Vì vậy, ca dao trào phúng là một bộ phận quan trọng trong các sáng tác trữ tình dân gian, nó đã góp phầnquan trọng vào việc thể hiện tâm hồn và tính cách của nhân dân ta.. ngành ngôn ngữ
Trang 1bộ giáo dục và đào tạoTrờng Đại học Vinh
Trang 2trong ca dao trào phúng việt nam
Vinh - 2007
Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập và tập sự nghiên cứu, Luận văn đã
đợc hoàn thành Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS.TS - Phan Mậu Cảnh - ngời hớng dẫn, xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô và các bạn.
Vinh, ngày 08 tháng 9 năm 2007
tác giả
Trang 3Chơng 1 Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài 131.1 Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng 13
những thói h tật xấu của con ngời
Trang 4cò, c¸c lo¹i thÇy, c¸c nhµ s vµ lùc lîng thÇn th¸nh trongx· héi
Ch¬ng 3 C¸c thøc biÓu thÞ ý nghÜa trµo phóng trong ca dao ViÖt
KÕt luËn
106
Trang 5Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong kho tàng ca dao Việt Nam, cùng với những bài ca dao về
tình cảm gia đình, về tình yêu quê hơng, đất nớc, con ngời thì mảng
ca dao trào phúng chiếm một số l ợng đáng kể Ca dao trào phúng ViệtNam cũng là một mảng nội dung đặc sắc, luôn thu hút mọi ngời, mọithời
Ca dao trào phúng mang tính chất hiện thực sâu sắc, hơn nữa, nócòn có tinh thần chiến đấu mạnh mẽ Vì vậy, ca dao trào phúng là một
bộ phận quan trọng trong các sáng tác trữ tình dân gian, nó đã góp phầnquan trọng vào việc thể hiện tâm hồn và tính cách của nhân dân ta Cadao trào phúng có thể là ca ngợi cuộc đời, ca ngợi tình yêu, cũng có thể
là than vãn trách móc, cũng lại có thể là chế giễu căm hờn hay là tiếngcời châm biếm trào lộng Nhng nói chung, tất cả đều muốn thể hiệnnhững khát vọng chính đáng của nhân dân lao động; khát vọng mộtcuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc hơn Trào phúng thực sự cần thiết choquần chúng lao động bất kể ở thời điểm nào của lịch sử, nó quả thực làtâm sự, là niềm vui của cả một cộng đồng, một dân tộc chứ chẳng củariêng ai
Bên cạnh những giá trị về nội dung, nghệ thuật tạo dựng trào phúngtrong ca dao cổ truyền cũng là một đóng góp không nhỏ cho nền vănhọc dân tộc Nó thực sự là kho báu của ngời Việt, là vốn nghệ thuậtphong phú của các tác giả mọi thời đại
1.2 Do vị trí đặc biệt quan trọng của ca dao trong kho tàng văn học
dân gian cũng nh trong lòng độc giả thởng thức, cho nên việc tìm hiểu
Trang 6ca dao ở bất kỳ phơng diện nào cũng đợc xem là một bớc khám phá rất
có ý nghĩa Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao từ nhiều góc
độ, và từ nhiều mảng đề tài trong ca dao Việt Trong những năm gần
đây, cùng với các ngành khác nh: văn học dân gian, thi pháp học, vănhoá học ngành ngôn ngữ học rất quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ trong
ca dao; nhng ngôn ngữ thể hiện trong ca dao trào phúng nh thế nào thìvẫn là câu hỏi cần có sự giải đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát, phân tích
Đầu tiên có lẽ phải nói đến quan điểm của Bùi Quang Huy trong
"Thơ ca trào phúng Việt Nam" khi ông nhận xét rằng: "Nói đến thơ ca trào phúng Việt Nam, trớc hết phải nói tới ca dao, dân ca, không ở đâu tiếng cời lại đa dạng, phong phú và rộn rã nh trong sáng tác dân gian Tiếng cời trong ca dao trào phúng trở nên sâu sắc mạnh mẽ khi vạch trần đợc những mâu thuẫn mang tính hài của xã hội" Khi nhìn nhận ở
góc độ cấu trúc ngôn ngữ, ông cho rằng: "Ca dao trào phúng đã thể
hiện một trình độ sử dụng ngôn từ hết sức uyển chuyển và hiệu quả".
Không thể kể hết những sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng ngôn từcủa ca dao trào phúng Khi cố tìm cách vạch trần những tình trạng hàitrong đời sống xã hội và con ngời, các tác giả dân gian đã đạt đến trình
độ điêu luyện và hàm súc Và thực tế chỉ có những sáng tác sử dụng
thành công nghệ thuật ngôn từ mới "Tung bay đầy móng vuốt", "cời
vang châm chọc, nhảy nhót khắp nơi" và "cắm rễ trong nhân dân để khi nhìn thấy loài quái vật ngay tức thì nhảy lên mắt bám chặt" (thơ E.Baratunski).
Trong cuốn "Văn nghệ bình dân Việt Nam" dới góc độ khai thác
nội dung ý thức và ý nghĩa xã hội của văn nghệ bình dân nói chung, Tr
-ơng Tửu đã nêu bật xu hớng phản kháng trật tự phong kiến trong vănnghệ bình dân Ông chia văn nghệ bình dân làm hai bộ phận Một bộ
Trang 7phận là văn nghệ trung nông với tính cách nửa vời trong đấu tranhchống phong kiến Bộ phận còn lại có thái độ cực đoan hơn, triệt đểhơn, phá hoại hơn trong sự phản kháng trật tự phong kiến vì những đắngcay, đói khổ, tủi nhục mà họ phải chịu Đó là bộ phận văn nghệ bần cốnông và cùng dân Tuy cha dành riêng một mục bàn về cái cời trong vănhọc dân gian nói chung và ca dao nói riêng, nhng khi phân tích giá trị
nội dung của văn nghệ bình dân, Trơng Tửu đã nhìn rõ: "Những con
ng-ời uất ức này, bằng thứ khí giới độc nhất là tiếng c ng-ời của mình đã chống
đối lại các thầy tu, với tiếng cời khanh khách, cời ngặt nghẽo, cời gập
đôi ngời lại, cời chảy nớc mắt ra, cời tục tĩu".
Trong "Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" Tác giả Vũ Ngọc Phan
đề cập đến những bài ca dao có tính chất trào lộng về chuyện vợ chồng,
ông cho rằng: "Ca dao có những bài cời cợt chế giễu nhiều việc ở đời"
cách cờng điệu hoá tạo nên tiếng cời nhẹ nhàng vui vẻ:
"Chồng hen lại lấy vợ hen
Đêm nằm cò cử nh kèn thổi đôi".
Vũ Ngọc Phan đã dành khá nhiều thời gian bàn về tình cảm, tínhcách của ngời phụ nữ trong xã hội cũ thể hiện trong ca dao trào phúng
Đó là cảnh lẽ mọn, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh làm lẽ bị áp bức bóclột hết sức nặng nề
Trong cuốn "Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”, Cao Huy Đỉnh nhận xét: "Cái cời của nhân dân phê phán những cảnh lố
lăng trái ngợc h hỏng trong sinh hoạt bình thờng của nhân dân, những thói h tật xấu cần phải đợc uốn nắn tẩy trừ" Tuy có nêu ra một số dẫn
chứng về cái cời trớc những cô gái không đứng đắn, những anh chàngxấu nết, những bọn ngời thực hành văn hoá tôn giáo, những địa chủ, c -ờng hào, quan lại gian tham
Một số nhà nghiên cứu khác trong lịch sử văn học Việt Nam khi
phân tích nghệ thuật ca dao đã nhận xét rằng: “ hình thức lộng chữ, chơi
chữ có thể tạo ra tiếng cời giòn giã và việc sử dụng lối nói ngoa dụ cũng đẩy sự vật tới mâu thuẫn trái tự nhiên Ca dao của ta có nhiều hình tợng tế nhị kín đáo nhng ca dao của ta cũng có nhiều tiếng cời rộn rã ở đây chúng ta lại gặp nghệ thuật ngữ ngôn trong lộng chữ chơi
Trang 8chữ, trong đối lập hình tợng tự nhiên và không tự nhiên" Nhng các tác
giả cha đặt tiếng cời trong ca dao trào phúng thành một vấn đề riêng đểnghiên cứu
Trong "Bình giảng ca dao", tác giả Hoàng Tiến Tựu cho rằng:
"Trong ca dao trào phúng có những chuyện h cấu bịa đặt ra để mua vui giải trí, nhng đó là sự bịa đặt thiên tài với cấu tứ và dựng chuyện rất tài tình không phải ai cũng làm đợc”:
"Đơng khi lửa tắt cơm sôi Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem
Bây giờ con đã hết thèm Lợn no, cơm chín, tòm tem thì tòm".
Hoàng Tiến Tựu đã phân loại ca dao truyền thống ngời Việt trong
cuốn "Văn học Việt Nam" thành 6 loại, đó là: đồng dao, nghi lễ, phong
tục, lao động, trào phúng bông đùa, ru con và trữ tình Tiếc rằng tác giảmới đi sâu phân tích bốn loại còn ca dao, nghi lễ, phong tục và ca daotrào phúng cha đợc phân tích Nhng trong giáo trình văn học dân gianViệt Nam (dùng cho hệ Cao đẳng s phạm) ông đã có sự khẳng định về
ca dao trào phúng với các hình thức nói ngợc, trái tự nhiên, hớng vào
đối tợng là những thói h tật xấu trong nội bộ nhân dân, đặc biệt là bộphận ca dao chống mê tín dị đoan, chống s sãi và giai cấp thống trị
"Nói ngợc không chỉ có tác dụng gây cời để mua vui giải trí mà cũng có tác dụng trí dục, làm cho ngời ta, nhất là các em nhỏ hiểu biết lẽ thuận một cách gián tiếp, sống động" Ca dao trào phúng là bộ phận ca dao
"bộc lộ sự châm biếm, chế giễu của nhân dân đối với những thói h tật xấu, những hiện tợng đáng cời trong đời sống xã hội Mua vui giải trí phê bình, giáo dục, đấu tranh đã kích là những tác dụng đồng thời cũng
là chức năng chung của bộ phận ca dao này".
Lịch sử Việt Nam, giai đoạn từ tháng 8 năm 1945 đến 1975 là giai
đoạn có nhiều biến động của lịch sử, những bài ca dao ra đời trong thời
kỳ này chủ yếu viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miềnBắc và đấu tranh thống nhất nớc nhà Trong bối cảnh ấy, ca dao chính làngời bạn gần gũi, quen thuộc của quần chúng lao động trên mọi lĩnhvực Chính vai trò quan trọng của ca dao đã biến nó trở thành mối quan
Trang 9tâm không chỉ của những ngời yêu thích ca dao mà còn của cả các nhàkhoa học Tuy cha nhiều nhng đã xuất hiện một số công trình nghiêncứu, các bài viết đăng tải trên các tờ báo, các tạp chí về ca dao tràophúng giai đoạn này.
Nh vậy, ở bình diện nghiên cứu, ca dao trào phúng Việt Nam đã đ
-ợc nhắc đến trong một số công trình ở nhiều mức độ khác nhau Nh ng ở
ca dao trào phúng giai đoạn 1945 - 1975 dờng nh sự tập trung của cácnhà nghiên cứu còn rất ít, hầu nh rất ít các tác giả hớng sự chú ý củamình về mảng đề tài này trong một công trình hoặc ít ra là trong mộtbài báo cụ thể Vì vậy, việc tập trung tìm hiểu, đặc điểm ngôn ngữ trong
ca dao trào phúng là một việc làm rất cần thiết
3 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Phạm vi của đề tài
3.1.1 Trong luận văn này chúng tôi tìm hiểu: Đặc điểm về ngôn
ngữ trong ca dao trào phúng Việt Nam, khai thác phơng diện nội dung
và nghệ thuật tạo dựng cái cời trong ca dao trào phúng
3.1.2 T liệu ngôn ngữ khảo sát phục vụ cho việc tìm hiểu trên là
cuốn "Thơ ca trào phúng Việt Nam" do Bùi Quang Huy biên soạn NXB tổng hợp Đồng Nai năm 2004 và "Tục ngữ ca dao dân ca Việt
-Nam" do Vũ Ngọc Phan chủ biên, NXB Khoa học xã hội năm 1998.
3.2 Mục đích của đề tài
3.2.1 Nhằm góp phần tìm hiểu một lĩnh vực còn khá mới mẻ và thú
vị trong nghiên cứu ngôn ngữ ca dao (từ góc độ ngôn ngữ học xã hội vàvăn hoá)
3.2.2 Trong phạm vi tài liệu mà tác giả luận văn có thể tiếp cận đ
-ợc, phân tích các yếu tố ngôn ngữ tạo dựng cái c ời, làm rõ tài năng nghệthuật của tác giả dân gian
3.2.3 Qua đó nhằm khẳng định thêm những biểu hiện phong phú về
tâm hồn tình cảm, t tởng quan niệm của dân gian qua ca dao trào phúngViệt Nam
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 103.3.1 Hệ thống hoá những quan niệm về ý nghĩa trào phúng thể
hiện trong ca dao Việt Nam
3.3.2 Thống kê, phân tích và miêu tả các biểu hiện mang ý nghĩa
trào phúng qua hệ thống từ ngữ, nội dung phản ánh trong ca dao ViệtNam
3.3.3 Trình bày các cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng cụ thể
qua ca dao Việt Nam
4 Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều ph ơngpháp kết hợp hoặc độc lập theo nội dung và công đoạn nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phơng pháp sau:
4.1 Thống kê những câu ca dao Việt Nam mang nội dung trào
phúng, phân loại miêu tả, phân tích đối chiếu để phát hiện các cách thứcbiểu thị ý nghĩa trào phúng trong ca dao Việt Nam Ph ơng pháp phântích cấu trúc - ngữ nghĩa, ngữ cảnh sẽ đợc sử dụng để làm sáng tỏ đặc
điểm, chức năng của ca dao trào phúng Việt Nam
4.2 Vận dụng cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ văn học - văn hoá.
Trong quá trình khám phá, tìm hiểu những câu ca dao mang ý nghĩa tràophúng chúng tôi đã sử dụng các thao tác cải biến, phân tích ngôn bản,
đa ra các dẫn chứng và nguồn t liệu khác nhau để làm sáng tỏ các luận
điểm đã nêu, từ đó đa ra kết luận nhất định
4.3 Các phơng pháp so sánh đối chiếu, phơng pháp phân loại, miêu
tả cũng đợc sử dụng để xử lý ngữ liệu và nêu ra các cách thức biểu thị ýnghĩa trào phúng trong ca dao Việt Nam
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đi sâu vào tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ mang ý nghĩatrào phúng trong ca dao một cách tỉ mỉ, có hệ thống theo cách tiếp cậnngôn ngữ - văn hoá học Các lớp từ ngữ thể hiện trong ca dao trào phúngcùng các cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng của ng ời Việt đợc trìnhbày trong luận văn là những đóng góp cụ thể về lý thuyết ngôn ngữ nóichung trong ca dao Việt Nam
Trang 11Trên cơ sở nguồn tài liệu về ca dao trào phúng cổ truyền, chúng tôitiến hành hệ thống hoá và nghiên cứu sâu thêm về đặc tr ng ngôn ngữ, vềnghệ thuật tạo dựng cái cời trong ca dao cổ truyền Từ đây chúng ta cóthể khám phá những trầm tích văn hoá, những lẽ thờng phản ánh quanniệm sống của ngời Việt.
Những kết quả nghiên cứu đợc trình bày trong luận văn còn có giátrị thực tiễn đối với việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao tràophúng của ngời Việt, cũng nh của các dân tộc anh em
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 3chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Chơng 2: Các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca daoViệt Nam
Chơng 3: Cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng trong ca dao ViệtNam
chơng 1 những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Nhiệm vụ của chơng này là làm rõ những vấn đề lý thuyết cần yếucho việc nghiên cứu các đặc điểm của ca dao trào phúng Việt Nam Đó
là những vấn đề cơ bản sau đây:
1 Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng
2 Ca dao trào phúng từ góc nhìn của lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ
và phân tích diễn ngôn
3 Các lý thuyết về ca dao trào phúng trong ngôn ngữ học
1.1 Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng
1.1.1 Ca dao là gì ?
Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, đợc lutruyền bằng miệng và đợc phổ biến rộng rãi trong nhân dân
Trong "Lời nói đầu" quyển "Sáng tác thơ ca dân gian Nga”,
Bô-ga-t-ri-ép nhà nghiên cứu văn học Liên Xô, đã nhận định nh sau: "Ca
Trang 12dao nói riêng và tác phẩm văn học dân gian nói chung th ờng tồn tại rất lâu, đợc truyền tụng từ miệng ngời này sang miệng ngời khác, thờng xuyên đợc nhiều thế hệ xây dựng, bồi đắp ” Trong khi tác phẩm vănhọc thành văn về căn bản không có gì biến đổi sau khi tách khỏi ngòibút của nhà văn, thì các tác phẩm thơ ca dân gian đ ợc truyền miệng từthế hệ này sang thế hệ khác, thờng xuyên đợc sửa chữa để phản ánhnhững sự đổi thay đang diễn ra trong t tởng của quần chúng nhân dân vàtheo những quy tắc thẩm mỹ của họ.
Khi bàn về thuật ngữ "ca dao" Minh Hiệu cho rằng: "ở nớc ta,
thuật ngữ ca dao vốn là một từ Hán - Việt đ ợc dùng rất muộn Có thể muộn đến hàng ngàn năm, so với thời gian đã có những câu ví, câu hát" Nhận định của Minh Hiệu là có lý, bởi vì theo Cao Huy Đỉnh thì
"Dân ca và văn vần truyền miệng của dân tộc Việt Nam đã ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã phồn thịnh và phức tạp Trình
độ sáng tác và biểu diễn cũng tơng đối cao, nghệ sĩ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế".
Điều mà Cao Huy Đỉnh và Minh Hiệu nói có những chứng tích lịch
sử xác nhận Lịch sử Việt Nam cho biết rằng: Đời Tần ở Trung Quốc,
trong cuốn "Giao Châu ký" Lu Hán Kỳ đã nói đến chuyện ở nông thôn
Giao Châu thời ấy trẻ mục đồng cỡi trâu thổi sáo và hát các bài đồngdao của ngời Việt (ở Châu Giao)
Nh vậy, thuật ngữ ca dao không phải bắt nguồn từ truyền thống vănhọc dân gian mà do các nhà su tầm và soạn sách về thơ ca dân gian mợn
từ sách Hán Thi, đồng thời mợn luôn cả cách định nghĩa của họ, nh
"ca", "hát", "dao" bài hát không có chơng khúc "Ca dao là bài hát ngắn lu hành trong dân gian".
Ca dao là những bài thờng ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu,
âm điệu lu loát và phong phú Dới hình thức truyền miệng ca dao đã đợcqua nhiều ngời, nhiều thế hệ sửa chữa, nhng nó vẫn giữ đợc chủ đề t t-ởng và tính chất mộc mạc Ca dao có nhiều thể, mà nhiều hơn cả là thểsáu tám, thể bốn chữ và thể hai bảy sáu tám cũng có nhng không nhiều
Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vừa sát, vừa thanh thoát,không gò ép, lại giản dị và rất tơi tắn, nó có vẻ nh lời nói thờng mà lại
Trang 13nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả đợc những tình cảm sâu sắc.
Ca dao của ta đã lợi dụng rất đúng chỗ những âm thanh, nhạc điệu củaTiếng Việt nên khi tả ngời, tả việc, tả tiếng kêu, tả cảnh rất tài tình
Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và có sứcsống mạnh mẽ Ca dao Việt Nam nh một dòng sông lớn, bắt nguồn từhàng trăm con sông, thậm chí hàng ngàn con sông, con suối ca dao, dân
ca của các địa phơng, các vùng, miền trong cả nớc Ca dao là tiếng nóitâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân trong trờng kỳ lịch sử dân tộc.Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lợng tác phẩm mà còn hết sức phongphú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật
Trong quá trình biểu hiện giá trị độc đáo của ca dao, là ở chỗ: nóphản ánh chân thực tâm hồn, khí sắc dân tộc Sinh ra giữa thiên nhiênkhắc nghiệt, sống triền miên trong xã hội hà khắc, lại trải qua chiếntranh loạn lạc, dân tộc này không thể không nói đến khổ đau và cămgiận, nhng cội nguồn và sức mạnh của nó lại chủ yếu là chất tơi sáng,rắn rỏi của tâm hồn tình bầu bạn, là tình cảm yêu thơng là tình nghĩathuỷ chung, là lòng trung hậu với gia đình, quê hơng, đất nớc
Có thể nói: muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xemdồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào của cuộc đời thì không thểnào không nghiên cứu ca dao Việt Nam mà hiểu biết đợc Ca dao ViệtNam là những bài tình tứ, là khuôn thớc cho lối thơ trữ tình của ta Tìnhyêu của ngời lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt,tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồngruộng, yêu đất nớc, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoàbình Không những thế, ca dao còn biểu hiện t tởng đấu tranh của nhândân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc vớithiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự tr ởng thành của t tởng ấy qua cácthời kỳ lịch sử
Trang 14Về quan hệ giữa ca dao và dân ca Trong công trình nghiên cứu nổitiếng của mình Vũ Ngọc Phan luôn luôn gắn liền ca dao với dân ca D -ờng nh ông coi ca dao và dân ca tuy hai mà một và tuy một mà hai.Cao Huy Đỉnh còn nói rõ hơn: những công trình s u tập dân ca, gần
đây nh "Hát phờng vải Nghệ Tĩnh" "Dân ca quan họ Bắc Ninh" trớc
đây đều là ca dao Ca dao sinh ra truyền đi và biến đổi chủ yếu là thôngqua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn
in rất rõ khuôn dấu dân ca
Về mối quan hệ giữa ca dao với văn vần, các soạn giả " Từ điển
Tiếng Việt phổ thông" cho rằng: "Ca dao là thơ dân gian truyền miệng dới hình thức những câu hát " nó khác với văn vần vì: "thể loại văn vần thờng làm theo thể lục bát, có hình thức giống nh ca dao cổ truyền" Minh Hiệu đồng tình với quan điểm này và viết thêm: "Có nhiều bài ca dao mới" gần đây, tuy hình thức giống nh "ca dao cổ truyền" nhng đó mới chỉ là những câu văn vần chứ ch a thực sự là ca
dao
Ca dao có mối quan hệ mật thiết với thơ trữ tình, có sự nhất trí cao
giữa các nhà nghiên cứu khi khẳng định ca dao là "lời thơ", là "thơ đối
đáp" là "một thể thơ dân gian" là "thơ dân gian truyền miệng" Minh
Hiệu đã dùng khá nhiều trang viết để biện luận về những đặc điểm cơ
bản của ca dao và đi đến kết luận rằng: "Ca dao là thơ dân gian, thơ để
ví von, đối đáp, truyền miệng, khác với thơ của dòng văn học viết là”
"thơ" nhng lại mang đặc trng dân gian, mang đặc trng phong cách dân gian, nhng đồng thời lại phải có đầy đủ "tính thơ" nữa mới là ca dao thực thụ Hai mặt đó tạo nên đặc trng của ca dao".
Các thể loại ca dao trào phúng khác nhau của văn học dân gian, đã
góp phần tạo nên "rừng cời" vô giá của văn học dân tộc Riêng ở thể
Trang 15loại ca dao, khi đi sâu tìm hiểu cái c ời ở góc độ văn bản, ngôn từ, ngời
ta thờng có sự liên tởng tới mối quan hệ giữa ca dao và dân ca; nói đếndân ca, ngời ta nghĩ đến cả 3 yếu tố cơ bản cấu thành nó: âm nhạc, lời
ca và phơng thức diễn xớng Còn ca dao lại chủ yếu là phần lời của cácloại dân ca ấy, bởi nó là loại thơ dân gian truyền thống có phong cáchriêng đợc hình thành và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuậtngôn từ trong các loại dân ca trữ tình ngắn và tơng đối ngắn của ngờiViệt
Một số ngời phân ca dao - dân ca làm 2 tiểu loại: "Ca dao trữ tình"
và "ca dao trào phúng " Hoàng Tiến Tựu chia ca dao dân ca thành 6 tiểu loại: "đồng dao", "nghi lễ phong tục", "lao động", "ru em", "trữ
tình" và " trào phúng bông đùa" Chúng tôi cho rằng: cách chia trên là
hợp lý và thống nhất với cách chia đó Ngoài ra, còn có một số cáchphân loại khác dựa trên những tiêu chí khác nhau, nhng nhìn chungtrong các cách chia ấy, vẫn không thể vắng bóng ca dao trào phúngbông đùa Điều đó chứng tỏ, nó là bộ phận quan trọng trong kho tàng cadao dân ca ngời Việt Ca dao trào phúng là món ăn tinh thần vô cùngquý báu của nhân dân lao động Việt Nam thời xa
Các nhà nghiên cứu hiện đại đã phát hiện ra nhiều sắc thái đa dạng
và phong phú của cái hài trong ca dao với nhiều phơng diện từ sự truyền
đạt những chi tiết giống sự thực một cách tự nhiên chủ nghĩa đến c ờng
điệu tột bực, từ sự mỉa mai nhẹ nhàng đến sự chế giễu cay độc, phẫn nộ,cái hài đợc tạo ra bằng những lời hóm hỉnh cũng nh bằng những giọng
điệu độc đáo, bằng sự tơng phản giữa những hình tợng, bằng nhữngngôn từ và nhạc, bằng sự nhại lại dáng điệu, cử động
M.M Bakhtôn đã rất chính xác khi khẳng định rằng: "không đếm
xỉa hoặc coi nhẹ tiếng cời dân gian thì sẽ làm méo mó cả bức tranh lịch
sử phát triển của nền văn hoá châu Âu về sau này" Bên cạnh đó, ở lĩnh
vực nghiên cứu, mặc dù cái cời trong văn hoá dân gian nói chung và vănhọc dân gian nói riêng luôn tồn tại mang tính toàn dân; tính phổ quát vàtính 2 chiều, nhng dới con mắt của các nhà nghiên cứu hiện đại, ng ời tahầu nh chỉ lĩnh hội cái cời một cách nghiêm túc, một chiều Bởi họ chỉ
chấp nhận tiếng cời giải trí và "tôn trọng tiếng cời trào phúng thuần
Trang 16tuý, mà tiếng cời ấy thực chất là tiếng cời không cời, tiếng cời hùng hồn, nghiêm trang, răn dạy", còn tính 2 chiều của tiếng cời "vừa vui nhộn hoan hỉ vừa nhạo báng, chế giễu; vừa phủ định vừa khẳng định; vừa khai tử vừa tái sinh" thì lại bị triệt tiêu đi.
Ca dao trào phúng là những sáng tác chứa đựng các yếu tố gây c ời,cái cời ở đây phối hay bản chất thực của đối tợng gây cời, lột trầnnhững cái xấu xa, đang nguỵ trang dới vỏ ngoài óng ả Cái châm biếm ở
đây gay gắt, chua cay làm đảo điên cả hệ thống, thành trì kiên cố củagiai cấp thống trị
Cái cời trong ca dao trào phúng mang những cung bậc, sắc thái tìnhcảm hết sức khác nhau: vui vẻ, phê bình hoặc phản kháng quyết liệt,giữa 3 cung bậc ấy nhiều khi có sự chuyển hoá lẫn nhau rất tinh tế, đadạng Khi đi sâu vào nội dung phản ánh của ca dao trào phúng, ng ời ta
có thể phân chúng thành 2 loại: ca dao trào phúng mua vui, hài h ớc và
ca dao trào phúng châm biếm đã kích
Ca dao trào phúng là món ăn tinh thần yêu thích của tất thảy mọi
ngời, bất kể ở giai đoạn nào của lịch sử Có đ ợc điều đó là do"cái cời"
trong ca dao đã làm tròn chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ củamình đối với quần chúng Ca dao trào phúng còn là cơ sở để ng ời ta
hiểu về nhau nhiều hơn Ngạn ngữ dân gian th ờng có câu "Anh hãy chỉ
cho tôi biết anh cời ai, tôi sẽ nói cho anh hay, anh là ngời nh thế nào".
Không giống nh những bộ phận văn học khác, ca dao trào phúng th ờng vạch trần mặt trái của đời sống xã hội, trực tiếp đụng chạm đến cáctầng lớp trên trong xã hội Đem những chuyện lẽ ra đ ợc dấu kín, ra chếgiễu cời cợt
-Ca dao trào phúng là tiếng cời những thói h tật xấu của ngời đời đủmọi tầng lớp, từ một anh chàng làm biếng, một chị đi chơi nhăng, đến
một bà già "tấp tểnh mua heo cới chồng" Tiếng cời hả hê, rộn ràng,
nh-ng khônh-ng cay độc, theo kiểu châm chọc hay đã kích Thái độ ấy, nhândân lao động dành cho những ngời thuộc tầng lớp trên của xã hội Cadao trào phúng đợc dùng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực xấu xa lỗi thời, độc ác trong xã hội và h ớng sự phêphán vào những tầng lớp trên đang tỏ ra lạc hậu so với tiến trình phát
Trang 17triển của lịch sử và quay lại đàn áp bóc lột nhân dân, tiếng c ời trong cadao luôn bất chấp vòng cơng tỏa của chế độ đơng thời.
Dân tộc ta yêu công bằng, nhân đạo, dân tộc ta biết làm ng ời, và có
một đạo lý làm ngời, cái đạo lý ấy thấm nhuần chân lý, "không có gì
quý hơn độc lập tự do" ngay từ trong lòng xơng ống máu của mỗi một
ngời dân Mỗi khi có sự xâm phạm đến chân lý trên đây thì ng ời ViệtNam sẽ nhất tề đứng lên phản ứng lại Biểu hiện trên các bình diện xãhội, thì đó là những cuộc đấu tranh cách mạng của dân cày hay nhữngcuộc vận động giải phóng dân tộc, chống lại ách xâm lăng Khi đó, vũkhí của chúng ta là cuốc, cày, gậy tầm vông hay cung tên, g ơm, súng.Còn thông thờng, hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống vất vả, gieo neothì vũ khí đấu tranh chính là mọi thái độ để phủ định thực tại, đòi hỏimột cái gì chân chính hơn, hợp với lơng tri, với đạo lý và với độc lập tự
do hơn Cái cời hoặc thành tiếng hay không, không phải là điều quantrọng Điều quan trọng chính là ở tính chất phủ định của sự đấu tranhnày, tuỳ từng hoàn cảnh nhất định, sự đấu tranh của quần chúng có thể
đẩy lên nhiều theo khả năng hoặc theo từng giai đoạn lịch sử Nơi đâylúc này chỉ mới là một sự phủ định mà thôi, nh ng nơi kia, lúc khác cóthể là sự đã phá Quá trình phát triển của ca dao trào phúng Việt Namchính là nh vậy
Ca dao trào phúng là một thứ vũ khí vô cùng sắc bén, cho dù tiếngcời ào ạt hay âm thầm, kín đáo, xuất hiện hay không xuất hiện thì vẫn
có giá trị, phản ánh khác nhau
Ngời Việt Nam rất biết cời và dùng cái cời của mình rất đúng chỗ,
đồng thời đã trao cho cái cời ấy một nhiệm vụ chính trị phục vụ cho
chân lý "không có gì quý hơn độc lập, tự do", hơn là chỉ bằng lòng với
tiếng cời bản năng cơ giới
Trong kho tàng ngôn ngữ, chúng ta cũng có thể tìm ra khá nhiều ví
dụ để chứng minh cho ý thức chính trị này Do đó mà bên cạnh nhữngtiếng cời rộ, cời ầm, cời ồ, cời khanh khách, cời sằng sặc trong ca daotrào phúng lại còn có cả những tiếng cời thầm, cời ruồi, cời nghê, cờinửa miệng, cời tơi nh mếu
Trang 18Trong ngôn ngữ của con ngời, có lẽ trào phúng là cách thể hiện cókhả năng đạt đợc hiệu quả cao nhất so với các phơng thức khác Nănglực trào phúng chỉ có thể có ở con ngời, đợc thể hiện trong ngôn ngữ vàchứng tỏ một trình độ phát triển đột xuất của trí tuệ con ng ời nếu nh chamuốn nói đó chính là tài năng thực sự.
Rabơle - một nhà nhân văn chủ nghĩa Pháp có nói: "Cời là một đặc
tính của con ngời" Quả thật, nhờ biết cời và đặc biệt là biết gắn cái cời
với nhận thức, trí tuệ mà con ngời phân biệt hẳn với các loài động vậtkhác Không kể đến cái cời do kích thích cơ năng (do bị cù, nhột) conngời có khả năng bật ra tiếng cời do trực tiếp nhìn thấy và nhận thức đ-
ợc những hình ảnh sự việc tức cời, đáng cời trong thực tế Con ngời nhờ
có tri năng ngôn ngữ cho nên còn có thể cời do cái sản phẩm của lời nói
và ngôn ngữ đem lại, là những điều đáng c ời Cũng nhờ có ngôn ngữ,con ngời còn biết cách diễn đạt một cách hài h ớc điều muốn nói củamình Và trên cơ sở những năng lực đặc biệt này mà con ng ời còn biếttạo ra cái cời bằng cả chuỗi lời nói hoặc truyện cời
Những cái tức cời, những điều đáng cời trong ca dao trào phúng baogồm những yếu tố sau:
* Những sự trái ngợc, tơng phản trái lôgíc, oái oăm, trớ trêu của các
sự việc, hiện tợng trong tự nhiên và xã hội có liên quan đến con ngời
* Những sự méo mó, lệch lạc và những sự nhầm lẫn, chồng chéo vô
lý trong các mối quan hệ, trật tự đã có
* Những biểu hiện của sự khờ khạo, ngây ngô ngốc nghếch của conngời
Những yếu tố trên đều có nguyên nhân khách quan hoặc chủ quancủa nó và có thể từ các mức độ nhẹ, bình th ờng đến quá quắt, cực đoanhoặc dẫn đến sự bất thờng, lố bịch
Pha trò, đùa vui, gây cời và tạo ra cái cời nói chung là một nhu cầucủa cuộc sống con ngời Trong mối quan hệ giữa ngời với ngời, trongngôn ngữ giao tiếp của xã hội, cũng không thể thiếu vắng nụ cời Cadao trào phúng là sản phẩm của lời nói dân gian, trong đó chứa đựngnhững nụ cời, tiếng cời đủ các cung bậc khác nhau tuỳ thuộc vào tínhchất và mục đích của chúng
Trang 19Có những bài ca dao trào phúng là vũ khí đấu tranh với kẻ địch, kẻthống trị, đã kích châm biếm mọi thói h tật xấu mọi quan niệm sống lỗithời Có những bài có tác dụng phê phán giáo dục trong nội bộ nhân dânbằng tiếng cời khoẻ khoắn, lành mạnh, phần lớn ca dao trào phúngkhông chỉ dùng nh một phơng tiện để mua vui, giải trí mà còn là mộtphơng tiện, một phơng thức phản ánh cuộc sống, đặc biệt có khả năng
đem lại tác dụng và hiệu quả lớn đối với việc khơi dậy và kích thíchnhững cảm xúc thẩm mĩ, nâng cao tâm hồn và trí tuệ của quần chúngtrong thởng thức nghệ thuật
Không chỉ là một thứ vũ khí đấu tranh xã hội, tiếng c ời còn là một
đòi hỏi bức thiết của lẽ sống Nếu nh trong cuộc sống thực tại, con ngờivốn có quan niệm đời là bể khổ, nhiều đau thơng và nớc mắt thì cũngchính con ngời luôn luôn có ý thức phải tìm đến hạnh phúc, niềm vui vàtiếng cời để cân bằng lại
"Vui từ trong cửa vui ra, buồn từ ngã bảy ngã ba buồn về", con
ng-ời trong ca dao nhận thức đợc rằng: cái buồn là tự khách quan đem đến,cái vui là tự trong lòng mình, do mình, là một thứ tiềm năng vốn có, vàbản thân con ngời có thể tạo ra Vì vậy mà lòng ham sống lạc quan yêu
đời đã giúp cho con ngời biết cách khai thác niềm vui, phát huy đợcnăng khiếu đùa vui, hài hớc trong cuộc sống
Cái cời trong ca dao trào phúng có phần khác với cái c ời trongtruyện cời dân gian hay truyện tiếu lâm là: luôn luôn đ ợc tạo ra những
sự kiện, những tình tiết h cấu có tính chất đặc biệt và cá biệt, không thể
có đợc trong đời thực, ca dao trào phúng nhiều khi không nhất thiết phảidựa vào h cấu Rất nhiều câu, bài chỉ cần nói lên một sự thật phản ánhthực tế hiển nhiên, nêu ra nhận xét đơn giản về sự đời ấy thế mà đãmang ý vị trào phúng
Yêu nhau yêu cả đờng đi, Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.
Yêu nhau yêu cả bàn chân, Ghét nhau ghét cả tông nhân họ hàng.
Chúng ta cũng không biết đợc rằng: ca dao trào phúng do đâu, tại sao mà
có Chỉ biết rằng: chúng chiếm một số lợng rất lớn và hết sức phong phú đa
Trang 20dạng về nội dung, đề cập đến mọi vấn đề của con ngời thuộc mọi lĩnh vực đờisống vật chất và tinh thần Trong số này nhiều câu có khả năng chứa đựngnhững quan niệm về nhân sinh, về đạo đức hoặc triết lí khá sâu sắc, songkhông phải tất cả đều nh vậy Đại bộ phận ca dao trào phúng dờng nh chỉ lànhững lời nói hóm hỉnh thông minh, những câu đùa vô hại, nhng lại có giá trịthức tỉnh trí tuệ con ngời, thể hiện một cách hồn nhiên nhất nhiều chân lý cụthể và đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên mà ai cũng có thể thấy, ai cũng phảithừa nhận Điều đáng chú ý là ở đây cái trào phúng không ở trong bản thân sựkiện hay sự việc đợc chỉ ra mà lại nằm ngay trong cách nói, trong lời diễn đạt.Mỗi câu ca dao đem đến cho ta sự cảm nhận một điều thú vị, làm hé mở một
nụ cời, một cái mỉm cời Đó chính là tác dụng, hiệu quả của trào phúng
Tuy nhiên, mức độ của trào phúng không chỉ dừng lại ở đấy, cũng nhtrong ngôn ngữ thờng ngày của những ngời vui tính, thích khôi hài, pha trò; cadao truyền thống của ta không ngớt vang lên tiếng cời đùa vui, nhẹ thì giễucợt chế nhạo, nặng thì mỉa mai, châm biếm hoặc bài xích, phê phán, nặng hơnnữa là đã kích, đập phá không tiếc tay, nh một vũ khí sắc bén trong đấu tranhxã hội Mức độ trào phúng từ thấp lên cao nh vậy tuỳ thuộc vào nội dung tràophúng, đồng thời cũng tuỳ thuộc vào tính cực đoan của cách thể hiện, đẩy cáicời đến cực điểm của khoái trá mà chúng ta có thể gọi chúng bằng một vài têngọi khác mạnh hơn nh trào lộng, trào phúng, một nét đặc trng của thơ ca
Ca dao trào phúng nhiều khi là sản phẩm của lối nói nửa đùa nửa thật,bạo mồm bạo miệng, hoặc liều lĩnh đến mức quá quắt, chua ngoa:
Lẳng lơ mới có con bồng Nhu mì nh chị, nằm không cả đời.
Cái quá quắt ở đây, ngoài tác dụng gây cời khi phê phán tính lẳng lơ, thói
đanh đá nói chung của đàn bà, cũng còn có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu
xa hơn Chẳng hạn ở bài ca dao:
Anh về rẫy vợ anh ra Thì em bỏ cửa, bỏ nhà theo anh.
Câu "anh về rẫy vợ anh ra" không thể hiểu một cách thật thà đó là lời đề
nghị rẫy vợ của một cô gái đối với chàng trai, mà cần phải hiểu đây chỉ là lời
cự tuyệt mạnh mẽ của cô gái trớc sự tỏ tình của một chàng trai nào đó mà cô
không thích Còn các chi tiết khác nh ý định "bỏ cửa bỏ nhà theo anh" là
Trang 21những chi tiết đắt giá chắp cánh cho trào phúng, đảm bảo cho hiệu quả nghệthuật của trào phúng.
"Cời ngời chớ vội cời lâu, cời ngời hôm trớc hôm sau ngời cời" một quan
điểm có tính nhân văn thế tục ấy của ca dao cũng đợc thể hiện rất rõ Con ngờikhông phải chỉ biết cời cái sự đời, cời ngời khác, cời cả tạo vật và thế giớiquanh ta, mà còn biết cời cả chính mình, tự cời mình, giễu mình một cáchcông bằng thẳng thắn Biết tự cời mình không phải là chuyện dễ; nó đòi hỏiphải có một bản lĩnh, phải đứng ở một chỗ đứng cao hơn, một cách nhìn sáng
suốt hơn Ca dao trào phúng nói chung không đi vào "cái tôi" cá nhân mặc
dầu vẫn có những câu trong đó chủ thể xng tôi, ta, anh em ở ngôi thứ nhấtngoại trừ những câu, bài thể hiện sự đối đáp nh:
ở đâu mà chẳng biết ta
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên lôi
Tuy nhiên, nhiều nhất vẫn là những câu, bài tự giễu cợt, phê phán tất cảnhững gì thuộc về nhân tình thế thái, những thói tục mà chính mình tạo ra,chính mình phải chấp nhận, những quan niệm chung của xã hội, những hạnchế và bất cập của ngời đời, trong đó có mình:
Ngồi buồn kể ruốc nhau ra Ruốc ông thì thối, ruốc bà thì thơm.
Ca dao trào phúng đề cập đến mọi phơng diện trong đời sống xã hội Có
lẽ cha có một lĩnh vực nào, một chủ đề nội dung nào tiếng cời trào phúngkhông len vào đợc, cho dù ở đấy có thể là nơi tôn nghiêm nhất, thiêng liêngnhất đối với con ngời Cuộc sống và con ngời luôn luôn còn phải hớng tới cái
đúng, cái hoàn thiện và cái đẹp thì thế tất còn cần đến trào phúng để rũ bỏ, từgiã những gì đã và đang làm tổn hại đến con đờng tiến lên phía trớc
Chúng ta dễ dàng nhận thấy cái thâm trầm, sâu sắc đầy tính triết lý của cadao trào phúng về con ngời, cuộc đời và lẽ sống, cái đùa vui giễu cợt rất hómhỉnh khi nói về phong tục tập quán hay về những nét riêng của từng xứ sở quêhơng, sự phê phán táo bạo đối với khuôn phép lễ giáo trong những vấn đề vềhôn nhân và gia đình, sự đã kích gay gắt không khoan nhợng vào thói dị đoan
và bọn lừa bịp đội lốt tôn giáo, tín ngỡng Có thể nói: về mặt này ca dao tràophúng đã khai thác sâu thêm nhiều khía cạnh có giá trị phát hiện về con ngời
và cuộc sống khiến cho tác phẩm dân gian giàu có hơn, tinh tế và sắc sảo hơn
Trang 22Tiếng cời chân chính dù ở cung bậc nào cũng là bạn đồng hành của tình cảmlành mạnh, khoẻ khoắn, lý trí sáng suốt và tinh thần lạc quan yêu đời và nhvậy, nó có sức chinh phục lớn Là một bộ phận quan trọng trong các sáng tácdân gian, với cách thể hiện và giọng điệu riêng, ca dao trào phúng đã góp phầnhết sức quan trọng vào việc phản ánh tâm hồn, tính cách và trí tuệ của nhândân ta.
Dân tộc Việt Nam ta có cả một nền ca dao trào phúng phong phú,dồi dào, ca dao trào phúng đã đóng góp rất nhiều vào lịch sử dân tộc.Trong những ngày xây dựng nó biểu lộ tâm hồn lạc quan, vui vẻ, yêu
đời, tinh thần thực tế, khoa học của ngời dân lao động, nó phê phán nội
bộ, chỉ trích những thói h tật xấu để làm cho cuộc đời thêm đẹp, thêmtrong, nó tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp, vạch trần thủ đoạn c ờngquyền áp chế, bênh vực quyền sống của con ngời, bao gồm quyền lợicủa ngời phụ nữ Nó còn đấu tranh cho một cái gì nh là bản chất trongsáng của Việt Nam, cự tuyệt những thói lai căng vong bản, phản đốinhững gì ngợc lại với đạo lý làm ngời của dân tộc Lạc Hồng, đến khi
đất nớc phải trải qua những ngày đen tối, thì chính ca dao trào phúng lànhững ngọn lửa sáng rõ nhất, bên cạnh ca dao cách mạng và ca dao trữtình, làm rõ bộ mặt chân chính bất khuất của Việt Nam Nó đập vào đầubọn cớp nớc, nó dìm chết bọn Việt gian, nó chống đối lại trò ngu dânthống trị, nó đòi hỏi cách tân, cách mạng để đ ợc dứt khoát với quá khứnặng nề Quả thực, đối với nền ca dao trào phúng Việt Nam ta vẫn cóquyền tự hào phấn khởi Đó là những tiếng cời cất vang lên, cuốn hút ta,cho ta thấy chín mùi hơn ý nghĩa của những vấn đề đã đặt ra và phải đ ợc
đặt ra trong hiện thực, có cái cời ngang tàng mà nghịch ngợm, cái cờigay gắt mà trong trẻo, cái cời bẽ bàng chua chát, cái cời giòn giã khinh
bỉ, khoái trí phũ phàng, hả hê, hóm hỉnh Làm sao kể hết sắc thái củanhững nụ cời vốn rất giàu có trong chúng ta
Tiểu kết: Dù cái cời trong ca dao có gay gắt hay không thì vấn
đề nổi bật nhất của ca dao trào phúng là đem lại niềm vui cho mọi ng ời.Chính điều đó đã giải thích tại sao ca dao trào phúng đã trở thành món
ăn tinh thần a thích nhất của tất thảy mọi ngời, bất kể ở giai đoạn nào
của lịch sử Có đợc điều đó là do "cái cời" trong ca dao đã làm tròn
Trang 23chức năng nhận thức, giáo dục thẩm mỹ của mình đối với quần chúng.Ngoài ra chính nó còn là cơ sở để con ngời ta hiểu về nhau nhiều hơn.
Ngạn ngữ dân gian thờng có câu: "Anh hãy chỉ cho tôi biết anh cời ai,
tôi sẽ nói cho anh hay, anh là ngời nh thế nào".
chơng 2 các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng
trong ca dao việt nam
Trong chơng 2 này, chúng tôi sẽ tìm hiểu các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩatrào phúng trong ca dao Việt Nam
Để tiện phân tích chúng tôi phân chia thành các mục lớn sau:
- Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời hài hớc, mua vui
- Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm phê phán
Sau đây là các phần cụ thể:
2.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời hài hớc, mua vui
Các tác giả dân gian đã nhìn thấy vai trò số một của nghệ thuật khôi hàinhằm giải trí đối với ngời nông dân sau một ngày lao động mệt nhọc Với 425bài ca dao bông đùa lấy mục đích mua vui làm cơ sở tạo dựng cái cời Nộidung của những bài ca dao thuộc loại này có tác dụng giải trí lành mạnh, giáodục nhẹ nhàng, nhng không kém phần thấm thía bởi các tác giả dân gian đãsáng tác nó bằng một tâm hồn khoẻ mạnh đầy lạc quan ở những tiếng cờinày, tuy không nhiều triết lý nhng nó vui tơi, sắc sảo, tiếng cời mua vui giải trí
Trang 24làm cho thế giới của con ngời thêm vui tơi, sinh động hẳn lên Đằng sau cái
c-ời dí dỏm, hóm hỉnh ấy vẫn bộc lộ trí tuệ sắc sảo trong việc nhận thức nhữnghiện tợng trái với tự nhiên, trong việc đề cao chủ nghĩa nhân đạo, đề cao lơngtri và luôn đắm mình trong thực tiễn một cách tỉnh táo Nh vậy, cái cời giải tríkhông chỉ đem lại niềm vui, sự sảng khoái mà còn thể hiện nét thông minh, tài
ba của các nghệ sĩ dân gian
Từ 12.476 bài ca dao cổ truyền, chúng tôi đã tiến hành khảo sát để tìm ra
1250 bài ca dao trào phúng và phân loại chúng ra thành ba bộ phận trong bảngsau:
12.476 1.250 9,90 454 36,45 670 53,90 123 10,6
Từ ba bộ phận ấy, chúng tôi nhận thấy có bài chỉ gây cời để đạt mục đíchmua vui giải trí là chính, có bài kết hợp giữa chức năng giải trí với chức năngphê bình nhẹ nhàng nhằm giáo dục để hoàn thiện nhân cách Nhng cũng cóbài mang ý nghĩa tố cáo gay gắt hớng tới những mục đích đấu tranh xã hộinhất định
2.1.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời mua vui về hôn nhân gia đình
2.1.1.1 Cời giải trí về nạn tảo hôn trong xã hội cũ
Trong ca dao trào phúng, tác giả dân gian đã dùng cái cời để đùa vui,chứ không nhằm phê phán chỉ trích những nhợc điểm mà ngời ta có thể chấpnhận đợc Có 203 bài ca dao biểu thị tiếng cời mua vui về hôn nhân gia đình
Nh chúng ta đã biết, xã hội phong kiến rất khắt khe Việc hôn nhân, việc lậpgia đình của nam nữ thời xa đều hoàn toàn do cha mẹ định đoạt, nên thời xa
đã có trờng hợp ngời con gái không biết mặt ngời mình lấy, nên đã có câu cadao trào lộng sau:
"Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nằm mơ tởng nghĩ ông láng giềng".
Ngời xa đã dùng cái cời để đùa vui, chứ không nhằm phê phán chỉ tríchnhững nhợc điểm mà ngời ta có thể chấp nhận đợc Miêu tả một cô gái trong
Trang 25chế độ tảo hôn, cha vấn tóc gọn đã về nhà chồng, anh chồng dửng dng coi vợ
nh một đứa trẻ, nhng khi cô ta vừa đến tuổi thì tính tình khác hẳn, một thay
đổi lớn xảy ra trong hai ngời, tạo nên tiếng cời vui vẻ:
Lấy chồng từ thuở mời lăm Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mời tám đôi mơi Tôi nằm dới đất chồng lôi lên giờng Một rằng thơng, hai rằng thơng
Có bốn chân giờng gãy một còn ba.
2.1.1.2 Một trong những đề tài để quần chúng nhân dân có thể tạo ra
tiếng cời một cách thoải mái vô t là nhìn ra khuyết tật của cơ thể ngời chồng,
hoặc ngời vợ Đừng nghĩ rằng tác giả dân gian ác ý Không, họ không hề ác ýbởi đó không phải là những cái cời nhằm soi mói, nhiếc móc, khiêu khíchnhau Với 2,01% tiếng cời này hoàn toàn chỉ nhằm tạo dựng niềm vui Ngời ta
có thể tìm thấy sự đồng cảm giữa kẻ cời và ngời bị cời Có khi chính bản thânngời bị cời cũng ủng hộ thêm vào trò đùa vô hại này Đó là những con ngời cóthể nhân cách không có vấn đề gì, nhng do cha sinh mẹ đẻ, hay do tai nạn rủi
ro mà họ phải mang trên ngời những dấu ấn không bình thờng Những anh
"sứt mũi", chị "lẹm cằm", "chồng mồm cá ngão, vợ môi cá mè" là tập hợp
những gì xấu xí về hình thức mà họ phải chịu, cho dù không muốn
Chồng què lấy vợ kiễng chân Nuôi đợc đứa ở đứt gân cũng què.
Bài ca dao đã vẽ lên bức tranh miêu tả một gia đình thật "không ai phải tị
nạnh ai đợc nữa'' mỗi ngời một vẻ, thật vui và buồn cời Tác giả dân gian đã
đa cái xấu về hình thức của con ngời ra để mua vui chứ không nhằm chỉ trích,những cặp vợ chồng còng đợc miêu tả rất chính xác mà vẫn không kém phầnhóm hỉnh:
Chồng còng mà lấy vợ còng Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.
Trong cuộc sống vợ chồng, nhiều khi vì quá yêu nhau, cho nên họ hầu
nh không để ý đến hình thức bên ngoài của ngời bạn đời
Thật thú vị khi ta nghe lời tâm sự, động viên của một ngời chồng với vợcủa mình khi cô không có đợc nớc da mịn màng nh bao ngời khác:
Trang 26Những ngời lấm tấm rỗ hoa
Rỗ năm ba nốt thật là rỗ xinh Khen ai chia rỗ cho mình
Rỗ tốt rỗ đẹp, rỗ xinh rỗ giòn.
Hoặc: Chồng hen mà lấy vợ hen
Đêm nằm cò cử nh kèn thổi đôi.
2.1.1.3 Có nhiều bài ca dao trào phúng ca ngợi tình cảm vợ chồng tuy
nghèo khó nhng sống bên nhau hết sức hoà thuận đầm ấm, hạnh phúc Có 108bài ca dao trào phúng về nội dung này Cuộc sống vợ chồng lắm khi ăn không
đủ no, mặc không đủ ấm nhng đời sống tinh thần của họ vô cùng phong phú:
Lấy anh thì sớng hơn vua Anh ra ngoài ruộng bắt cua kềnh càng
Đem về nấu nấu, rang rang Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.
Thật đúng nh tục ngữ đã nói: "Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng
cạn" Với những khó khăn vất vả trong cuộc sống đời thờng, nếu ta chịu khó
khắc phục thì sẽ không còn mấy trở ngại nữa Đặc biệt là vợ chồng biết yêuthơng, biết quan tâm chia sẽ, biết giúp đỡ nhau thì cho dù gian khổ đến mấycũng sẽ vợt qua Có những bài ca dao rất ngắn mà dựng lên đợc một câuchuyện với đầy đủ những sự việc, nhân vật và chi tiết cụ thể, có thắt nút, mởnút, cao trào, đỉnh điểm nh một màn hài kịch:
Đơng cơn lửa tắt cơm sôi Lợn kêu, con khóc chồng đòi tòm tem
Bây giờ con đã hết thèm Lợn no, cơm chín, tòm tem thì tòm.
Tiếng cời là một biểu hiện của thái độ đối với thực tại Trong ca dao tràophúng tiếng cời có mặt ở tất cả các loại đề tài khác nhau Trong xã hội phongkiến thời bấy giờ có những chàng trai nghèo khổ không có tiền để cới vợ Vìvậy, ta thờng thấy những câu hát nói về điều kiện yêu nhau, cới nhau có tínhchất trêu chọc, đùa cợt nhau nh những câu sau đây:
- Cới nàng anh toan dẫn voi Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Trang 27Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.
- Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang nh là, Ngời ta thách lợn thách gà Còn em thách cới một nhà khoai lang
Củ to thì để mời làng Còn nh củ nhỏ họ hàng ăn chơi, Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi
Để cho con trẻ ăn chơi giữa nhà.
Ca dao giải trí còn phát hiện ra những nhợc điểm thờng nhật trong cuộcsống Bên cạnh tiếng cời hồn nhiên vô t, còn có sự phản ứng phần nào vềnhững khuyết điểm thông thờng không quan trọng mà mọi ngời có thể mắcphải, thật thú vị khi ta bắt gặp hành động đòi lấy chồng của một cô gái:
Con gái mời bảy, mời ba
Đêm nằm với mẹ, thiết tha đòi chồng
Mẹ đập một cái nơi mông
- Không nằm mà ngủ, chồng chồng chi mi !
- Ranh càng nó bắt mẹ đi Khi xa mẹ nhỏ cũng thì nh con !
2.1.2 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời về những vấn đề xã hội
2.1.2.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời về những sinh hoạt cá nhân
Cái cời trong ca dao trào phúng góp phần đem lại niềm vui cho mọi
ng-ời, giảm bớt những mệt nhọc, khó khăn trong cuộc sống làm tăng năng suấtlao động Có khoảng 102 bài ca dao bông đùa biểu thị tiếng cời về những sinhhoạt cá nhân Ngời dân lao động có cuộc sống khốn khó, cực nhọc, vất vả - họluôn đầu tắt mặt tối, không có đủ thời gian để trau chuốt cho chính mình, nh-
ng không vì vậy mà họ tự ti Họ lý giải cái xấu, cái cha đẹp ấy một cách vuinhộn mà tởng chừng nh rất có lý:
Ngời xấu duyên lặn vào trong Bao nhiêu ngời đẹp, duyên bong ra ngoài.
Trang 28Ta thấy rằng: không ở đâu tiếng cời lại phong phú và rộn rã nh trong sángtác dân gian Cái cời rộ lên trong mọi hoàn cảnh, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đốitợng Có khi ca dao cời về một anh chàng làm biếng một chị chơi nhăng, cókhi tiếng cời lại rộ lên hết sức vui vẻ bởi một kiểu nói khoác đùa chơi:
ở đâu mà chẳng biết ta
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên Lôi
Xa kia ta ở trên trời
Đứt dây rớt xuống làm ngời trần gian.
Thật là khoác loác hết chỗ nói Thế vẫn cha đủ, tất cả những gì có vẻ tráingợc - dù vô tình hay cố ý đều trở thành đối tợng của cái cời giải trí trong ca
dao Nó có thể là một anh chàng quá lãng mạn "Yêu em từ thuở lên ba"; là một kẻ ngớ ngẩn đi giữa trời ma mà còn cầu xin "Tôi không có nón, trời chừa
tôi ra"; là một bà già vẫn ca cẩm: đêm nằm bà có ngủ đâu"“ vậy mà "nó
khênh bà đi khắp mọi nơi" vẫn không hay biết Đó là những phi lý trái với lẽ
thờng và ngời ta cời vì cảm nhận thấy sự bất cập đến vô lý trong một hành
Xẩm mà nói dối, xẩm thì cũng đui.
Trong một số bài ca dao cời giải trí, tác giả dân gian còn sử dụng yếu tốtục nh một phơng tiện để gây cời, cái tục đôi khi đã đợc sử dụng với nhiềumục đích khác nhau Có khi nhằm tố cáo phản phong nhng có khi chỉ đơnthuần mua vui, giải trí cốt để tạo không khí vui vẻ:
Hỡi cô yếm thắm đeo bùa Bác mẹ có bán anh mua nửa ngời Anh mua từ rốn đến đùi
Từ bụng đến mặt, mặc trời với em.
Trang 29Có khi yếu tố tục còn đợc sử dụng trong hát đối đáp để trêu chọc, chòngghẹo nhau:
- ớc gì anh hoá đợc con kiến vàng
Bò lên cổ bậu dạo đàn lê viên
- Ước gì em hoá đợc con kiến hôi
Bò lên đái xuống cho trôi kiến vàng.
Hình ảnh chú cuội ngồi gốc cây đa đã đợc lồng ghép với hình ảnh chúcuội hay nói dối Hình ảnh chú cuội ở đây đợc giải thích khá bất ngờ Cái cời
và lời đối đáp của cuội cho thấy: Tính cách của nhân vật này là hài hớc và láulỉnh Tính cách đó vốn là bản chất của cuội:
Bắc thang lên đến cung mây Hỏi sao cuội phải ấp cây cả đời ? Cuội nghe thấy nói cuội cời:
- Bởi hay nói dối phải ngồi gốc cây.
Có thể nói: ở cái cời khôi hài giải trí, cả ngời cời và kẻ bị cời đều hòachung trận cời giòn giã, bất tận, vô thởng vô phạt
2.1.2.2 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cời về những sinh hoạt tập thể
Đáng chú ý là yếu tố hài hớc trong nhiều bài ca dao thờng tạo nên mộtgiọng bông lơn cời cợt, làm cho những vấn đề đợc đề cập tới trong đó mất tínhchất trang nghiêm thờng có của nó Đặc điểm này phản ánh bản chất lạc quanyêu đời trong cái nhìn và hành động của nhân dân, trên mọi lĩnh vực khácnhau của đời sống:
Bắc thang lên hỏi ông Trời Tiền trao cho gái có đòi đợc chăng ? Bắc thang lên hỏi ông Trăng Tiền trao cho gái liệu rằng đợc không ?.
Có rất nhiều hiện tợng đợc miêu tả trong ca dao nhằm nói lên những điềuphi lý, ngợc đời; trái với tự nhiên, không bao giờ diễn ra trong thực tế, tạo ratiếng cời vui vẻ, hài hớc:
Bao giờ cho đến tháng ba
Trang 30ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng Hùm nằm cho lợn liếm lông Một chục quả hồng nuốt lão tám mơi Nắm xôi nuốt trẻ lên mời Con gà, be rợu, nuốt ngời lao đao Lơn nằm cho trúm bò vào Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
2.2 Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm phê phán
Nếu nh cái cời mua vui giải trí chỉ nhằm đùa vui là chính thì cái cờichâm biến phê phán lại chứa đựng một ý nghĩa xã hội rõ rệt Nó cời vào nhữngthói h tật xấu, những hiện tợng hành vi không đẹp, trái với tiêu chuẩn đạo lýbình thờng và thuần phong mỹ tục, truyền thống của dân tộc Tiếng cời biểuthị thái độ châm biếm, phê phán trong ca dao là món ăn tinh thần không thểthiếu của nhân dân lao động Với 632 bài ca dao có tiếng cời phê bình trongnội bộ ngời lao động, ca dao trào phúng quả thực đã góp phần đáng kể cho sựhoàn thiện nhân cách mỗi con ngời Cuộc sống không thể thiếu tiếng cời, cũng
nh cây xanh không thể thiếu ánh sáng mặt trời Tiếng cời trong ca dao tràophúng làm cho con ngời xích lại gần nhau hơn, nhìn rõ nhau hơn và giúp nhauhoàn thiện hơn về mặt nhân bản Cái cời ấy đã hớng vào những nhợc điểmthuộc về bản chất của con ngời, những sai phạm vợt qua khuôn khổ gia đình,
Trang 31làm ảnh hởng tới cộng đồng xã hội Đó là những nết ăn, nết ở trái với quy luậtthông thờng đợc phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía của quần chúng lao độngbao gồm: đàn ông, đàn bà, nam thanh nữ tú, già trẻ, gái trai.
2.2.1 Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm phê phán về những thói
h tật xấu của con ngời
2.2.1.1 Những thói h tật xấu thờng thấy ở nam giới
Trong chế độ phong kiến phụ quyền xa, ngời đàn ông có vị trí vô cùngquan trọng Họ là trụ cột chính trong mỗi gia đình, nhng không phải vì vậy mà
họ không có những sai phạm cần phải sửa đổi
Tính cách bạc nhợc, hèn nhát thiếu bản lĩnh là một trong những thói xấu
mà đàn ông không nên có Có 15 bài ca dao phê phán thói xấu này của đàn
ông, lẽ ra phải là trụ cột gia đình, là chỗ dựa của vợ con, nhng họ lại đi ngợc
với quy luật thông thờng và hèn yếu đến mức: "Khom lng chống gối gánh hai
hạt vừng" hoặc "vác đũa săn mèo khắp mâm" Thậm chí có kẻ còn:
Làm trai rửa bát quét nhà
Vợ gọi thì dạ, bẩm bà tôi đây.
Làm ngời đàn ông, lẽ ra phải đánh Đông dẹp Bắc nhng họ chỉ làm đợcnhững việc vặt và điều đáng cời hơn cả là cách xng hô của anh ta đối với vợ.Mâu thuẫn là ở chỗ đó, cách xng hô, công việc và vị trí ngời chồng trong gia
đình đi trái với quy luật thông thờng của cuộc sống và đó chính là cơ sở để cáicời bật ra Đàn ông nhẽ ra phải là ngời anh hùng, xông pha trận mạc, làmnhững việc lớn cho gia đình và ngoài xã hội, nhng có một số kẻ chỉ ru rú ở
nhà, chẳng có đợc tài cán, tích sự gì, vả lại còn: "ăn vụng cơm con" và "nài vét
niêu", những kẻ đó thật vô cùng đáng trách.
Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.
Không chỉ cời những gã đàn ông hèn nhát, bạc nhợc, ca dao còn cời vào
những kẻ mê gái, đó là những gã đàn ông luôn quan niệm "vợ ngời thì đẹp,
văn mình thì hay" Có khi thói xấu ấy còn đợc thể hiện ở cách nói quá lên:
Đàn ông một trăm lá gan Lá ở với vợ, lá toan cùng ngời.
Đó chính là những kẻ "có vợ con rồi" mà vẫn "còn muốn hoa hồi cầm
tay", họ tham lam đến mức "có bao nhiêu vợ cũng cha đợc bằng lòng" ngời
Trang 32đàn ông mê cái đẹp, thích chiếm lĩnh cái đẹp Điều đó không nằm trong sựphê phán của lễ giáo phong kiến, nhng xét ở phơng diện đạo đức xã hội, chínhquan niệm này đã là nguyên nhân dẫn tới đau khổ của bao ngời phụ nữ:
Sông bao nhiêu nớc cho vừa Trai bao nhiêu vợ vẫn cha bằng lòng.
Trong nội bộ nhân dân, ca dao trào phúng thờng chế giễu những thóixấu, không hợp với bản chất của ngời lao động, ca dao trào phúng có nhiềukhả năng xây dựng nhân vật hơn là các loại dân ca trữ tình khác Trong ca daotrào phúng, những tính cách đáng cời đợc biểu hiện qua những tâm trạng, lờinói, hành động, cử chỉ để có thể hình thành nên những nhân vật tiêu biểu chomột tầng lớp nào đó Những thói h tật xấu, những con ngời xấu thờng gặp thấy
ở các tầng lớp khác nhau trong nhân dân lao động, những thói xấu, những conngời xấu ấy, nhân dân gặp đâu thì chế giễu, đã kích đấy Đối tợng bị cời có
khi là một anh lời Có 22 bài ca dao cời phê phán loại đàn ông siêng ăn nhác
làm, đáng chê trách:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Hễ giục tiếng chèo, bế bụng đi xem.
Cần cù nhẫn nại, chịu thơng chịu khó đã trở thành đức tính quý báu củangời Việt, chính vì vậy họ rất ghét những kẻ lời nhác và họ dùng tiếng cời đểmong gột rửa nó đi: ngời nông dân đã mợn hình ảnh con cò, để miêu tả những
kẻ lời biếng và lắm thói h tật xấu Hắn nghiện rợu (hay tửu hay tăm), nghiện
chè (hay nớc chè đặc), thờng ngủ muộn, thích nằm dài mong nhiều "ngày
m-a"; ớc đêm kéo dài (thừa trống canh) để không phải ra đồng cày ruộng Tác
giả dân gian đã sử dụng điệp từ "hay" nhắc lại bốn lần, "ngày" hai lần, "ớc"
hai lần gợi một cảm giác kéo dài, quanh quẩn rất bức bối, khó chịu Đồngthời, lối chơi chữ, nói ngợc (hay tỉu, hay tăm, hay nớc chè đặc ) bên ngoài có
vẻ nh khen ông chú tài giỏi, nhng thực ra là để giễu cợt chê trách Lời nhẹnhàng, đùa vui hóm hỉnh nhng ý nghĩa phê phán khá sâu cay:
Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng ? Chú tôi hay tỉu hay tăm Hay nớc chè đặc hay nằm ngủ tra Ngày thì ớc những ngày ma
Trang 33ấy có thể vì sức yếu không làm đợc nhiều chăng, nên khoẻ mà không chịu làmmới rõ, khoẻ lại chỉ khoẻ ở ăn chứ không khoẻ ở làm thì quả thật là lời, khôngcòn chối cãi đợc:
Ăn nh thuyền chở mã
Làm nh ả chơi trăng.
Thuyền chở mã trông thì cồng kềnh nhng nhẹ nh không, đi đánh vèo cái
là qua sông; cũng nh anh chàng ăn khoẻ, ăn đánh vào một cái là hết nồi cơm
Còn "làm nh ả chơi trăng" thì rõ là nhởn nhơ, lời biếng thiếu nhiệt tình và vô
Ta cho tí lửa hết cơn anh hùng.
Rõ ràng: chẳng có ác ý, châm chọc hay đụng chạm ai cả, nhng có những
kẻ nói khoác to mồm nhng thực tế lại nhát gan nh cáy thì ca dao không tiếctiếng cời Cái cời loại này đã làm cho nhiều gã đàn ông phải hỗ thẹn vì nó hiểu
rõ bộ mặt thật của những kẻ thích khoa trơng cho cái nhân cách không lấy gìlàm sang trọng của chính mình Đây cũng là một trong những bức chân dungấy:
Ra đờng võng giá nghêng ngang
Về nhà hỏi vợ: Cám rang đâu mày ?
- Cám rang tôi để cối xay
- Hễ chó ăn mất thì mày với ông !.
Trang 34Thật lố bịch khi ta chứng kiến cảnh: một anh chàng khoác lác định "ra
tay cầm lửa đốt trời", nhng kết cục lại mỉa mai thay bởi lẽ chẳng may gió cả
"lửa rơi xuống đầu" Có tới 35 bài ca dao về đề tài này, chiếm 3,02% ca dao
trào phúng Chứng tỏ thói khoe mẽ, khoác lác đã trở thành đối tợng phê bìnhkhá gay gắt trong nhân dân:
Nói thì đâm năm chém mời
Đến khi tối trời chẳng dám ra sân.
Cũng nh tiếng cời hớng vào những kẻ vong ân bội nghĩa, tiếng cời những
ngời đàn ông rợu chè, cờ bạc đã tạo cho ca dao một thành công nổi bật so với
truyện cời Xuất hiện trong 15 bài ca dao, chiếm 1,21% tuy cha phải là nhiềunhng dù sao cái cời phê phán này cũng án ngữ một vị trí quan trọng mà truyệncời cha quan tâm lắm Những thói h tật xấu này gây ảnh hởng nghiêm trọng
đến cộng đồng, đến đạo đức xã hội Họ là những kẻ sống vô trách nhiệm, chỉbiết cờ bạc rợu chè say sa, bỏ mặc vợ con:
Còn trời, còn nớc, còn non Còn cô bán rợu anh còn say sa.
Những kẻ cờ bạc ấy đã đánh "hết khăn hết áo dây lng cùng quần", đánh
đến sạt nghiệp trắng tay "áo quần bán hết một manh chẳng còn" Chính vì vậy,các nhà hài hớc dân gian đã đi đến khẳng định:
Cờ bạc là bác thằng bần
áo quần bán hết ngồi trần tô hô.
Cái cời trong ca dao đã hớng vào những kẻ cờ bạc, thuốc phiện làmkhuynh gia bại sản vợ lìa con bỏ, tan cửa nát nhà và thổi ra khỏi đời sống xãhội những luồng khí độc
2.2.1.2 Những thói h tật xấu thờng thấy ở phụ nữ:
Ca dao Việt Nam không chỉ cời chê những thói xấu của phái mày râu màcòn hớng tiếng cời vào những thói h tật xấu thờng thấy ở phụ nữ, xã hội phongkiến thờng vẫn khắt khe với ngời phụ nữ
Trai quân tử năm thê bảy thiếp Gái chính chuyên chỉ có một chồng.
Trang 35Vì thế mà dẫn tới tình trạng đàn ông già lấy vợ trẻ thì không sao nhng bà
già mà còn thích chơi trống bỏi đã tạo nên sự xôn xao, thách thức trớc d luận
xã hội Đây cũng là đề tài không tìm thấy trong truyện cời mà ngợc lại, nó đợcnhắc tới 10 lần trong ca dao Phải chăng ca dao trào phúng ngời Việt đã tạonên mầm mống manh nha cho tiếng nói đấu tranh đòi tự do bình đẳng trongtình yêu, hôn nhân của ngời phụ nữ tự ngàn xa ?
Họ dùng ca dao để phê phán, chế giễu những ông già, bà già vẫn cònthích chơi trống bỏi:
Bà già tuổi tám mơi t Ngồi trong cửa sổ viết th kén chồng.
Những ràng buộc của lễ giáo phong kiến đã làm cho quần chúng nhândân coi đó là hiện tợng đáng chê trách Ca dao đã lên tiếng cời chê những phụ
nữ già rồi mà vẫn còn thích của lạ, thích "cau non trái mùa":
Già này ớc những của chua Cau non trái mùa già vẫn muốn ăn.
Ta vẫn biết: đó là những hiện tợng trái khoáy, đi ngợc với quan niệmthông thờng trong xã hội phong kiến, nhng những bài ca dao đó vẫn lôi cuốnmọi ngời bởi quan niệm sống tự do, ở sự hồn nhiên bộc trực, không hề biếtche dấu lòng mình, tuy có hơi thái quá một chút Những ngời phụ nữ ấy khôngcam chịu cuộc đời goá bụa đơn côi và khao khát một tình yêu lứa đôi, mặc dùtuổi đời không còn trẻ Chính vì thế mà họ bị coi nh những kẻ đam mê với ảotởng tình yêu không phù hợp, bị coi nh có những hành động trái đạo lý, đángcời, đáng chê trách
Có khi ngời ta bật cời bởi cái vẻ "hồn nhiên" của chính đối tợng gây cời
Rập rình nớc chảy qua đèo
Bà già tấp tểnh mua heo cới chồng Chồng về, chồng bỏ, chồng đi
Bà già ứ hự, còn gì con heo !
Không chỉ có thế, ca dao trào phúng còn cời vào những phụ nữ lẳng lơ
thiếu đứng đắn Quan niệm theo lễ giáo phong kiến "nam nữ thụ thụ bất
thân", vì thế mà hành động lẳng lơ của ngời phụ nữ là điều khó chấp nhận.
Trang 36Xuất hiện trong 75 bài, với 6,1% tiếng cời những phụ nữ lẳng lơ đã chiếm vịtrí thứ 2 trong ca dao trào phúng Đây là điểm khác nhau khá rõ giữa ca daotrào phúng và truyện cời Bởi nếu trong truyện cời không tìm thấy truyện nàocời vào ngời phụ nữ lẳng lơ đa tình thì ở ca dao có thể tìm thấy rất nhiều Họcời những ngời đàn bà:
Tởng rằng khăn trắng có tang
Ai ngờ khăn trắng ra đàng ve trai.
Tác giả dân gian còn cời chê những kẻ sống buông thả, lả lơi:
Lẳng lơ chết cũng thành ma Chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng.
Hoặc:
Ước gì dải yếm em dài
Để em buộc lấy những hai anh chàng.
Ca dao trào phúng phê phán những kẻ không chồng mà bỗng "phìnhphình lớn giữa lớn ra" những kẻ "chính chuyên lấy đợc chín chồng" mà vẫncòn ra vẻ "đóng cửa làm cao cha chồng" bởi lẽ:
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm Còn nh yêu vụng dấu thầm Họp chợ trên bụng đến trăm con ngời.
Có lẽ không có gì đáng trách hơn và cũng không có gì nực cời hơn khichứng kiến cảnh:
Quét nhà long mốt, long hai Chân đi trong ngõ, liếc trai ngoài đờng.
Còn đâu bóng dáng ngời phụ nữ theo đạo "tam tòng" thời phong kiến ?
còn đâu sự thủy chung của ngời vợ hiền mà đạo lý truyền thống ngời Việt vẫnngợi ca Chính vì hình ảnh ngời phụ nữ thuỷ chung đúng mực đã ăn sâu vàotiềm thức quần chúng nh vậy, nên khi bắt gặp những bài ca dao trên, cái cờicàng rộ lên hơn bao giờ hết và giá trị phê bình vì thế càng lớn hơn Ca dao tràophúng đã không ngớt tiếng cời chê những cô gái lẳng lơ một cách quá đáng:
Vai mang bức tợng thờ chồng
Trang 37Thấy trai nhan sắc, nớc mắt hồng tuôn rơi.
Đó là những nét tính cách đi ngợc đạo lý, đức hạnh của ngời phụ nữ trongmọi thời đại Quan điểm này cho đến tận bây giờ, dù cơ tầng xã hội đã đổithay thì ngời phụ nữ lẳng lơ đa tình vẫn bị lên án chỉ trích và phê phán rất kịchliệt:
Của chua nhịn mãi cũng thèm
Em cho chị mợn chồng em vài ngày.
Trong ca dao trào phúng vẫn xuất hiện hình ảnh những cô gái lăng loànbất chính dù không phê phán một cách cay nghiệt trực tiếp, nhng dân gian đãnói bằng một giọng mỉa mai sâu sắc về bản chất không mấy tốt đẹp của họ:
Chính chuyên lấy đợc chín chồng
Ba chồng thành lạng, ba chồng thành cao
Ba chồng ở ngọn sông Đào Trở về đóng cửa làm cao cha chồng.
Ca dao trào phúng còn cời vào những phụ nữ kén chọn chồng một cách
quá đáng Cái cời loại này có trong 32 bài ca dao, chiếm 2,65% và đã trở
thành một hiện tợng khá tiêu biểu trong ca dao trào phúng Ngời ta bảo: "Già
kén kẹn hom" lúc còn trẻ thì kiêu kì, đòi hỏi, cao siêu này nọ để đến khi tuổi
xuân của mình không còn nữa thì đành liều "nhắm mắt đa chân":
Còn duyên làm cách làm kiêu Hết duyên bí thối bầu thiu ai thèm.
Trong quan niệm của nhân dân ta từ xa đến nay "con gái chỉ có thời" Vìthế việc kén chọn quá đáng cũng đợc coi nh một hiện tợng đáng chê trách và
ca dao trào phúng đã thay quần chúng nhân dân nói lên điều đó Những ngờiphụ nữ quá kén chọn cuối cùng sẽ rút ra cho mình một bài học cay đắng:
Chợ đông con cá hồng em chê lạt Buổi chợ tan rồi con tép bạc em khen ngon.
Có rất nhiều phụ nữ khi còn trẻ thì làm kiêu làm kỳ, làm bộ làm tịch Cho
đến khi sắc đẹp phai tàn, tuổi xuân trôi đi bao giờ không biết Lúc ấy mới
"nhắm mắt đa chân" vơ vội một ngời mà mình không yêu về làm chồng và
điều đó đã bị ca dao lên án khá gay gắt:
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
Trang 38Bên cạnh những thói h tật xấu khác, ca dao trào phúng đã thể hiện khá rõ
vẽ chanh chua đanh đá của phụ nữ ở đây, ta hầu nh không tìm thấy bóng
dáng uỷ mị yếu ớt của ngời phụ nữ cần cù, nhẫn nại yêu chồng thơng con nhtrong ca dao trữ tình Mà hình ảnh ngời phụ nữ trong ca dao trào phúng có vẻ -
ơng bớng, ngang tàng đôi khi rất đanh đá trong đối nhân xử thế
Nếu nh trong ca dao trữ tình chúng ta thấy xuất hiện tơng đối đậm néthình ảnh ngời phụ nữ Việt Nam cần cù, nhẫn nại, yêu chồng thơng con.Những ngời vợ, ngời mẹ, ngời yêu ấy có một đời sống tình cảm rất đỗi sâu sắcgắn bó, thậm chí nhiều khi đến mức hạ mình van xin:
Chàng ơi bỏ thiếp làm chi Thiếp nh cơm nguội đỡ khi đói lòng.
Còn trong ca dao trào phúng thì khác hẳn Những ngời phụ nữ đã cời vàothế giới đàn ông - những kẻ vẫn cho mình cái quyền làm chủ đối với phụ nữ
Họ nhạo báng, ngạo mạn với một thái độ đầy thách thức và đáo để chanhchua
Đôi lúc ngời phụ nữ cũng thể hiện cái "quyền sở hữu" trớc vị hôn phu của
mình Điều đó thật đáng quý, nhất là trong xã hội "trai quân tử năm thê bảythiếp":
Ta rằng ta chẳng có ghen Chồng ta ta giữ, ta nghiến, ta nghiền ta chơi.
Ngời phụ nữ không chỉ chanh chua, đanh đá trong đối nhân xử thế, trong
c xử với ngời khác giới, mà ngay cả trong quan hệ giữa những ngời cùng giớivới nhau đôi khi họ cũng tỏ ra đáo để, dữ dằn:
Măng non nấu với gà đồng Chơi cho một trận xem chồng về ai Chồng về chị cả hay về chị hai ? Chơi cho trận nữa về ai thì về.
Khi ngời phụ nữ cha lấy đợc chồng thì họ thẳng thừng tuyên bố:
Chồng con là cái nợ nần Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.
Chanh chua đanh đá là thói xấu khá nổi bật của ngời phụ nữ và cũngchính vì thế mà ca dao trào phúng lên án nó rất nhiều Với 95 bài, cái cời hớngvào những phụ nữ đanh đá thực sự chiếm vị trí hàng đầu trong ca dao trào
Trang 39phúng (7,7%) Điều đó chứng tỏ: Trong quan niệm của các tác giả dân gian,thói chua ngoa đanh đá là điều không thể chấp nhận so với bản chất dịu dàngthuỳ mị đã trở nên nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Mối quan hệ mẹ chồng, nàng dâu cũng đợc đa vào ca dao trào phúng.
Với những câu chuyện h cấu bịa đặt ra tởng rằng mua vui, giải trí nhng thực ra
trong giải trí có sự phê phán kín đáo sâu sắc Đó là một sự "bịa đặt" thiên tài
với cấu tứ và dựng chuyện rất tài tình không phải ai cũng làm đợc:
Bắt chấy cho mẹ chồng Thấy bồ nông dới biển
Ta thấy rằng: Trong thời phong kiến, giữa cha mẹ chồng và nàng dâu ờng có những mâu thuẫn sâu sắc Trong thực tế cuộc sống không thiếu những
th-bà mẹ chồng tốt bụng, phúc hậu và những cô dâu hiếu thảo Nhng cũng cókhông ít các mối quan hệ để đến nỗi dân gian phải thốt lên:
Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.
Ngời phụ nữ thời xa phải luôn tất bật lo toan cuộc sống, môi trờng giao
tiếp lại bó hẹp trong làng xã, điều đó dễ nảy sinh thói luộm thuộm cẩu thả
trong nếp ăn, nếp ở, trong quần áo, trang phục Ca dao trào phúng đã khôngngớt tiếng cời chê những phụ nữ cha có chồng thì đậy đậy, che che, nhng khi
đã có chồng rồi thì sự "xuống dốc đến là thảm hại”, họ phó mặc tất cả:
Quần áo thì rách tả tơi Lấy rơm mà túm, mỗi nơi mỗi đùm.
Sự tăng dần cấp số cộng ở những đứa con là sự tăng tiến cấp số nhân vẻluộm thuộm, bệ rạc của ngời mẹ:
Ba con cổ ngẳng răng vàng Bốn con quần áo đi ngang khét mù
Năm con tóc rối tổ cu Sáu con yếm trụt, váy dù vặn ngang.
Trang 40Có lẽ không còn lời nào thực tế mà cũng xót xa hơn ! Đấy là cái cời cảnhtỉnh cho những phụ nữ có chồng cần phải nhìn lại mình mà thay đổi cách ănmặc.
Đây cũng là nét đặc sắc của ca dao, vì trong truyện cời rất khó có thể tìmthấy bóng dáng của tiếng cời này, trong khi ca dao xuất hiện tới 9 lần, chiếm0,7% Rõ ràng sự tồn tại của ca dao trào phúng là sự bổ sung đắc lực chotruyện cời trong tiếng cời phê bình giáo dục
2.2.1.3 Những thói h tật xấu thờng thấy ở cả phụ nữ và nam giới
Ca dao trào phúng cũng không ngớt tiếng cời chê những kẻ tham ăn và
hay ăn quà cái cời lúc này hớng vào những kẻ "ăn vụng trong bếp ăn ra",
những kẻ "vót đũa cho dài ăn vụng cơm con" Không chỉ đàn ông, mà cả phụ nữ cũng bị cời chê "Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con", những kẻ ăn quà ở mọi
lúc mọi nơi không kể gì đến văn minh lịch sự cả:
Bùn lê từ chóp đến chân
Em ngồi vắt vẻo ngoài sân ăn quà.
ở một bài ca dao khác chúng ta bắt gặp sự "hoà đồng" giữa một cặp "vợ
chồng nhà tham" mà giữa họ khó có thể nói: ai tham ăn hơn ai:
Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ, lại nài cậy niêu Con vợ nó cũng biết điều Thắt lng con cón cậy niêu với chồng.
Trong ca dao trữ tình ta thờng bắt gặp hình ảnh ngời phụ nữ chịu thơng,chịu khó yêu chồng, thơng con, nhịn ăn nhịn mặc cho chồng con, thật đángkhâm phục Còn trong ca dao trào phúng thì hoàn toàn ngợc lại, có những phụnữ cứ nói rằng: mua quà cho chồng nhng thực ra anh chồng có đợc miếng nào