1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trình bày quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và đưa ra nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 56 BLHS năm 2015

12 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người khi người đó đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Trong thực tiễn không ít các trường hợp về hình thức có dấu hiệu của tội phạm nhưng trong hành vi có một số tình tiết nhất định làm mất tính chất nguy hiểm nên không bị coi là tội phạm. Trong đó có phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 22 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, đến nay phòng vệ chính đáng vẫn chưa được hiểu rõ ràng và thống nhất, từ đó làm cho việc hiểu và áp dụng chế định trong thực tiễn còn có những hạn chế và chưa phát huy hết ý nghĩa của nó. Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề bài số 2 “Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm rõ điều kiện về nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng theo quy định của BLHS năm 2015” làm luận văn của mình nhằm muốn đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống để có cái nhìn thực tế hơn về chế định này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Pháp luật là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, thực tế tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng và thậm chí một người thực hiện hai hành vi phạm tội Theo nguyên tắc, các hành vi phạm tội phải được đưa ra xét xử kịp thời, đúng quy định pháp luật Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy một người đang chấp hành một bản

án vẫn có thể bị phát hiện hành vi phạm tội mà họ thực hiện trước hoặc tội mới

Chính vì vậy để tìm hiểu sâu về vấn đề này em xin lựa chọn đề bài 3“Trình bày

quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và đưa ra nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều

56 BLHS năm 2015” Để cùng phân tích, đưa ra đánh giá nhận xét và hiểu biết của

bản thân cho bài Tiểu luận

NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

1 Khái niệm tổng hợp hình phạt.

Theo quy định của BLHS Việt Nam, khi xét xử người phạm nhiều tội, Tòa

án không quyết định ngay một hình phạt chung mà phải xét xử và quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp thành hình phạt chung

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hệ thống hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự ở nước ta gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật hình sự nào quy định về khái niệm tổng hợp hình phạt Trong khoa học luật hình sự, đã có một số tác giả nêu quan điểm về

khái niệm tổng hợp hình phạt: “Tổng hợp hình phạt là trường hợp Tòa án cộng

các hình phạt mà người phạm tội bị kết án thành một hình phạt chung buộc người phạm tội phải chấp hành” Quan điểm khác lại cho rằng, tổng hợp hình phạt là

“Xác định hình phạt chung cho người bị tuyên nhiều hình phạt”

Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, tổng hợp hình phạt có những tính chất, đặc điểm sau:

- Việc tổng hợp hình phạt chỉ được thực hiện trong trường hợp một người đã

bị Tòa án tuyên nhiều hình phạt

Trang 2

- Việc tổng hợp hình phạt do HĐXX hoặc Chánh án Tòa án thực hiện.

- Việc tổng hợp hình phạt phải căn cứ vào quy định của pháp luật về tổng hợp hình phạt, trên cơ sở loại và mức hình phạt Tòa án đã tuyên đối với từng tội, phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước (trường hợp người đang phải chấp hành hình phạt của một bản án mà lại phạm tội mới)

2 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Về bản chất, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án cũng là một dạng của quyết định hình phạt trong trường hợp đặc biệt và căn nguyên của nó cũng là do người bị kết án đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội và được xét xử ở những thời điểm khác nhau, hình phạt tuyên ở nhiều bản án Do đó, về nguyên tắc và cách thức thực hiện có phần khác so với tổng hợp hình phạt của nhiều tội vì tổng hợp hình phạt của bản án thường có khoảng cách về thời gian hoặc ở nhiều địa phương khác nhau, giữa các bản án đã có hiệu lực pháp luật chưa chấp hành hoặc đang chấp hành Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 BLHS

1 Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

2 Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này

3 Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa

án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này

II Nhận xét về hai trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015

Trang 3

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là trường hợp một người bị kết án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa chấp hành hoặc chấp hành chưa xong thì lại bị xét xử về một tội khác Do đó khi quyết định hình phạt về tội phạm đang bị xét xử, Tòa án phải tổng hợp với hình phạt của bản án trước chưa thi hành hoặc thi hành chưa xong, sau đó buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt chung cho các bản án

1 Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét

xử về tội đã phạm trước khi có bản án này (khoản 1 Điều 56 BLHS năm 2015)

Trong trường hợp một người đang phải chấp hành (chưa chấp hành hoặc chấp hành chưa xong) một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản

án này, thì Tòa án quyết định hình phạt chung Thời gian đã chấp hành của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

Thực tế thì có thể một người thực hiện hai hành vi phạm tội Hành vi phạm tội lần đầu có thể bị xét xử sau hành vi phạm tội thứ hai hoặc ngược lại Vì vậy, quy định tại Khoản 1 Điều 56 BLHS năm 2015 có thể hiểu là khi một người bị xét

xử về một hành vi phạm tội bằng một bản án, sau đó lại bị xét xử về một tội khác

và hành vi tội đã phạm trước khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì tòa quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử Sau đó, tổng hợp với hình phạt của bản án trước đã có hiệu lực pháp luật Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước sẽ được trừ vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp hình phạt Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của hội đồng xét xử đang xét xử vụ án

Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về thời điểm được coi là “đang phải chấp hành một bản án” Cách hiểu thứ nhất là thời điểm người đó thực tế đã và đang chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật Cách hiểu thứ hai là chỉ cần khi bản án có hiệu lực pháp luật

Ví dụ: Ngày 03/01/2019, Nguyễn Văn B bị tòa án huyện X tuyên phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản Ngày 04/02/2019 là ngày bản án có hiệu lực pháp luật Theo cách hiểu thứ nhất là khi chánh án tòa án huyện X ra quyết định thi hành

án phạt tù đối với B (tức là trong thời hạn 07 ngày sau đó, từ ngày bản án có hiệu lực) thì mới coi B là đang chấp hành một bản án Theo cách hiểu thứ hai, kể từ ngày 04/02/2019 thì bản án đã có hiệu lực pháp luật nên B phải chấp hành bản án

Trang 4

Vì vậy, đã coi B là đang chấp hành một bản án, còn việc chánh án tòa án huyện X

ra quyết định thi hành án phạt tù đối với B chỉ là thủ tục để bắt B đi chấp hành án phạt tù theo quy định pháp luật

Ví dụ: Ngày 20/9/2014, TAND tỉnh H phạt Phạm Quang K 10 năm tù về tội

“nhận hối lộ”, thời hạn tù tính từ 1/8/2014, bản án này không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù của bản

án ngày 20/9/2014, thì phát hiện ngày 13/7/2014, K còn phạm tội “cưỡng dâm” và

bị truy tố Ngày 1/11/2014, Tòa án tỉnh H xử Phạm Quang K về tội “cưỡng dâm”

và tuyên 05 năm tù Tòa tổng hợp hình phạt 10 năm tù của bản án ngày 20/9/2014, buộc Phạm Quang K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 năm

tù, được trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án ngày 20/9/2014 là 3 tháng

Thực tiễn xét xử trong trường hợp này Tòa không trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước mà tính thời hạn tù của Phạm Quang K từ ngày 1/8/2014 Vì nếu trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước thì dễ bị nhầm khi vụ án được xét xử nhiều cấp, mỗi lần xét xử thời gian được trừ lại khác nhau nhưng tổng thời gian mà người bị kết án phải chấp hành lại không thay đổi Trong ví dụ này, nếu trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước, thì Tòa

án tỉnh H phải buộc K chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 năm tù, được trừ 3 tháng đã chấp hành, còn lại 14 năm 9 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 1/11/2014 Nếu vụ án có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm khi tổng hợp hình phạt phải trừ tiếp thời gian

đã chấp hành hình phạt của Phạm Quang K từ ngày 1/11/2014 đến ngày tuyên án phúc thẩm, nếu thời gian đã chấp hành hình phạt của K không liên tục mà bị ngắt quãng, thì việc tính thời hạn tù rất dễ bị nhầm lẫn

Vì sợ bị nhầm nên Tòa án thường tổng hợp hình phạt của các bản án và tính thời hạn chấp hành hình phạt từ khi bị bắt lần cuối cùng, nếu trước đó bị cáo có bị tạm giam thì trừ thời gian tạm giam Khi tổng hợp hình phạt Tòa án phải áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS

2 Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới (khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015).

Trang 5

Khác với trường hợp quy định tại khoản 1 việc tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 là khi một người đã bị kết án về một hành vi phạm tội và đang chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật mà sau đó người này tiếp tục có hành vi phạm tội khác Hậu quả pháp lý của trường hợp này cũng nặng hơn, người

bị kết án có thể chấp hành hình phạt đến 30 năm tù Rõ ràng trong Khoản 2 này người bị kết án gặp bất lợi hơn, chế tài hình sự đối với người thực hiện hành vi sau khi có bản án đang chấp hành phải chịu sự nghiêm khắc hơn so với hành vi phạm tội thực hiện trước khi có bản án đang chấp hành

Ví dụ 1: Ngày 03/01/2019, Nguyễn Văn B bị tòa án huyện X tuyên phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản Ngày 04/02/2019 là ngày bản án có hiệu lực pháp luật Ngày 05/02/2019, chánh án tòa án huyện X chưa ra quyết định thi hành án thì

B bị đưa ra xét xử về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác tại nhà tạm giữ công an huyện X Khi xét xử hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của B thì tòa

án huyện X tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 BLHS năm 2015

Việc tổng hợp sẽ được thực hiện như sau: Toà án quyết định hình phạt cho một hay các tội đang xét xử (trường hợp phạm nhiều tội mới), sau đó cộng hình phạt hay các hình phạt đã tuyên với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước Hình phạt chung không được vượt quá giới hạn được quy định tại Điều 55 BLHS Trong trường hợp này, nếu tính cả thời hạn hình phạt mà bị cáo đã chấp hành của bản án trước với hình phạt của bản án mới thì thời hạn hình phạt chung

mà bị cáo thực tế phải chấp hành có thể trên 30 năm tù

Ví dụ 2: A phạm tội giết người và đã bị Tòa án tuyên phạt 20 năm tù Chấp hành hình phạt được 6 năm A lại phạm tội cố ý gây thương tích và bị Tòa án tuyên phạt 15 năm tù Trong trường hợp này, hình phạt chung mà bị cáo A phải chấp hành là 30 năm nhưng thực tế A phải chấp hành 34 năm

Chúng ta thấy rằng, người đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới rõ ràng là bất lợi hơn người đang chấp hành hình phạt mà bị xét xử về tội đã thực hiện trước đó Tôi cho rằng đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới thể hiện tính nguy hiểm cao hơn trường hợp ở Khoản 1 vì đang chấp hành mà còn bất chấp pháp luật, phạm tội mới Nhưng nhìn chung, cả trường hợp ở Khoản 1 và 2 Điều 56 BLHS năm 2015 đều thể hiện tính nguy hiểm cao trong khi thực hiện tội phạm

Trang 6

3 Một số vướng mắc về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Khoản 1, 2 Điều 56 BLHS năm 2015.

Qua nghiên cứu quy định tại Điều 56 BLHS và thực tiễn công tác xét xử tại tòa án, việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có một số vướng mắc

Thứ nhất, thời điểm xác định một người đang chấp hành một bản án: Thời

điểm để xác định một người đang chấp hành một bản án được quy định tại khoản

1, 2 Điều 56 BLHS năm 2015 hiện nay còn có quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng một người đang chấp hành một bản án là khi người đó thực tế đã bắt đầu chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật tại trại giam hoặc đã có quyết định thi hành án của tòa án đang giam giữ tại các trại tạm giam, nhà tạm giữ Nhưng có quan điểm cho rằng một người đang chấp hành một bản án là khi bản án hình sự đó

có hiệu lực pháp luật, vì khi bản án có hiệu lực pháp luật đương nhiên người bị kết

án phải chấp hành bản án Việc xác định thời điểm một người đang chấp hành một bản án có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì tòa án chỉ được tổng hợp hình phạt theo khoản 1, 2 Điều 56 BLHS năm 2015 khi thỏa mãn điều kiện chung là người bị xét

xử phải là người đang chấp hành một bản án

Thứ hai, Cách tính thời gian đã chấp hành bản án trong trường người bị xét

xử là phạm nhân bị trích xuất để tạm giam: Khi tổng hợp hình phạt theo khoản 2 Điều 56 thì tòa án phải tính thời gian bị cáo đã chấp hành bản án trước được bao lâu, khi đó mới biết thời gian bị cáo chưa chấp hành bản án trước Khi phạm nhân phạm tội thì thường sẽ bị trích xuất để tạm giam phục vụ điều tra, truy tố, xét xử Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; người bị kết án tù mà bản án đã có hiệu lực, đã có quyết định thi hành án của tòa án, phạm nhân bị trích xuất đến cơ sở giam giữ khác để phục vụ việc điều tra, truy tố, xét xử thì thời hạn trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành án phạt

tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn khỏi nơi giam giữ trong thời gian được trích xuất

Thứ ba, thời gian bị cáo đã chấp hành bản án trước được tính như thế nào thì

có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất là phải tính thời gian liên tục từ khi bị cáo chấp hành bản án trước đến ngày tòa án xét xử

Trang 7

Quan điểm thứ hai là tính thành hai khoảng thời gian: một là từ lúc bị cáo bắt đầu chấp hành bản án trước đến ngày bị cáo bị trích xuất; hai là từ thời điểm bị cáo bị trích xuất để tạm giam đến ngày tòa án xét xử (thời gian này là thời gian tạm giam nên phải tính một tháng là 30 ngày) Tuy nhiên, qua nghiên cứu và thử tính thì thời gian theo hai cách tính là khác nhau

Ví dụ: Theo bản án của tòa án huyện X, bị cáo A phải chấp hành hình phạt

tù là 03 năm Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 01/02/2018 Ngày 01/02/2019, bị cáo A bị trích xuất để phục vụ điều tra Ngày 02/02/2019, A bị ra lệnh tạm giam là 60 ngày Ngày 14/3/2019, bị cáo A bị tòa án huyện Y xử phạt 01 năm tù Theo quan điểm thứ nhất, thời gian bị cáo đã chấp hành bản án trước là từ ngày 01/02/2018 đến ngày 14/3/2019 (tức là được 1 năm 1 tháng 13 ngày) Theo quan điểm thứ hai, thời gian bị cáo A đã chấp hành bản án trước được tính như sau: từ ngày 01/02/2018 đến hết ngày 01/02/2019 là 1 năm; từ ngày 02/02/2019 đến ngày 14/3/2019 là 41 ngày (tức 1 tháng 11 ngày), cho nên thời gian bị cáo A

đã chấp hành của bản án trước là 1 năm 1 tháng 11 ngày

Việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án về lý luận cũng như thực tiễn xét

xử không phải bao giờ cũng dễ dàng và không ít trường hợp sau khi đã tổng hợp mới phát hiện việc tổng hợp đó không đúng hoặc do tổng hợp chưa rõ ràng nên

không thi hành được Nghiên cứu Điều 56 BLHS năm 2015 thì thấy điều luật chỉ

dự liệu về quyết định hình phạt mà chưa quy định rõ về thẩm quyền tổng hợp hình phạt tù có thời hạn của nhiều bản án, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực tiễn

III Đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, các cơ quan có thẩm quyền xây dựng, ban hành pháp luật cần rà soát lại quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, qua đó có những bổ sung đối với BLHS hiện hành; ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể đối với các vấn đề liên quan

Thứ nhất: Việc tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều

56 BLHS năm 2015, cần quy định TAND cấp huyện, Tòa án quân sự Khu vực có thẩm quyền tổng hợp hình phạt đến 30 năm tù và có thẩm quyền tổng hợp với bản

án đã có hiệu lực của Tòa án cấp trên, miễn là không vượt quá 30 năm đối với tù

Trang 8

có thời hạn Trường hợp bản án trước bị cáo áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình thì TAND cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực phải báo cáo, đề nghị VKS, TAND cấp tỉnh và VKS, Tòa án quân sự cấp Quân khu rút hồ sơ lên để truy

tố, xét xử theo thẩm quyền

Thứ hai, Cần tiếp tục hoàn thiện Điều 56 theo hướng bổ sung thêm nội

dung: “Việc tổng hợp hình phạt đối với người bị tuyên phạt tử hình nhưng được chuyển xuống tù chung thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 BLHS”

Ba là, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm

phán, KSV là điều kiện quan trọng để đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động xét

xử và kiểm sát xét xử hình sự Trong số nguyên nhân dẫn đến các vi phạm, thiếu sót về tổng hợp hình phạt, không thể không kể đến những hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán, KSV tham gia phiên tòa, vì những hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự đúng đắn trong nhận thức và áp dụng pháp luật cũng như khả năng đánh giá, tổng hợp hình phạt của các bản án hình sự

Tổng hợp hình phạt tuy không phải là việc làm thường xuyên trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhưng việc thực hiện nó chính xác, đúng pháp luật lại có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng xét xử hình sự

Tóm lại, việc sửa đổi bổ sung BLHS và ban hành các văn bản hướng dẫn đối với quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là cần thiết, vì đây là nội dung quan trọng của hoạt động xét xử, là phán quyết của Tòa án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người bị kết án Tuy nhiên BLHS mới ban hành do đó Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này để bảo đảm

áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử

KẾT LUẬN

Khi Tòa án tiến hành tổng hợp các hình phạt tạo thành một hình phạt chung cho bị cáo thì hình phạt đó chính là sự đánh giá đầy đủ và toàn diện nhất của Nhà nước đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện Do vậy, tổng hợp hình phạt đúng sẽ đảm bảo cho các cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng

Trang 9

cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và những người có liên quan Đồng thời Pháp luật về tổng hợp hình phạt xue lý đúng người, đúng tội để răn đe, nghiêm khắc giúp phòng chống, đẩy lùi tội phạm, góp phần tạo nên một xã hội kỷ cương, kỷ luật, tạo môi trường ổn định, an ninh, an toàn, trật tự và lành mạnh phục vụ xây dựng, phát triển đất nước

Trên đây là bài Tiểu luận của em vì kiến thức còn hạn hẹn nên bài làm còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những nhận xét, góp ý từ thầy cô để hoàn thiện hơn về bài làm của mình

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Nxb CAND, Hà Nội, 2018

2 BLHS 2015.

3 Luật Thi hành án hình sự 2010.

4 Thông tư liên tịch 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày

30/5/2013

5 Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 13 tháng 7/2014

6 Bùi Thị Ánh, “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được thực hiện như thế nào?”, đăng trên tạp chí ngày 31/5/2021, Tư vấn luật hình sự

7 Ths Nguyễn Thị Hương, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, “Quy định về tổng hợp hình phạt và thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự, 01/07/2014

8 Ls Đinh Văn Quế, “Bàn về tổng hợp hình phạt”, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông năm 2020

9 Dương Đức Tùng, “Quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 1”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội 2016

10 Luật sư Nguyễn Văn Dương, “Cách tổng hợp hình phạt của nhiều bản án”, đăng tải ngày 20/03/2021 -Thẩm quyền tổng hợp hình phạt tù, vướng mắc

và kiến nghị hoàn thiện

Trang 10

11 Nguyễn Trí Khương – Ô Môn, “Bình luận khoa học pháp lý: Bàn về vấn đề trích xuất người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phục vụ công tác xét xử tại Tòa án”

PHỤ LỤC

Cách tính hình phạt khi có nhiều bản án.

- Nếu là tội đã phạm trước đó thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt cho tội này Sau đó, hình phạt chung sẽ được tính theo cách nêu ở bảng Lưu ý, thời hạn đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

1 Đều là cải tạo không giam giữ - Cộng tổng mức phạt

- Không quá 03 năm

2 Đều là tù có thời hạn - Cộng tổng mức phạt

- Không quá 30 năm

3 Hỗn hợp gồm cả cải tạo không giam giữ

và tù có thời hạn

- Cộng tổng mức phạt

- 03 ngày cải tạo không giam giữ = 01 ngày

tù có thời hạn

- Không quá 30 năm

4 Hình phạt nặng nhất là chung thân Tù chung thân

5 Hình phạt nặng nhất là tử hình Tử hình

- Nếu thực hiện hành vi phạm tội mới, Tóa án sẽ quyết định hình phạt với tội mới Sau đó sẽ tổng hợp với thời hạn chưa chấp hành hình phạt của bản án trước đó Sau cùng, Tòa án sẽ quyết định hình phạt chung theo cách tính của bảng đã nêu trên.

- Nếu các hình phạt của các bản án mà một người phải chấp hành chưa được tổng hợp thì Chánh

án Tòa án ra quyết định tổng hợp các hình phạt của các bản án như cách tính đã nêu ở bảng trên.

Ngày đăng: 08/12/2021, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w