc trong giai đoạn 1945 – 1975 Từ những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, văn hóa có liên quan đến ca dao về Bác để truy tìm, lí giải căn nguyên, cách thức

và ý nghĩa của thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, nêu lên những chức năng tư tưởng và chức năng nghệ thuật của chúng Nhưng cuối cùng tất cả sẽ được xử lí theo góc độ tiếp cận của ngành ngữ văn học, cụ thể là bộ môn Văn học dân gian

Người viết còn sử dụng phương pháp thống kê để thống kê tần số xuất hiện của các thể thơ, kết cấu, hình ảnh, từ ngữ Dựa vào kết quả và những số liệu thống kê đó, người viết có thể khái quát thành những đặc điểm nghệ thuật cụ thể

Các phương pháp trên được kết hợp đan xen chứ không phải sắp xếp chúng kế cận nhau,

để giúp khảo sát đặc điểm nghệ thuật ca dao về Bác theo một trình tự khoa học hợp lý và có thể nhận ra thuộc tính của đối tượng Bởi vì, ca dao về Bác không phải là một đối tượng biệt lập mà luôn nằm trong hệ thống ca dao nói chung và có mối quan hệ tương tác với các bộ phận ca dao khác Mặt khác, nghệ thuật ca dao về Bác luôn có nhiều khía cạnh, đặc điểm khác nhau mà một phương pháp không bao quát hết được Các phương pháp trên sẽ hỗ trợ, bổ sung cho nhau

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần đem lại một cái nhìn gần về phương diện nghệ thuật của ca dao về Bác Luận văn chỉ ra đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Người ở ba phương diện: đặc điểm thể loại, kết cấu và ngôn ngữ Người đọc có thể thấy được những nét đặc sắc, độc đáo về nghệ thuật cũng như những đóng góp không kém phần quan trọng của bộ phận ca dao này cho thể loại ca dao, đặc biệt là ca dao hiện đại Lí giải vì sao bộ phận văn học này lại có sức sống mạnh mẽ trong lòng quần chúng nhân dân hơn 70 năm qua Đến nay, bộ phận ca dao này vẫn còn sống động và giúp chúng ta hiểu thêm, yêu thêm đời sống tâm tư, cách nghĩ, lối sáng tác tài hoa của nhân dân trong việc ca ngợi người anh hùng

7 Cấu trúc của luận văn

Trang 9

Ngòai phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung luận văn có 3 chương:

Chương 1 : Khái quát về ca dao và ca dao về Bác Hồ

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu một cách chung nhất về khái niệm ca dao; giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại; khái niệm ca dao về Bác

Hồ, nội dung, đối tượng sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, số lượng tác phẩm của ca dao về Bác Hồ Chương 2 : Thể thơ và kết cấu của ca dao về Bác Hồ

Đặc điểm thể thơ được triển khai với 3 nội dung: thể lục bát, thể song thất lục bát và thể hỗn hợp Đặc điểm kết cấu gồm 3 nội dung: kết cấu đối thoại và kết cấu trần thuật; kết cấu đối lập và kết cấu song hành tâm lý; kết cấu thu hẹp dần hình tượng và kết cấu miêu tả trực tiếp Chương 3 : Ngôn ngữ của ca dao về Bác Hồ

Chúng tôi tiếp tục đề cập đến một số đặc điểm về ngôn ngữ: sự kết hợp giữa ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương; sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường; cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm; cách sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và cách sử dụng các biện pháp tu từ

Cuối luận văn có Phụ lục gồm: giới thiệu đầy đủ các văn bản ca dao khảo sát và các bảng thống kê số liệu có liên quan đến đề tài:

- Phụ lục 1 thống kê tổng số những bài ca dao về Bác Hồ, kết quả tổng số bài ca dao không trùng lặp là 521 bài

- Phụ lục 2 là bảng thống kê các số liệu về thể thơ của ca dao về Bác và ca dao hiện đại

- Phụ lục 3 là bảng thống kê tần số xuất hiện của ngôn ngữ trùng lặp trong ca dao về Bác

- Phụ lục 4 là bảng thống kê tần số xuất hiện các hình ảnh: tự nhiên, thực vật và nhân tạo trong ca dao về Bác

Trang 10

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA DAO VÀ CA DAO VỀ BÁC HỒ

1.1 Ca dao

1.1.1 Khái niệm

Trong sinh hoạt văn học dân gian, có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát, trong

đó tiêu biểu nhất là việc diễn xướng ca dao, dân ca Để chỉ lĩnh vực ca hát dân gian, nhân dân

sử dụng các từ: ca, hò, ví, lý, hát giao duyên, hát đối đáp, hát huê tình…

Ca dao có nguồn gốc từ dân ca và có mối quan hệ chặt chẽ với dân ca Thế nên trước khi

nêu khái niệm về ca dao, chúng ta cần hiểu dân ca là gì? “Dân ca là những bài hát và câu hát

dân gian trong đó có cả phần lời và phần giai điệu” [ 29, 411] Khi nói đến dân ca Việt Nam,

không phải là nói đến những bài, những câu hát nhất định, mà còn là nói đến những hình thức sinh hoạt dân ca nhất định nữa Hay nói cách khác, đời sống tồn tại của dân ca rất đa dạng và phong phú Trước hết, dân ca gắn với các sinh hoạt của người bình dân như: nghi lễ, lao động

và sinh hoạt gia đình, xã hội Ngoài ra, dân ca còn gắn với nhiều môi trường diễn xướng như: trên cạn, dưới nước dân ca gắn với nhiều thời điểm trong năm như: cúng tế, lễ hội, ngày thường; gắn với mọi giai đoạn của đời người như: sinh ra, trưởng thành, cưới hỏi, tang ma…

Và dĩ nhiên, dân ca tồn tại khắp các vùng miền: Bắc, Trung, Nam, khắp các dân tộc trên đất nước

Bàn về khái niệm ca dao, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra ý kiến của mình Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chọn những ý kiến tâm đắc nhất

Chu Xuân Diên nhận định: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán -Việt Theo cách hiểu

thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”[29, 436]

Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến

rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về mặt phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian”[32, 79]

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học thì nhận định: "dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân

ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).” [24,26]

Trang 11

Ở mỗi tác giả, tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng cùng thống nhất nhau về quan điểm:

ca dao là tiếng hát tâm tình về cuộc sống của nhân dân lao động, là những sáng tác có vần điệu được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Như vậy, giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ rệt Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa

Dựa vào thời điểm xuất hiện, có thể chia ca dao làm hai bộ phận chính: ca dao cổ truyền

và ca dao hiện đại

Bàn về khái niệm ca dao cổ truyền, Chu Xuân Diên cho rằng: “…đó là bộ phận những

câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân Gọi là cổ truyền bởi vì những câu hát này được phổ biến rộng rãi và lưu truyền qua nhiều thế hệ Gọi là cổ truyền, bởi vì những câu hát này mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách…trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác thơ ca của nhân dân ở các thế hệ sau”[29, 437]

Nguyễn Hằng Phương nhận định: “ ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền) là khái niệm chỉ

riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) được sáng tác từ cách mạng tháng Tám trở về trước”[71]

Tóm lại có thể nói: ca dao cổ truyền (hay còn gọi là ca dao cổ, ca dao truyền thống, ca dao cũ, ca dao xưa) là những bài ca dao sáng tác trước cách mạng tháng Tám, mang những đặc điểm nhất định trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác ca dao của nhân dân ở các giai đoạn sau

Về khái niệm ca dao hiện đại, trong Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại, Chu Xuân Diên cho rằng “Chúng tôi dùng khái niệm văn học dân gian hiện đại hay văn học dân

gian mới để chỉ văn học dân gian thời kỳ từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 trở lại đây.”[10,34] Ca dao hiện đại (hay ca dao mới) là một bộ phận của văn học dân gian hiện đại

Cho nên ca dao hiện đại là loại ca dao xuất hiện từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Bên cạnh đó, chúng tôi xin nhắc lại ba tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại của Nguyễn

Hằng Phương trong “ Một cách nhận diện ca dao hiện đại” để từ đó xác định khái niệm ca dao

hiện đại:

Thứ nhất: ca dao hiện đại là những tác phẩm ca dao mang đặc điểm nghệ thuật dân gian

truyền thống, phù hợp với quan niệm nghệ thuật mới và hiện thực đời sống của nhân dân trong thời kỳ hiện đại

Trang 12

Thứ hai: ca dao hiện đại là những tác phẩm ca dao mang tâm lý sáng tác tập thể Nói cách khác, đối tượng được phản ánh trong tác phẩm là những hiện tượng đời sống gây tác động vào một tập thể nhất định chứ không chỉ gây tác động vào từng cá nhân

Thứ ba: ca dao hiện đại có thể ra đời từ nhiều nguồn: từ những sáng tác mô phỏng của các tác giả chuyên nghiệp, từ những sáng tác của phong trào văn nghệ nghiệp dư, từ trong sinh hoạt văn hóa dân gian Điều quan trọng là, những tác phẩm ca dao hiện đại ấy phải được lưu truyền rộng rãi trong dân gian bằng phương thức truyền miệng, mang ý nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng [74,4]

Dựa vào tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại như trên của tác giả Nguyễn Hằng Phương và

quan điểm của Chu Xuân Diên trong vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại, chúng tôi

mạnh dạn đưa ra cách hiểu khái niệm ca dao hiện đại Ca dao hiện đại là những tác phẩm ca dao ra đời từ sau cách mạng tháng Tám, mang đặc điểm nghệ thuật ca dao truyền thống, phù hợp với quan niệm nghệ thuật mới và hiện thực đời sống của nhân dân trong thời kỳ hiện đại Hay nói cách khác đó là những tác phẩm ca dao mang những đặc điểm nghệ thuật truyền thống của ca dao cổ truyền được cải biên và những truyền thống nghệ thuật mới được định hình trên

cơ sở tiếp thu những truyền thống nghệ thuật cổ truyền

Tại sao lại chọn mốc cách mạng tháng Tám để chia ra hai bộ phận ca dao như trên? Theo người viết, cách mạng tháng Tám thành công đánh dấu một bước phát triển mới của dân tộc Đất nước được giải phóng, nhân dân thoát khỏi chế độ phong kiến hơn nghìn năm, giành lại chính quyền, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đó cũng là khoảng thời gian nhân dân được học hành, được tự do học tiếng mẹ đẻ mà không sợ bị đàn áp Từ sau cách mạng tháng tám lực lượng và hình thức sáng tác của ca dao có sự thay đổi Sau cách mạng, công tác diệt giặc dốt, bình dân học vụ phát triển làm cho hành chục triệu người dân biết đọc, biết viết trong thời gian ngắn sau cách mạng cùng với truyền thống yêu thích thi ca vốn có lâu đời của dân tộc, đã tạo khả năng và điều kiện sáng tác cho nhiều người trong mọi tầng lớp nhân dân Phần lớn người sáng tác ca dao sau thời kì này là nông dân, bộ đội Bên cạnh đó là công nhân, trí thức, các tầng lớp khác kể cả các em thiếu nhi, các cụ phụ lão, các bà mẹ chiến sĩ, các chị dân quân du kích, tự vệ… Sáng tác ca dao được truyền miệng hoặc viết thành văn, có hoặc không có tên tác giả viết trên báo liếp, báo tường, báo tay của bộ đội, của các đoàn thể nhân dân hoặc in trên báo chí của Trung ương hoặc địa phương trong cả nước Như vậy, hình thức sáng tác khác biệt nhất của ca dao hiện đại và ca dao cổ truyền chính là có một số bài ca dao được sáng tác dưới hình thức là chép lại rồi sau đó mới truyền miệng

Trang 13

1.1.2 Giá trị nội dung

Ca dao cổ truyền là những sáng tác ca dao ra đời từ cách mạng tháng Tám trở về trước Trước cách mạng, đất nước ta chịu sự đô hộ nặng nề của chế độ phong kiến Trong giai đoạn

đó, ca dao chủ yếu phản ánh tình yêu nam nữ, lên án tố cáo những mặt trái của xã hội cũ, không

có những bài ca ngợi lãnh tụ, người anh hùng Còn ca dao hiện đại là những sáng tác ra đời sau cách mạng tháng Tám Thời kì này, dân tộc ta đã thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc nhưng lại chịu sự đàn áp của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Cho nên, ca dao giai đoạn này chủ yếu phản ánh cuộc kháng chiến chốnh Pháp, Mỹ của dân tộc và bước đầu tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Tóm lại, vai trò của ca dao cổ truyền là nhằm giải tỏa nỗi lòng của người bình dân Từ đó, những con người lao động hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn Đồng thời, qua ca dao, người bình dân cũng muốn lên án cái xấu, cái ác, đề cao cái tốt, cái thiện Phải nói rằng, đến giai đoạn ngày nay, mảng ca dao cổ truyền vẫn còn nguyên giá trị của nó Ca dao hiện đại tiếp tục kế thừa và phát huy ca dao cổ truyền nhưng lồng vào đó những nội dung mới phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới

Ca dao cổ truyền phản ánh những sinh hoạt hằng ngày, những tâm tư, tình cảm của nhân

dân lao động bị áp bức bóc lột Đó là tâm trạng đau khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong

kiến: Gánh cực mà đổ lên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau; Trời sao trời ở không

cân / Kẻ ăn chẳng hết người lần chẳng ra;…

Ca ngợi cảnh đẹp, sản vật của quê hương, đất nước: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh /

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ; Đồng Đăng có phố Kì lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh; Muốn ăn mật rú vọ Trèn / Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Đài; Lụa này thật lụa Cổ

Đô / Chính tông lụa cống các cô hay dùng;…

Tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất trong ca dao cổ truyền Ở đây, ca dao đã phản ánh mọi biểu hiện của tình yêu trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ

ướm hỏi nhau: Đến đây mận mới hỏi đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? / Mận hỏi thì

đào xin thưa / Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào; Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng / Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?…giai đoạn gắn bó trao đổi những lời thề nguyền, những tặng

vật cho nhau: Yêu nhau cởi áo cho nhau / Về nhà mẹ hỏi, qua cầu đánh rơi;…giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung: Ngó em không dám ngó lâu / Ngó qua một

chút đỡ sầu mà thôi;… hoặc sự thất bại, đau khổ với những lời than thở oán trách: Đôi ta là bạn

Trang 14

thong dong / Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng / Bởi chưng thầy mẹ nói ngang / Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau;…

Ca dao cổ truyền còn phản ánh những mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình:

ông bà với con cháu: Ngó lên nuộc lạt mái nhà / Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy

nhiêu;…cha mẹ và con cái: Ân cha nặng lắm con ơi / Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang; Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra / Một lòng thờ mẹ kính cha / Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con;…vợ chồng: ; Áo vá vai vợ ai không biết / Áo vá quàng chí quyết vợ anh; Chồng em áo rách em thương / Chồng người áo gấm xông hương mặc người; anh em, chị em, họ hàng: Anh em như chân với tay / Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần …Đó là tình cảm gia đình thiêng liêng cao quí: sự mẫu mực của cha mẹ đối với con cái,

lòng hiếu thảo của con cái dành cho ông bà, cha mẹ, anh em yêu thương, hòa thuận giúp đỡ nhau, tình cảm thủy chung, son sắt của vợ chồng

Dĩ nhiên ca dao cổ truyền còn nhiều nội dung khác nhưng người viết chỉ nêu vài nội dung tiêu biểu như trên để làm nền cho việc khảo sát đối tượng chính của luận văn

Ca dao hiện đại lên án, tố cáo tội ác của giặc Pháp, Mỹ Những hành động đốt nhà, cướp

của phá hoại mùa màng, giết người, móc mật, ăn gan, được ca dao kể lại với lòng căm thù, uất

hận: Con ơi, mẹ dặn điều này / Mỹ Diệm một bầy giết hại bà con; Chén cơm thuốc độc hãy còn

/ Mối thù Phú Lợi núi mòn không phai… Toàn dân ta không phân biệt già, trẻ, trai, gái; dân tộc

ít người hay nhiều người; miền xuôi hay miền ngược; thành thị hay nông thôn; ở tiền tuyến hay

hậu phương,… ai ai cũng thể hiện lòng nồng nàn yêu nước, căm thù giặc sâu sắc: Thù nhà, thù

nước, thù chung / Chung vai đấu cật một lòng giết Tây; Bao giờ hết cỏ Tháp Mười / Thì dân Nam mới hết người đánh Tây; Cho dù Mỹ Ngụy trăm tay / Quyết không chia được nước này làm hai; Cho dù cạn nước Đồng Nai / Nát chùa Thiên Mụ không phai lòng vàng…

Cùng với phong trào chống giặc ngoại xâm, toàn dân ta còn chống giặc đói và giặc dốt

Ca dao về tăng gia sản xuất cũng như ca dao về Bình dân học vụ trong giai đoạn kháng chiến

chống Pháp rất nhiều

“Thống kê chưa đầy đủ, tỉ lệ ca dao về tăng gia sản xuất, tiết kiệm chiếm 10,35% và về bình dân học vụ, học hành, diệt giặc dốt chiếm 10,15 % tổng số ca dao chống Pháp” [9, 28]: Thu về ngọn cỏ đơm hoa / Người ra mặt trận thì ta ra đồng / Người ra trận đổ máu hồng / Ta

ra cánh đồng ta đổ mồ hôi / Rằng Hồ Chủ tịch bảo ta / Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây; Chữ không có phấn có hồ / Mà sao khéo điểm khéo tô mặt người…

Trang 15

Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến ca dao về thuế nông nghiệp, giảm tô, cải cách ruộng đất

và những hoạt động khác ở hậu phương Mảng ca dao này có số lượng khá nhiều: Nông dân đã

nói là làm / Đã đi phải đến, đã bàn phải thông / Đã quyết là quyết một lòng / Đã phát là động,

đã vùng là lên / Đã lật, lật dưới lên trên / Đã chuyển là chuyển bốn bên chân trời; Bà con trong xóm đổi công / Đêm đêm tát nước ngoài đồng vui ghê; Vì ai nên vợ xa chồng / Dân cày xa ruộng đòn dông xa kèo;…

Một nội dung nữa khá nổi bật của ca dao hiện đại là tình cảm sâu sắc của nhân dân đối với Đảng và nhất là đối với Bác Hồ Đây là mảng cao dao chiếm số lượng lớn nhất trong ca dao

hiện đại: Nhớ ngày mồng ba tháng ba / Chính là ngày của Đảng ta ra đời / Đảng ra đời sáng

ngời mọi chỗ / Đảng ra đời lúa trổ nhiều bông; Bác, Đảng lập thành tên nước / Con cháu ta tiến bước dưới cờ / Ta là con cháu Bác Hồ / Đánh tan Mỹ Ngụy cơ đồ về ta; Cụ Hồ ở giữa lòng dân / Tuy xa, xa lắm, nhưng gần gần ghê…

Có lẽ bộ đội là người làm nhiều ca dao nhất trong hai cuộc kháng chiến Họ viết về mình

và trước hết cho mình Cho nên ca dao là tự tình, tự thuật, tự truyện của họ: Thằng Tây chớ cậy

xác dài / Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày; Con đi độc lập con về / Mẹ yên tâm nhé, con về mẹ vui; Em về lo liệu việc nhà / Để anh yên dạ xông pha trận tiền; Ta đi trăng cũng đi theo / Đường ta dốc núi đỉnh đèo trăng soi / Bây giờ trăng đã ngủ rồi / Ta đi lòng vẫn sáng ngời ánh trăng;…

Ca dao hiện đại cũng nói nhiều đến người phụ nữ Chiến tranh bao giờ cũng là thách thức đối với con người, nhưng có lẽ đối với phụ nữ, thách thức đó gần như toàn diện và nặng nề nhất, đặc biệt về mặt tình cảm riêng tư Tuy nhiên, họ đã vượt qua những thách thức đó bằng

tinh thần làm chủ bản thân mình Họ không than vãn như ca dao xưa: Con ơi nhớ lấy câu này /

Đầu quân cứu nước sáng ngời chí trai / Hoa thơm nhất có hoa nhài / Người thơm danh nhất là trai chiến trường; Kề vai gánh vác sơn hà / Sao cho nổi tiếng đàn bà Việt Nam; Em về lo việc hậu phương / Anh lo giết giặc chiến trường lập công; Anh đi gìn giữ nước non / Tóc xanh em đợi, lòng son em chờ;…

Nội dung của ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại có những nét tương đồng nhưng cũng

có những nét khác biệt Tương đồng ở điểm cả hai bộ phận ca dao đều thể hiện tâm tư, tình cảm của người bình dân: tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nam nữ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người Điểm khác biệt, ca dao hiện đại thể hiện một số nội dung mới phù hợp với hoàn cảnh xã hội hiện đại như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, thuế nông nghiệp, giảm tô, cải cách ruộng đất, đặc biệt là tình cảm đối với Đảng và

Trang 16

Bác Hồ Như vậy, về nội dung, ca dao hiện đại là sự nối kết, phát triển của ca dao cổ truyền chứ không phải là một bộ phận hoàn toàn tách biệt

1.1.3 Giá trị nghệ thuật

Ca dao cổ truyền sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, phổ biến vẫn là thể lục bát: Thân em

như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai;…và song thất lục bát: Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng / May áo chàng cùng sóng áo em / Chữ tình cùng với chữ duyên / Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền;… Thể vãn (vãn bốn, vãn năm…) rất đắc dụng trong đồng dao: Chi chi chành chành / Cái đanh thổi lửa / Con ngựa đứt cương / Ba vương ngũ đế… Ngoài ra,

các dạng biến thể của thể lục bát và song thất lục bát: Yêu em tam tứ núi cũng trèo / Thất bát

sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua; Nghĩ rằng em đã có chồng rồi / Sao em chưa

có đứng ngồi vân vi / Ới thầy mẹ ơi ! cấm đoán em chi ! / Mười lăm, mười tám sao chả cho đi lấy chồng;…cũng hay được dùng trong ca dao cổ truyền Mỗi một thể loại đều có những tác

dụng nhất định Nhưng nhìn chung, tất cả các thể thơ nói trên đều nhằm làm nổi bật nội dung của văn bản ca dao

Kết cấu chủ yếu trong ca dao cổ truyền là kết cấu theo lối đối thoại Hầu hết ca dao về tình yêu nam nữ là hình thức trao đổi tình cảm giữa nam và nữ Trai gái ở nông thôn thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong những khi cùng nhau lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Hình thức thể hiện tập trung của sự giao duyên đó là những cuộc hát đối đáp nam nữ Ví dụ:

- Anh đà có vợ con chưa

Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào

Mẹ già anh để nơi nao

Để em tìm vào hầu hạ thay anh

Đối đáp một vế :

- Hỡi cô cắt cỏ một mình Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Trang 17

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng

Song song đó là kết cấu trần thuật: Đói lòng ăn hột chà là / Để cơm nuôi mẹ mẹ già yếu

răng;…Bên cạnh đó, ca dao cổ truyền cũng hay sử dụng kết cấu đối lập: Tưởng rằng chị ngã

em nâng / Ai ngờ chị ngã, em bưng miệng cười;… và kết cấu đối ngẫu tâm lý: Lên non mới biết non cao / Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy;… kết cấu thu hẹp dần hình tượng: Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương / Nhớ ai dãi nắng dầm sương / Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao;…

Ca dao không chỉ bắt gặp những cách nói trau chuốt, mượt mà, ý nhị, đầy chất thơ: Đêm

trăng thanh anh mới hỏi nàng / Tre non đủ lá đan sàn nên chăng? / Đan sàng thiếp cũng xin vâng / Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?; Nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu / Anh thấy

em nhỏ xíu, anh thương…mà còn gặp những lời nói bình dân, đầy tính khẩu ngữ: Gánh cực mà

đổ lên non / Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo; Chồng con là cái nợ nần / Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm; Giàu thì thịt cá cơm canh / Khó thì lưng rau đĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng;…

Một số hình ảnh trong ca dao cổ truyền đã trở thành biểu tượng Các nhà nghiên cứu đã

kết luận “ trong ca dao, người dân lao động Việt Nam đã mượn đời sống con cò để biểu hiện

đời sống của mình” [ 32, 339] Các hình ảnh thuyền biển, trúc mai, mận đào,…tượng trưng cho

đôi lứa yêu nhau…

Ca dao hiện đại sử dụng nhiều thể thơ khác nhau: lục bát: Bao giờ hết cỏ Tháp Mười /

Thì dân Nam mới hết người đánh Tây…, song thất lục bát: Chiếc khăn xanh viền quanh chỉ đỏ / Bàn tay nhỏ thêu họ thêu tên / Anh vào nhập ngũ Tây Nguyên / Trao khăn em tặng tình yêu kết tình… và thể hỗn hợp: Gió đánh cành tre / Gió đập cành tre / Chị ra mặt trận em về tải thương / Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Xót tình cá nước thì thương nhau cùng / Gió đánh cành hồng / Gió đập cành hồng / Chị về gặt lúa nuôi chồng thương binh / Chồng em vì nước hi sinh / Cánh tay mất nửa, mối tình còn nguyên

Ca dao hiện đại kế thừa phổ biến các dạng kết cấu của ca dao cổ truyền: kết cấu đối thoại

và trần thuật, kết cấu đối lập và đối ngẫu tâm lý, kết cấu thu hẹp dần hình tượng và miêu tả trực tiếp

Kết cấu đối thoại chủ yếu là kết cấu một vế:

Con ơi con ngủ cho say,

Mẹ đi phục kích canh hai mẹ về

Trang 18

Kết cấu trần thuật chủ yếu thuật lại tội ác của kẻ thù:

Kết cấu thu hẹp dần hình tượng:

Cái cò cái vạc cái nông, Nhặt cỏ ruộng đồng tát nước dùm tao

Mồ hôi càng đổ tạt rào, Khoai lúa thu vào càng trội hơn lên

Tất cả cho Tổng động viên, Phản công thắng lợi mau yên nước nhà

Kết cấu đối ngẫu tâm lý:

Bể đông có lúc vơi đầy, Mối thù đế quốc có ngày nào quên

Ca dao hiện đại sử dụng nhiều hình ảnh: tự nhiên, thực vật, động vật và nhân tạo Đặc biệt, một số hình ảnh nhân tạo trong đời sống sinh hoạt thường nhật như: súng, cờ, thuyền…xuất hiện với tần số cao Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là hình ảnh tự nhiên

Ngôn ngữ ca dao hiện đại có sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường Cách kết hợp ấy tạo ra nhiều bài hay,

đẹp, thi vị: Đêm nay bóng núi nghiêng che / Anh canh, em gặt có ông trăng hiền sáng soi; Phá

Tam Giang nối đàng ra Bắc / Đèo Hải Vân hướng mặt vào trong; Trị Thiên đò dệt sang ngang / Dệt thương, dệt nhớ, dệt đàng núi sông;…

Trang 19

Ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại không chỉ bấy nhiêu giá trị nghệ thuật Do phạm vi

đề tài, chúng tôi chỉ điểm xuyết vài giá trị cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài, làm nền cho việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ

1.2 Ca dao về Bác Hồ

1.2.1 Khái niệm

Ca dao về Bác Hồ là những bài ca dao do nhân dân khắp mọi miền đất nước sáng tác về Bác từ sau cách mạng tháng Tám Đây là một bộ phận của ca dao hiện đại Ở đây, người viết quan niệm ca dao về Bác là mảng ca dao bao gồm những bài ca trực tiếp bộc lộ tình cảm của

nhân dân đối với Bác: Có ai về chốn quê nhà / Gửi lời chúc thọ Cha già mến yêu; Đếm sao cho

hết vì sao / Kể sao hết được công lao Bác Hồ;… và cả những bài ca gián tiếp nói đến Bác, tức

nói về sự việc khác nhưng có liên hệ tới Bác: Hôm qua anh đến chơi nhà / Thấy mẹ dệt vải thấy

cha đi bừa / Thấy em mải miết xe tơ / Thấy cháu i-tờ ngồi học bi bô / Thì ra vâng lệnh Cụ Hồ /

Cả nhà yêu nước thi đua phen này;…

Qua bộ phận ca dao về Bác, người thưởng thức có thể cảm nhận được lòng kính yêu, lòng

biết ơn, nỗi mong chờ, tình cảm thủy chung, niềm tin son sắt của nhân dân đối với Bác Bên cạnh

đó, người đọc cũng bắt gặp một số nội dung khác tuy không trực tiếp hướng về Bác nhưng cũng có liên hệ đến Bác

Tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ - người lãnh tụ kiệt xuất của Đảng và của dân tộc, trước hết bắt nguồn từ lòng kính yêu, tự hào và biết ơn sâu sắc về những công lao vô cùng to lớn của Bác Công ơn to lớn ấy được nhân dân ta so sánh với những gì thiêng liêng

nhất, kỳ vĩ nhất trong thiên nhiên nhiên vũ trụ: Núi cao là núi Thái Sơn / Ơn cao nghĩa cả là ơn

Cụ Hồ; Đếm sao cho hết vì sao / Kể sao cho hết công lao Bác Hồ; Cụ Hồ ơn đức biết bao / Ơn dày sánh đất, đức cao sánh trời;…

Nhân dân biết ơn Bác bởi tấm lòng yêu thương mênh mông của Bác dành cho đồng bào

Bác đã từng nói:“ Tôi có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn

toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [ 17, 20] Cùng với lòng biết ơn sâu sắc, nhân dân ta cũng yêu thương Bác vô

vàn, xem Bác như người Cha trong đại gia đình, tự hào vì dân tộc ta có Bác: Tháp Mười đẹp

nhất bông sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ; Cụ Hồ là đuốc sáng soi / Nhắc đến tên Cụ muôn người yêu thương; Cây quế Thiên Thai mọc trên núi đá / Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm / Tên Bác Hồ thơm hơn hương quế, hương trầm / Nhìn ra phương Bắc mà thương Bác

Trang 20

Hồ; Dù ai đi đông đi tây / Mỗi năm tháng chín nhớ ngày mồng ba / Dù ai đi gần đi xa / Chớ quên ngày giỗ Cha già kính yêu;…

Lòng biết ơn lãnh tụ và mối quan hệ gắn bó với lãnh tụ tất nhiên dẫn đến một niềm tin mãnh liệt vào lãnh tụ Nhân dân tin tưởng vào sự dẫn dắt, sụ lãnh đạo sáng suốt của Người:

Cụ Hồ yêu nước thương dân / Dắt dìu dân tộc thắng ba kẻ thù / Giặc Tây, giặc đói, giặc mù /

Cả ba thứ giặc Bác Hồ vượt qua; Sóng thần thì mặc sóng thần / Có Cha bẻ lái, có dân chống chèo; Dân cày mà có Bác Hồ / Như thuyền có lái, như cờ gió bay;…

Sức khỏe của Bác là mối quan tâm sâu sắc của toàn dân ta Đó là một lẽ tự nhiên như chúng ta quan tâm , chăm sóc đến sức khỏe của ông bà, cha mẹ mình Song, Bác là linh hồn của dân tộc, là người cầm lái con thuyền dân tộc nên mối quan tâm đến sức khỏe của Bác còn thể

hiện lòng yêu nước của chúng ta Vì thế, mối quan tâm ấy còn tăng gấp bội: Đường ra Việt Bắc

/ Xa lắc, xa lơ / Ai đi tôi gửi bức thư mấy hàng / Chúc Hồ Chủ tịch anh khang / Lãnh đạo dân tộc trên đường đấu tranh; Chúc Cụ Hồ mạnh khỏe, vui tươi / Dắt dìu kháng chiến, giành độc lập cho người Việt Nam; Chúng con ở bốn phương trời / Quay về hướng Cụ muôn lời chúc mong / Dài lâu như suối như sông / Cụ Hồ sống mãi trong lòng chúng con;…

Kính yêu Bác, mong Bác mạnh khỏe sống lâu, hi vọng có một ngày nào sẽ được gặp Bác… Đó là tình cảm, nguyện vọng chung của toàn dân ta Nhưng có lẽ niềm mong mỏi ấy tha thiết nhất ở đồng bào miền Nam Nhân dân miền Nam khao khát được gặp Bác trong ngày

thống nhất đất nước: Đêm nằm con thấy chiêm bao / Thấy Hồ Chủ tịch đã vào nơi đây; Ngày

mai giải phóng quê mình / Miền Nam đón Bác thỏa tình ước mong; Mong ngày độc lập Cụ vô / Thỏa lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày; Miền Nam nhớ Bác vô cùng / Mong ngày đón Bác vào trong Khánh Hòa;…

Như đã nêu trên, ca dao về Bác có những bài trực tiếp nói lên tình cảm của nhân dân đối

với Bác nhưng cũng có những bài nói về sự việc khác, qua đó gián tiếp nói về Bác

Ca dao về Bác cũng nói nhiều đến anh bộ đội Cụ Hồ Nhân dân ca ngợi anh bộ đội Cụ Hồ

cũng là ca ngợi Bác: Đồng bào trông thấy hoan hô / Hoan hô anh lính Cụ Hồ ngoan ghê / …Cụ

Hồ dân kính, dân yêu / Nên anh bộ đội dân chiều dân thương; Ai về yên Dưỡng, Hoành Mô /

mà xem quân lính Cụ Hồ sang sông / Đêm ngày mê mải chiến công / Thoáng trông như có cả chồng em kia; Hôm qua sinh nhật Cụ Hồ / Bộ đội đánh thắng ăn to hai đồn;…

Tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng cũng được đề cập đến trong bộ phận ca dao này

Tuy nhiên, tình yêu ấy trong ca dao về Bác không thấy có sự cấm đoán của giai cấp thống trị, không có những quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” …gây nên

Trang 21

những đau khổ bất hạnh cho đôi lứa mà tình cảm ấy vừa trong sáng, thủy chung, đậm đà vừa

gắn liền với tình yêu lãnh tụ, tình yêu nhân dân: Ai ơi chớ lấy chồng non / Chờ ngày độc lập lấy

“con Cụ Hồ”; Anh đi gìn giữ nước non / Tóc xanh em đợi lòng son em chờ / Anh đi làm lính Cụ

Hồ / Đò xưa, bến cũ đợi chờ đón anh; Cắt tấm lục đào em đề ba chữ/ Chữ trung với Bác, chữ hiếu với mẹ, chữ nghĩa với anh / Dù xa xôi em vẫn giữ lòng thành / Có Bác chỉ đường dẫn lối thì hai đứa mình sẽ gặp nhau;…

Cũng như ca dao hiện đại, ca dao về Người cũng thấy xuất hiện nội dung tăng gia sản xuất Trong những ngày đầu độc lập, dân tộc ta gặp vô vàn khó khăn Khó khăn lớn nhất chính

là nạn đói Vấn đề cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời là cứu đói Ngoài giải pháp nhường cơm sẻ áo thì tăng gia sản xuất là giải pháp giải quyết vấn đề từ gốc Bác đã kêu gọi: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó

là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập” (Hồ Chí Minh toàn tập) Cho nên, ca dao về Bác không thể không đề cập đến vấn đề này: Chúng con quyết chí thi đua / Sản

xuất, tiết kiệm cho vừa lòng Cha; Cụ Hồ đã dạy dân ta / Thi đua sản xuất cũng là đánh Tây;Cụ dạy chúng ta thi đua để mà đoàn kết / Có đoàn kết rồi mới thiệt thi đua / Anh em nông dân mình chăm bón làm mùa / Công nhân đúc nhiều súng đạn / Bộ đội đánh mạnh giặc thua chạy dài; …

Khó khăn thứ hai là nạn dốt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát động phong trào bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ trong toàn dân Trong suốt thời Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt Nam mù chữ, đây là một trong các quốc nạn Chính vì thế, Bác

đã kêu gọi nhân dân "chống nạn mù chữ", “diệt giặc dốt” vì "Một dân tộc dốt là một dân tộc

yếu" Ca dao về Bác xuất hiện hàng loạt các bài cổ động cho phong trào này: Hôm qua anh đến chơi nhà / Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa / Thấy nàng mải miết xe tơ / Thấy cháu "i - tờ" ngồi học bi bô / Thì ra vâng lệnh Cụ Hồ / Cả nhà yêu nước "thi đua” học hành; Giỏi như đến mức

Cụ Hồ / Người còn phải học huống hồ chúng ta; Không đèn thì lấy ánh trăng / Mực bằng đậu cút, giấy bằng lồ ô / Quyết tâm học chữ Bác Hồ / Nước nhà độc lập, tự do có ngày;…

Tóm lại, qua ca dao về Bác, người đọc có thể cảm nhận được một bức tranh tình cảm muôn màu muôn vẻ của toàn dân đối với Bác, đồng thời có thể hình dung ra bức tranh cuộc sống sinh động của nhân dân trong giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945

1.2.2 Lực lượng sáng tác

Trong lịch sử văn học nước ta, hiếm thấy một hiện tượng độc đáo nào như thơ ca viết về Bác Độc đáo là bởi một dòng sông thơ đã ra đời và chảy mãi từ Một – con – Người – Đẹp Bởi

Trang 22

vì, “Con người đó đã hóa thân vào dân tộc và thời đại; hơn thế nữa, con người đó đã hòa làm

một với từng người dân Việt Nam, đã sống sâu sắc trong trái tim họ…Con người đó là Chủ tịch

Hồ Chí Minh” [ 35,11] Vâng, Bác Hồ mãi mãi là nguồn cảm hứng, là đối tượng mà nhân dân

hướng đến để bày tỏ tình cảm của mình Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến một dòng chảy nhỏ, khiêm tốn nhưng dạt dào tình cảm hòa vào dòng sông lớn của thơ ca viết về Bác Hồ, đó là dòng

ca dao về Bác

1.2.2.1 Theo vùng miền

Từ Cao-Bắc-Lạng đến mũi Cà Mau, từ Tây Nguyên đến Bình Trị Thiên, đâu cũng có những câu ca dao về Bác, đâu cũng có lời hát nhắc nhở đến công ơn Người Từ đỉnh núi cao

của rừng Việt Bắc, chúng ta nghe hát: Em về giã gạo ba giăng / Anh lên múc nước Cao Bằng

về ngâm / Đến ngày mười chín tháng năm / Gói thành đôi bánh đem dâng Bác Hồ Giữa lòng

Thủ đô Hà Nội, tiếng hát về Bác lại cất lên Một chiều nắng ấm Thủ đô / Vui sao được thấy

Bác Hồ trồng cây Đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Đông Anh lúc nào cũng đinh ninh lời

dạy của Bác: Ca rằng: dân tuyến Vĩnh Linh / Ghi sâu lời Bác đinh ninh đời này; Bạc màu là đất

Đông Anh / Làm theo lời Bác vẫn xanh ruộng đồng Người Tây Nguyên muôn đời nhớ ơn Bác: Rừng Tây Nguyên muôn đời nhớ Bác / Đã khắc tên lên bạc đeo tay; Hòa Bình dốc thẳm non cao / Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ; Trường Sơn dậy tiếng Bác Hồ / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào; Dù cho biển cạn non mòn / Lòng dân Thuận Hóa vẫn còn trơ trơ / Vẫn là dân của cụ Hồ / Trọn đời theo mãi ngọn cờ vàng sao.Bình Trị Thiên : Đất Trị Thiên là đất của Cụ Hồ / Đất cha ông chi thằng Bảo Đại mà kéo Tây qua đóng đồn Trong kho tàng ca

dao-dân ca Đà Nẵng, hình ảnh Bác Hồ chiếm một tỉ lệ không nhỏ Điều đó có được là do tư tưởng cách mạng của Bác đã gắn với cuộc sống và chiến đấu của người dân Đà Nẵng, gắn với

những biến đổi to lớn diễn ra trên quê hương "Trung dũng kiên cường" và đồng thời gắn với

những biến cố trọng đại, hào hùng của lịch sử dân tộc nói chung và Đà Nẵng nói riêng Người

Đà Nẵng với Bác trước hết là lòng kính yêu, ngưỡng mộ: Những đêm đại hội quê hương/ Cháu

ngồi nhớ Bác tình thương ngọt ngào / Cháu nhìn vầng trán cao cao / Nhìn đôi mắt Bác như sao sáng ngời / Bác nhìn cháu nhỏ khắp nơi / Soi gương bóng tối cho đời thắm tươi; Bác Hồ trong trái tim dân / Tuy xa nghìn dặm nhưng gần gần ghê…và sau đó là niềm tự hào, tin tưởng: Giặc kia khủng bố lu bù / Lòng dân vẫn một mùa thu Bác Hồ / Tình quân dân, nghĩa đồng bào / Ngàn câu cổ vũ ghi vào trong tim; Ngày nay được thống nhất sơn hà / Nhìn xem cờ đỏ thật là vinh quang / Đồng bào ơi, nhớ lời Bác dặn đinh ninh / Quân dân đoàn kết, độc lập, hòa bình muôn năm;… Bình Định: Nước sông Trà in hình núi Ấn / Dừa Trung Lương soi bóng Lại

Trang 23

Giang / Nhìn lên cờ đỏ sao vàng / Lòng dân ơn Bác muôn vàn Bác ơi Phú Yên: Từ Vạn Ninh đến Can Lâm / Lòng dân đồng điệu đồng tâm với Cụ Hồ Khánh hòa: Gió nào bằng gió Tu Bông / Sức nào bằng sức nhân dân Cụ Hồ;…

Ca dao miền Nam về Bác là một bộ phận không nhỏ trong dòng chảy của ca dao Bác Hồ

Công ơn của Đảng, Bác Hồ luôn luôn canh cánh trong lòng mỗi người: Việt Nam chỉ một cơ đồ

/ Miền Nam treo ảnh Bác Hồ trong tim; Miền Nam muôn thuở một lòng / Ngày đêm luôn nhớ công ơn Bác Hồ Sống dưới nanh vuốt của kẻ thù, đồng bào càng thấm công ơn này Đồng bào

miền Nam cũng như đồng bào trên khắp mọi miền đất nước đều bày tỏ nỗi nhớ thương và lòng

biết ơn vô hạn về Người Nhân dân khắp các tỉnh thành miền Nam đều có ca dao về Người: Bao

giờ thống nhất non sông / Cần Thơ gửi vú sữa kính dâng lên Bác Hồ; Ta là con cháu Bác Hồ / Nghe tin đồng khởi reo hò đi ngay (Bến Tre), Ai xây, ai đắp, ai bồi / công ơn của Bác chói ngời Bạc Liêu; Đêm qua nằm ngủ con mơ / Thấy tàu của Bác cập bờ Cà Mau Đồng Tháp có

một vinh dự lớn là được cụ Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của Bác Hồ kính yêu chọn làm nơi hoạt động yêu nước trong những năm tháng cuối đời và yên nghỉ tại đó Nhân dân ở đây đã thay mặt cho đồng bào cả nước đưa tiễn Người và hết sức bảo vệ ngôi mộ, chống mọi âm mưu xảo quyệt của kẻ thù Phải chăng, trong nỗi niềm khao khát chờ trông ngày thống nhất, người dân Đồng Tháp Mười còn có mong đợi riêng: Ngày ấy được đón Bác về viếng thăm nơi yên nghỉ cuối cùng của người cha thân yêu Và niềm tin ấy bật lên thành lời, thành nỗi trông ngóng:

Trông trời, trông đất, trông mây, Trông ngày đón Cụ vui vầy Bắc Nam

Không chỉ nhân dân trong nước mà cả kiều bào ở nước ngoài cũng có ca dao về Bác

Dù ở xa nhưng lúc nào họ cũng hướng về quê hương, đất tổ, nơi có Cụ Hồ đang dắt dìu kháng

chiến với nhân dân Chúng con ở bốn phương trời / Quay về hướng Cụ muôn đời chúc mong;

Cụ Hồ yêu nước thương nhà / Dắt dìu dân tộc thắng ba kẻ thù;…Em Nguyễn Ở, một em bé ở

Xa-côn bên Thái Lan đã viết nhân kỉ niệm ngày sinh của Bác: Hôm nay mười chín tháng năm /

Chúng em sung sướng hơn rằm Trung Thu;…

Như vậy, trên đất nước ta đâu đâu cũng có ca dao về Bác Hồ Nhân dân ở khắp các tỉnh thành, từng khu vực, miền, vùng đất đều có nhu cầu thổ lộ tình cảm của mình đến Bác Mỗi địa phương có một cách biểu hiện tình cảm khác nhau đối với lãnh tụ Tất cả những khía cạnh tình cảm ấy đã hòa vào, góp vào làm phong phú hơn cho nội dung mảng ca dao về Bác Hồ nói chung Đó là sự kế thừa và tiếp nối truyền thống của ca dao - dân ca trong việc ca ngợi lãnh tụ, những nhân vật lịch sử vĩ đại mà Bác Hồ là một người như thế

Trang 24

cảnh: lúc hành quân ra mặt trận, mặc dù “đường xa, súng nặng oằn vai”, “gian nan cơm vắt

muối vừng”, mặc dù phải đi “trăm núi ngàn khe”, “qua mấy dốc mấy đèo”, nhưng vẫn luôn

nghe “lời Bác vang vọng non sông”, luôn “thấy Bác mãi còn dõi theo”, tâm hồn luôn rực sáng

lý tuởng cách mạng cao cả mà Bác và Đảng đã truyền thụ, lại thương “Bác vì đất nước, vì niềm

vui chung” mà “tóc xanh bạc trắng đôi miền” nên anh đã hạ quyết tâm: Dù cho giọt máu cuối cùng / Con tin vào Bác vững lòng tiến lên / Con thề: diệt sạch xâm lăng / Hai miền Nam Bắc cùng xanh đất trời; Bác ơi cháu quyết cắm cờ / Lên trên đồn giặc như thơ Bác mừng Cũng

vậy anh bộ đội ở xa, giữa bốn bề mênh mông sông nước, thiếu thốn mọi thứ, vẫn tâm niệm

những lời giáo huấn của Bác, vững vàng cầm chắc tay súng canh giữ biển trời cho Tổ quốc:

Đảo xa sóng dội bốn bề / Lắng nghe lời Bác vọng về biển khơi

Tinh thần đó được thể hiện ở người dân công tiếp vận: Ta là con cháu Bác Hồ / Nghe tin

tiếp vận đan bồ đi ngay; Ngày nay vâng lệnh Bác Hồ / dân công “dô hò” bạt núi ta đi / mấy năm kháng chiến trường kì / Vai gánh càng dẻo, chân đi càng bền Em thiếu sinh quân nói

riêng với Bác rằng: Cháu là em bé phương xa / Theo anh vệ quốc xa nhà đã lâu / Qua bao vực

thẳm truông dài / Giúp anh vệ quốc diệt loài thực dân Người công nhân cầu đường thấy rõ

trách nhiệm của mình: Cầu này ta bắc chóng xong / Cho xe chóng chạy, cho lòng Bác vui; Bạt

rừng xẻ núi mở đường / Chở hàng vào tận chiến trường, Bác vui; Cầu đường mạch máu chúng

ta / Giặc mà phá đứt thì ta nối liền… / Tuân theo lời dạy Cha già / Cầu đường giữ vững, dân ta thắng thù;…

Thấm nhuần lời dạy của Bác “thi đua sản xuất cũng là đánh Tây”, vừa ích nước, vừa lợi

nhà, người nông dân ngày đêm lăn lộn trên đồng ruộng không quản mưa nắng nhọc nhằn,

quyết tâm làm ra nhiều thóc gạo chi viện cho tiền tuyến để bộ đội ăn no đánh thắng: Qua nương

xuống ruộng lên đồi / Ta cuốc, ta xới, ta cười, ta ca / Rằng: Hồ Chủ tịch dạy ta / Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây;…

Với nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng “trăm năm trồng người”, người thầy giáo vẫn thấm nhuần lời khuyên của Bác trong từng trang giáo án: Chúng con khuya sớm chuyên cần / Nguyện

vì lợi ích trăm năm trồng người / Trống trường báo một ngày vui / Từng trang giáo án thấm lời

Trang 25

Bác khuyên Noi gương thầy, cảm thụ những lời truyền dạy của thầy, các bạn học sinh cũng

làm ca dao bày tỏ tình cảm của mình đến với Bác: Mái trường ngói đỏ hây hây / Cây cao bóng

cả tình này Bác che;

Tóm lại, dù là người nông dân hay công nhân, bộ đội hay dân công, học sinh hay thầy

giáo, nhưng ở họ đều có một điểm chung đó là tình yêu thương chân thành dành cho Bác Họ đã thổ lộ điều đó bằng ca dao với tất cả tấm lòng của mình

1.2.2.3.Tuổi tác

Nhân dân ta, ai ai cũng có thể làm ca dao về Bác Họ không phân biệt tuổi tác, từ cụ già tóc bạc đến các em nhỏ đều cất lên tiếng nói tình cảm của mình về Bác bằng ca dao

Đây là ước mơ có ngày được gặp Bác của một cụ già cao tuổi: Ước gì đời sống thêm

năm / Ước gì mắt sáng để trông Bác Hồ / Đêm khuya chợp mắt tôi mơ: / Lúa vàng thêm mát Cụ

Hồ đứng bên Qua cuộc đối đáp với anh dân công, một ông lão đã cho biết vì sao tuổi đã cao

mà lão vẫn tham gia vào đội dân công Lão cho rằng con trai đã đi dân công, rồi dâu, cháu cũng

đi nên lão cũng đan vội đôi bồ để đi vận tải coi như đó là chút nghĩa đền đáp với Cụ Hồ: Lão

đan vồi vội đôi bồ / Sắm sanh cái gậy lão dô hò lão đi

Dù chưa một lần được gặp Bác nhưng những bà mẹ miền Nam vẫn khẳng định một lòng

một dạ đi theo con đường cách mạng mà Bác đã vạch ra: Con ra thưa với Bác Hồ / Đất này chỉ

một lá cờ vàng sao Ngày giải phóng Sài Gòn, Bác đã đi xa, đồng bào miền Nam không còn

được đón Bác vào thăm cho thỏa lòng âm thầm mong đợi bấy lâu Nhưng được tự do ngắm nghía ảnh Bác từ lâu phải cất giấu, nay đột nhiên xuất hiện, đồng bào cũng cảm thấy sung sướng lắm, tưởng như Bác vẫn còn đó với non sông, đất nước Một bà má miền Nam đã thay

mặt nhân dân nói lên điều đó: Giữa ngày giải phóng thành đô / Bỗng đâu tấm ảnh Bác Hồ hiện

ra / Lần đầu được gặp Cha già / Muôn ngàn con mắt trẻ già nhìn no / Má rằng: thương tiếc Cụ

Hồ / Hôm nay thấy Cụ, hết lo, hết sầu / Cụ Hồ tài lớn, đức cao / Nghìn năm vẫn sáng như sao trên trời

Chúng ta hãy nghe mấy lời tâm huyết của người vợ nông thôn nhắn gửi chồng qua bài ca

dao Nghe lời Bác dạy thi đua / Thử xem ai được, ai thua phen này / Chàng đi ra trận đánh Tây

/ Ruộng để em cày, thóc lúa em gieo / Nghèo thì em biết phận nghèo / Nắng sớm mưa chiều, em chẳng quản công / Sao cho lúa tốt đầy đồng / Bộ đội no lòng yên chí xông pha / Con thơ cùng với mẹ già / Chàng cứ tin chắc ở nhà có em…

Một anh lính coi kho đã sáng tác ca dao hứa với Bác rằng: Tôi là anh lính coi kho /

Quanh năm chỉ việc cân, đo, giữ hàng / Nhà kho lại ở trong hang / Bốn bề núi thẳm rừng

Trang 26

hoang mịt mù / Chẳng tu mà cũng là tu / Tu sao cho vẹn Bác Hồ khuyên răn: / Nếu không lo kiệm, lo cần / Khó mà liêm chính, khó mà vô tư / Một mình hang tối âm u / Mà lòng dạ vẫn sáng như ban ngày…

Và đây là lời của cô gái khi tiễn chàng trai ra trận Cô không quên khẳng định tấm lòng son sắt, thủy chung của mình đồng thời đó cũng là tình cảm chân thành đối với Bác Hồ kính

yêu Anh đi gìn giữ nước non / Tóc xanh em đợi, lòng son em chờ / Anh đi ra lính Cụ Hồ / Khúc

sông, đỉnh núi, con đò tiễn anh

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng” Đúng vậy! Thiếu nhi Việt Nam ngoài tình cảm đối với ông bà cha mẹ, anh em, bạn bè cón có thêm một tình cảm rất thiêng liêng: tình cảm đối với Bác Hồ Vì sao có tấm lòng yêu mến tha thiết như vậy ở các em? Thông qua những người xung quanh như ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, chú bộ đội, anhcán bộ…các

em đã thấy Bác là người đã mang lại cơm no áo ấm cho gia đình, đem lại cuộc sống vui tươi, hạnh phúc cho các em Nhưng nếu chỉ vậy thôi thì chưa đủ, tình cảm của các em còn gần gũi và sâu sắc hơn nhiều Các em không chỉ thấy Bác là một lãnh tụ mà còn thấy Bác là một người ông, người cha Các em yêu Bác bởi Bác luôn luôn có một tình cảm tha thiết đối với các em như Bác đã viết:

Ai yêu các nhi đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh

Trước tấm lòng yêu mến của Bác đối với các em như vậy, chúng ta không ngạc nhiên chút nào khi thấy các em rất yêu mến Bác Ca dao về Bác không thể không kể đến đối tượng thiếu nhi này Trong những bài ca dao các em sáng tác về Bác, nội dung thường xoay quanh niềm kính yêu, mong nhớ Bác, mong muốn được gặp Bác Đây là lời của em Nguyễn Ở, một

em bé ở Xa-côn bên Thái Lan đã sáng tác ca dao về Bác nhân kỉ niệm ngày sinh nhật Bác: Hôm

nay mười chín tháng năm / Chúng em sung sướng hơn rằm Trung thu Hay đây là lời hứa riêng

của em thiếu sinh quân với Bác: Cháu là em bé phương xa / Theo anh vệ quốc xa nhà đã lâu /

Qua bao vực thẳm truông dài / Giúp anh vệ quốc diệt loài thực dân

Bài ca dao này nối tiếp bài ca dao khác ra đời để giãi bày, thổ lộ tình cảm của nhân dân

khắp nơi với Bác “Cuộc đời của Bác đã hòa vào núi sông đất nước Vì vậy, mỗi hình ảnh của

đất nước, từ sắc nước sông Trà đến hình núi Ấn, từ vẻ ngọt vú sữa Cần Thơ đến hương tràm U Minh…đều gợi nỗi nhớ thương Người.” [61, 3]

Tóm lại, chính lực lượng sáng tác ca dao về Bác phong phú như thế đã tạo nên những giọng điệu, sắc thái tình cảm khác nhau của mảng ca dao về Bác Mỗi cá nhân, địa phương,

Trang 27

vùng miền bằng những cảm nhận rất riêng đã có những cách diễn đạt, thổ lộ khác nhau góp phần làm phong phú hơn nội dung và nghệ thuật của ca dao về Bác

1.2.3 Hoàn cảnh sáng tác

Lực lượng sáng tác ca dao Bác Hồ đông đảo như thế nên hoàn cảnh sáng tác cũng phong phú và đa dạng không kém Tới đâu cũng đều được nghe, được đọc

1.2.3.1 Trong chiến đấu

Như đã nói trên, bộ đội là đối tượng sáng tác ca dao về Bác nhiều nhất nên có lẽ hầu hết

ca dao về Bác được sáng tác trong hoàn cảnh chiến đấu Trong gian khổ, trong chiến đấu, các

anh cảm thấy Bác như vẫn ầm thầm dõi theo bước anh: Gian nan cơm vắt muối vừng / Mà sao

con thấy sáng trưng cuộc đời; Con đi trăm núi, ngàn non / Vẫn trông thấy Bác mãi còn ngó theo / Con qua mấy dốc, mấy đèo / Còn nghe lời Bác vọng theo ân cần Anh bộ đội trân trọng

chép thơ Bác vào sổ tay, đem theo trên đường ra trận: Hành quân với cháu hôm nay / Có thơ

của bác chép tay mấy bài / Cháu đi mải miết đường dài / Đọc thơ Bác thấy nhẹ vai, ấm lòng

Sau khi bắn cháy máy bay địch, anh pháo thủ ngồi ung dung trên mâm pháo ngâm thơ của Bác:

Máy bay giặc Mỹ cháy rồi / Đồng xanh lại thắm, ruộng đồng lại xanh / Niềm vui rộn rã trong lòng / Ngồi ngâm thơ Bác những dòng kính yêu Còn đây là ca dao của những người lính đang

đứng giữa chiến hào đánh giặc: Đêm nay đứng giữa chiến hào / Nghe lời Bác gọi dạt dào niềm

tin / Ngày mai giải phóng quê mình / Miền Nam đón Bác thỏa tình ước mơ; Ngắm cho trúng, bắn cho tinh / Làm quà thắng lợi dâng lên Bác Hồ;

Trần Hữu Thung trong “Ca dao về Bác”, Nxb Hà Tĩnh, đã kể lại rằng trong một đêm trăng xuôi dòng sông Lam để đi công tác vào Bình Trị Thiên, ông đã được nghe câu hò trên một

chiếc thuyền vận tải: Thuyền ai xuôi chợ Vực / Thuyền ai ngược Đô Lương / Thuyền anh chở

khách chở phường / Thuyền em chỉ chở công lương cho Cụ Hồ Và tác giả cho biết thêm ngày

ấy cán bộ bộ đội và dân công cuốc bộ hành quân lấy đêm làm ngày Phải hàng tháng trời từ Bình Trị Thiên mới đi thấu ra Việt Bắc Dân công từ Thanh Nghệ ra Hòa Bình cũng phải đi hàng chục ngày đêm Mà cuộc sống dọc đường hành quân mới phong phú làm sao ! Những vần

ca dao, những câu hò cứ thế nở rộ trên đường dài ra tiền tuyến: Ai ra Việt Bắc / Xa lắc xa lơ /

Đường dài ngúc ngoắc / Trục trục trặc trặc / Lòng thành son sắt / Vắn tắt đôi lời / Chúc Cụ Hồ mạnh khỏe vui tươi / Dắt dìu kháng chiến, giành độc lập cho người Việt Nam Bằng những câu

ca dao ứng khẩu, hàng vạn dân công đã nói lên khí thế hào hùng của mình Và cũng bằng

Trang 28

những câu hò ấy, những câu ca dao ấy, họ đã ghi lại tấm lòng kính yêu, tin tưởng đối với Đảng,

với Lãnh tụ: Ta là con cháu Cụ Hồ / Nghe tin tiếp vận đan bồ đi ngay

Dù con đường đấu tranh đầy cam go, nguy hiểm, khó khăn nhưng các anh bộ đội vẫn

quyết tâm thực hiện lời dạy, lời khuyên của Bác để thống nhất nước nhà: Chiều chiều lại nhớ

chiều chiều / Nhớ câu Bác dạy, nhớ điều Bác khuyên / Nhớ lời vàng ngọc, không quên / Con đường thống nhất càng bền đấu tranh Cho nên, trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống

Mỹ, các anh không hề nao núng trước mọi vũ khí hiện đại của kẻ địch: Thằng Tây có trăm máy

bay / Không bằng một cái móng tay Cụ Hồ; Bác ơi khẩu súng cầm tay /Dù muôn gian khổ chẳng lay được lòng / Lòng còn hẹn với muôn lòng / Bắc Nam thống nhất thành công mới về

Anh hùng Tạ Thị Kiều, trong buổi tọa đàm với những người làm công tác văn học nghệ thuật miền Bắc, đã kể lại câu chuyện dùng thơ ca quần chúng trong đấu tranh chính trị ở Bến Tre Một lần trong cuộc biểu tình kéo vào thị xã , nhân lúc chị em đang ngồi nghỉ bên đường, bọn lính Ngụy mon men đến gạ gẫm Chúng nó rủ các chị “làm văn nghệ” cho vui Các chị ra điều kiện trước là không được khủng bố Bọn lính Ngụy bằng lòng và chúng mở đầu châm chọc các chị:

- Hò ơ… Lấy lính “quốc gia” vàng đeo đầy cổ

Lấy lính cụ Hồ cực khổ muôn năm!

Các chị ứng khẩu đáp lại:

- Hò ơ… Lấy lính “quốc gia” như gông đeo cổ

Lấy lính cụ Hồ rực rỡ muôn năm!

Bị một đòn bất ngờ, bọn lính Ngụy cứng họng, không dám làm gì các chị, đành lờ đi, tìm đường chuồn mất Thế đấy, ngay khi biểu tình, nhân dân ta cũng sáng tác ca dao về Người [75, 67]

Bùi Mạnh Nhị trong “Sen Tháp Mười” cũng cho biết hòan cảnh diễn xướng của ca dao miền Nam về Hồ Chí Minh vô cùng đặc biệt Đặc biệt là ở chỗ hoàn cảnh diễn xướng ấy không phải là cảnh thanh bình mà là cuộc chiến đấu gian lao diễn ra từng giờ, từng phút Những bài ca dao về Bác vút lên từ những vùng giặc bình định, từ những chiến hào còn nồng khói bom, thuốc súng, trở thành sức mạnh tiêu diệt kẻ thù Có thể nói thời điểm nở rộ ca dao về Người là những năm tháng miền Nam sống trong thời kỳ đen tối nhất, dưới sự đàn áp khủng bố tàn bạo của Mỹ Ngụy và những năm tháng cách mạng miền Nam chuyển sang thế tấn công Trong những thời điểm nói trên, lúc vui cũng như lúc buồn miền Nam nôn nao hướng về Đảng, về Bác với nhiều tâm sự Bài ca dao này tiếp bài ca dao khác ra đời, nén chặt những tâm cảnh, những nỗi lòng,

Trang 29

âm thầm truyền trong trái tim người như một thứ truyền đơn vô hình và đầy tính thuyết phục:

Tội ác Mỹ Diệm tày trời / Kể sao cho hết được / Miền Nam nguyền sau trước / Cùng đoàn kết một lòng / Theo Đảng Bác tiến bước / Dù cho gian khổ hi sinh / Thù quân Mỹ Diệm đấu tranh đến cùng; Giôn- xơn, Bốt-lốt, Tay- lo / Hung hăng hổ giấy làm trò gì đâu / Căm thù như lửa thêm dầu / Nghe lời Bác ta đánh Mỹ dập đầu tan thây; Cho dù san phẳng Trường Sơn / Bác ơi cháu chỉ sắt son một lòng / Đấu tranh thống nhất non sông / Giấc ngàn thu thỏa ước mong Bác Hồ;…

1.2.3.2 Trong lao động sản xuất

Ngày mới giành được chính quyền cách mạng cũng là những ngày nhân dân ta phải trải qua nạn đói khủng khiếp do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây nên Cho nên, Chính phủ và

Bác Hồ kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm: “Ngót trăm năm thằng Tây

sang vơ vét hết ghế hết đòn / Việt Nam ta nay độc lập nỏ còn miếng chi”

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, người nông dân trên đồng ruộng, người công nhân trong

xưởng máy thi đua đẩy mạnh tăng gia sản xuất Người nông dân nhắc nhở nhau: Nghe lời Bác

dạy thì no / Đừng để đất nghỉ, đừng cho máy ngừng / Đừng để ao cá vắng tăm / Chuồng gà vắng trứng, buồng tằm vắng tơ Các chị em và bà con nông dân ở những vùng sát địch thương

Bác lo nghĩ trăm đường nên để có thóc gạo nuôi quân đã phải cấy vội, gặt vội, cất giấu vội, đề

phòng địch cướp phá, khủng bố: Đồng Diên Canh cắt nhanh, giấu vội / Đồng Phú Nội cắt vội,

giấu nhanh / Bớ o, bớ chị, bớ anh / Lúa bên nách giặc ta giành về ta / Chờ ngày triêng nặng gánh ra / Thuế ta đóng càng già thóc lương / Thương Cha lo nghĩ trăm đường / Việc nhà, việc nước, chiến trường chưa yên; Nắng về cho lựu nở hoa / Người ra mặt trận thì ta ra đồng / Người ra trận đổ máu hồng / Ta ra cánh đồng ta đổ mồ hôi / …Rằng Hồ Chủ tịch dạy ta / tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây

Đối với anh chị em công nhân, Bác chăm lo đủ thứ: Bác Hồ yêu mến thợ thuyền / Bác lo

chăm sóc thường mọi người / Lo ăn, lo mặc, lo chơi / Lo chốn làm việc, lo nơi học hành / Bác

lo chăn ấm, áo lành / Bác dìu dắt thợ đấu tranh từng giờ Hiểu tình yêu thương đó của Bác, thấm

nhuần lời dạy của Bác, Người công nhân như thấy mình tăng thêm sức mạnh nên càng hối hả tăng gia sản xuất: Con nghe lời Bác vọng về / Rừng xanh nắng dậy, bốn bề gió reo / Con nghe đỉnh núi

lưng đèo / Tiếng than hối hả, sớm chiều khoan xoay

1.2.3.3 Trong sinh hoạt

Trong bất cứ hoàn cảnh sinh hoạt nào, nhân dân cũng bày tỏ tình cảm của mình đối với Bác: trong lớp học bình dân xóa nạn mù chữ, học viên là các ông các bà đã quá nửa đời sống

Trang 30

kiếp nô lệ lần đầu tiên được học chữ Cụ Hồ cũng có ca dao về Bác: Trường đây không ghế

không bàn / Chung dầu chung bấc chung đèn / Chung lòng thực hiện lời khuyên Bác Hồ; trong

phong trào trồng cây xanh: Một cây bạch đàn / Hai cây bạch đàn / Bác ơi quê cháu cả làng

trồng cây; lúc cả nhà thi đua kháng chiến kiến quốc: Hôm qua anh đến chơi nhà / Thấy mẹ dệt vải, thấy cha đi bừa / Thấy nàng mải miết xe tơ / Thấy cháu i-tờ ngồi học bi bô / Thì ra vâng lệnh Bác Hồ / Cả nhà yêu nước thi đua phen này; lúc khuyên bảo nhau sống sao cho xứng đáng

với lời dạy của Bác Hồ: Em ơi cố gắng thi đua / Đoạt giải Cụ Hồ mới thật là ngoan; Cụ Hồ

rông lượng anh ơi / Đừng theo giặc nữa kẻo đời nhuốc nhơ lúc về thăm quê Bác: Bác ơi, nhà Bác cũng nghèo / Quê hương Bác cũng như nhiều quê hương; Chõng tre Bác ngủ còn đây / Ngọt lành nước lọc vẫn đầy chum xưa;

Ngày 2-9-1969, Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta Bác mất là một tổn thất lớn lao nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp của dân tộc Trong dịp tang Bác, biết

bao bài ca thấm thía, xúc động lòng người: Bạc phơ mái tóc phong trần / Quên mình chỉ nghĩ

nhân dân đồng bào / Bác đi xa mãi rồi sao / Nghĩa sâu ơn cả thấm vào chúng con; Nhất xanh

là bạch đàn chanh / Bác đi để lại hương lành cho con / Nhất xanh là tán đa tròn / Bác đi để bóng mát trùm nghìn sau / Nhất thẳng là ngọn phi lao / Giữa trời hát mãi công lao Bác Hồ;

Tóm lại, ca dao về Bác ra đời trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Điều đó vừa phản ánh hoàn cảnh sáng tác, môi trường diễn xướng của ca dao nói chung, ca dao về Bác nói riêng rất đa dạng và sinh động vừa giúp người đọc hình dung được cuộc sống sinh hoạt, lao động, chiến đấu của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Đồng thời, qua đây, chúng tôi thấy có mối quan hệ giữa hoàn cảnh sáng tác và đối tượng sáng tác Mỗi một môi trường, một lĩnh vực có một số đối tượng nhất định Hoàn cảnh càng phong phú thì đối tượng sáng cũng phong phú không kém

1.2.4 Số lượng

Dựa trên những tài liệu sưu tầm và giới thiệu mà chúng tôi đã nêu trong phần phạm vi khảo sát, qua thống kê, loại bỏ những bài trùng lặp, chúng tôi thấy số lượng ca dao về Bác khá phong phú, khoảng 521 bài, 59 dị bản Tuy nhiên, theo người viết, đó chưa phải là con số cuối cùng vì trong quá trình lưu truyền ca dao về Bác ít nhiều đã bị thất lạc và trong khả năng giới hạn của mình, người viết vẫn chưa khảo sát hết được Như lời của một nhà nghiên cứu cho rằng

“Ca dao về Bác như lá xanh trên rừng khó mà đếm hết và chính xác được Đồng thời con số ấy cũng cho thấy ca dao viết về Bác là một hiện tượng vô cùng độc đáo” [82, 7] Sau khi thống kê

Trang 31

số lượng, chúng tôi đã tiến hành sắp xếp chúng theo thứ tự A,B,C Những bài nào có dị bản, chúng tôi chỉ xem như có một bài Ví dụ:

1 Con ra thưa với Bác Hồ, Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao

Con ra thưa với Bác Hồ, Đất này chỉ một lá cờ vàng sao

2 Chúng con ở bốn phương trời Quay về hướng Cụ muôn lời chúc mong

Dài lâu như núi như sông

Cụ Hồ sống mãi trong lòng chúng con

Chúng con ở bốn phương trời Quay về hướng Bác muôn lời chúc mong

Dài lâu như núi như sông Bác Hồ sống mãi trong lòng chúng con

Một điều đặc biệt mà chúng tôi cũng xin được nói thêm Ấy là trong rừng ca dao bao la xanh tốt về Bác Hồ cũng thấy có nhiều tác giả kí tên Tuy nhiên, những câu ca dao văn học đó nhanh chóng được dân gian hóa bởi trước hết là do ngôn ngữ câu ca dao gần với tiếng nói của nhân dân Sau nữa là dù tác giả có là ai đi nữa Nguyên Hồ, Huyền Tâm, Bảo Định Giang, Minh Hiệu thì những bài ca sáng tác về Bác của các đồng chí, các anh chị dường như không còn

thấy bản sắc riêng của một ai cả Tất cả đã hòa làm một và cùng mang cái tên chung là ca dao

của nhân dân về Hồ Chủ tịch Mọi người đều thấy như của riêng mình và cũng đều thấy như của chung tất cả [82,28]

Chẳng hạn bài cao dao sau:

Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Có thể nói đây là một trong những bài ca dao hay nhất trong toàn bộ ca dao về Bác Hồ Nhưng đến nay, có lẽ vẫn còn một số người không biết rằng ấy là của Bảo Định Giang

Như đã nói trên , đã có cả một hệ thống ca dao lịch sử ghi lại tên tuổi, sự nghiệp, chiến công của những con người như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…Tuy nhiên, chỉ với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta mới sáng tác một lượng ca dao

Trang 32

ca ngợi nhiều đến thế, sâu đậm tình nghĩa đến thế Ca dao ca ngợi các anh hùng dân tộc chủ yếu nảy sinh từ quê hương và địa bàn hoạt động của họ rồi dần dần lan truyền sang các địa phương khác nhưng ca dao về Bác lại khác: nó nở rộ khắp nơi Trong “Cảm nhận nhân đọc ca dao về

Bác Hồ”, Trần Hữu Thung có viết : “Ca dao về Bác Hồ đúng là một hiện tượng đặc biệt của

dân tộc Việt Nam cũng đặc biệt như chúng ta có Bác, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc:

Hòa bình độc lập tự do Nghìn năm ơn đức Cụ Hồ không quên.”

[82, 17]

Nguyễn Hằng Phương khi khảo sát các lời ca dao in trong cuốn ca dao Việt Nam

1945-1975 đã phát hiện một điều thú vị Đó là trong số 745 lời ca dao có 93 lời viết về đề tài Hồ Chủ

tịch ( chiếm tương đương 13%) Từ kết quả khảo sát ấy, tác giả cũng nhận xét rằng số lời ca dao trực tiếp nhắc đến Hồ Chủ tịch chiếm một số lượng đáng kể Điều đó nói lên sức hút mạnh

mẽ của đề tài Hồ Chủ tịch đối với chủ thể sáng tạo-tác giả dân gian Vấn đề nảy sinh ở đây là : tại sao đề tài Hồ Chủ tịch lại lôi cuốn đến như vậy? Và tác giả cũng cho rằng đó là do cảm hứng sáng tạo của tác giả dân gian được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống mà đề tài Hồ Chủ tịch là một “loại” hiện thực chân thực của giai đoạn lịch sử sinh động 1945-1975 Ở đây người viết cũng hoàn toàn nhất trí với cách giải thích của tác giả bởi trong quá trình khảo sát mảng ca dao

về Bác, chúng tôi cũng đã nhận thấy điều đó Chúng tôi xin dẫn vài ví dụ: trong 521 bài ca dao

về Bác có nhiều bài phản ánh chân thực giai đoạn lịch sử 1945-1975- một giai đoạn lịch sử vừa đấu tranh vừa xây dựng đất nước và hình tượng Hồ Chủ tịch nổi lên như một mảng hiện thực

sinh động: Bác Hồ tranh đấu vì dân / Đã bao gian khổ phong trần vượt qua; Bác luôn chăm sóc

đến dân / Nhất là nông nghiệp ân cần hỏi han…

Nhưng dĩ nhiên làm sao chúng ta được đọc hết và nghe hết những bài báo tường, những bản tin, những bài ca báng súng Càng không thể nào nghe và ghi hết được những câu hát lên,

hò lên khắp các nẻo đường đất nước suốt hàng chục năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngay cả những người đã từng sưu tầm ca dao

về Bác như Trần Hữu Thung, Trần Quang Nhật cũng có nói như thế Trần Hữu Thung cho biết ngày ấy được nghe tiếng hò giữa đoàn dân công trên đường ra mặt trận ông cũng có phần coi nhẹ Mà nếu có gặp câu hay thì cũng làm sao mà ghi được trong đêm tối đường rừng? Ngày ấy, được đọc trên báo tường của các đơn vị vệ quốc khi hành quân ghé nghỉ, ông cũng chưa có ý thức nhặt lấy những câu hay Giấy bút đâu mà chép cho xuể? …

Tóm lại, với số lượng 521 bài, ca dao về Bác là bộ phận chiếm số lượng tương đối lớn trong ca dao hiện đại Đồng thời, con số ấy cũng cho thấy truyền thống nhớ ơn của dân tộc là

Trang 33

truyền thống tốt đẹp xuyên suốt qua bao thế hệ, từ quá khứ đến hiện tại và chắc chắn sẽ còn tiếp diễn trong tương lai

Trang 34

Chương 2 THỂ THƠ VÀ KẾT CẤU CỦA CA DAO VỀ BÁC HỒ Mảng ca dao về Bác tồn tại vững bền trong lòng dân tộc Việt Nam không chỉ ở mặt nội dung mà còn nhờ vào hình thức nghệ thuật vô cùng đa dạng, phong phú và đặc sắc Khi tiếp cận

ca dao về Bác, người viết nhận thấy bộ phận ca dao này vừa kế thừa vừa phát huy những yếu tố nghệ thuật truyền thống của ca dao cổ truyền Trước hết là ở thể thơ và kết cấu

2.1 Thể thơ

Khảo sát ca dao về Bác Hồ, chúng tôi nhận thấy mảng ca dao này đã kế thừa hầu hết các thể thơ của ca dao cổ truyền như lục bát, song thất lục bát và hỗn hợp Chúng tôi đã tiến hành thống kê tần số xuất hiện của các thể thơ, sắp xếp theo thứ tự giảm dần Kết quả thể lục bát chiếm số lượng nhiều nhất 427 bài, các thể song thất lục bát và thể tự do xuất hiện ít nhất rải rác từ 10 đến 35 bài

Bảng thống kê tần số xuất hiện các thể thơ trong ca dao về Bác

2.1.1.1 Lục bát chính thể

Nguyễn Xuân Đức đã đúc kết ý kiến của các nhà khoa học về đặc điểm chính của thể thơ

lục bát người Việt như sau: đơn vị hạt nhân của thể lục bát là 2 dòng (trên sáu, dưới tám); luật

bằng (B), trắc (T) trong cả hai dòng lục và bát vần bằng (có cả lục bát vần trắc nhưng số lượng không đáng kể) phải đảm bảo 2B, 4T, 6B và 8B, như thế cũng có nghĩa là lục bát hiệp vần bằng

ở tiếng thứ 6 cả hai dòng; tiếng thứ 6 và 8 ở dòng bát tuy đều cùng vần bằng nhưng phải khác

Trang 35

thanh: hoặc là huyền- ngang, hoặc ngang- huyền (không có h-h, n-n); phần lớn lục bát ngắt nhịp chẵn [ 21,1]

Trong số 427 bài làm theo thể lục bát, có đến 386 bài là lục bát chính thể, chiếm 74,1 % Tại sao đa số các lời ca dao về Bác lại được sáng tác theo thể lục bát? Ca dao về Bác đã kết thừa trọn vẹn thể thơ này của ca dao cổ truyền Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng thể thơ lục bát trong ca dao cổ truyền chiếm hơn 90 % Các nhà nghiên cứu ấy cũng đã đưa ra nhiều lí do giải thích hiện tượng trên và đó cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự chiếm lĩnh ưu thế của thể thơ này trong mảng ca dao về Bác

Nguyễn Xuân Kính trong chuyên luận Thi pháp ca dao, xuất bản năm 1992 đến lần tái

bản gần đây nhất, năm 2004 cho rằng nhịp thơ lục bát uyển chuyển vô cùng kết hợp với cách gieo vần khéo léo nên có khả năng diễn đạt được nhiều sắc thái tình cảm khác nhau của con người, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực Với trường hợp ca dao về Bác, người viết hoàn toàn tán đồng cách lí giải đó của tác giả Bởi nhờ hình thức kết hợp đó mà người đọc có thể cảm nhận được phong phú, đa dạng các sắc thái tình cảm mà nhân dân đối với Bác

Đó là nỗi nhớ nhung da diết, khát khao mong mỏi được gặp Bác Niềm ao ước ấy đã bật

thốt lên thành lời Đêm qua nằm ngủ con mơ / Thấy tàu của Bác cập bờ cà Mau; Miền Nam

thương nhớ trông ra / Mong ngày chung hát bài ca: Bác về; Trông trời, trông đất, trông mây / Trông ngày đón Cụ sum vầy Bắc Nam;…

Đó là cảm xúc vui mừng khi được gặp Bác Được gặp Bác, được Bác về thăm là một

niềm vui sướng lớn của cuộc đời bởi vì được sống bên Bác dù chỉ trong một thời gian ngắn, ai

cũng cảm thấy ấm áp, yên lòng và như được tiếp thêm sức mạnh: Trông Cha biết mấy năm trời

/ Cha về là cả cuộc đời nở hoa; Bác về sung sướng biết bao / Tầng trên, tầng dưới, tầng nào cũng vui / Vui vì được gặp mặt Người / Được trông thấy rõ nụ cười, nước da / Vui vì thấy Bác

đã già / Nhưng còn khỏe mạnh như là công nhân;Đời tôi được gặp Cha già / Như con được mẹ mang quà về cho / Như cá gặp nước sông to / Như thuyền gặp được bến đò thân yêu;… Niềm

sung sướng của mọi người như òa vỡ, tràn trề vì niềm mong mỏi được một lần gặp Bác bấy lâu nay đã thành sự thật Chỉ cần trông thấy khuôn mặt, thấy nụ cười và nước da của Bác đã là vui,

là hạnh phúc Càng hạnh phúc hơn khi thấy Người tuy già nhưng vẫn khỏe mạnh, dẻo dai

Đó là tình cảm nhớ ơn thắm thiết mà nhân dân luôn hướng về Người, dành cho Người Nhân dân ơn Bác vì Bác đã mang đến cho họ cuộc sống ấm no, mang đến cái ăn, cái mặc, cái

chữ Cụ Hồ hơn mẹ, hơn cha / Ơn cao nghĩa cả gấp ba bốn lần; Đố ai lên được trời cao / Đố ai

Trang 36

đáp được công lao Bác Hồ; Đố ai múc hết nước sông / Đố ai chép hết được công Bác Hồ; Ngày xưa, ngày xửa ngày xưa / Chữ nhất chẳng biết, chẳng ưa chữ nào / Chữ nào cũng đã ngồi cao / Chữ ở quan lớn, chữ vào triều vua / Nặng tiền muốn chữ thì mua / Khố rách chỉ có chút chua thôi mà / Từ ngày có cả sơn hà / Bác Hồ cho chữ đượm đà hương sen;…Ơn cha mẹ

đã cao, ơn Bác còn cao gấp ba bốn lần Ơn ấy chẳng ai đo được, trả được, đếm được, kể được

hay chép hết được Cho nên, nhân dân mãi mãi ghi sâu công ơn này Trăm năm bia đá thì mòn /

Ngàn năm ơn Bác vẫn còn ghi sâu; Trọn đời em cũng chẳng quên / Có Đảng, có Bác, em nên thân người / Sao còn có lúc đổi ngôi / Ơn Đảng, ơn Bác đời đời ghi sâu;…

Rõ ràng, nhịp điệu uyển chuyển (dòng lục: 2/2/2, dòng bát: 2/2/2/2/) cùng với sự xen kẽ của vần lưng và vần chân, vần bằng và vần trắc làm cho các câu thơ quấn quýt lấy nhau, câu nọ kéo theo câu kia một cách liên tục như không thể cưỡng lại được Và nội dung cứ thế mà tuôn trào

Và Nguyễn Xuân Kính cũng cho rằng vì sự không gò bó, không hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm ( số lượng cặp lục bát tùy thuộc vào tác giả) nên thể thơ này đã diễn đạt được phong phú các cảm xúc, thể hiện được đa dạng các nội dung Trước cách mạng tháng Tám,

Nguyễn Đình Thi đã nhận xét về đặc điểm này như sau:“Dùng một hình ảnh, ta có thể ví lối thơ

Đường luật như một chiếc bình pha lê kết tinh trong suốt nhưng không đủ sức lôi cuốn của một dòng sông Thơ lục bát trái lại, vì hợp với tiếng nói nước ta hơn nên có thể dung được cảm hứng tràn lan, đó là thể thơ ca hát, kể chuyện của dân chúng”[ 32, 219] Đúng! Chính do khả

năng dung được nguồn cảm hứng tràn lan nên thể thơ này đã trở thành thể tiêu biểu nhất trong

ca dao Việt Nam nói chung và mảng ca dao về Bác nói riêng Tìm hiểu một số ví dụ sau, ta dễ dàng nhận ra điều đó

Ví dụ 1: Ai ngoài muôn dặm trùng dương / Cùng thường nhận được tình thương Cụ Hồ;

Ai ơi đừng lấy chồng non / Chờ ngày độc lập lấy con Cụ Hồ; Anh là chiến sĩ Cụ Hồ / Đánh cho

Mỹ cút, cơ đồ mới êm;…Mỗi bài ca dao trên chỉ gồm hai dòng thơ và thường thể hiện một nội

dung Như vậy, với số dòng ngắn gọn như thế thì ca dao chỉ có thể truyền tải nội dung một cách

cô đọng, súc tích và có giới hạn

Ví dụ 2: Bác về năm ngoái năm xưa / Năm nay đất mỏ được mùa hoa than / Còi reo máy

hát trên tầng / Ước gì lại đúng mùa xuân Bác về Với bốn dòng thơ, bài ca trên lại bao quát đến

hai nội dung: nhắc lại kỉ niệm năm nào Bác về thăm khu mỏ của công nhân; ước sao năm nay Bác lại về đúng vào dịp mùa xuân, mùa “ hoa than” của vùng mỏ để giới công nhân có dịp dâng lên Bác những thành quả mà cả đội đã gắng công, gắng sức thực hiện theo lời dạy “ tăng gia sản

Trang 37

xuất” của Bác trong suốt thời gian qua Số lượng dòng thơ tăng cho phép tác giả dân gian của bài ca dao trên diễn đạt được đầy đủ và phong phú các nội dung nêu trên

Ví dụ 3: Ai về nhớ ghé Bạc Liêu / Ăn chùm nhãn ngọt chín riu mật vàng / Rồi xuôi xuống

chợ Cây Bàng / Đi thăm bãi cát trải vàng biển khơi / Ai xây, ai đắp, ai bồi / Công ơn của Bác chói ngời Bạc Liêu Bài ca dao vừa là lời mời gọi mọi người hãy đến thăm Bạc Liêu vừa là lời

ngợi ca công đức Bác Hồ Bạc Liêu vừa có sản vật “ nhãn ngọt” đậm đà khó quên, vừa có phong cảnh hữu tình “ bãi biển cát vàng” níu chân Để rồi, nhân dân Bạc Liêu ai cũng như ai đều khẳng định có được cuộc sống no đủ, tươi đẹp như thế là nhờ công ơn Cụ Hồ Phải chăng với sáu dòng thơ như trên thì người dân Bạc Liêu mới thổ lộ hết những tâm tình của lòng mình?

Ví dụ 4: Từ ngày giải phóng quê tôi / Mít- tinh lại họp, rợp trời cờ bay / Trẻ em đi học

ban ngày / Nhân dân đi cấy, đi cày mừng vui / Thuyền bè xuôi ngược, ngược xuôi / Có chè Phú Thọ có sồi Bắc Ninh / Cây đa bóng mát đầu đình / Bờ tre trong xóm, lúa xanh ngoài đồng / Từ nay mặc sức vun trồng / Nước giàu dân mạnh, vợ chồng ấm no / Hòa bình, độc lập, tự do / Nghìn năm ơn đức Cụ Hồ không quên Đến ví dụ này thì rõ ràng, chúng tôi hoàn toàn đồng tình

với ý kiến cho rằng sự không hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm đã giúp thể thơ lục bát diễn đạt được phong phú các cảm xúc, đa dạng các nội dung Bài ca dao gồm mười hai dòng miêu tả niềm vui sướng khôn tả của nhân dân vùng mới được giải phóng Tác giả dân gian đã khéo léo lột tả hết được niềm sung sướng của mọi tầng lớp nhân dân: trẻ em không phải len lén học cái chữ vào ban đêm mà nay hớn hở, tung tăng đến trường giữa ban ngày; nông dân mừng vui đi cày, đi cấy trong tự do, làm chủ; thương lái nô nức ngược xuôi, xuôi ngược trao đổi, buôn bán Một không khí thanh bình, yên ả khắp xóm thôn: đa che bóng mát, lúa xanh ngoài đồng Từ đó,

ai ai cũng hăng hái vun trồng, tăng gia sản xuất để được cuộc sống ấm no, dân giàu nước mạnh Niềm vui sướng ấy cứ lan tỏa từ câu nọ kéo sang câu kia như không muốn dứt Để rồi cuối cùng, nhân dân nhắc nhở nhau nghìn năm công đức Cụ Hồ không được quên bởi chính Người

đã mang đến cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, mang đến niềm vui cho mọi người

Về hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ tư của câu bát: ca dao về Bác cũng như ca dao cổ truyền vẫn xuất hiện hiện tượng gieo vần này Dĩ nhiên hiện tượng này là không nhiều Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa ca dao cũ có những hình thức nào thì ca dao mới mà ca dao về Bác là

đại diện cũng xuất hiện những hình thức đó Chẳng hạn: Ai về nhắn bạn đường xa / Nón đẹp

tỉnh nhà là nón Tam Dương / Kim Thành trồng mía làm đường / Đũi dẹt Cát Tường vừa ý nhiều cô / Ai lên thưa với Bác Hồ / Quê em nghề phụ bốn mùa vui tươi; Cắn tay cho vọt máu hồng / Vẽ đóa hoa hồng lên vách hầm gai / Nếu ta về với cỏ cây / Đất giữ hoa này dâng tặng

Trang 38

Cha ta;… Ca dao hiện đại : Cô kia cấy lúa bên cồn / Tai nghe tiếng đồn, chữ nghĩa nhấp nhem; Chùm gởi là gởi thân dâu / Dâu héo lá sầu dâu cũng héo theo;…

Trong công trình nghiên cứu về âm nhạc và dân gian “Bàn về lục bát và ca khúc Việt Nam”, nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn cho rằng nhịp lục bát rất đều đặn Tuy nhiên, chính sự đều

đặn ấy lại làm cho thể thơ này trở nên đơn điệu, tẻ nhạt “Nếu phải nghe cái nhịp đều đều này

mấy ngàn lần liên tiếp trong một tác phẩm lục bát dài thì quả là cực hình” [21,2] Chúng tôi

không tán thành ý kiến đó của nhạc sĩ Bởi chúng tôi nghĩ dường như tác giả chỉ nghiên cứu lục bát như một thể thơ thuộc nghệ thuật ngôn từ thuần túy, tách khỏi nguồn gốc sinh thành của nó

là dân ca Nhưng nếu Phạm Quang Tuấn hay một vài người khác có cho rằng thể lục bát có phần đơn điệu, tẻ nhạt thì chính việc thay đổi vị trí hiệp vần trong ca dao lục bát sẽ mang đến một trạng thái mới tránh được sự đơn điệu, tẻ nhạt ấy

Ngoài ra, chính sự không gò bó, không hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm đã mang đến cho ca dao về Bác một đặc điểm mà trong quá trình khảo sát người viết đã nhận thấy: đó là số bài

ca dao gồm hai dòng thơ ( một cặp lục bát) chiếm số lượng khá ít mà thường là nhiều hơn hai dòng Tiến hành thống kê tần số xuất hiện của các dòng thơ, chúng tôi thu được kết quả như sau

Bảng thống kê tần số xuất hiện các dòng thơ trong các bài ca dao theo thể lục bát của ca dao về Bác

Nguyễn Xuân Kính đã thống kê trong số 973 bài ca dao theo thể lục bát trong cuốn Ca

dao Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, tần số xuất hiện các dòng thơ như sau:

Trang 39

Nhìn vào kết quả bảng thống kê trên, ta thấy có sự tỉ lệ nghịch: số bài có số lượng dòng càng ít thì tỉ lệ càng cao và ngược lại số bài có số dòng càng cao thì tỉ lệ càng thấp Đơn cử, số bài hai dòng số lượng là 620 bài tỉ lệ 63 % còn số bài từ mười hai dòng trở lên thì chỉ có 8 bài tỉ

lệ chưa đến 1 %

Tiến hành so sánh với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Kính, chúng tôi thấy có sự đối lập: với ca dao trước cách mạng, số bài được sáng tác theo thể lục bát có số dòng là hai chiếm tỉ lệ khá cao 63 %, số bài từ mười hai dòng trở lên chiếm gần 1%; trong khi đó ca dao về Bác số bài có số dòng là hai chỉ chiếm 20.5 %, còn lại là nhiều hơn hai dòng, trong đó số bài từ mười hai dòng trở lên chiếm 11.1%

Bên cạnh đó, khi so sánh thể thơ lục bát trong mảng ca dao về Bác Hồ với thơ trữ tình

của bộ phận văn học thành văn thì lại thấy có sự tương đồng Trong bài “Bước đầu tìm hiểu sự

khác nhau giữa ca dao và thơ lục bát”, Hoàng Tiến Tựu đã nhận xét: “…thơ lục bát của

Nguyễn Bính đều dài trên 20 dòng, có bài dài tới 220 dòng như Lỡ bước sang ngang; thơ lục bát của Tố Hữu cũng tương đối dài: Đêm giao thừa 24 dòng, Bà má Hậu Giang 196 dòng, Bầm

Từ sự so sánh với các nghiên cứu nêu trên, chúng tôi cho rằng mảng ca dao về Bác có sự

kế thừa, phát huy thể thơ lục bát trong ca dao cũ và tương đồng với ca dao mới Lí giải hiện

tượng ca dao về Bác có số dòng nhiều hơn hai, chúng tôi tán đồng ý kiến: “Tính chất ngắn gọn

của ca dao là một đặc điểm chứ không hẳn là ưu điểm Hiện thực thì phong phú, đa dạng, nhiều khi phức tạp, tâm hồn, cảm xúc của con người cũng rất lắm cung bậc, trong khi đó dung lượng của một lời ca dao rất hạn chế, số lời có từ hai cặp lục bát (bốn dòng) trở lên không nhiều Mỗi một lời chỉ phản ánh được một khía cạnh của hiện thực…” [32, 222] Hơn nữa, tình

Trang 40

cảm của nhân dân đối với Bác thì lại vô cùng phong phú nên chỉ có những bài ca dao với số lượng nhiều dòng thì mới thể hiện hết, bộc lộ hết Ngoài ra, ca dao về Bác được sáng tác từ sau cách mạng tháng Tám, lúc này chữ viết đã hình thành, nhiều bài ca dao được tác giả dân gian sáng tác bằng hình thức viết rồi sau đó mới lưu truyền bằng miệng Chính vì viết nên người sáng tác có thời gian suy nghĩ thấu đáo, nảy sinh nhiều ý tưởng, nhiều nội dung vì thế mà số lượng dòng thơ tăng lên Ngược lại, trong xã hội cũ, đôi khi để ứng tác kịp thời trong lúc đối đáp nên nhân dân khó có khả năng ứng tác một bài dài lên đến vài chục dòng thơ Cho nên, lượng bài trong ca dao cổ truyền có số dòng ít là đặc điểm phù hợp với hoàn cảnh sáng tác, hình thức diễn xướng, đối đáp của người bình dân Còn một đặc điểm nữa, theo người viết cũng không kém quan trọng đó là ngày trước trong quan hệ nam nữ, tình yêu rất khó mở lời Những người yêu nhau thường bộc lộ tình cảm một cách kín đáo, tế nhị, bóng gió, xa xôi nên hình thức bộc lộ thường dùng cách nói ẩn dụ mang tính chất ngắn gọn, cô đọng Ngược lại, tình cảm của nhân dân đối với Bác cũng như tình cảm đối với ông bà, cha mẹ, quê hương, đất nước là loại tình cảm thiêng liêng, cao quí mà ai cũng có nhu cầu nói rõ, nói thẳng, nói trực tiếp không ngại ngần Phải chăng vì thế mà trong ca dao về Bác, lượng bài ca dao theo thể lục bát nhiều hơn hai dòng xuất hiện với tần số dày đặc?

Tóm lại, về thể thơ lục bát, ca dao về Bác kế thừa dường như trọn vẹn đặc điểm của ca dao cổ truyền Chỉ có điểm khác là các tác giả dân gian hiện đại thường sáng tác các bài ca dao

có số lượng nhiều hơn hai dòng để có thể diễn tả được hết những điều muốn gửi gắm đến Bác

2.1.1.2 Lục bát biến thể

Ở đây người viết chọn cách hiểu của Mai Ngọc Chừ: “ Lục bát biến thể ở đây được quan

niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt trên sáu dưới tám mà có

sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết.”[32, 222]

Ca dao về Bác Hồ cũng có một số lời lục bát biến thể, trong đó khuôn hình về vần vẫn được giữ, còn số tiếng trong mỗi lời thơ có thể thay đổi Đúng như phân loại của Mai Ngọc

Chừ, lục bát biến thể ở đây có ba loại: Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên:

Dân Cụ Hồ chỉ một lời thề (7 tiếng) Mạng thì đổi mạng bám quê đến cùng (8 tiếng)

Dường như, dòng lục của bài ca dao trên phải đến 7 tiếng thì mới diễn tả đầy đủ, trọn vẹn lời thề của nhân dân trong quyết tâm đánh giặc, giữ làng, giữ nước Nếu bớt đi bất kỳ từ nào của dòng lục để giữ đúng khuôn hình của dòng lục là sáu tiếng thì nội dung, ý nghĩa của dòng thơ cũng sẽ thay đổi Cho nên việc thay đổi số lượng âm tiết ở đây là có cơ sở chính đáng

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w