1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thi pháp của tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh (Romain Gary)

101 1,5K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 537,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông luôn mang những dấu ấn riêng tạo nên một lực hấp dẫn kỳ lạ đối với bạn đọc trong đó có một tác phẩm được viết vào năm ông bốn mươi bốn tuổi, tiểu thuyết đã được Jules D

Trang 1

BÙI THỊ THIẾT

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TIỂU THUYẾT

LỜI HỨA LÚC BÌNH MINH (ROMAIN GARY)

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN DUY BÌNH

Trang 2

NGHỆ AN – 2014

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phạm vi văn bản khảo sát 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM 11

1.1.Vài nét về tác giả Romain Gary 11

1.1.1 Tiểu sử 11

1.1.2 Sự nghiệp 15

1.2 Lời hứa lúc bình minh từ đặc điểm thể loại tiểu thuyết 19

1.2.1 Tóm tắt tiểu thuyết 19

1.2.2 Từ góc nhìn thể loại 23

CHƯƠNG 2 33

LỜI HỨA LÚC BÌNH MINH 33

NHÌN TỪ THI PHÁP NHÂN VẬT 33

2.1 Nhân vật và đặc điểm nhân vật tiểu thuyết 33

2.1.1 Khái niệm nhân vật 33

2.1.2 Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết 35

2.2 Cách xây dựng nhân vật “tôi” 37

2.2.1 Nhân vật nỗ lực định danh 37

2.2.2 Lòng hiếu thảo - tình yêu tuyệt đối 46

2.2.3 Văn chương nghệ thuật trên hành trình tìm kiếm tài năng 52

2.3 Cách xây dựng nhân vật người mẹ 57

2.3.1 Thân phận người phụ nữ 57

2.3.2 Tình mẫu tử - sự hy sinh cao cả 59

2.3.3 Tình mẫu tử, niềm tin tuyệt đối 63

CHƯƠNG 3 69

LỜI HỨA LÚC BÌNH MINH 69

KHÁM PHÁ TỪ PHƯƠNG DIỆN KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ GIỌNG ĐIỆU TÁC PHẨM 69

3.1 Không gian nghệ thuật 69

Trang 4

2.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 69

3.1.2 Không gian sinh hoạt đời thường 70

3.1.3 Không gian chiến trận 74

3.2 Thời gian nghệ thuật 80

3.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 80

3.2.2 Trò chơi về thời gian 82

3.3 Giọng điệu 84

3.3.1 Khái niệm giọng điệu 84

3.3.2 Giọng điệu hài hước, giễu cợt 86

3.3.3 Giọng điệu trữ tình 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Romain Gary là một nhà văn, nhà ngoại giao người Pháp nổi tiếng

nửa sau thế kỷ XX Ông là một người thành công trên con đường chính trị nhưng văn chương mới là lĩnh vực mà ông thành công nhất Ông xem văn chương là một trò tung hứng nghệ thuật và niềm say mê vô tận của mình Trò tung hứng ảo thuật đó được ông đẩy lên mức tự tạo ra một phiên bản khác của chính mình, Émile Ajar, và trở thành nhà văn duy nhất 2 lần nhận

giải Goncourt với hai cái tên khác nhau: Tiểu thuyết Cội rễ bầu trời đạt giải Goncourt năm 1956; tiểu thuyết Cuộc sống trước mặt đạt giải Goncourt

năm 1975 Chỉ sau khi ông chết độc giả mới biết Gary và Ajar là một Với

Trang 5

các tác phẩm của mình, Romain Gary đã trở thành một trong những nhà văn lớn nhất nước Pháp thế kỷ XX.

1.2 Tác phẩm của ông luôn mang những dấu ấn riêng tạo nên một lực

hấp dẫn kỳ lạ đối với bạn đọc trong đó có một tác phẩm được viết vào năm ông bốn mươi bốn tuổi, tiểu thuyết đã được Jules Dassin chuyển thể thành

phim và đem lại cho Romain Gary sự nổi tiếng trên toàn thế giới: Lời hứa

lúc bình minh, một tác phẩm thuộc thể loại giả tự truyện đẹp và đậm tình

nhân văn Qua đó, tác giả kể về cuộc đời đầy sôi động và vinh quang của chính mình, một bài ca tôn vinh tình mẫu tử, khẳng định Nina Borosovskaia trở thành huyền thoại mẹ đúng nghĩa, như một lời hứa của ông đối với cuộc đời Bởi vậy, cho đến hôm nay, sau ngày ông mất hơn ba mươi năm, tác phẩm vẫn nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả khắp thế giới

1.3 Lời hứa lúc bình minh là một tiểu thuyết thành công của Romain

Gary về phương diện thi pháp tiểu thuyết Tác giả đã kết hợp rất hài hòa giữa tự truyện và hư cấu, đã thành công trong việc xây dựng nhân vật “tôi”-nhân vật chính và nhân vật người mẹ, xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật một cách điêu luyện và sử dụng một giọng điệu lúc trữ tình, lúc hài hước để đem lại cho người đọc những rung cảm về tình người cũng như về

vẻ đẹp của tác phẩm

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Đặc điểm thi

pháp của tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh (Romain Gary) để có cái nhìn

khái quát hơn về tư tưởng, chủ nghĩa nhân văn cao cả cũng như nghệ thuật viết văn của Romain Gary

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, đã có nhiều công trình, bài viết về Lời hứa lúc bình minh

của Romain Gary nhưng chủ yếu của các nhà nghiên cứu, phê bình phương Tây Đã có một số luận án tiến sĩ viết về ông: năm 2006, Anne Morange đã

bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài Sự vượt quá giới hạn: trải

Trang 6

nghiệm cá nhân, kinh nghiệm viết văn trong các truyện kể của Gary-Ajar

trong đó Lời hứa lúc bình minh được nghiên cứu rất kỹ về nội dung cũng như nghệ thuật; năm 2009, Melle Céline Ther đã viết luận án về Trò ảo

thuật trong các tác phẩm tiểu thuyết của Romain Gary và Emile Ajar Năm

2002, Dominique Bona đã xuất bản cuốn Romain Gary, cuốn sách này nói

về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả hai lần đoạt giải Goncourt này Năm

2006, Julien Roumette xuất bản cuốn Nghiên cứu về Lời hứa lúc bình

minh, cùng năm, Mireille Sacotte xuất bản cuốn Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary, Myriam Anissimov xuất bản cuốn Romain Gary, kỳ nhông

Rất tiếc, chưa có cuốn sách nào được dịch sang tiếng Việt, vì thế chúng tôi chưa thể tiếp cận được nguồn tư liệu này

Các tư liệu bằng tiếng Việt về cuốn sách này còn hạn chế:

Ngày 10 tháng 2 năm 2010, Công ty Nhã Nam đã phối hợp cùng Đại

sứ quán Pháp tổ chức buổi tọa đàm Con người cá nhân đối diện với thế

giới để giới thiệu về Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống trước mặt của

Romain Gary Buổi tọa đàm có các diễn giả như Cao Việt Dũng, Nguyễn Duy Bình, Hồ Thanh Vân “Kỷ yếu” tập hợp các bài viết của các diễn giả là nguồn tư liệu quan trọng nhất liên quan đến đề tài của chúng tôi

Ngoài ra, trong lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, gần đây nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã công bố một số bài viết sử dụng hiện tượng Romain Gary/Émile Ajar như một ví dụ về “mặt nạ tác giả” nhằm diễn giải cho yếu

tố “mê hoặc văn chương”

Trên một số trang báo điện tử như Tuổi trẻ, Vnexpress, Sài Gòn tuổi

trẻ hay Sách xưa, Sách hay đã có một số bài dịch, nhận xét về văn phong

của Romain Gary cũng như tác phẩm Lời hứa lúc bình minh.

Minh Phước nhận xét: “Lời hứa lúc bình minh là bài ca tôn vinh tình

mẫu tử, nhưng ẩn sâu trong đó vẫn thấy sự hoài nghi và nuối tiếc Tình cờ Romain Gary có tài năng văn học lớn nhưng liệu ông có thành công như thế nếu không có niềm tin của người mẹ ? Khi tình yêu quá trọn vẹn và

Trang 7

niềm tin không gì lay chuyển gắn chặt với buổi bình minh của cuộc đời…”[48].

Nguyễn Chí Hoan trong bài “Chìa tay cho thượng đế” trên trang mạng

Sách hay cho rằng: “Romain kể cuộc đời của ông trong Lời hứa lúc bình minh như một cuốn tiểu thuyết Nếu là một người yêu thích văn học, nói

chung, bạn có tin rằng mỗi cuốn tiểu thuyết theo đúng nghĩa đều nói lên một sự thật?”

Với Nhị Linh trong bài “Tự đặt tên cho mình”, trên báo điện tử Sách

xưa thì: “Lời hứa lúc bình minh, một cách xuất sắc như văn chương vốn

phải như vậy, như thể nói rằng con người ta tuyệt đối có thể lấy hư cấu bao trùm lên thực tại, coi thực tại chỉ là một phản ánh nào đó nhất thời và ngẫu

nhiên của trí tưởng Romain của Lời hứa lúc bình minh, tự đặt tên cho mình

để lôi hẳn cõi sống bên trong ra làm khuôn mẫu cho đời thực, còn Romain Gary sau này cũng sẽ tự đặt tên cho mình thành Emile Ajar, bắt cuộc đời chấp nhận thêm một hiện thân khác nữa của ông”

Báo Sài Gòn Tuổi trẻ, thứ 3, 24/11/2009 đánh giá: “Lời hứa lúc bình

minh là một tác phẩm đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Romain Gary,

kể lại phần lớn cuộc đời của ông và đặc biệt là tình cảm của ông dành cho

mẹ Một cựu diễn viên Do Thái, người luôn mang trong lòng tình yêu và niềm ngưỡng mộ không lí giải nổi đối với nước Pháp Câu chuyện hết sức cảm động về tình mẫu tử này dẫn người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác vì không thể đoán định được sự bao la dạt dào của tình cảm người mẹ dành cho con trai và những gì bà sẵn sàng dành cho cậu Tình yêu của người mẹ theo ông suốt cuộc đời, khi ông chiến đấu trong không quân, lúc ông bắt đầu viết sách và thậm chí cả khi ông giải ngũ trở về người mẹ đã mất thì những lá thư bà để lại vẫn còn theo ông mãi.”

Trên Vnexpress, thứ 4, 20/1/2010, tác giả Thanh Vân nhận xét: “Lời

hứa lúc bình minh là tiểu thuyết viết kiểu tự sự, tác giả Pháp Romain Gary

đã đưa độc giả theo ông vào chuyến hành trình từ ngày thơ ấu đến khi

Trang 8

trưởng thành mà nhân vật chính của truyện chính là ông Cuốn sách chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, tác phẩm gợi mở nhiều suy tư về sự tồn tại tình yêu thương trong cuộc sống, về trách nhiệm của một công dân với quê hương đất nước đã nuôi mình khôn lớn, về sự phi lý của chiến tranh và tội

ác do chiến tranh gây ra…”

Lời hứa lúc bình minh là một trong những áng văn chương thể hiện

được sự hòa hợp tuyệt vời giữa chất hài hước và bi kịch Giống như một chút muối sẽ làm cho vị ngọt thêm đậm đà,từng chút hài hước, giễu cợt nhà văn đưa vào trang viết càng làm tăng thêm dư âm đắng chát của cuộc đời nhọc nhằn mà hai mẹ con ông phải cùng nhau trải qua Tăng thêm sự phẫn

nộ và bất lực của con người khi thấy cái đẹp và tình yêu bị hủy hoại bởi cái

ác và lòng vô tâm

Gần đây nhất trong luận văn thạc sĩ Tự thuật trong tiểu thuyết Lời hứa

lúc bình minh của Romain Gary (2013), Lê Thị Thành, Trường Đại học

Khoa học xã hội và nhân văn cũng đã tìm hiểu kết cấu lắp ghép, phân mảnh, hình thái thời gian, không gian, ngôn ngữ lời thoại… của một tự truyện tiểu thuyết tạo sự biến đổi cấu trúc câu và những trật tự phi tuyến tính

Mặc dù sự thống kê của chúng tôi về những bài viết, những ý kiến

đánh giá xung quanh tác phẩm Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary là

chưa đầy đủ nhưng có thể nhận thấy các bài viết đều đề cập đến quan điểm, cách nhìn của tác giả, những nhận xét về tác phẩm Tuy nhiên chưa có bài viết nào đi sâu nghiên cứu tác phẩm một cách có hệ thống, nhất là ở phương diện một số đặc điểm thi pháp trong tác phẩm Vì vậy luận văn của chúng tôi đã lựa chọn hướng tiếp cận này

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm thi pháp của tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh (Romain

Gary)

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài đặc điểm thi pháp của tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh của

Romain Gary, luận văn của chúng tôi tập trung tìm hiểu:

- Cuộc đời và sự nghiệp của Romain Gary

- Quan điểm nghệ thuật, phong cách văn chương của tác giả

- Nội dung tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh (Romain Gary)

- Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm qua cách xây dựng nhân vật, giọng điệu, kết cấu, không gian, thời gian

4 Phạm vi văn bản khảo sát

Khảo sát tác phẩm Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary (Nguyễn

Duy Bình dịch, 2009) Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu của người đi trước, chúng

tôi hi vọng luận văn sẽ đưa ra một cách tiếp cận về tác phẩm Lời hứa lúc

bình minh của Romain Gary dưới góc độ thi pháp (đặc sắc nghệ thuật về

xây dựng nhân vật, sử dụng giọng điệu, hình thái không gian, thời gian trong tác phẩm), qua đó góp phần hiểu hơn một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Pháp thế kỷ XX là Romain Gary

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi gồm 3 phần: Mở đầu; Nội dung chính; Kết luận

Phần nội dung chính được triển khai theo 3 chương sau:

Trang 10

Chương 1: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.

Chương 2: Lời hứa lúc bình minh nhìn từ thi pháp nhân vật.

Chương 3: Lời hứa lúc bình minh khám phá từ phương diện không

gian, thời gian, giọng điệu tác phẩm

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM

1.1.Vài nét về tác giả Romain Gary

1.1.1 Tiểu sử

Nhà văn Romain Gary tên thật là Romain Kacew Ông sinh ngày 8 tháng 5 năm 1914 tại Wilno (nay là Vilnius) tại Litv, mất ngày 2 tháng 12 năm 1980 tại Pháp Ông là người gốc Do Thái trong một gia đình khá giả Ông sáng tác với nhiều bút danh khác nhau, trong đó hai bút danh chính là Romain Gary và Émile Ajar

Romain là con trai duy nhất của Nina Borisovskaia, ông sống với mẹ sau khi bố mẹ chia tay lúc ông chào đời Do vậy, ông không bao giờ biết danh tính của cha đẻ của mình Mẹ ông là bà Nina là một nghệ sĩ bình thường, không nổi tiếng cũng như không đạt được vinh quang trong sự nghiệp Khi trở thành mẹ, bà từ bỏ tất cả để chăm lo cho con trai Vào khoảng thời gian từ 1925 đến 1928, hai mẹ con Romain đã chuyển đến sống tại Vacsava, tại đây bà và con trai đã phải sống trong cảnh vô cùng khó khăn và thiếu thốn

Tháng 8 năm 1928, rời Vacsava, Nina cùng con trai quyết định chuyển đến sống tại thành phố Nice - miền Nam nước Pháp Để vượt lên hoàn cảnh

và tạo điều kiện để Romain có thể đến trường đi học và tham gia mọi hoạt động như bao bạn cùng trang lứa, người mẹ đã phải bươn trải qua rất nhiều nghề khác nhau Cụ thể như: từ bán đồ trang sức, khăn quàng, nước hoa… đến đồ ăn bằng bạc do các cửa hàng giao cho, thậm chí bà phải chấp nhận làm những nghề khiêm tốn như tắm cho chó, nhận giữ chim hay mèo, làm

vệ sinh…

Năm 1929, hai mẹ con chuyển đến một nhà trọ ở số 7 Đại lộ Carlone (nay là Đại lộ Francois - Gresso) Bằng tài năng và sự thông minh nhanh trí của mình, bà nhanh chóng trở thành người Quản lý khách sạn - nhà trọ

Trang 12

Mermonts Chính nhờ vậy mà cuộc sống của hai mẹ con đã được cải thiện,

từ cảnh túng thiếu mà giờ đây bà tạo mọi điều kiện bù đắp cho con trai Cuộc sống của Romain trở nên như một ông hoàng sống vương giả Còn bà chỉ dành cho mình một căn phòng nhỏ ở tầng trên cùng của khách sạn Tại đây Romain đã được đi học tại trường Trung học Nice, ông được trải nghiệm với các bộ môn nghệ thuật khác nhau tuy nhiên đạt thành tích nhất vẫn là năng khiếu viết

Năm 1934, Romain rời thành phố Nice và người mẹ để lên Paris theo đuổi con đường học hành Ông học tập tại trường Đại học Luật Paris danh tiếng Bằng tình yêu, lòng hiếu thảo và ý chí của bản thân, ông quyết định sống tự lập và đã phải trải qua cuộc sống nghèo khổ, túng thiếu Đây cũng

là khoảng thời gian ông có nhiều trải nghiệm sâu sắc hơn khi thực sự bước vào nghề văn

Năm 1935, ông chính thức được nhập quốc tịch Pháp với những cố gắng của người mẹ dành cho con trai và dành cho nước Pháp, sau khi tốt nghiệp Đại học Luật ở Aix-en-Provence và Khoa luật Paris, ông theo học tại trường đào tạo phi công Salon-de-Provence, đó là vào khoảng những năm 1938, 1939 Tuy nhiên điều đặc biệt đã xảy đến với ông, Romain là người duy nhất trong khóa huấn luyện không được phong sỹ quan khi tốt nghiệp Phải chăng đây như một dấu hiệu định giọng cho nghiệp văn và cuộc đời của ông sau này?

Từ những năm 1939 đến 1944, trải qua những thăng trầm và hy sinh gian khổ, ông tiếp tục cống hiến cho đất nước Pháp bằng cách tham gia vào lực lượng Không quân Pháp Được phiên vào Phi đội “Lorraine” Đây là phi đội chuyên nóm bom, đồng thời cùng các đồng đội ông đã thực hiện rất nhiều chuyến bay cho tới năm 1944

Năm 1941 mẹ ông bà Nice qua đời Cái chết của bà khiến ông Romain cảm thấy vô cùng đau đớn và suy sụp tinh thần Tuy nhiên ông đón nhận cái chết của bà như một sự đã rồi bởi kể từ năm 1939, khi trực tiếp tham

Trang 13

gia chiến đấu trong chiến tranh thế giới thứ hai ông đã không có dịp gặp

mẹ Với những thành tích đã đạt được ông vinh dự được nhận các giải thưởng đó là Huân chương Bắc đẩu bội tinh và Huân chương giải phóng.Năm 1945, đúng như mong muốn của người mẹ ông bắt đầu bước vào

sự nghiệp ngoại giao với chức vụ thư ký hạng hai cho Đại sứ Pháp tại Sofia (Bulgarie)

Bằng tài năng ăn nói khéo léo cộng với những ghi nhận trong quá trình phục vụ quân đội, ông tiếp tục được giao phó nhiệm vụ trên mặt trận ngoại giao tại Newyork (Mỹ), London (Anh), Thư ký thứ nhất tại Đại sứ quán Berne (Thụy Sỹ), đặc trách kinh doanh tại Lapaz ở Bolivia và cuối cùng là tại Los Angelas với cương vị tổng lãnh sứ quán Pháp Cũng vào năm 1945, Romain cưới nhà báo sau này là nhà văn Lesley Blanch Lesley hơn Romain bảy tuổi, có vẻ đẹp mỏng manh, yếu ớt, kiêu kỳ, được người ta liên tưởng tới một con búp bê làm bằng bánh bích-quy Đặc biệt điểm chung giữa hai người ngoài yếu tố hài hước thì chính là niềm đam mê văn chương Có thể nói Gary nhận được sự ủng hộ của người vợ trên con đường văn chương cũng như trong sự nghiệp ngoại giao

Năm 1956, tác phẩm Les Racines du ciel (Cội rễ của bầu trời) vinh dự

được nhận giải thưởng Goncourt Đây là thời kỳ đỉnh cao của Romain cả trong lĩnh vực văn chương cũng như sự nghiệp ngoại giao Ông nhận được

sự chào đón, tôn sùng của giới ngoại giao, chính trị gia, giới văn nghệ và cả thành phố Paris Huyền thoại về Romain Gary được nhiều người biết đến, ông thường xuyên xuất hiện ở những nơi hội tụ của các nhân vật nổi tiếng của Hollywood Một trong những lần xuất hiện đó tại Los Angeles, ông gặp Jean Sebert, người con gái có mái tóc vàng, nước da hơi xanh, là một trong những nhân vật nôi tiếng đình đám trong điện ảnh Một ngôi sao điện ảnh, một minh tinh màn bạc sánh vai cùng một ngài lãnh sự nước Pháp Như một huyền thoại, sự kỳ diệu của duyên kỳ ngộ, một câu chuyện tình hết sức lãng mạn kiểu Paris

Trang 14

Năm 1961, Romain từ bỏ nghề ngoại giao và tuyên bố “Đây là những năm tháng cuối cùng của tôi và tôi sẽ không hy sinh bản chất của mình, hi sinh tình yêu cuộc sống của mình cho tham vọng hay mối lo âu thành đạt” Vào năm 1963, Romain quyết định ly dị Lesley Blanch và cưới Jean Sebert, nữ diễn viên thua ông tới hơn một nửa số tuổi Tại số 108, phố Du Bac, Paris, trong một căn hộ rộng rãi chính là tổ ấm của Romain và Jean, con trai Alexandre Diego ra đời.

Sau một khoảng thời gian chung sống đến năm 1968, Romain và Jean

li thân Mặc dù vậy, hai người vẫn sống gần nhau tại Du Bac, Paris con trai Alexandre Diego sống với Romain và họ vẫn đoàn tụ vào mỗi dịp Noel Tuy nhiên phải thừa nhận rằng sức ảnh hưởng của Jean đối với Gary là rất lớn, một phần tính cách trong con người ông đã có phần thay đổi kể từ khi gặp Jean Cuộc đời ông như được bước sang một trang mới, trong đó có sự đổi mới quan điểm nghệ thuật và văn phong

Cuộc đời của Romain vào những năm cuối lại là thời kỳ sự nghiệp văn chương của ông đạt nhiều thành tựu rực rỡ, hàng loạt tác phẩm được ra đời dưới cả hai cái tên Romain Gary và Émile Ajar Ông sử dụng cái tên Ajar

để che đậy cái tên thật của mình như một phép thử đối với độc giả yêu mến ông Và kết thúc trò chơi đó bằng cái chết tự sát vào ngày 2 tháng 12 năm 1980

Romain là một người có tâm huyết với nghề và là một tài năng vượt trội Quan điểm nghệ thuật ông dành cho văn học cũng rất rõ ràng, đó là hướng tới sự công bằng trong xã hội loài người, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hòa bình Cuộc đời của ông là một quá trình đấu tranh không mệt mỏi, ông luôn dồn hết tâm lực và bút lực của mình cho những trang văn thực sự Lúc nào ông cũng sống và làm việc một cách nghiêm túc, say mê hết mình dù ở trong bất kỳ lĩnh vực nào, khi là một vị chỉ huy trong thế chiến thứ II bên cạnh tướng De Gaulle hay trong sự nghiệp ngoại giao và sự nghiệp văn chương

Trang 15

Romain Gary ra đi ở tuổi 66, sự ra đi đó đã để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với người Pháp nói riêng và người đọc trên toàn thế giới nói chung Một con người Pháp mang trong mình tâm hồn Nga rộng lớn, một nhân cách lớn Những cống hiến của ông trên mọi mặt trận dù trong quân đội hay văn chương đều được thế giới ghi nhận Các tác phẩm của ông ngày càng có sức lan tỏa trong lòng độc giả bởi yếu tố “mê hoặc văn chương” và những giá trị nhân văn cao cả của nó.

1.1.2 Sự nghiệp

Romain Gary được xếp vào hàng các tác gia kinh điển trong làng văn thế giới Ở phần trên, chúng tôi đã có dịp nhắc đến cuộc đời đầy vinh quang của ông, một tài năng nhiều mặt, dù là trong quân đội, ngoại giao hay văn chương Văn chương của ông mang những nét độc đáo riêng, dấu

ấn riêng Nhẹ nhàng mà sâu lắng, các tác phẩm thu hút người đọc bởi nét ngọt ngào nhưng đậm chất văn đó Bởi vậy, hơn 30 năm sau ngày ông mất, tên tuổi của ông càng chiếm được vị trí sâu đậm hơn trong lòng bạn đọc thế giới

Không phải nhà văn có tên tuổi nào cũng có duyên với những giải thưởng Bằng tài năng của mình ông đã thực sự chiếm được tình cảm của độc giả và ghi tên mình vào danh sách nhận giải thưởng hai lần, tạo nên biến cố trọng đại thứ hai của văn học Pháp hiện đại, một chuyện chưa từng xẩy ra trong bất kỳ giải văn chương nào Ông vinh dự hai lần được nhận

giải thưởng Goncourt với hai tiểu thuyết Cội rễ bầu trời (Les Racines du ciel, 1956) và Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi, 1975).

Một số tác phẩm của ông như: Giáo dục Châu Âu được nhận giải thưởng phê bình năm 1945 và đây là tác phẩm đầu tay của ông; Cội rễ bầu

trời (Les Racines du ciel); Vinh quang cho những người tiên phong vĩ đại

(Gloire à nos illustres pionniers); Lady L; Vở hài kịch nước Mỹ (La comédie américaine); Vĩnh biệt Gary Cooper (Adieu Gary Cooper); Điệu

nhảy của Gengis Cohn (La danse de Gengis Cohn); Cái đầu tội lỗi (La tête

Trang 16

coupable); Nhiệm vụ tinh thần (Charge d’âme); Phía bên kia giới hạn tấm

vé của anh không còn giá trị nữa (Au-delà de cette limite votre ticket n’est

plus valable); Sự thật về phụ nữ (Clair de femme), Những cánh diều (Les cefs volants), Âu yếm (Gros Câlin); Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi); Bút danh (Pseudo); Nỗi lo sợ của vua Salomon (L’angoisse du roi

Salomom)

Ngoài bút danh Romain Gary thì ông còn sử dụng nhiều bút danh khác, trong đó bút danh Émile Ajar như một ví dụ về mặt nạ tác giả Với bút danh này, ông đã nhận được giải Goncourt lần thứ hai, đó đồng thời như một sự thử thách tài năng của bản thân khi đã bước sang tuổi cập kề sáu mươi, cộng vào đó là phép thử đối với những độc giả của ông Tuy nhiên việc sử dụng bút danh Ajar để che đậy tên tuổi thật của mình không thuận lợi và như ý muốn của ông Đây là khoảng thời gian mà giới phê bình luôn tìm cách xoi mói, kìm hãm sách của ông bằng cách nhìn nhận chúng với con mắt ê chề chán chường như thể mỗi cuốn sách mới ra của ông là một tác phẩm nhạt phèo, không có giá trị Ông đã nhờ đứa cháu là con của một người anh em họ Paul Pavlowitch đứng tên Émile Ajar Có thể nói Paul là một “Fan” của Romain Hầu hết các tác phẩm của Romain đều được anh đọc hết và nhớ hết mọi câu chuyện, mọi nhân vật xuất hiện trong đó Cho nên việc nhập vai Ajar là rất hợp Tuy nhiên khi giải thưởng Goncourt đến với Ajar, Romain đã đề nghị Paul viết thư từ chối vinh dự đó bởi lẽ theo nguyên tắc thì không một nhà văn nào được phép nhận giải thưởng này hai lần Đến mức Chủ tịch viện Hàn lâm Hervé Bazin đã trả lời:

“Viện Hàn lâm đề cử một cuốn sách, một ứng viên Không ai có quyền nhận lời hay từ chối giải thưởng này, cho dù còn sống hay đã chết Dù thế nào thì Ajar được tặng giải thưởng” Lúc này báo chí và giới phê bình cho rằng Romain Gary bắt chước Émile Ajar như một kẻ đạo văn, nhằm chỉ trích Gary như một sự cạn kiệt tài năng trong khi đứa cháu của ông ngày càng vượt trội

Trang 17

Sự nhập nhằng, rối rắm giữa ông và đứa cháu lại là yếu tố nội lực giúp khả năng sáng tạo của Gary giai đoạn này trở nên mạnh mẽ mặc dù các tác phẩm được ký dưới cả hai bút danh nhưng thực chất là của một nhà văn Cũng trong thời gian này bởi một số ảnh hưởng mà quan hệ giữa ông và đứa cháu trở nên căng thẳng Cùng với các yếu tố khác đã gây nên cơn tự

kỷ, ông kết thúc tất cả bằng một cái chết tự tử Sau đó một thời gian thì báo giới và độc giả mới nhận ra được Émile Ajar không ai khác chính là Romain Gary

Tác phẩm Cội rễ bầu trời (Les Racines du ciel) nói về câu chuyện một

người Pháp sang Châu Phi, làm tất cả để chống lại những kẻ buôn bán ngà voi và bảo vệ loài thú này Thông qua tác phẩm, Romain gióng lên hồi chuông lên án những kẻ vô nhân đạo, phản ánh thực trạng con người bị chia rẽ trong công ước không lời về sự chung sống giữa con người với thiên nhiên, sự chung sống như điều kiện tiên quyết của sự tồn vong, của

xã hội loài người, khẳng định tiếng nói hùng hồn cho quyền sống của loài voi nói riêng và của thế giới động thực vật nói chung

Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi) kể về chú bé Momo, con

của một người gái điếm, bị bỏ rơi từ khi lên ba tuổi, cậu bé sống cùng Madame Rosa, bà là một gái điếm hết thời sống bằng tiền trông con cho gái làng chơi, một bà già Do Thái nặng hơn một tạ, bệnh tật và mất dần khả năng dịch chuyển Mối tình cảm động của cậu bé và bà Rosa được đặt trên một nền cốt truyện đơn giản, xoay quanh cuộc sống hằng ngày của hai người Họ sống khổ sở thiếu thốn trong một căn phòng chật hẹp cùng với những đứa trẻ được gửi tới ở tầng bảy của một tòa nhà trong khu nhập cư với nhiều lứa tuổi, nhiều màu da, nhiều nguồn gốc nhưng luôn ấm áp tình người Những suy nghĩ, triết lí, tâm trạng, cảm xúc của cậu Momo về cuộc sống hằng ngày của bà Rosa và tất cả mọi người xung quanh được thuật lại bằng một thứ ngôn ngữ hết sức ngây thơ của một cậu bé có tư duy ngôn ngữ chưa phát triển hoàn chỉnh, kiến thức còn mập mờ, sai lệch Còn với

Trang 18

Rosa, một người đàn bà gần đất xa trời, thứ duy nhất thật sự thuộc sở hữu của bà và có thể làm bà vui, giúp bà mỉm cười đó chính là nữ tính Tuy nhiên thời gian và bệnh tật sớm bào mòn đi tất cả, bà phải nhờ tới nước hoa, tóc giả, son phấn để nuôi dưỡng ảo vọng phủ nhận hình hài hiện tại Điều đó càng làm cho bà trở nên không giống dạng người Tất cả những đứa trẻ khác được gửi đến rồi ra đi chỉ còn Momo là ở lại bên cạnh bà Hai con người, hai trái tim cô đơn nương tựa vào nhau để cùng tồn tại Momo vẫn hằng mơ ước về một người bố oai hùng như một ông cớm có sức mạnh trị an hay một kẻ đầu gấu hách xì dầu ai cũng phải nể phục và mong tìm được người mẹ đã sinh ra mình, ước ao được làm nhiều người như anh em nhà Zaoum, ao ước là thành viên của một bộ lạc như ở Châu Phi Cậu bé ao ước có một gia đình nhưng cụ thể hơn trong cảm nhận của cậu đó phải là một gia đình cộng đồng trong đó có tình xóm giềng hằng ngày đùm bọc hai

bà cháu cậu Khi biết Madame Rosa trông coi mình vì tiền chứ không phải

vì cậu là ai đó với bà thì cậu đã cảm thấy buồn tủi Còn Rosa khi Momo đòi

mẹ thì bà đã bật khóc Ở đoạn cuối của tác phẩm kể về cậu bé Momo không chấp nhận sự kiện Madame Rosa đã chết, chính vì vậy ngày đêm cậu vẫn tô màu và đổ nước hoa lên khuôn mặt, lên người đang phân hủy của bà Hình ảnh đó như một sự phản kháng lại cuộc đời, như để ngăn cản lại một điều mà cậu cho là bất công, đồng thời khẳng định vai trò của tình yêu thương trong sự tồn tại của mỗi cá nhân Có thể thấy giữa cậu bé Momo và Madame Rosa là một tình yêu không thể có, một tình yêu vượt lên trên tất

cả tình mẫu tử, một trong những điều mà chỉ có văn chương mới tạo ra được Cậu bé Momo sẽ vẫn nhìn về phía trước cuộc đời để tiếp tục thực hiện một lời hứa, lời hứa với cuộc sống

Ở tác phẩm Sự thật về phụ nữ (Clair de femme) ông viết: “Trong tiểu

thuyết này, sự châm biếm và chủ nghĩa hư vô rình rập niềm tin của chúng

ta, xoi mói sự đoán chắc của chúng ta dưới cái nhìn khoái trá của cái chết Những vị thần phàm tục chễm chệ trên đỉnh núi Olympia chất đầy lòng dạ

Trang 19

chúng ta để rồi rình rập chúng ta Cuộc đời của chúng ta có lẽ chỉ là trò tiêu khiển của ai đó” [http://vietvan.vn/vi/bvct/id796/So-phan-ky-la-cua-nha-van-hai-lan-doat-giai-Goncourt].

Quá trình lao động miệt mài và sự cống hiến hết mình cho sự nghiệp cầm bút đã vinh danh ông mãi với thời gian Những trang viết của ông luôn tạo sự mới lạ, hấp dẫn Cho đến nay hơn ba mươi năm, sau ngày ông mất, thế giới nhắc nhiều đến ông như sự ghi nhận đối với một tài năng văn chương chân chính Ông xứng đáng được xếp vào các tác gia kinh điển trong làng văn thế giới

1.2 Lời hứa lúc bình minh từ đặc điểm thể loại tiểu thuyết

1.2.1 Tóm tắt tiểu thuyết

Lời hứa lúc bình minh gồm có ba phần, ở phần đầu Romain Gary kể

lại tuổi thơ của mình đang cùng người mẹ - bà Nina Borosovskaia khi ở Wilno, phía Đông Ba Lan Phần hai bắt đầu cuộc sống của hai mẹ con tại thành phố Nice - miền Nam nước Pháp và quá trình học tập của Romain tại Paris Phần cuối chủ yếu nói về khoảng thời gian ông tham gia quân đội Pháp, chiến đấu trong thế chiến thứ II

Romain đã trải qua tuổi thơ cùng với người mẹ bên cạnh những câu chuyện về nàng Bạch Tuyết, Bảy chú lùn, Chú mèo Đi Hia, Bà tiên Carabosse… mà không có bố bên cạnh Bố ông đã bỏ mẹ ít lâu khi ông sinh ra Vì vậy tất cả tình yêu thương ông dành hết cho mẹ như sự bù đắp cho mẹ, còn với mẹ ông, Romain là tài sản duy nhất, vì con bà sẵn sàng từ

bỏ tất cả: ước mơ, hoài bão, niềm say mê nghệ thuật của mình Hai mẹ con sống ở khu nhà trọ số 16 - phố Grande - Pohulanka -Wilno phía Đông Ba Lan Người mẹ làm nghề may mũ gia công cho các khách hàng, bà liên lạc qua thư từ, phát tờ quảng cáo với thông báo “để mua vui, cựu Giám đốc một nhà may mặc lớn ở Paris nhận may mũ tại nhà cho một số khách hàng hạn chế và có chọn lọc” sau đó được chuyển thành “Gian hàng thời trang cao cấp Paris” Người mẹ luôn xuất hiện với gương mặt rạng rỡ, ý chí kiên

Trang 20

cường, đôi mắt to màu ve Vào thời điểm này điều kiện vật chất của họ khá thê thảm, người mẹ phải vác những thùng hàng đi từ nhà này sang nhà khác, gõ cửa từng nhà, thuyết trình cho từng người để bán những chiếc mũ

Bà phải ki kóp từng đồng để trang trải tiền thuê nhà, mua sắm quần áo, mua bơ sữa, giày dép và thanh toán món bít tết buổi trưa Nhưng dù cuộc sống khó khăn đến mấy bà cũng không để con mình thiếu thốn Romain vẫn luôn có món bít tết vào mỗi bữa trưa, ông được mẹ cho tham gia học ở lớp nghệ thuật từ múa, vẽ, hát, khiêu vũ….Điều đặc biệt bà luôn tin tưởng con trai mình lớn lên sẽ thành Đại sứ nước Pháp và sẽ trở thành một nhà văn đoạt giải Nobel

Sau một thời gian khi công việc làm ăn của bà trở nên khấm khá hơn

“Nhà mới, thời trang Cao cấp Paris” ra đời, giờ đây bà không còn phải vất

vả gõ cửa từng nhà nữa và thay vào đó khách hàng đến nườm nượp Romain cũng được hưởng thụ từ thành quả của sự thịnh vượng đó Ông được mặc những bộ quần áo nhung lịch sự, quàng những chiếc khăn bằng ren lụa, được khoác lên áo lông sóc với hàng trăm cái đuôi nhỏ màu xám,

có một quản gia riêng Để việc hoạch định tương lai cho con mình thành công, mong muốn con trai mình sẽ trở thành giới thượng lưu, bà không ngừng dạy cho con từ cách chào hỏi, ăn, mặc, đi đứng, cách tặng hoa, hôn tay phụ nữ… Ông nhận được những món quà bí hiểm bất ngờ từ trên trời rơi xuống, đó là một chiếc xe đạp trẻ em Sau này khi ở Vacsava ông còn được nhận nhiều giấy báo nhận tiền Mặc dù vậy, ngay sau đó Romain ngã bệnh Các bác sỹ giỏi đã được mời đến chăm sóc, cứu chữa đó là những bác sĩ chuyên khoa giỏi nhất Châu Âu Chính bệnh tật của ông đã khiến cho gia đình trở nên phá sản Gian hàng thời trang Cao cấp Paris Nhà Mới không thể bán hay cứu vãn được nữa, thậm chí đồ đạc trong nhà đều bị tịch biên hết

Vì cuộc sống trở nên vô cùng khó khăn, hai mẹ con không đủ tiền để

đi tới Nice định cư, thay vào đó họ chuyển đến Vacsava một thời gian,

Trang 21

sống trong những gian phòng trọ có sẵn đồ dạc Tại đây bà đã phải làm mọi việc để vượt qua khó khăn cực nhọc: từ môi giới trang sức, buôn bán áo lông và đồ cổ, đi phát tờ rơi, quản lý chung cư… Dù khó khăn đến mấy bà vẫn luôn dành cho con trai những gì tốt nhất, buổi trưa ở trường học Romain vẫn có Socola và bánh mỳ phết bơ.

Sau khi chuyển đến Nice, hai mẹ con sống trong một căn hộ hai phòng

ở đại lộ Shakesspeare rồi sau đó chuyển đến nhà trọ Mermonts tại đại lộ Carlonne cũ nay là đại lộ Greosso Bằng tài năng của mình bà trở thành người quản lý Khách sạn -Nhà nghỉ Mermonts với ba mươi sáu phòng, hai tầng căn hộ và một nhà hàng, cùng hai người hầu gái, một anh giúp việc, một người quản lý và một người rửa bát Romain giúp mẹ bằng cách thừa hành nhiệm vụ lễ tân, hướng dẫn viên xe ca, ông chủ khách sạn Ở trường học Nice, Romain tỏ ra là một người có năng khiếu viết, trong khi các môn

tự nhiên của ông thường bị nhận điểm không Chính vì vậy ông bắt tay vào việc viết văn thực sự, mỗi ngày ông dành mười một tiếng đồng hồ để viết.Mỗi ngày bà thường lên xuống cầu thang nối giữa nhà hàng tới bếp khoảng hai mươi lần, bà xuống bếp quyết định thực đơn, tiếp những người giao hàng, giám sát việc phục vụ ăn sáng ở các tầng, lắng nghe khách hàng,

cử người chuẩn bị bữa ăn ngoài trời cho các khách đi chơi, kiểm tra hầm rượu, tính toán, theo dõi chi tiết công việc kinh doanh… Một hôm sau khi thực hiện công việc mà hàng ngày bà vẫn làm, bỗng nhiên bà ngồi thụp xuống ghế, mặt và môi trở nên xám ngắt, hơi nghiêng đầu, nhắm mắt rồi lấy tay ôm ngực, cả người bà bắt đầu run lên Bà được bác sỹ chuẩn đoán là

bị hôn mê do hạ đường huyết bởi đã tiêm insulin quá liều Nhờ vậy mà Romain biết được bà bị bệnh tiểu đường từ hai năm nay Trước khi bắt đầu ngày mới bà luôn phải tiêm insulin Dù vậy, bà vẫn không ngừng làm việc

và dành tất cả mọi thứ tốt nhất cho con trai

Năm 1933, Romain đăng ký vào Đại học Luật Aix-en-Provence Tại đây ông vừa tham gia học tập tại trường Đại học vừa tập trung viết văn

Trang 22

Khi khách sạn -Nhà nghỉ Mermonts làm ăn ngày càng khấm khá, người mẹ quyết định cho Romain lên Paris học nốt những năm còn lại và để gây dựng mối quan hệ Tại Paris ông đã phải trải qua một cuộc sống khó khăn thiếu thốn Ông làm đủ mọi việc: từ hầu bàn, giao hàng bằng xe ba bánh, tiếp tân khách sạn, đóng vai phụ trong các bộ phim, rửa bát đĩa, ghi chép sổ sách, đi bán quảng cáo du lịch…

Ông giam mình trong một gian phòng khách sạn chật hẹp và say sưa

viết Truyện ngắn Cơn giông của ông được đăng trên tờ tuần báo Gringoire Sau đó một thời gian truyện ngắn thứ hai Người đàn bà nhỏ bé cũng được

xuất hiện trên trang báo Gringoire Tuy nhiên, đã có lúc các tác phẩm của ông bị đánh giá là quá “văn chương” và bị các tuần báo từ chối Không dám thú nhận với mẹ Ông đã phải dùng đến cái mẹo đó là ông giải thích với mẹ rằng chủ bút các tờ báo yêu cầu ông viết những truyện ngắn đáp ứng lại thị hiếu thị trường một cách hết sức hèn hạ, rằng ông phải từ chối làm bẩn danh tiếng văn chương của mình và không ký thẳng tên mình dưới những truyện ngắn đó Cho nên với những tác phẩm hạ cấp đó ông sẽ ký bằng các bút danh khác nhau, ông cắt các tác phẩm của đồng nghiệp đã được in trên các tờ tuần báo Paris rồi gửi cho mẹ

Romain trải qua lớp huấn luyện tại trường đào tạo phi công Provence, sau đó ông tham gia lớp sĩ quan dự bị cao cấp Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói ở trên, ông là một trong số gần ba trăm học viên - quan sát viên không được phong sĩ quan Điều này khiến ông tìm cách nói dối với

Salon-de-mẹ rằng ông đã quyến rũ vợ chỉ huy trưởng, lính tùy tùng đòi tố giác, do vậy ông chồng đòi trừng phạt Nghe thế, người mẹ cảm thấy hãnh diện và thán phục con trai mình Từ trường Không quân Avord, sư đoàn của ông được chuyển đến các căn cứ khác nhau: Bordeaux - Merignac, Meknès, Glasgow, Nigeria, Andover Trải qua mỗi trận đánh lại có thêm những đồng đội hi sinh Với Romain, bằng tình yêu và niềm tin của người mẹ, ông bình an trở về Ở mỗi trận chiến hình ảnh người mẹ luôn xuất hiện kịp thời

Trang 23

trong trí tưởng tượng của ông để bảo vệ, che chở cho ông, cho dù đã có lúc ông cận kề với cái chết Mặc dù bệnh tật đã lấy đi mạng sống của người

mẹ, tuy nhiên để tiếp sức cho con trai nơi chiến trường chiến đấu vì đất nước Pháp - quê hương thứ hai của hai mẹ con thông qua những lá thư Bà

đã bí mật gửi chúng qua Thụy Sỹ, từ Thụy Sỹ một người bạn của bà đều đặn gửi đến cho Romain Phải ba năm rưỡi sau khi ông trở về Nice thì mới hay tin mẹ ông đã qua đời

Ông được nhận Huân chương Giải phóng với thành tích đặc biệt trong một lần chiến đấu với kỳ tích cùng với một phi công mù còn Romain bị vết thương xuyên thủng bụng dưới nhưng vẫn anh dũng chiến đấu và trở về Chiến tranh kết thúc, ông được Bộ ngoại giao mời làm việc Đồng thời tác

phẩm đầu tay Giáo dục Châu Âu cũng được xuất bản Tác phẩm kết thúc

khi ông khẳng định mình đã giữ lời hứa vào lúc bình minh của cuộc đời, ông đã phụng sự nước Pháp, đã làm nghề ngoại giao, ăn mặc kiểu London

và đặc biệt ông tiếp tục viết sách, tiếp tục sự nghiệp văn chương

1.2.2 Từ góc nhìn thể loại

Lời hứa lúc bình minh một tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết giả tự

truyện Mang đầy đủ cả yếu tố hiện thực lẫn hư cấu, tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa sự kiện với chất văn tạo nên một câu chuyện vừa cảm động vừa tinh tế, hấp dẫn Đây là câu chuyện kể về tuổi thơ và phần lớn cuộc đời của Romain Gary Từ khoảng thời gian ở Nga, Ba Lan rồi ở Nice, cả thời gian ông tham gia vào quân đội trong thế chiến thứ II ở các mặt trận thuộc nước Anh, Pháp, Ethiopie, Syrie và Châu Phi xích đạo Tất cả đều mang tình yêu và hơi thở của người mẹ, chính người mẹ là yếu tố diệu kỳ thổi nên những phép màu trong cuộc đời ông

1.2.2.1 Một số đặc trưng cơ bản của thể loại tự truyện

Nhìn lại nền văn học nhân loại với những xu hướng phát triển trong khoảng thời gian gần đây có thể thấy rằng, nền văn học đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi phương diện Ở phương diện thể loại,

Trang 24

tự truyện ra đời như một sự phân định rõ ràng đối với các thể loại văn học khác Trong thực tế văn học, ta thấy rằng cùng một tác phẩm nhưng đôi khi người ta có thể gọi bằng nhiều thể loại khác nhau Ở thể loại tự truyện cũng vậy, sự phân định giữa tự truyện và các thể loại khác đối khi còn mờ nhạt,

cụ thể như đối với hồi ký, tiểu thuyết Với một tác phẩm, tài liệu này có thể gọi là hồi ký, tài liệu kia có thể gọi là tự truyện Tuy nhiên xét về mặt lý luận chúng ta thấy rằng giữa chúng vẫn có những nội dung không trùng khít và những ranh giới rõ ràng

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 đã định nghĩa như sau về thể loại tự truyện Tự truyện tên gọi tiếng anh là Autobiography, là “tác phẩm văn học thuộc loại tự sự do tác

giả tự viết về cuộc đời mình” [18;389] Còn trong 150 thuật ngữ văn học

do Lại Nguyên Ân biên soạn định nghĩa tự truyện là: “tác phẩm văn học tự

sự, thường được viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [1;363] Đối với nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình, còn trong tác phẩm tự truyện, đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nhiều mục đích nghệ thuật khác nhau Như vậy tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính là một người thực

Chúng tôi nhận thấy rằng, đây là khái niệm mà ít được bàn luận đến,

số lượng tác phẩm và tác giả viết tự truyện cũng chưa thật nhiều so với thể loại khác song càng ngày nó càng chiếm được vị trí xứng đáng trên văn đàn cũng như trong lòng bạn đọc

Với thế giới, tự truyện nảy sinh trong môi trường văn hóa Tây Âu cận đại với tinh thần tự phân tích và với cảm quan cá nhân chủ nghĩa Những tự truyện đầu tiên in dấu nếp sống của tín đồ Thiên chúa giáo, rõ nhất là việc xưng tội Chính ở văn hóa này đã nảy sinh tác phẩm mẫu mực thời đầu của

thể loại này như Tự thú của thánh Angustinus thế kỷ V cho đến tác phẩm

Trang 25

đạt đến đỉnh cao về sự hoàn thiện thể loại như Tự thú của nhà văn Pháp

Jaen Jacque Rousseau (1766 - 1769 in 1782 - 1789)

Tác giả Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 khẳng định “Tự truyện tương đối gần gũi với tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết Tây Âu thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX

có nhân vật kể chuyện, ở ngôi thứ nhất số ít xưng “tôi” có tham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn con người từ “cái nhìn bên trong”

Trên wikipedia (tiếng Việt), có bài viết cho rằng “Các tiểu thuyết của trường phái tự nhiên chủ nghĩa Nhật Bản thế kỷ XIX như Ie (Gia đình 1910

- 1911) của Shimazaki và Iri no Hotrori (Bên con lạch 1915) của Masamune Hakuchò, Futon (Tấm đệm, 1907) của Tokutomi Rora (tên thật

là Tokutom Kejniro), Jioden (Tự truyện 1943 - 1946 xuất bản năm 1947)

của Tokutom Hajime, đều có thể coi là các tác phẩm tiểu thuyết tự thuật Các tác phẩm tự thuật trở thành lời tác giả thuật lại đời mình một cách tự nhiên và trung thực, mỗi bối cảnh của một giai đoạn trong cuộc đời là một chủ đề xếp thành tiểu thuyết và tùy theo mỗi sự việc ấy tác giả bình luận lấy lí luận để tỏ rõ tư tưởng, lập trường hay chí hướng của mình, hay nói cách khác, cả về nội dung và hình thức nghệ thuật, nhưng tác phẩm đó thể hiện rõ rệt chức năng của các tự truyện

Với các dạng thức thông tin về tiểu sử nhà văn như sơ yếu lý lịch, các bản tự thuật ngắn gọn, các bản tự thuật mà nhà văn cho in kèm khi công bố tác phẩm của mình và tự truyện ta đều thấy có một đặc điểm chung đó là nói về cá nhân Tuy nhiên “tác phẩm tự truyện thường có những thiên hướng lý giải cuộc sống đã qua (của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình Người viết tự truyện có khi cũng vận dụng hư cấu “thêm thắt” hoặc “sắp xếp lại” các chi tiết của cuộc đời mình nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lý, nhất quán” [1; 363] Trong khi đó tự thuật lại yêu cầu trình bày một cách súc tích những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời nhà văn đòi

Trang 26

hỏi người viết hết sức tôn trọng tính xác thực của các sự kiện đã xảy ra Ta thấy rằng, các tác giả chỉ chọn những quãng đời, những mốc thời gian hay những chi tiết tiêu biểu nào đó nhằm tạo ra những hiệu ứng đặc biệt, những

ấn tượng sâu sắc nhất, tạo ra những ảnh hưởng có tính đột phá đến cuộc đời mình Sự vận dụng yếu tố hư cấu, thêm thắt đó giúp nhà văn cố tình tạo dựng lại bức tranh về cuộc đời mình một cách sinh động nhất, trọn vẹn nhất Bởi vậy hình thức tự truyện thường được viết khi tác giả đã trưởng thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường trong cuộc đời mình, nhìn lại những gì đã qua như một sự chiêm nghiệm

Chúng tôi nhận thấy rằng, cái mà tự truyện thu hút bạn đọc là ở sự sống động, bề bộn, phức tạp, bất ngờ, hấp dẫn như cuộc sống thật đang diễn ra, nó lôi cuốn người đọc cùng suy nghĩ về nhân tình thế thái của thời

đã qua, trong sự ám ảnh, sự liên tưởng gợi ra từ những câu chuyện được kể Trong tác phẩm yếu tố đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nhiều mục đích nghệ thuật khác nhau Các nhà văn lãng mạn ở thế kỷ XVIII, sử dụng đời tư của bản thân như chất liệu để nhận thức, khám phá toàn bộ sự đa dạng và phức tạp trong hoạt động tâm lý và đời sống tình cảm của mỗi cá nhân con người Với nhà văn hiện thực thế kỷ XIX lại viết về bản thân để phơi bày các mối quan hệ giữa người và người, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh xã hội Nhiều nhà văn ở thế kỷ XX thuật lại cuộc đời của mình để qua đó phản ánh số phận của dân tộc, cộng đồng và thời đại Chính vì vậy, tự truyện có thể bao quát hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự và sử thi

Là một thể tài mang tính giáp ranh, tự truyện vẫn có sự khác biệt nhất định so với các thể tài lân cận như hồi ký, nhật ký, tiểu sử Với hồi ký và tự truyện đều kể lại thuật lại cái đã qua Nhưng ở hồi ký viết về cái đã qua có khi tác giả là nhân vật trung tâm hoặc có khi tác giả như được sống trong không khí đó và kể lại Ở tự truyện cái tôi của người viết là trung tâm, trung tâm của sự kiện, trung tâm của cách trần thuật, là truyện của chính

Trang 27

mình, viết về cuộc đời mình, tác giả giãi bày những điều mình đã chứng kiến và trải nghiệm, trong khi đó hồi ký chưa hẳn lấy mình ra làm chính mà

có thể viết ra để bạn đọc biết và cảm nhận được những nét tiêu biểu về lịch

sử, con người, văn hóa, dân tộc mà tác giả sống Ở Việt Nam, Võ Nguyên

Giáp viết về hồi ký Nhân dân ta rất anh hùng (do Hữu Mai ghi lại) kể lại

sự tự hào về nhân dân ta trong những ngày cách mạng, tuy nhiên ông chỉ là người chứng kiến, là thành viên của lịch sử chứ chưa phải là trung tâm của câu chuyện Hồi ký đó trực tiếp mang không khí bóng dáng của lịch sử còn

tự truyện gắn liền với số phận cá nhân, qua cá nhân biết về lịch sử chứ không trực tiếp viết lịch sử Ở tự truyện có những sự việc, những biến cố… tuy lấy ra từ cuộc đời thật của tác giả nhưng vẫn tồn tại yếu tố hư cấu hoặc thêm thắt các tiểu tiết nhưng mức độ hư cấu trong hồi ký rất ít hoặc thường

ở những thành phần không xác định, với mục đích góp phần tái hiện lại một cách xác thực người thật việc thật, tác giả không được phép sử dụng

hư cấu một cách tùy tiện mà phải đảm bảo khuôn khổ của sự thật lịch sử

Về điều này, Lý Hoài Thu trong bài viết Hồi ký và bút ký thời đổi mới có

nhận xét “ Hồi ký đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chất thực của câu chuyện: sự việc, số liệu, thời gian, địa điểm phải chính xác” [61;76]

Tóm lại giữa tự truyện và hồi ký cũng có sự khác biệt tuy ít nhiều rất khó có thể tìm một ranh giới tuyệt đối cho thể loại, nếu tác giả tự truyện thường tập trung vào quá trình hình thành và lịch sử thế giới nội tâm của mình trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì hồi ký thường lưu ý trước hết đến thế giới bên ngoài ấy, với những con người, cảnh quan đã được tác giả tiếp xúc, trải nghiệm Sự khó khăn trong việc phân định thể loại của tự truyện so với hồi ký sẽ chỉ được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học giải quyết với từng trường hợp cụ thể, tác phẩm nhấn mạnh ở khía cạnh tự truyện hoặc hồi ký hơn

Ỏ thể loại nhật ký và tự truyện đều là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít nhưng nhật ký thiên về tóm tắt, ghi chép sự kiện cá nhân đang

Trang 28

diễn ra hằng ngày, thường rất chân thành và công nhiên trong phát ngôn, bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm mà không hư cấu, có thể bao gồm sự bình luận về sự kiện, trong khi tự truyện có thể bao gồm sự tái cấu trúc, sự sắp xếp lại các sự kiện diễn

ra không liền mạch trong cuộc đời, trí nhớ của tác giả và có thể gắn với hư cấu, tưởng tượng Nhật ký cũng không có sự cách biệt giữa thời gian viết

và thời gian được nói tới mà là những sự kiện đang diễn ra theo tiến trình thời gian sống của người cầm bút, trong khi đó ở tự truyện do hạn chế của khoảng cách thời gian sự kiện được viết và thời điểm viết, ít nhiều đã ngăn trở việc nhìn nhận lại cuộc đời của bản thân mình như một chỉnh thể duy nhất và liền mạch

Tự truyện cũng tương đối gần gũi với tiểu thuyết “nhất là những tiểu thuyết Tây Âu thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất số ít (xưng “tôi”), có tham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn con

người từ “cái nhìn bên trong” (Ví dụ: Adolphe của nhà văn Pháp B.Constant; Tự thú của một đứa con của thời đại,1836, của nhà văn Pháp

A Musset )” [18; 364] Chính từ những yếu tố này mà nhiều nhà nghiên cứu gọi một số tác phẩm là tiểu thuyết tự truyện, cách gọi như vậy cũng không phải là không có cơ sở vì cũng giống như tiểu thuyết, các tự truyện nhìn nhận cuộc sống dưới góc nhìn đời tư cá nhân, nhân vật trong tự truyện cũng là những con người nếm trải, yếu tố góp phần tạo nên tác phẩm không chỉ bao gồm cốt truyện và tính cách nhân vật mà hiện diện trong đó là những suy tư, trăn trở của nhân vật về cuộc đời, con người, thế giới, phân tích cặn kẽ diễn biến tình cảm,suy nghĩ nội tâm… Điều khác biệt là với tiểu thuyết nhân vật trung tâm con người cá nhân là bất cứ ai tồn tại trong xã hội gây dựng được xúc cảm, rung động cho người viết, trong khi ở tự truyện cái tôi của tác giả nhất thiết phải là trung tâm của tác phẩm Ngoài ra khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật trong tiểu thuyết

bị xóa bỏ, trong khi ở tự truyện không những bị xóa bỏ mà còn trùng khít

Trang 29

trong bản thân tác giả Chính từ những yếu tố trên mà tên gọi tiểu thuyết tự truyện sẽ khái quát đầy đủ hơn những đặc điểm thể loại của chúng, nhất là hiện nay đang có sự phát triển đan xen giữa các thể loại.

Lịch sử tồn tại và phát triển của loài người, trải qua nhiều thế kỷ đồng thời cũng đã chứng kiến sự phát triển song song của các hình thái văn học Trong tiến trình lịch sử ấy, tự truyện đã ghi tên mình với thời gian, là một thể loại thuộc loại hình văn học tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình Tự truyện vừa thể hiện hành vi khắc phục thời gian đã qua vừa mưu toan quay lại với thời tuổi trẻ, tuổi thơ, làm sống lại những quãng đời nhiều kỷ niệm nhất, nhìn lại chặng đường đời đã qua như một sự chiêm nghiệm cuộc sống Bên cạnh những nét gần gũi thì cũng có sự khác biệt với một số thể loại như: hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết Vì vậy mà thể loại tự truyện đã tạo cho mình những ưu thế nổi trội dường như văn học hiện đại ngày càng có

xu thế đến với thể loại này nhiều hơn Trên tiến trình văn học tự truyện đã khẳng định được con đường đi riêng của mình để đến với nhà văn cũng như với độc giả

1.2.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của thể loại giả tự truyện

Giả tự truyện (auto-fiction) là khái niệm do Serge Doubrovsky, nhà

văn, nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp sáng tạo ra vào năm 1977

để chỉ tiểu thuyết Con trai của mình Ông từng viết: “Tự truyện ư? Không,

đó là một đặc quyền dành cho những người quan trọng trên thế gian này, khi họ đã về già và được viết với văn phong mỹ miều Hư cấu về các sự kiện và sự việc có thật; giả tự truyện là (thể loại) đã giao phó ngôn ngữ của một cuộc phiêu lưu cho cuộc phiêu lưu của một ngôn ngữ, nằm ngoài sự khôn ngoan, thông thái, nằm ngoài cú pháp tiểu thuyết, tiểu thuyết truyền

thống hay tiểu thuyết mới.” [Serge Doubrovsky, Fils, NXB Galilée, 1977.] Khái niệm auto-fiction (giả tự truyện) được cấu tạo từ tiền tố auto (tiếng

Hy Lạp nghĩa là tự mình) và fiction (hư cấu) Thể loại văn học này kết hợp

hai lối kể chuyện đối lập nhau: một câu chuyện dựa vào nguyên tắc ba danh

Trang 30

tính như trong tự truyện (tác giả cũng là người kể chuyện đồng thời là nhân vật chính), nhưng lại được cho là hư cấu vì phương thức kể chuyện và trong các luận cứ siêu văn bản Tự truyện kể về các sự kiện trong cuộc đời của tác giả dưới hình thức một tiểu thuyết Tên các nhân vật hay địa điểm

có thể thay đổi

Gerard Genette cho rằng “giả tự truyện thực sự” có nội dung kể chuyện hư cấu một cách rất thật Năm 1989, ông hướng dẫn luận án của Vincent Clonna về thể loại giả tự truyện Colonna cho rằng từ “giả tự

truyện” (autofiction) như Doubrovsky quan niệm không đạt tới ý nghĩa trọn

vẹn của nó mà chỉ là bản sao nhạt nhòa định nghĩa về tiểu thuyết tự truyện Với Colonna, giả tự truyện phải là phản đề của tiểu thuyết cá nhân Như vậy, tất cả các tác phẩm có quy chiếu tự truyện sẽ bị loại ra Genette lấy lại

ý này của học trò, ông giải thích rằng tác giả phải kể một câu chuyện mà mình là nhân vật chính nhưng chưa bao giờ sống câu chuyện đó: “Ở đây, tôi muốn nói đến những tác phẩm giả tự truyện thật sự - tôi có thể nói rằng nội dung truyện kể mang tính hư cấu một cách có thật, giống như (…) tác

phẩm La Divine Comédie, chứ không phải là những tác phẩm giả tự truyện

“giả”, chỉ là “hư cấu” cho có lệ: nói cách khác, là những tác phẩm tự truyện

đáng xấu hổ.” [G Genette, Fiction et Diction, Tr 86-87.]

Jacques Lecarme phân biệt hai cách sử dụng khái niệm này: ở nghĩa hẹp, giả tự truyện kể lại những sự kiện có thật nhưng kỹ thuật kể truyện lại lấy cảm hứng từ thể loại hư cấu, còn ở nghĩa rộng, giả tự truyện là sự kết hợp giữa kỷ niệm và trí tưởng tượng Lecarme cho rằng, giả tự truyện duy nhất có thể chấp nhận được tương ứng với một trong những thủ pháp hư cấu lâu đời nhất, đó là để cho tác giả vờ đi vào truyện kể của mình, tác giả chính danh ở trong tác phẩm nhưng vẫn luôn hư cấu [Jacques Lecarme,

“L’autofiction : un mauvais genre?” (Giả tự truyện: một thể loại dở ẹc?”, in

trong Autofictions & Cie, Hội thảo Nanterre, 1992, RITM, số 6)]

Trang 31

1.2.2.3 Lời hứa lúc bình minh: tự truyện hay giả tự truyện?

Maupassant, trong lời đề tựa cuốn Pierre và Jean, đã nói về sự khác

nhau giữa tiểu thuyết và hiện thực, trong đó có một câu phản ánh đúng sự khác nhau giữa tự truyện và giả tự truyện: “Chúng ta ai cũng ảo tưởng về thế giới (…); nghệ sĩ lớn là những người áp đặt với nhân loại ảo tưởng về thế giới của họ.” Và Romain Gary cũng đã từng nói: “Sự thật? Sự thật nào?

Sự thật là có thể tôi không tồn tại.” Lời hứa lúc bình minh không phải là

một tự truyện Tự truyện là một thể loại quá mong manh, quá tuân thủ vào thực tế ngày tháng, sự kiện, nhân chứng Mặc dầu vậy, bản dịch sang tiếng

Anh có đề từ: “A memoir by Romain Gary” (Tự truyện của Romain Gary)

và ở trang bìa có dòng chữ: “This is the life story of R Gary…” (Đây là câu

chuyện cuộc đời R Gary) François Bondy, bạn học cấp 3 của Romain Gary viết thư cho tác giả này khi cuốn sách ra đời: “Mình đã khóc khi đọc

Lời hứa lúc bình minh bởi vì tiểu thuyết này chính là sự thật.”

Theo Mireille Sacotte, thực ra, khi viết Lời hứa lúc bình minh, Romain

Gary cố gắng loại bỏ tất cả các nhân chứng trong cuộc đời mình, ông không nói nhiều về bố đẻ và anh em ruột; rồi tất cả những người có liên quan đến câu chuyện cuộc đời của ông: Aniela, Mariette, Mary Boyd, Louison, Illona, cuối cùng là những người có thật từ khi ông đến Nice đến khi ông viết cuốn sách này, René và Sylvia, François Bondy (người bạn học mà chúng tôi có nhắc ở trên) và thậm chí cả Lesleay Blanch đều không được ông nhắc đến Hơn nữa, ông làm rối tất cả các dấu vết lịch sử, dấu vết thời gian và địa lý Wilno, Varsovie, Moscou, Koursk, những thành phố mà Romain và Nina đã sống qua, nhưng sống khi nào, trong trật tự nào, vì những lý do nào? Rốt cuộc họ đã đến Nice như thế nào? Tại sao lại làm rối

đi, làm cho mù mờ thêm, kể cả về người mẹ và người bố Trong Lời hứa

lúc bình minh, sự thật tiểu sử là mối bận tâm nhỏ nhất của Romain Gary

[49;12-13] Vì thế, độc giả không thể trả lời những câu hỏi đại loại như: Romain Gary sinh ra ở đâu? Bố mẹ ông là ai? Tiếng mẹ đẻ của ông là gì?

Trang 32

Quá trình học tập của ông ra sao? Tại sao hai mẹ con ông đã nhập cư tại Nice? Tại sao lại là Nice chứ không phải thành phố khác? Mireille Sacotte nhận định: “Chúng ta sẽ không thể tìm ra một cây phả hệ nào, quy chiếu nào về dòng họ của ông Tổ tiên, ông bà, chú bác, anh em họ hàng [49;43]

Ví dụ, ông chỉ có một câu viết về người cha của mình: “Tôi sinh ra được ít lâu thì cha tôi bỏ mẹ tôi và mỗi lần mà tôi nhắc đến tên ông, cũng chẳng mấy khi tôi nhắc, thì mẹ tôi và dì Aniela nhìn nhau rất nhanh sau đó câu chuyện được lái sang chủ đề khác." [68;114]

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định Lời hứa lúc bình minh là một giả

tự truyện đúng nghĩa, ngoài những sự kiện đã xảy ra, ngoài một số nhân vật

có thật, tác giả đã thêm thắt các sự kiện, nhân vật hư cấu và cố tình làm rối

các dấu vết lịch sử cá nhân Nói cách khác, Lời hứa lúc bình minh là cuộc

đời của Romain Gary được tiểu thuyết hóa, hư cấu hóa

Trang 33

CHƯƠNG 2

LỜI HỨA LÚC BÌNH MINH NHÌN TỪ THI PHÁP NHÂN VẬT

2.1 Nhân vật và đặc điểm nhân vật tiểu thuyết

2.1.1 Khái niệm nhân vật

Văn học là loại hình nghệ thuật đặc biệt thể hiện sự khám phá, giao tiếp chiếm lĩnh hiện thực cả về bề rộng và chiều sâu của nó Nhân vật là yếu tố quan trọng trong một tác phẩm văn học, là phương tiện để thể hiện nội dung tác phẩm, là phương thức hữu hiệu để khái quát hiện thực một cách hình tượng

Nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê

Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình trong sách Lí luận văn học

(2003), Nhà xuất bản Giáo dục cho rằng: Nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phầm bằng phương tiện văn học Đó

là những nhân vật có tên như: Tấm Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều, Kim Trọng, chị Dậu, anh Pha, AQ, Ácpagông, Gia Cát Lượng, Tôn Ngộ Không… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều, những kẻ đưa tên, lính hầu, chạy kiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại như mình ta trong ca dao…)

Rõ ràng không thể phủ nhận vai trò của nhân vật trong văn học, đặc biệt là trong tiểu thuyết Nhân vật là yếu tố quan trọng trong tác phẩm, là người dẫn dắt người đọc đi vào thế giới đời sống của nhà văn Có thể thấy rằng, mỗi nhân vật được nhà văn thể hiện với những nét độc đáo riêng Nhân vật văn học là biểu hiện cụ thể quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, là mô hình về con người trong từng trường hợp cụ thể của tác

Trang 34

giả Vì vậy mà Tô Hoài cho rằng: “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.” [21;127]

Mỗi loại hình nghệ thuật đều lấy con người làm đối tượng trung tâm của sự phản ánh Với tác phẩm văn học, nhân vật là hình thức thể hiện quan điểm của nhà văn về con người Một tác phẩm có thể không có cốt truyện nhưng không thể thiếu được nhân vật dù đó là thể loại truyện nào đi nữa Tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng tỏ ra những ưu thế vượt trội trong việc khắc họa nhân vật trên mọi phương diện, cả số lượng lẫn chất lượng, hình thức và nội dung, nội tâm và hành động, …

Xét trên những bình diện, góc độ khác nhau, nhân vật văn học được phân ra nhiều kiểu loại Xét về vị trí với nội dung cụ thể, với cốt truyện tác phẩm, nhân vật văn học được phân thành nhân vật chính và nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện với tần số cao trong tác phẩm, giữ vị trí then chốt trong cốt truyện hay tuyến cốt truyện,

nó có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật Thông qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn

cơ bản trong tác phẩm từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng của tác phẩm Số lượng nhân vật chính có thể nhiều hay ít, tùy thuộc vào những vấn đề đặt ra trong tác phẩm Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm Với một số trường hợp, nhà văn dùng tên

nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm, ví dụ như Đông Ki Sốt của Cervantes, Anna Karenina của L Tônxtôi, A.Q chính truyện của Lỗ Tấn,

Truyện Kiều của Nguyễn Du… Còn nhân vật phụ là bộ phận không thể

thiếu, có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng cùng với các nhân vật khác tạo nên tính hoàn

Trang 35

chỉnh, sinh động cho bức tranh đời sống được nhà văn tái hiện trong tác phẩm của mình.

Xét về phương diện tư tưởng, về quan hệ đối với lý tưởng của nhân vật lại có thể chia thành nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực)

và nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực) Nhân vật chính diện thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan điểm tư tưởng, một lý tưởng xã hội nhất định Loại nhân vật này tần số xuất hiện nhiều trong các tác phẩm bi kịch và sử thi Trái với nhân vật chính diện là nhân vật phản diện, với loại nhân vật này mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lý và lý tưởng của con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm với thái độ lên án, phê phán, phủ định… Tuy nhiên, theo ý kiến của Bakhtin, nhân vật tiểu thuyết “cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa có các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc…”[46; 286] Chính vì vậy, việc phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện trong văn học hiện thực chỉ mang một tính chất tương đối, ước lệ

Xét về cấu trúc nhân vật, ta có kiểu nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng Dựa vào thể loại văn học, ta

có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch

Ta thấy rằng, sự phân loại văn học chỉ mang ý nghĩa tương đối vì trong đời sống thực tế văn học, nhân vật rất phong phú, đa dạng Ở mỗi giai đoạn, thời kỳ văn học nhân vật mang một đặc trưng riêng Tuy nhiên, dù thể hiện nhân vật ở góc nhìn nào thì nhân vật học vẫn chiếm một vị trí đặc biệt trong tác phẩm Qua nhân vật, người đọc thấy được tâm tư tình cảm

mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình, đánh dấu sự thành công của tác giả

2.1.2 Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết

Trang 36

Trong nền văn học nhân loại nói chung tiểu thuyết là thể loại chiếm vị

trí quan trọng Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) cho rằng: tiểu thuyết “là tác phẩm tự sự

cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống của mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục,đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [18; 328]

Trên hành trình vận động và phát triển của mình, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi, tiểu thuyết luôn mang trong mình những đặc điểm riêng tạo nên những thế mạnh vượt trội so với các thể loại khác

Xét từ phương diện thi pháp, Bakhtin cho rằng thể loại tiểu thuyết có

ba đặc trưng cơ bản: Thứ nhất tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết Thứ hai

là sự thay đổi cơ bản của các tọa độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểu thuyết Thứ ba là khu vực mới, nơi xây dựng văn chương tiểu thuyết chính là khu vực tiếp xúc tối đa cái hiện tại ở thì không hoàn thành của nó.Với các nhà nghiên cứu sau này chỉ ra năm đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết, một trong những đặc trưng đó chính là nhân vật tiểu thuyết

Nếu như nhân vật của các thể loại khác như nhân vật sử thi, nhân vật kịch hay truyện trung cổ thường gắn liền với hành động Thông qua hành động nhân vật có thể bộc lộ tính cách, bản chất của mình Quá trình tồn tại của nhân vật trong tác phẩm được xem là quá trình hành động tiếp diễn không nghỉ ngơi Nhân vật thường có môtíp hành động mà không cần phải

tư duy, suy nghĩ Với nhân vật tiểu thuyết cũng hành động nhưng đó là những hành động trong sự nếm trải tư duy, dằn vặt, đau khổ, toan tính Nhân vật của tiểu thuyết trưởng thành biến đổi trong môi trường cuộc sống đang diễn tiến, đặc biệt chịu sự chi phối của hoàn cảnh không tách rời khỏi hoàn cảnh Chính vì vậy, tiểu thuyết luôn được xem là thể loại đi đầu trong việc thâm nhập, khám phá thế giới tâm hồn, thế giới nội tâm phong phú,

Trang 37

phức tạp, đa chiều của con người Những con người nếm trải và tư duy rất

“tiểu thuyết” là những nhân vật thành công của tiểu thuyết như Gôriô, Pétsôrin, An-na-ka-re-ni-na, Thứ ….Với tiểu thuyết hiện đại, thế giới tâm hồn của con người được đánh giá là “nhân vật chính” của tác phẩm Ở Việt Nam các nhà văn chú trọng đến quá trình diễn biến phức tạp trong thế giới tâm hồn nhân vật, góp phần xây dựng nên những tác phẩm văn học đạt chuẩn về chất

Như vậy tiểu thuyết là một thể loại đặc thù, trong đó nhân vật của tiểu thuyết là những “con người nếm trải” Việc tìm hiểu, so sánh đặc điểm nhân vật tiểu thuyết với các thể loại khác giúp chúng tôi có cơ sở tìm hiểu

về đặc điểm, đặc sắc nhân vật trong cuốn tiểu thuyết tự truyện Lời hứa lúc

bình minh của Romain Gary.

2.2 Cách xây dựng nhân vật “tôi”

2.2.1 Nhân vật nỗ lực định danh

Romain là một tài năng nhiều mặt, xét ở phương diện điểm nhấn sự

nghiệp văn chương nghệ thuật thì Lời hứa lúc bình minh là một tác phẩm

đặc biệt trong cuộc đời nhà văn của ông Bởi nó không chỉ ghi lại cuộc đời đầy sôi động và vinh quang của ông mà hơn hết đó là câu chuyện về những

nỗ lực định danh của chính tác giả thông qua hình tượng nhân vật “tôi”

Ở những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết tự truyện tác giả viết:

“Không còn nghe tiếng cười, không còn thấy những cái nhìn châm chọc, tôi

ôm mẹ và nghĩ đến tất cả những cuộc chiến mà tôi sẽ lao vào vì bà, nghĩ đến những gì mà mình đã tự hứa vào lúc bình minh của cuộc đời, là sẽ trả lại công bằng cho mẹ, là làm cho sự hy sinh của mẹ có ý nghĩa, là một ngày nào đó sẽ trở về nhà sau khi đã chiến thắng trong cuộc tranh dành quyền làm chủ thế giới với những kẻ mà, ngay thuở chập chững biết đi, tôi đã biết đến sức mạnh và sự tàn ác [68;15] Đó chính là cuộc chiến chống lại các vị thần để: “tranh giành quyền làm chủ thế giới với các vị thần phi lý và đam

mê quyền lực, muốn trả lại trái đất cho những ai bao bọc nó bằng tất cả tình

Trang 38

thương yêu và lòng quả cảm” [68;18] Và cho đến “cuối chặng đường đời tôi vẫn thấy chúng rất rõ trong bóng hoàng hôn Big Sur, tôi vẫn nghe tiếng chúng bất chấp tiềng gầm rú của đại dương; tôi buột miệng nhắc đến chúng

và để đối đầu với chúng, đôi mắt đang lão hóa của tôi tìm lại cái nhìn của đưa trẻ lên tám” [68;16]

Cụ thể là tranh dành quyền làm chủ thế giới với các vị thần, từ Totoche (Thần ngu dốt), Merzavka (thần chân lý tuyệt đối), Filoche (Thần

ti tiện):

“Trước hết phải kể đến Totoche, thần ngu dốt, đít đỏ như đít khỉ, bản mặt trí thức rởm, tim lại say mê những điều viễn vông; vào năm 1940, vị thần này là nhà lý luận cố chấp rất được người Đức tôn thờ; bây giờ hắn có

xu hướng trốn vào khoa học thuần túy… mỗi lúc có bom nguyên tử nổ là bóng hắn lại cao hơn một chút so với quả đất; mánh khóe sở trường của hắn là mang lại cho sự ngu dốt một vỏ bọc thiên tài và tuyển chọn trong số chúng ta những bậc vĩ nhân để bảo đảm cho sự hủy hoại của chính chúng

ta [68; 16]

“Merzavka, thần chân lý tuyệt đối, một tay lính cô dắc đứng trên những đống xác người, roi ngựa trong tay, mũ lông đội sụp xuống mắt và điệu cười hớn hở; vị thần này là chúa tể lâu đời nhất của chúng ta, hắn ngự trị số phận chúng ta, trở nên giàu có và được trọng vọng từ bấy lâu nay; mỗi khi hắn giết chóc, tra tấn và áp bức nhân danh những chân lý mang tính chất tuyệt đối, tôn giáo, chính trị hay đạo đức, thì một nửa nhân loại lại

âu yếm liếm giày cho hắn; điều này làm cho hắn rất thích thú, vì hắn biết rằng các chân lý tuyệt đối không tồn tại, đó chỉ là một cách để biến chúng

ta thành nô lệ” [68; 16-17]

“Filoche, thần ti tiện, thần định kiến, khinh bỉ và hận thù…hắn cừ khôi trong việc tổ chức các phong trào tập thể, các cuộc chiến tranh, các vụ hành hung, các hành động trấn áp, hắn là một nhà biện chứng tài tình, cha đẻ của tất cả các hình thức đào tạo ý hệ… hắn vẫn là một trong những vị thần có

Trang 39

thế lực nhất, được nhiều người nghe theo nhất mà người ta luôn thấy trong mọi phe phái, một trong những kể nhiệt tình bảo vệ trái đất của chúng ta, tranh dành với chúng ta quyền làm chủ trái đất với nhiều mánh khóe nhất

và bằng cách thức khéo léo nhất” [68;17]

Ngoài ra còn có vị thần khác, huyền bí hơn, mờ ám hơn, thâm hiểm hơn, kín đáo hơn rất khó nhận diện, là “những vị thần bạo ngược nhong nhong khắp thế gian” [68;18]

Cuộc chiến chống lại các vị thần đó là một ước nguyện thật đẹp, thật cao cả của nhân vật “tôi”, nhưng trên hết đó là nỗ lực thực hiện lời hứa của một đứa con đối với người mẹ ngay từ thuở ấu thơ, lời hứa đền đáp công

ơn trời biển của người mẹ đã phải chịu bao thua thiệt, đau khổ, dù trong bất

cứ hoàn cảnh nào cũng hy sinh bản thân cho con Đó là lời hứa lập nghiệp, lập thân, lập công, lập đức, lập danh, được định danh ở cái bình diện tình cảm, xã hội, nghệ thuật

Tiếp cận Lời hứa lúc bình minh, chúng ta đều nhận ra Nina

Borosovskaia là một người mẹ đơn thân, chính vì vậy mà bà mong muốn con trai mình trở thành một chàng trai quyến rũ, một người có khả năng chinh phục phụ nữ khiến cho “đàn bà con gái sẽ phủ phục dưới chân con” [68; 23] Đó chính là nhu cầu phục thù về thể chất và tình cảm mà bà đòi hỏi con trai thay mình thực hiện” [68;34] “Mẹ thiết tha mong muốn tôi gặt hái được nhiều thành công trong việc chinh phục phụ nữ Rõ ràng mẹ tôi coi đó là một trong những phương diện chủ yếu của sự thành công trên đời Đối với mẹ tôi, đó là thứ đi kèm với những vinh dự chính thức, với những huy chương cao quý, với những bộ quân phục cấp cao, với rượu sâm banh

và những buổi lễ tiếp đón tại Tòa Đại sứ” [68;33]

Để chinh phục phụ nữ đạt kết quả như mong muốn, bà đã dạy cho con trai mình từ nghệ thuật tặng quà phụ nữ:

“Con phải nhớ là khi tự mình đến với bó hoa nhỏ trên tay thì sẽ gây xúc động hơn là gửi một bó hoa to bằng dịch vụ Con hãy cảnh giác với

Trang 40

nhiều phụ nữ có áo choàng lông thú, đó là những người luôn chờ có thêm một chiếc áo choàng lông thú khác, chỉ nên đi lại với họ nếu con thực sự có nhu cầu Con cũng nên chọn các món quà tùy theo đối tượng, phải chú ý sở thích của người mà con định tặng Nếu cô ta không được học hành tử tế hay không yêu thích văn chương, hãy tặng cô ta một cuốn sách hay Nếu con có việc cần lụy đến một người phụ nữ thân phận khiêm tốn nhưng có học và nghiêm túc thì hãy tặng cô ta một món quà sang trọng, một lọ nước hoa hay một chiếc khăn choàng Nhớ là trước khi tặng cái gì đó để đeo tay hay mặc, con phải nhìn kỹ màu tóc và màu mắt cô ta Những món quà nho nhỏ như cài áo, nhẫn, khuyên tai con phải mua thế nào cho phù hợp với màu mắt của cô ta, còn váy, áo choàng, khăn thì con phải chú ý đến màu tóc Phụ nữ mà tóc và mắt cùng một màu thì dễ ăn mặc hơn…”.[68; 111- 112].

Không chỉ nghệ thuật tặng quà mà bà còn dạy con mình cách nhận quà cũng như cách quyến rũ một phụ nữ, đó là cách hôn tay phụ nữ, cách vừa chào vừa kê một chân lên chân khác, ngước mắt lên nhìn…

“Con có thể nhận quà, nhận các đồ vật, chẵng hạn như bút mực, hoặc

ví tiền Thậm chí có thể một chiếc Rolls- Royce, nhưng tiền thì đừng bao giờ !” [68; 112]

Ngay từ khi tám tuổi, Nina đã gieo vào lòng Romain - đứa con trai duy nhất của mình “Những tiếng thở dài và những ánh mắt, nào là những bức thư tình và những lời thề thốt; nào là bàn tay âm thầm siết lại bên hiên, dưới ánh trăng; nào là bộ quân phục sĩ quan màu trắng và điệu Valse xa xa; nào là những tiếng thì thầm và những lời cầu khẩn.” [68;29]

Khi Romain mười ba tuổt rưỡi, Nina đã ước nguyện con trai mình quyến rũ được “những cô gái đẹp nhất trên đời, những nữ diễn viên ba lê nổi tiếng, những prime donne, những Rachel, những Duse, những Garbo…” [68; 32] Đó hẳn phải là một trong những diễn viên nổi tiếng ở Pháp, ở Mỹ, ở Ý Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng, tất cả mọi điều tốt đẹp

Ngày đăng: 19/07/2015, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Lại Nguyên Ân (1990), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1990
2. Lại Nguyên Ân (1994), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1994
3. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Bakhtin. M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Năm: 1992
5. Bakhtin. M (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Nguyễn Thị Bình (1999), “Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới” ,Tạp chí văn học (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
8. Nguyễn Duy Bình, “Lời hứa lúc bình minh: truyện cổ tích về người mẹ”, http: // gocnghe.blogspot.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời hứa lúc bình minh: truyện cổ tích về người mẹ
9. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
11. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội
Năm: 2004
12. Đặng Anh Đào (2001), Tài năng và người thưởng thức, Nxb văn nghệ TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài năng và người thưởng thức
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb văn nghệ TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2001
13. Đặng Anh Đào (chủ biên, 2001), Văn học Phương Tây, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Phương Tây
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Hà Minh Đức (chủ biên, 1999), Lí luận văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Văn học
15. Phan Cự Đệ (1976), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1976
16. Đỗ Xuân Hà (2006), Văn học thế giới thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thế giới thế kỷ XX
Tác giả: Đỗ Xuân Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
17. Bùi Mai Hạnh - Lê Vân (2006), Yêu và sống, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu và sống
Tác giả: Bùi Mai Hạnh - Lê Vân
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2006
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
19. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
20. Nguyễn Chí Hoan, “Chìa tay cho thượng đế”,http://sachhay.org/sach/chitiet/5003/loihualucbinhminh… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chìa tay cho thượng đế

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w