Luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người khi người đó đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Trong thực tiễn không ít các trường hợp về hình thức có dấu hiệu của tội phạm nhưng trong hành vi có một số tình tiết nhất định làm mất tính chất nguy hiểm nên không bị coi là tội phạm. Trong đó có phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 22 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, đến nay phòng vệ chính đáng vẫn chưa được hiểu rõ ràng và thống nhất, từ đó làm cho việc hiểu và áp dụng chế định trong thực tiễn còn có những hạn chế và chưa phát huy hết ý nghĩa của nó. Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề bài số 2 “Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm rõ điều kiện về nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng theo quy định của BLHS năm 2015” làm luận văn của mình nhằm muốn đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống để có cái nhìn thực tế hơn về chế định này.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người khi người đó
đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Trong thực tiễn không ít các trường hợp về hình thức có dấu hiệu của tội phạm nhưng trong hành vi
có một số tình tiết nhất định làm mất tính chất nguy hiểm nên không bị coi là tội phạm Trong đó có phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 22 BLHS năm
2015 Tuy nhiên, đến nay phòng vệ chính đáng vẫn chưa được hiểu rõ ràng và thống nhất, từ đó làm cho việc hiểu và áp dụng chế định trong thực tiễn còn có những hạn chế và chưa phát huy hết ý nghĩa của nó
Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề bài số 2 “Phân tích, cho ví dụ minh họa
để làm rõ điều kiện về nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng theo quy định của BLHS năm 2015” làm luận văn của mình nhằm muốn đi sâu nghiên
cứu một cách có hệ thống để có cái nhìn thực tế hơn về chế định này
NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận về phòng vệ chính đáng theo quy định của BLHS 2015.
1 Khái niệm phòng vệ chính đáng.
Chế định phòng vệ chính đáng được xây dựng nhằm khuyến khích người dân chống hành vi xâm phạm khách thể bảo vệ, ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại mà hành vi đó có thể gây ra Hiện nay khái niệm phòng vệ chính đáng còn có nhiều ý kiến
Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam thì: Phòng là giữ gìn, vệ là che chở Phòng vệ là giữ gìn để tránh sự tấn công bất ngờ; chính là đúng, đáng là đích đáng Phòng vệ chính đáng có thể hiểu là có hành vi đúng và đích đáng để giữ gìn tránh sự tấn công bất ngờ
Theo từ điển Luật học thì phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả lại một cách cần thiết hành vi tấn công đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hay người khác
Trang 2Tại Điều 22 BLHS năm 2015 quy định về phòng vệ chính đáng, như sau:
“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức
mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”
2 Phân tích Điều 22 BLHS năm 2015.
Trước tiên cần làm rõ như thế nào là phòng vệ chính đáng theo định nghĩa tại Khoản 1 của Điều luật Ngay tên của Điều luật cũng đã cho chúng ta thấy rằng có 2 vấn đề lớn ở đây đó là Phòng vệ và Chính đáng Vì sao nhà làm luật không dùng từ
Tự vệ mà là Phòng vệ? Tự vệ có nghĩa là tự bản thân bảo vệ cho chính mình, tự vệ chỉ dùng trong trường hợp bản thân người đang có hành vi chống trả bị xâm phạm Trong trường hợp lợi ích của người khác bị xâm hại mà một cá nhân nào đó thực hiện hành vi chống trả thì hành vi này không còn được xem là tự vệ nữa mà nó đã chuyển sang phòng vệ (phòng ngừa và bảo vệ), nội hàm của hành vi phòng vệ rộng hơn tự vệ rất nhiều Quyền và lợi ích chính đáng đang bị xâm hại mà nhà làm luật khuyển khích bảo vệ vượt ra ngoài phạm vi của một cá nhân nào đó, nghĩa là pháp luật không chỉ khuyến khích tự bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình mà còn khuyến khích bảo vệ quyền và lợi ích của người khác Vậy nên dùng từ phòng vệ ở đây là chính xác và nội hàm đủ rộng để thể hiện tính mục đích của điều luật
Tiếp theo chúng ta cùng tìm hiểu như thế nào là chính đáng, điều luật không định nghĩa như thế nào là chính đáng mà chỉ mô tả như thế nào là phòng vệ chính đáng Tách câu chữ ra, chúng ta dễ dàng nhận thấy ý chí của nhà làm luật thông qua cách hành văn và có thể hiều chính đáng = cần thiết Tuy nhiên có một vấn đề phải lưu tâm đó là chính đáng và cần thiết đều là những yếu tố mang tính chất định tính,
nó phụ thuộc rất lớn vào ý chỉ chủ quan của người nhận diện và đánh giá tình huống Có thể theo người có hành vi chống trả thì cho rằng nó cần thiết nhưng người bị chống trả và cơ quan xét xử không cho là như vậy và ngược lại
Khoản 2 quy định thêm 2 yếu tố, tạm gọi là 2 căn cứ để góp phần “định lượng” được sự cần thiết đó là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
Trang 3của hành vi xâm hại Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì phần nào chúng ta có thể xác định được dựa vào phân loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) Việc này giúp cho việc định tính sự cần thiết trở nên giảm định tính hơn nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề Do vậy nhà làm luật đã rất cẩn trọng và quy định trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là “rõ ràng” vượt quá mức cần thiết Nghĩa là việc nhận thấy sự quá mức đó rất dễ nhận ra và tuyệt đại đa số đều thấy được điều đó
Thoáng nhìn chung ta sẽ cảm nhận rằng Khoản 1 và Khoản 2 bổ trợ cho nhau Tuy vậy phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy có một phần khá nhập nhằng ở 2 Khoản này
Khoản 1:…một cách cần thiết…
Khoản 2:…rõ ràng quá mức cần thiết…
Như vậy đối với trường hợp vượt quá mức cần thiết nhưng chưa đến mức rõ ràng (dễ dàng) nhận ra thì sẽ áp dụng Khoản 1 hay Khoản 2, bởi lẽ ranh giới giữa phạm tội trong lúc này là rất mong manh Và có ý kiến cho rằng trong trường hợp này chúng ta sẽ áp dụng Khoản 1 theo nguyên tắc có lợi hơn cho người phạm tội Nghĩa là cơ quan công tố buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh sự rõ ràng quá mức cần thiết này, nếu không chứng minh được thì bắt buộc phải hiểu người có hành vi chống trả đã chống trả một cách cần thiết
Một vấn đề nữa cũng cần phải chú ý đó là đối tượng chịu tác động phải là người đang có hành vi xâm phạm Đây không phải là sự cẩn thận quá thừa của nhà lập pháp khi ai cũng biết rằng chống trả thì đương nhiên là chống trả lại người đang thực hiện hành vi vi phạm Tuy nhiên trong thực tế hành vi chống trả này có thể ảnh hưởng đến nhiều người khi sử dụng công cụ, phương thức có phạm vi tác động rộng, hoặc có thể chống trả nhầm đối tượng
3 Bản chất phòng vệ chính đáng.
Phòng vệ chính đáng theo giáo trình luật hình sự Việt Nam là một trong những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Do đó, để hiểu được bản chất của phòng vệ chính đáng ta phải hiểu thế nào là tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Về nguyên tắc, Luật hình sự chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nào đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
Trang 4coi là tội phạm Trong thực tế có không ít các trường hợp về hình thức có các dấu hiệu của tội phạm, nhưng trong hành vi đó có một số tình tiết nhất định làm mất tính chất nguy hiểm cho xã hội vì thế hành vi ấy không bị coi là tội phạm Chúng cũng góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân và phản ánh sâu sắc chính sách hình sự của nước ta một chính sách hình sự hiện đại, tiến bộ, dân chủ và nhân đạo Vậy bản chất của phòng vệ chính đáng được hiểu như sau:
Thứ nhất, phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm Mặc dù phòng vệ
chính đáng có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng vì được pháp luật hình sự cho phép một người thực hiện khi có những hành vi khác xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ
Thứ hai, phòng vệ chính đáng được coi là quyền của mọi công dân chứ không
phải nghĩa vụ pháp lý
Thứ ba, chỉ được xem là phòng vệ chính đáng khi hành vi phòng vệ vẫn còn
trong giới hạn cho phép của pháp luật hình sự
II Điều kiện về nội dung và phạm vi của phòng vệ chính đáng Đưa ra ví dụ
để làm rõ.
Xét về bản chất, hành vi phòng vệ chính đáng là hành động nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự tấn công trái pháp luật, hạn chế những thiệt hại gây ra, lập lại sự quân bình xã hội Tuy nhiên, phòng vệ chính đáng không có nghĩa là tự ý xử lý trong mọi trường hợp mà cũng có những giới hạn nhất định, một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi có đầy đủ các điều kiện chứng minh sự phòng vệ là cần thiết và phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội
Để tránh những trường hợp lợi dụng việc phòng vệ chính đáng nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội, luật Hình sự quy định chặt chẽ các điều kiện của chế định phòng vệ chính đáng Về cơ sở phát sinh quyền Phòng vệ chính đáng: hành
vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể; hành vi xâm phạm phải là hành vi đang diễn ra, xâm hại đến các lợi ích cần bảo
vệ Xét về nội dung và phạm của phòng vệ chính đáng có các điều kiện sau:
Trang 51 Hành vi phòng vệ chính đáng nhằm bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức.
Đây là điều kiện rất quan trọng, đòi hỏi người phòng vệ phải có mục đích nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của
nhà nước, của cơ quan, tổ chức trước sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại của
hành vi xâm hại Hành vi của một người gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại nhưng không phải vì mục đích nhằm bảo vệ những lợi ích hợp pháp mà vì những mục đích khác (trả thù) thì trong trường hợp này, hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng
Ví dụ: A đánh B nhưng B chạy thoát và A không đuổi theo nữa, thấy vậy B quay lại cầm gạch ném vào đầu A, như vậy hành vi của B không được coi là phòng
vệ chính đáng
Hành vi được của B được coi là phòng vệ chính đáng trước hết là hành vi được thực hiện trong khi A xâm phạm đến mình và hành vi đó đã được bắt đầu lúc
A đánh B và kết thúc lúc khi B bỏ chạy và A không đuổi theo nữa Hành vi sau đó B ném gạch vào đầu A là mục đích trả thù chứ không phải phòng vệ
2 Hành vi phòng vệ phải nhằm vào chính người tấn công, người đang có hành vi nguy hiểm cho các quan hệ xã hội được bảo vệ.
Luật hình sự Việt Nam chỉ xem hành vi chống trả nhằm vào người đang có hành vi tấn công để ngăn chặn hành vi này mới xem là hợp pháp Thực tiễn có rất nhiều hành vi xâm hại đến người thân của người đang có hành vi tấn công để buộc người này chấm dứt việc thực hiện hành vi trái pháp luật, pháp luật không xem những hành vi như vậy là phòng vệ mà họ phải chịu trách nhiệm hình sự
Sự chống trả của người phòng vệ phải nhằm vào chính kẻ tấn công, vào chính người đang gây nguy hiểm vì có như vậy mới đạt được mục đích của phòng vệ chính đáng là ngăn chặn một cách tích cực sự tấn công, hạn chế sự thiệt hại do tấn công đe dọa gây ra Nếu một người, để tránh một thiệt hại gây ra cho mình bằng cách gây thiệt hại cho người khác thì không thể coi là phòng vệ chính đáng được vì
Trang 6trong phòng vệ chính đáng sự thiệt hại phải là gây ra cho người có hành vi xâm hại
để ngăn chặn hành vi xâm hại đó
Ví dụ: Thấy D đang bị bọn cướp tấn công bằng dao và không có khả năng chống trả, E đã rút súng nhằm vào bọn cướp mà bắn, tuy nhiên do trong bối cảnh hoản loạn, E đã bắn trúng một người qua đường gây tử vong tại chỗ Trường hợp này E đã không chống trả lại người đang xâm hại mà đã chống trả nhầm vào người khác do đó không thỏa mãn điều kiện phòng vệ chính đáng
Nếu trường hợp này E bắn trúng kẻ tấn công thì sẽ được coi là phòng vệ chính đáng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của D
3 Hành vi phòng vệ phải “cần thiết”.
“Cần thiết” không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại đe doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ Nó cũng không có nghĩa là bên xâm hại như thế nào thì người phòng vệ phải gây thiệt hại như thế đấy Sự chống trả trong phòng vệ chính đáng là nhằm vào hành vi tấn công, nhằm chấm dứt hành vi này để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức Việc xem xét một hành vi chống trả là cần thiết phải căn cứ vào tính chất của các lợi ích bị xâm phạm, tính chất của hành vi xâm phạm và các mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ
Lợi ích bị xâm phạm cần được bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải mạnh mẽ bấy nhiêu Ví dụ: Một cảnh vệ nổ súng bắn chết một người đã đột nhập vào khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt theo một chế độ đặc biệt, thì hành vi của người bảo vệ được coi là cần thiết và là phòng vệ chính đáng Vì vậy khi xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể trong mối quan hệ giữa lợi ích được bảo vệ và hành vi chống trả
Tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm càng nguy hiểm và nghiêm trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải quyết liệt bấy nhiêu Ví dụ: Một tên cướp dùng súng uy hiếp mọi người trên xe khách để đồng bọn của hắn lục soát lấy tài sản,
đã bị một cảnh sát bắn chết Hành vi của chiến sĩ cảnh sát này được coi là phòng vệ chính đáng nếu tên cướp bắt một người làm con tin, rồi dùng súng dí vào người này
Trang 7và không để cho hắn thoát thì sẽ bắn chết con tin, thì cảnh sát bắn tên cướp được coi
là cần thiết Nhưng nếu trong trường hợp mới thấy tên cướp dơ súng ra đe dọa mọi người để đưa tiền cho hắn mà đã vội bắn ngay tên cướp thì chưa được coi là phòng
vệ chính đáng
Khi đánh giá một hành vi chống trả có cần thiết hay không còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác như: mối tương quan lực lượng giữa bên xâm phạm và bên phòng vệ, thời gian, không gian xảy ra sự việc Ví dụ: Trong đêm tối, A bị một nhóm người đánh hội đồng, sau đó bỏ chạy nhưng vẫn bị đuổi theo, sẵn có con dao nhọn trong túi, A lấy ra giơ lên doạ: “thằng nào vào đây tao đâm chết!” Nhưng họ vẫn lao vào để đánh A, nên A liền dùng dao đâm một người bị thương phải nhập viện Nếu xét về phương tiện, A dùng dao còn những người tấn công chỉ dùng chân tay, nhưng nếu xét về mối tương quan lực lượng thì một bên chỉ có một mình A còn bên kia có nhiều người và đặc biệt xét trong hoàn cảnh cụ thể, trong đêm tối hành vi xâm phạm của những người này phải coi là nguy hiểm đến tính mạng sức khoẻ của
A, nên hành vi của A được coi là phòng vệ chính đáng
Tóm lại, khi đánh giá hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xem xét một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, trong đó đặc biệt là tâm lý, thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn chính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi sự chống trả rõ ràng là quá đáng
Phòng vệ chính đáng không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công trái pháp luật mà nó còn thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, của mình hoặc của người khác Phòng vệ chính đáng còn là quyền của con người chứ không chỉ là nghĩa vụ, nên không yêu cầu phương pháp, phương tiện của người phòng vệ phải như phương pháp, phương tiện mà người tấn công sử dụng
III Một số kiến nghị về chế định phòng vệ chính đáng.
Để thực hiện đúng những quy định của Điều 22 BLHS 2015 về phòng vệ chính đáng, cần có hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện Điều luật này Xây dựng và
Trang 8hoàn thiện hệ thống chính sách động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong việc phòng vệ tấn công tội phạm, bảo vệ cá nhân và gia đình những người tham gia công tác phòng, chống tội phạm Có như thế mới tạo được thế chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm
để từng bước kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, nhất là tội phạm do các băng nhóm thực hiện theo kiểu xã hội đen gây bức xúc dư luận quần chúng nhân dân
KẾT LUẬN
Dựa trên những quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật
về chế định phòng vệ chính đáng, em nhận thấy rằng: Chế định này đã xác định rõ ràng ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm, thể hiện được tính nhân đạo đồng thời thấy rằng lập pháp nước ta ngày càng phát triển bắt kịp với xu hướng pháp luật trên thế giới và sự chủ động của toàn xã hội trong việc xử lý người có hành vi trái pháp luật đáng kể
Trên đây là bài tiểu luận của em, vì kiến thức còn hạn chế nên bài làm có
nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những nhận xét, góp ý từ thầy cô để hoàn thiện hơn về bài của mình
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Ngọc Hòa (2016), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân
2 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
3 Chỉ thị 07/ TANDTC/TC hướng dẫn xét xử các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc thi hành công vụ
4 Thạc sỹ Đinh Văn Quế, “Một số vấn đề phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
5 Luật sư Phan Văn Quang (2019), Bình luận Điều 22 Bộ luật hình sự về phòng vệ chính đáng
6 Thuý Nga, VKSND thành phố Sóc Trăng, “Chế định phòng vệ chính đáng chưa phát huy hết tác dụng trên thực tế”
7 Luật sư Nguyễn Duy Hội - Trưởng chi nhánh Hà Nội của Công ty Luật TNHH Everest, “Khái niệm và điều kiện của phòng vệ chính đáng”
8 Duy Khánh –VKS huyện Vị Thuỷ (2020), “Lý luận và thực tiễn trong việc
áp dụng chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
9 Tăng Thị Thơm (2013), Phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học luật Tp Hồ Chí Minh
10 Hoàng Thị Tuệ Phương (2016), “Một số ý kiến về quy định về phòng vệ chính đáng theo Điều 22 Bộ luật hình sự 2015”, Khoa học Pháp lý
11 Dương Phan Thùy Dung (2017), “Phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình sự Việt Nam”, Luật văn thạc sĩ, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Trang 10PHỤ LỤC