Từ trước đến nay, đời sống tinh thần luôn có một vai trò quan trọng trong cuộc sống. Với một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, hằng ngày phải làm những công việc đồng áng nặng nhọc, tâm tư con người lúc nào cũng phải lo lắng đủ bề, mùa vụ có được bội thu, cuộc sống có được ấm no hay không luôn đè nặng lên đôi vai. Vậy nên, món ăn tinh thần chính là liều thuốc để xoa diệu những bộn bề lo toan ấy, và lễ hội là một giải pháp một minh chứng điển hình cho vị thuốc tinh thần cho người nông dân nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lễ hội đã có mặt ở nước ta từ xa xưa, khi con người sản xuất, sinh sống phụ thuộc vào tự nhiên, người ta tin tưởng vào thế giới siêu nhiên, sức mạnh của tự nhiên, rồi tin vào thần linh, Thành Hoàng, Thần Nông…từ đó lễ hội nông nghiệp ra đời để đáp ứng niềm tin và ước vọng của người nông dân. Lễ hội là một nét truyền thông văn hóa thể hiện đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn”, biết ơn đến thần linh, tự nhiên đã phù hộ cho mùa màn được bội thu, là khát vọng cuộc sống bình yên, sung túc của người nông dân. Mặt khác lễ hội còn là thời gian để sinh hoạt cộng đồng, gắn kết mọi người lại với nhau, bồi đắp thêm tình làng, nghĩa xóm, tình thần đoàn kết dân tộc. Đi từ Bắc vào Nam, không khó để bắt gặp một lễ hội, bởi ở nước chúng ta có vô vàng lễ hội được diễn ra trong năm, với những niềm tin, nhu cầu đối tượng hướng đến khác nhau thì nảy sinh ra các lễ hội ấy. Hơn hết, khi nhìn một cách tổng quan ta có thể dễ dàng nhận thấy, đa phần các lễ hội thường tập trung diễn ra vào mùa xuân, có lẽ ta cũng hay nghe qua câu “Tháng giêng là tháng ăn chơi”. Mùa xuân là lúc khí hậu ôn hòa, tự nhiên, con người tràn đầy sức sống, đây cũng là lúc giao mùa của đất trời, mùa vụ cũng chuyển giao, con người đươc rảnh rổi, nghỉ ngời sau một năm làm việc hang say đầy cực nhọc. Vì thế lễ hội như một điểm hẹn, một không gian thiêng thời, đia lơi, nhân hòa cho một chương trình cộng đồng lớn được diễn ra. Mỗi lễ hội có những nét đặc sắc riêng, thể hiện văn hóa tộc người riêng. Và Lồng thồng cũng thế, đặc biệt là lễ hội Lồng thồng của Tày ở Lạng Sơn. Tuy không phải là một người Tày, càng không sinh sống ở Lạng Sơn, nhưng qua những gì tôi tìm hiểu được thì tại vùng đất Lạng Sơn này, cư dân Tày sinh sống rất đông và đã có những thành tựu nhất định, trong đó lễ hội Lồng thồng diễn ra với quy mô khá lớn, liên tục từ bản này đến bản khác, từ đó có sự ảnh hưởng nhất định đến những tộc người lân cận đồng thời điểm lên một dấu ấn bản sắc dân tộc của con người Việt Nam. Đó cũng là lý do vì sao tôi lại chọn: “ Lồng thồng – lễ hội dân gian đặc sắc của người Tày ở Lạng Sơn”.
Trang 1********
LỒNG THỒNG – LỄ HỘI DÂN GIAN ĐẶC SẮC CỦA
NGƯỜI TÀY Ở LẠNG SƠN
Trang 2MỤC LỤC
Phần TỔNG QUAN ……… 4
1 Lý do chọn đề tài ……… 4
2 Mục đích nghiên cứu ……….5
3 Đối tượng nghiên cứu ………5
4 Phương pháp nghiên cứu ……… 5
5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu ……… 5
Phần NỘI DUNG ……….6
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn ……… …6
1 Cơ sở lý luận ……….6
1.1 Khái niệm văn hóa ……….………6
1.2 Khái niệm văn hóa dân gian ……… ……6
1.3 Khái niệm lễ hội ……….6
1.4 Tên gọi Lồng thồng ………7
2 Cơ sở thực tiễn ……… 8
Chương II: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - BẢN SẮC ĐẬM ĐÀ DÂN TỘC TÀY Ở XỨ LẠNG ………8
1 Nguồn gốc ……….8
2 Thời gian, không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng ……….……9
2.1 Thời gian tổ chức ………9
2.2 Không gian tổ chức ……….…….10
3 Chuẩn bị trước lễ hội ……… ……….10
3.1 Sửa chữa đình ……… ,………10
3.2 Làm nhà Thần Nông ……… ……,… 10
3.3 Làm đạo cụ cho phần hội ……….………11
3.4 Lễ vật cúng tế ……….………… 11
4 Tiến hành nghi thức lễ ……….…………12
Trang 34.2 Xin thần thành Hoàng mở lễ hội ……….………12
4.3 Cúng Thành Hoàng và Thần Nông ……….………….13
4.4 Đón sư tử bạn ……… ………15
5 Phần hội trong lễ hội Lồng thồng ………16
5.1 Các trò diễn ……….….16
5.2 Các trò chơi ……….….18
6 Giá trị của lễ hội Lồng thồng ……….….20
Chương III: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI …………22
1 Những biến đổi của lễ hội Lồng tồng hiện nay ……… ……22
2 Các nhân tố tác động ……….…… 23
3 Phương hướng phát triển lễ hội Lồng thồng trong thời đại mới ……….24
Phần KẾT LUẬN ……… …26
Tài liệu tham khảo ……….…27
Trang 4Phần TỔNG QUAN
1 Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, đời sống tinh thần luôn có một vai trò quan trọng trong cuộc sống Với một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, hằng ngày phải làm những công việc đồng áng nặng nhọc, tâm tư con người lúc nào cũng phải lo lắng đủ bề, mùa
vụ có được bội thu, cuộc sống có được ấm no hay không luôn đè nặng lên đôi vai Vậy nên, món ăn tinh thần chính là liều thuốc để xoa diệu những bộn bề lo toan ấy, và
lễ hội là một giải pháp một minh chứng điển hình cho vị thuốc tinh thần cho người nông dân nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Lễ hội đã có mặt ở nước ta từ xa xưa, khi con người sản xuất, sinh sống phụ thuộc vào tự nhiên, người ta tin tưởng vào thế giới siêu nhiên, sức mạnh của tự nhiên, rồi tin vào thần linh, Thành Hoàng, Thần Nông…từ đó lễ hội nông nghiệp ra đời để đáp ứng niềm tin và ước vọng của người nông dân Lễ hội là một nét truyền thông văn hóa thể hiện đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn”, biết ơn đến thần linh, tự nhiên đã phù hộ cho mùa màn được bội thu, là khát vọng cuộc sống bình yên, sung túc của người nông dân Mặt khác lễ hội còn là thời gian để sinh hoạt cộng đồng, gắn kết mọi người lại với nhau, bồi đắp thêm tình làng, nghĩa xóm, tình thần đoàn kết dân tộc
Đi từ Bắc vào Nam, không khó để bắt gặp một lễ hội, bởi ở nước chúng ta có
vô vàng lễ hội được diễn ra trong năm, với những niềm tin, nhu cầu đối tượng hướng đến khác nhau thì nảy sinh ra các lễ hội ấy Hơn hết, khi nhìn một cách tổng quan ta
có thể dễ dàng nhận thấy, đa phần các lễ hội thường tập trung diễn ra vào mùa xuân,
có lẽ ta cũng hay nghe qua câu “Tháng giêng là tháng ăn chơi” Mùa xuân là lúc khí hậu ôn hòa, tự nhiên, con người tràn đầy sức sống, đây cũng là lúc giao mùa của đất trời, mùa vụ cũng chuyển giao, con người đươc rảnh rổi, nghỉ ngời sau một năm làm việc hang say đầy cực nhọc Vì thế lễ hội như một điểm hẹn, một không gian thiêng thời, đia lơi, nhân hòa cho một chương trình cộng đồng lớn được diễn ra
Mỗi lễ hội có những nét đặc sắc riêng, thể hiện văn hóa tộc người riêng Và Lồng
Trang 5một người Tày, càng không sinh sống ở Lạng Sơn, nhưng qua những gì tôi tìm hiểu được thì tại vùng đất Lạng Sơn này, cư dân Tày sinh sống rất đông và đã có những thành tựu nhất định, trong đó lễ hội Lồng thồng diễn ra với quy mô khá lớn, liên tục
từ bản này đến bản khác, từ đó có sự ảnh hưởng nhất định đến những tộc người lân cận đồng thời điểm lên một dấu ấn bản sắc dân tộc của con người Việt Nam Đó cũng
là lý do vì sao tôi lại chọn: “ Lồng thồng – lễ hội dân gian đặc sắc của người Tày ở Lạng Sơn”
Trước sự phát triển của thời đại mới, lễ hội đã phần nào mai một và dần thay đổi theo hướng tiêu cực Để có thể giữ gìn được bản sắc vốn có của lễ hội Lồng thồng cùng với việc phát huy những điều ý nghĩa đẹp đẽ của nó với con người thì việc tìm hiểu, nghiên cứu về Lồng thồng để có những nền tảng, từ đó đưa ra các giải pháp thì
đó là một điều cấp thiết và quan trọng Vậy nên, đây là một đề tài hay và hợp lý để tôi lựa chọn
3 Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội dân gian Lồng thồng của người Tày ở Lạng Sơn
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh xưa và nay để làm nổi bật lễ hội
- Sử dụng nguồn tài liệu từ: sách, báo, internet
5 Dự kiến kết quả sau khi nghiên cứu
Dưới góc độ thu thập thông tin từ các tư liệu nghiên cứu hiện có, thêm vào đó
Trang 6mang lại một bức tranh toàn cảnh đến chi tiết về lễ hội dân gian đặc sắc này Để cho mọi người, đặc biệt là sinh viên hiểu hơn về Lồng thồng, về một nét văn hóa truyền thống của đồng bào người Tày ở Lạng Sơn Phần nào sẽ mang đến những tri thức, những động lực để lễ hội Lồng thồng sẽ luôn có một vị trí trong những con người đang yêu và học về văn hóa
Phần NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm Văn hóa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam,
Trần Ngọc Thêm, tr27)
1.2 Khái niệm Văn hóa dân gian:
Từ những khảo sát qua các định nghĩa văn hóa dân gian của những nhà nghiên cứu, khoa học mà một khái niệm được đưa ra như sau:
“Văn hóa dân gian là những sản phẩm phục vụ đời sống vật chất và đời sống tinh thần, những quy ước xã hội do người bình dân sáng tạo, gìn giữ qua nhiều thế hệ.”
1.3 Khái niệm Lễ hội:
“Lễ hội là một hiện tượng sinh hoạt tập thể gồm nhiều thành tố tham gia theo phương thức tổng hợp Lễ hội là tổ hợp có hàm ý chỉ phần lễ và phần hội nhưng cũng
có thể chỉ có một trong hai phần đó Lễ hội là thành tố quan trọng của văn hóa dân gian Lễ hội là sự hội tụ văn hóa trên cơ sở tái hiện tự nhiên và lịch sử theo tâm thức dân gian Những giá trị của lễ hội luôn được bảo tồn và phát triển, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của dân chúng qua các thời kì lịch sử
Trang 7Lễ là hệ thống nghi thức cúng bái chặt chẽ, ổn định được xây dựng theo quy
ước của mỗi làng Các nghi thức và quy trình chính của phần lễ của lễ hội người Việt gồm: lễ rước nước (nước ở giữa sông), lễ mộc dục, tế gia quan (áo mũ mới), đại tế
Hội là hoạt động diễn ra sau phần lễ, khởi đầu bằng đám rước Người ta nói
đông như hội tức là nhắc đến vai trò của đám rước Đám rước được xem như là cao trào của hội Nó thể hiện niềm tin của cộng đồng đối với vị thần che chở cho mình, thể hiện tiềm lực của làng, đồng thời đem lại sự hưng phấn và không khí vui tươi cho toàn cộng đồng.” (Tập bài giảng Văn hóa dân gian Việt Nam, Trần Long)
1.4 Tên gọi Lồng thồng
Trong cuốn lễ hội dân gian dân tộc Tày có đoạn: “Thuật ngữ Lồng thồng với
nghĩa xuống đồng có lẽ được sử dụng lần đầu tiên trong công trình “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)” của các tác giả thuộc Viện Dân tộc học năm (1978), ở trang 195 - 196 của cuốn sách đã ghi rõ: “Phải nói rằng hệ thống điện thần của người Tày đã phát triển cao, có đủ mặt các vị từ Ngọc Hoàng, Nam Tào Bắc Đẩu, thần sông, cho tới các loại thần thánh ma quỷ ở địa phương Hàng năm người ta tổ chức cúng vào mùa xuân, những dịp này thường gọi là hội xuống đồng (lông thồng), hội trăng (hội hai), ra núi (óc pò) ” (Hoàng Văn Páo, 2012: 57)
đó là “lồng thồng”, “lồng tồng”, “lồng tổng”, “lùng tùng”, “lồng thổng”, “slồng
thồng” Tất cả những cách gọi ấy đều không hề sai và đều có nghĩa là xuống đồng, có thể do cách phát âm của đồng bào Tày trên từng địa phương khác nhau, song về ngữ nghĩa thì không có gì thay đổi Tên gọi lồng thồng tương đương với xuống đồng được nhiều nơi gọi là phù hợp với nội dung và hình thức của lễ hội xuống đồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn - một địa bàn gốc của lễ hội này Bởi vậy, lồng thồng sẽ được sử dụng là tên gọi xuyên suốt trong bài tiểu luận này
Trang 8
2 Cơ sở thực tiễn
Người Tày ở Lạng Sơn cũng như những tộc người khác của Việt Nam xem nông nghiệp lúa nước với nương rẫy là quan trọng hàng đầu cho sự tồn tại và phát triển, mà điều ấy thì lại phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Do đó mà ngoài việc thờ cúng thần thánh, sức mạnh của siêu nhiên, họ còn tổ chức những nghi thức, nghi lễ để cầu mưa, cầu nắng, cầu an, cầu phúc, cầu bình yên cho sự sống Lễ hội Lồng thồng chính là một trong những nghi lễ như vậy Chính phong tục của người Tày ở từng địa phương trên vùng đất Lạng Sơn đã trở thành cơ sở, nền tảng cho lễ hội Lồng thồng tồn tại và phát triển một cách bền vững Tuy nhiên, trên chặng đường ấy đã có khá nhiều sự thay đổi diễn ra, từ một lễ hội tâm linh rất quan trọng trong năm thì dần dần các yếu tố bên trong của nó có phần nào mai một Cách thức tổ chức, số lượng ngày diễn ra, các bước trong nghi lễ hay hình thức trò chơi cũng đã thay đổi rất nhiều Có
cả những lí do chủ quan hay khách quan đã dẫn đến một lễ hội Lồng thồng với diện mạo ngày hôm nay Nhìn theo nhiều hướng ta sẽ thấy có những yếu tố tích cực, tiêu cực trong sự thay đổi đó Bài tiểu luận này sẽ mang đến một cái nhìn chung nhất, những hiểu biết cơ bản về lễ hội Lồng thồng truyền thống, điển hình cho một lễ hội dân gian của người Tày xứ Lạng nói riêng và người đồng bào nói chung Từ đó mà cung cấp một kiến thức nền cho những ai đã từng hay chưa từng biết đến lễ hội này, song có được một cái nhìn, nhận định riêng của chính mình cho lễ hội Lồng thồng ngày nay
Chương II: LỄ HỘI LỒNG THỒNG - BẢN SẮC ĐẬM ĐÀ DÂN TỘC TÀY Ở
XỨ LẠNG
1 Nguồn gốc
Nếu đặt ra một câu hỏi từ khi nào mà lễ hội Lồng thồng xuất hiện? hay do đâu
mà có? thì quả thật là chưa ai có thể trả lời được một cách chính xác Theo nhiều cuộc khảo xác diễn ra với quy mô lớn, điển hình như một cuộc phỏng vấn 218 người Tày ở
226 xã phường, thị trấn của 11 huyện, thành phố tỉnh Lạng Sơn, đa phần mọi người
Trang 9đều cho rằng Lồng thồng đã ra đời từ khi các làng, bản hình thành Và cũng đã có nhiều câu chuyện, sự tích rất đa dạng, phong phú về lễ hội Lồng thồng của người Tày Như đã nói ở trên, vì người Tày sống chủ yêu vào trồng trọt, nông nghiệp lúa nước nên bị ảnh hưởng, phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Từ khi gieo hạt mầm cho đến ngày thu hoạch, thì mùa màng có thuận lợi, bội thu hay không đều trông vào ông trời,
sự phù hộ của các năng lực siêu nhiên Để tăng thêm niềm tin ấy, người dân đã cầu xin, tác động đến các vị thần, thánh ấy Từ đó mà có lẽ đã sinh ra lễ hội Lồng thồng
và tín ngưỡng dân gian của dân tộc Tày Cho nên, chúng ta có thể xem rằng, lễ hội dân gian Lồng thồng có nguồn gốc ra đời của là do sự cầu mùa và các nghi lễ nông nghiệp
2 Thời gian, không gian tổ chức lễ hội Lồng thồng
2.1 Thời gian tổ chức
Lễ hội Lồng thồng kéo dài cả mùa xuân, thường trong thời gian từ ngày mồng 5 tháng Giêng đến hết ngày mồng 4 tháng Tư âm lịch hằng năm, nhưng tập trung nhiều nhất là ở tháng Giêng Tùy theo từng địa phương mà ngày diễn ra lễ hội khác nhau Một lễ hội chỉ kéo dài tối đa là ba ngày Tuy nhiên, hiện nay đại đa số lễ hội Lồng thồng được tổ chức tại tỉnh Lạng Sơn chỉ diễn ra gói gọn trong vòng một ngày
Nếu đúng như cách thức tổ chức xưa, trong ba ngày lễ hội sẽ được diễn ra với các nội dung cơ bản sau: Ngày thứ nhất, là ngày để cộng đồng dân bản tập trung lại và chuẩn
bị những đồ cần thiết cho lễ hội hay hoàn tất việc sửa sang đình, nhà Thần Nông, sau
đó thầy cúng xin Thần Nông cho phép bản làng được mở hội Ngày thứ hai là ngày chính của lễ hội ngày này sẽ có rất nhiều hoạt động bao gồm phần lễ và phần hội của Lồng thồng Ngày thứ ba là ngày kết thúc lễ hội, đây là ngày để ban tổ chức làm lễ kết thúc lễ hội cùng với việc rút kinh nghiệm, dự kiến cho năm sau
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng bản làng, tùng vùng mà thời gian tổ chức lễ hội Lồng thồng có thể xê dịch khác nhau để dân bản này có thể đến bản kia dự hội Đó là một nét đặc trưng rất riêng của người Tày nói chung và Lạng Sơn nói riêng
Trang 102.2 Không gian tổ chức
Là một hình thức sinh hoạt cộng đồng, nên không gian diễn ra lễ hội cũng là một nơi sinh hoạt thường niên của một bản làng Lễ hội Lồng thồng diễn ra ở sân đình, hoặc tại một khu ruộng bằng phẳng, giữa cánh đồng hay trên gò đồi, nơi mà thuận tiện cho việc làm lễ và chơi hội Với những nơi chọn khu đất ruộng để tổ chức thì người ta phải làm nhà Thần Nông ở đám ruộng to nhất của cánh đồng cho việc tổ chức lễ hội (đám ruộng này tiếng địa phương gọi là nà thồng)
3 Chuẩn bị trước lễ hội
Để tổ chức lễ hội Lồng thồng, người dân cần có một bộ phận tổ chức sẽ gồm có
pú mo, trưởng bản, các bậc lão niên Đó là những người có uy tín trong bản (khi xưa những công việc này là có thổ ty hay các vị có chức sắc trong bản điều hành) Trước ngày chuẩn bị cho lễ hội, trưởng tổ chức họp dân làng với sự có mặt của phú mo, từ
đó phân công công việc để chuẩn bị những cơ sở vật chất cần thiết cho ngày diễn ra lễ hội
3.1 Sửa chữa đình
Trước khi quét dọn, trang hoàng lại đình, pú mo sẽ dâng lễ xin phép sửa đình Sau đó người dân sẽ tập trung vào việc sửa chữa, thay thế những cái đã hư, cũ, phát quang xung quanh đình Khâu quan trọng nhất là việc trang trí nội thất bên trong đình Trước tiên là kẻ chữ và dán giấy đỏ lên bàn thờ, tiếp đến là lau chùi bát hương thờ thần Thành Hoàng Người dân dán giấy đỏ lên các cột đình, bốn gốc đình cắm cờ hội cao trên 10 mét Có một nét rất đặc biệt là những hư hương, đỉnh đồng trong bàn được rửa bằng nước bồ kết, lá chua me và dấm thanh Mang lại một diện mạo mới mẻ cùng mùi hương của thiên nhiên Sau cuối, việc sửa chữa hoàn thành mang đến một không khí linh thiêng, rực rỡ cho đình
3.2 Làm nhà Thần Nông
Với những đình đã có sẵn nhà Thần Nông, người dân chỉ cần sửa sang lại cho đẹp Tuy nhiên, số lượng này rất ít, vì vậy mà đa phần phải làm nhà Thần Nông (nhà
Trang 11này có tính chất tạm bợ, chỉ được dựng lên để phục vụ cho lễ hội, sau đó thì được dỡ
bỏ ngay)
Nhà Thần Nông thực hiện khá đơn giản, được chôn thành 6 hoặc 8 cột tùy thuộc vào số lượng người dân của thôn bản nhiều hay ít Số cột được chia đôi và chôn thành hai hàng đối xứng nhau, rồi lấy các đoạn cây buộc nối cột lại với nhau, làm thành 3 tầng Sau đó gác các đoạn cây lên từng tầng để đặt các mâm cúng do các gia đình trong bản mang đến lễ thần
Xung quanh đình và nhà Thần Nông, người ta trồng những cây nêu cao khoảng
10 - 15m Trên đó treo bánh trái, vài nén hương và dán giấy xanh đỏ Theo quan niệm dân gian Tày, cây nêu tượng trưng cho mối giao hòa đất - trời, âm - dương, đồng thời
là biểu tượng linh hồn ông bà, tổ tiên về chung vui cùng con cháu
3.3 Làm đạo cụ cho phần hội
Ở phần hội có rất nhiều hoạt động về trò diễn, trò chơi nên công việc chuẩn bị cũng khá tất bật Người dân phải chuẩn bị đạo cụ trò "sĩ, nông, công thương" là những chiếc mặt nạ làm từ tre, nứa Làm cây còn để dựng ở giữa cánh đồng, nơi diễn ra các trò chơi của hội Làm quả còn, làm yến, bàn cờ, quân cờ (cờ tướng), dây kéo co (xẻ thoi) ,nỏ mũi tên, hình nộm, cà kheo (mạ điếng), sảng (ăn sáng, nghé sáng), cây khăng (tèo khăng), bi đá, bao (pao), đáo (lọ) kể ra bấy nhiêu đó thì cũng dễ nhận thấy được
là có rất nhiều thứ cần phải chuẩn bị để ngày hội được diễn ra đặc sắc, nhộn nhịp
3.4 Lễ vật cúng tế
Bắt nguồn từ quan niệm tâm linh, người Tày ở Lạng Sơn chuẩn bị lễ vật để cúng thần Thành Hoàng và Thần Nông rất chu đáo, cẩn thận Thông qua lễ vật mà có thể khẳng định được trình độ chế biến các món ăn vừa tinh túy, cầu kỳ vừa ngọn miệng và đẹp mắt Có một số món nổi bật như: bánh khảo (sla cao), bán bỏng (pẻng khô, bốc théc, khẩu sli), bánh chè lam (pẻng khinh), bánh chưng Tày (pẻng tổm, khẩu tổm), gà cúng, lợn tế… Nhìn chung các món ăn được làm từ sản vật thu hoạch của mùa vụ, được lực lượng siêu nhiên phù hộ cho mùa màng bội thu
Trang 124 Tiến hành nghi thức lễ
4.1 Người chủ trì cuộc hành lễ
việc người hành lễ giữ vai trò vô cùng quan trọng Đó là người đại diện, thay mặt cho bản làng làm nhiệm vụ báo cáo với thần linh và xin sự phù hộ độ trì cho sự bình yên, phát triển của cộng đồng dân làng Người Tày ở Lạng Sơn gọi người chủ trì cuộc hành lễ trong lễ hội Lồng thồng là pú mo Những bài cầu cúng pú mo đọc chủ yếu là truyền khẩu từ đời này sang đời khác Y phục của pú mo tương đối đơn giản, rất gần với đời thường, không rực rỡ với các hình thù kỳ quái Phương tiện và đồ cúng cũng đơn giản, lời cúng (mòng mo), nậm rượu và nậm nước Khi xin âm dương có hai thanh gỗ được đẽo gọt, tiếng Tày gọi đó là tức slẻn
4.2 Xin thần thành Hoàng mở lễ hội
Như một thường lệ, vào mùa xuân với một không khí vui tươi dầy nhộn nhịp, trước ngày lễ hội Lồng thồng diễn ra khoảng độ 2 đến 3 ngày, pú mo hoặc người chủ
lễ ra đình xin phép Thần Nông được mở hội Nếu nơi nào không có đình thì làm lễ xin tại nhà pú mo hay nhà chủ lễ Hôm ấy, vật lễ sẽ bao gồm: sla cao, thốc théc, khẩu sli, một ít hương vàng… được đặt lên bàn thờ Pú mo sẽ thắp hương rồi vái ba vái, tiếp đến là những lời cúng tương đối đơn giản, với đại ý là năm nay, nhờ thần linh phù hộ dân bản làm ăn tốt, mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, toàn dân an khang thịnh vượng vì vậy dân bản định tổ chức lễ hội, mong thần cho phép dân bản được tổ chức
lễ hội Lồng thồng, để cảm tạ thần linh và làm lễ ra quân bước vào một mùa sản xuất mới
Khấn xin xong, pú mo lại tiếp tục xin âm dương (tức slẻn) ở chính giữa bàn thờ thần Thành Hoàng của đình Pú mo dùng tay phải cầm hai thanh gỗ cúi xuống và thả vào mặt hòn đá xanh (nằm chính dưới bàn thờ, đặt bát hương thờ thần Thành Hoàng), tiếp đến là tung hai thanh gỗ sáu lần Nếu được hai lần sấp, hai lần ngửa, hai lần sấp ngửa thì coi như thần đã đồng ý cho bản mở lễ hội Tuy nhiên, cũng có những trường
Trang 13Song, pú mo đốt vàng mã, báo cho dân làng biết và phân công nhiệm vụ để chuẩn bị tổ chức lễ hội theo quy mô đã định từ trước
Lễ xin phép thần được mở lễ hội Lồng thồng là một nghi lễ vô cùng quan trọng
Nó thể hiện niềm kính trọng và lòng ngưỡng mộ thần linh Đây chính là khâu đầu tiên của mọi nghi thức, nghi lễ của lễ hội Còn có ý kiến cho rằng, nếu xin âm dương sáu lần được ngày thì lễ hội sẽ suôn sẻ, mùa màng năm đó bội thu; còn nếu xin âm dương nhiều lần thì năm đó dân bản sẽ làm ăn khó khăn
4.3 Cúng Thành Hoàng và Thần Nông
Trước khi lễ cúng được diễn ra, thì ngay từ sớm tinh mơ pú mo đem mâm cúng của mình đặt ở bàn thờ chính nơi thờ thần Thành Hoàng và Thần Nông Ông gõ trống liên hồi, giục giã mọi người trong bản khẩn trương đem mâm cúng của gia đình ra đình, nhà Thần Nông Đặt mâm cũng cũng có những quy tắc riêng và khá là nghiêm ngặt, nếu là nhà cư trú lâu năm thì được đặt mâm cúng bên phải, bên trái của mâm pú
mo, tầng trên đầy thì xuống tầng dưới theo thứ tự trước sau Còn với những nhà nhập
cư sau thì xếp cuối cùng, những nhà mới ở riêng, ở rể thì bày mâm cúng ở nhà Thần Nông Theo quan niệm của đồng bào thì nhà nào có tang, gặp hoạn nạn như cháy nhà, sét đánh, phụ nữ có chữa thì không được cúng vì sẽ có tiềm rủi ro cho năm tới Với những làng bản không có đình thì tất cả mâm cúng được đặt ở nhà Thần Nông, mâm
pú mo đặt ở giữa và tuần tự đến các nhà khác theo quy tắc như ở đình
Như vậy, việc sắp xếp mâm ở đình, nhà Thần Nông của đồng bào người Tày ở Lạng Sơn đã thể hiện mối quan hệ trong cư trú, theo một tôn ti trật tự xã hội thôn bản Các gia đình đã bày mâm cúng xong, những người mang lễ đến ngồi hai bên sàn trong đình hoặc xung quanh nhà Thần Nông, pú mo thắp hương, rót rượu, rót nước chè vào các chén trên bàn thờ rồi bắt đầu làm lễ cúng Những ý chính của lời cúng đại khái là: Xin báo cáo thần linh, qua một năm làm ăn vất vả, dân bản đã có được một mùa bội thu, người dân có cuộc sống tốt Để có được điều này là nhờ trời, trời các thần linh phù hộ nên dân bản ăn nên làm ra Hôm nay, toàn bộ con cháu dân bản tề tụ tại đây để