Trên thị trường chứng khoán, thông tin đóng vai trò quan trọng giúp nhà đầu tư phân loại được hàng hóa trong bối cảnh hiện nay tồn tại nhiều mặt hàng tốt, mặt hàng xấu, mặt hàng đem lại lợi nhuận cao đến những mặt hàng nếu đầu tư sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Nếu thiếu thông tin thì nhà đầu tư sẽ không thể đưa ra quyết định đầu tư một cách đúng đắn. Bởi lẽ đó, pháp luật chứng khoán quy định nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đồng thời xây dựng nên môi trường chứng khoán minh bạch. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên con đường phát triển nên vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn. Do vậy, với mong muốn được nghiên cứu sâu sắc hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề bài số 10: “Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, từ đó đưa ra ý kiến của nhóm nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường chứng khoán” làm đề tài bài tập nhóm.
Trang 1Đề bài: Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin
trên thị trường chứng khoán Từ đó đưa ra ý kiến của nhóm nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường chứng khoán
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1
1 Khái niệm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 1
2 Đặc điểm công bố thông tin 2
II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN 3
1 Quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin 3
1.1 Đối tượng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 3
1.2 Phương tiện và hình thức công bố thông tin 5
1.3 Nguyên tắc công bố thông tin 6
1.4 Nội dung công bố thông tin 6
2 Một số thành tựu đạt được 7
3 Một số hạn chế còn tồn tại 9
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
PHỤ LỤC 18
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Trên thị trường chứng khoán, thông tin đóng vai trò quan trọng giúp nhà đầu
tư phân loại được hàng hóa trong bối cảnh hiện nay tồn tại nhiều mặt hàng tốt, mặthàng xấu, mặt hàng đem lại lợi nhuận cao đến những mặt hàng nếu đầu tư sẽ dẫnđến nguy cơ phá sản Nếu thiếu thông tin thì nhà đầu tư sẽ không thể đưa ra quyếtđịnh đầu tư một cách đúng đắn Bởi lẽ đó, pháp luật chứng khoán quy định nghĩa
vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán nhằm tạo điều kiện cho các nhàđầu tư đồng thời xây dựng nên môi trường chứng khoán minh bạch Tuy nhiên, thịtrường chứng khoán Việt Nam đang trên con đường phát triển nên vẫn ẩn chứanhiều rủi ro tiềm ẩn Do vậy, với mong muốn được nghiên cứu sâu sắc hơn về vấn
đề này, nhóm chúng em xin chọn đề bài số 10: “Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, từ đó đưa ra ý kiến của nhóm nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường chứng khoán” làm đề tài bài tập nhóm
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Công bố thông tin (CBTT) là hoạt động không thể thiếu nhằm cung cấp thôngtin đến những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán CBTT không chỉ có ý nghĩađối với nhà đầu tư mà còn có ý nghĩa đối với bản thân tổ chức phát hành và với cơquan quản lý nhà nước Để nhà đầu tư biết được tình hình sản xuất, kinh doanhbuộc chủ thể phát hành phải CBTT CBTT trên thị trường chứng khoán không chỉgiúp các công ty thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư đến chứng khoán của
Trang 4công ty mình mà còn giúp cho các cơ quan nhà nước quản lý được thị trườngchứng khoán.
Như vậy, có thể hiểu rằng: Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là hoạt động của các chủ thể luật định nhằm công khai các thông tin về tổ chức, tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của tổ chức phát hành theo quy định của pháp luật nhằm giúp công chúng đầu tư có được những thông tin cần thiết trên cơ sở đó, có thể ra những quyết định đầu tư đúng đắn.
2 Đặc điểm công bố thông tin
Thứ nhất, CBTT trên TTCK là hoạt động thường xuyên của công ty đại
chúng, tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng; tổ chức phát hànhthực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng; tổ chức niêm yết trái phiếudoanh nghiệp; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chinhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lýquỹ nước ngoài tại Việt Nam, văn phòng đại diện công ty chứng khoán và công tyquản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đại chúng,
Thứ hai, CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến hoạt động của tổ chức phát
hành và của thị trường Đây là yếu tố sống còn để thị trường hoạt động có hiệu quả
và phát huy được hiệu lực của hoạt động giám sát theo cơ chế thị trường đối vớicông ty
Thứ ba, CBTT gắn liền với thẩm quyền của các chủ thể nhất định Công ty là
một thực thể nhân tạo nên tự nó không thể thực hiện được các hoạt động mà phảithông qua người đại diện có thẩm quyền Người đại diện có thẩm quyền sẽ làngười thay mặt cho công ty công bố các thông tin Chỉ những thông tin của người
có thẩm quyền công bố mới được coi là nguồn thông tin chính thức của công ty và
Trang 5công ty chỉ phải chịu trách nhiệm về các thông tin do người có thẩm quyền củamình công bố.
II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN.
1 Quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin
Quy định pháp luật về công bố thông tin trong hoạt động chứng khoán được
pháp luật Việt Nam quy định tại Chương VIII CÔNG BỐ THÔNG TIN ( từ Điều
118 – Điều 128) Luật chứng khoán 2019 và được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư
96/2020/TT-BTC hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
1.1 Đối tượng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Các quy định pháp luật về CBTT trong hoạt động chứng khoán đã quy định
rõ ràng và chi tiết về các đối tượng phải CBTT Căn cứ quy định tại Điều 118 Luật chứng khoán 2019 và hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư 96/2020/TT-BTC Bao
gồm các đối tượng:
Công ty đại chúng được quy định tại Điều 32 Luật chứng khoán 2019 Ở thị
trường Việt Nam hiện nay, công ty đại chúng chiếm số lượng chủ yếu Luật Chứngkhoán hiện hành đã có sự quan tâm thích đáng đến công ty đại chúng một loại hìnhcông ty mà những biến động của nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của một sốlượng cổ đông lớn hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào mà nó còn có ảnh hưởngsâu sắc đến TTCK
Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán (ngoại trừ
trường hợp phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh) căn cứ quy định tại
Khoản 13 Điều 6 Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2010 Và cụ thể theo Thông
tư 96/2020/TT-BTC hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán do
Bộ Tài chính ban hành thì tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu sẽ phải
Trang 6công bố thông tin theo quy định Trong cơ cấu của “chợ chứng khoán” thì tổ chứcphát hành là người mang hàng hóa ra bán Có thể nói rằng hàng hóa trên thị trườngchứng khoán ở hàng hóa ảo, cũng như công ty đại chúng, sản phẩm mà tổ chứcphát hành sẽ cung cấp cho thị trường có tác động rất lớn đến sự phát triển trên thịtrường
Công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán là những chủ thể đặc biệt của TTCK, ba công ty này là những tổ chức thực hiện giao dịch trên cơ sở thì sản của khách hàng, mang lại lợi nhuận cho khách hàng Mặc
dù, các công ty này không cung cấp hàng hóa cho thị trường, nhưng chúng lại lànhững tổ chức trực tiếp, hoặc đưa ra quyết định thực hiện các giao dịch trên thịtrường, sử dụng tiền của nhà đầu tư để tham gia vào thị trường Khi nhà đầu tư mởtài khoản hay gặp vấn đề tại các tổ chức này, nhà đầu tư đã phải chấp nhận những
rà soát nhất định khi đưa tài sản của mình cho người khác quản lý và sử dụng Bêncạnh đó, công ty chứng khoán còn được phép hoạt động tự doanh Đây là nhữngnhà đầu tư chuyên nghiệp, có chiến lược đầu tư, thông tin trên thị trường luôn cónhiều hơn so với các đối tượng khác nên tổng hoạt động của các tổ chức này có thể
có những tác động rất lớn với thị trường chứng khoán Bằng những lý do đó màyêu cầu công bố thông tin đối với các chủ thể này là rất cần thiết
Sở giao dịch chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động theo mô
hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, có chức năng tổ chức vàgiám sát hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán
Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp
được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán năm 2019 vàLuật Doanh nghiệp năm 2020 do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặctổng số cổ phần có quyền biểu quyết Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoánViệt Nam có những chức năng chính đó là: tổ chức thực hiện đăng ký, lưu ký, bù
Trang 7trừ, thanh toán chứng khoán; giám sát hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanhtoán giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán theo quy định của phápluật chứng khoán; các chức năng khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ tổchức và hoạt động của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam Ngoài các chủ thể trên, tại Thông tư 96/2020/TT-BTC hướng dẫn công bốthông tin trên thị trường chứng khoán do Bộ Tài chính ban hành thì còn chủ thể
khác nghĩa vụ công bố thông tin là “Cổ đông và nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở nên”
chứng chỉ quỹ của một quỹ đại chúng dạng đóng Cổ đông sáng lập trong thời gian
bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần, Cổ đông nội bộ và nhà đầu tư nội bộ của quỹdạng đóng, người được ủy quyền công bố thông tin và người liên quan (quy định
tại điểm a khoản 5 điều 25 Thông tư 96/2020).
1.2 Phương tiện và hình thức công bố thông tin
Phương tiện công bố thông tin là những phương thức mà chủ thể có nghĩa vụ
sử dụng để thông qua đó, thông tin được công bố và công chúng có thể tiếp nhậnđược thông tin mà chủ thể này cung cấp Thông tin không thể tự thân đến với côngchúng và tất cả các chủ thể tham TTCK Chính vì vậy để đảm bảo quyền đượccung cấp thông tin của các chủ thể trên TTCK, pháp luật đã quy định các đối tượngđược cung cấp thông tin và cũng quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin phải cungcấp bằng phương tiện phổ biến nhất, mức độ đại chúng cao và các chủ thể có thểtiếp cận dễ dàng thông tin mà chủ thể khác có nghĩa vụ cung cấp ( căn cứ quy định
tại Điều 7 Thông tư 96/2020/TT-BTC1 ) Còn có quy định riêng cho tổ chức là
“1 Các phương tiện báo cáo, công bố thông tin bao gồm:
a) Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượng công bố thông tin;
b) Hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
c) Trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán, phương tiện công bố thông tin khác theo Quy chế của Sở giao dịch chứng khoán; d) Trang thông tin điện tử của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;
đ) Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo in, báo điện tử,…).
Trang 8đối tượng thông tin phải lập trang thông tin điện tử theo quy định tại khoản 2 điều
7 thông tư này
Về hình thức công bố thông tin: Các tài liệu, báo cáo gửi cho UBCKNN,SGDCK được thể hiện dưới hình thức văn bản và hình thức dữ liệu điện tử có sửdụng ký số theo hướng dẫn văn bản và hình thức dữ liệu điện tử có sử dụng ký sốtheo hướng dẫn của UBCKNN, SGDCK
1.3 Nguyên tắc công bố thông tin
Đây là việc quan trọng khi xây dựng các quy định pháp luật về CBTT trênTTCK Bởi lẽ đây sẽ là cơ sở để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về CBTT, đồngthời góp phần vào việc phát hiện, đánh giá và ngăn chăn kịp thời các hành vi vi
phạm pháp luật về CBTT được quy định tại Điều 4 Thông tư 96/2020 TT-BTC.
Việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.Việc cung cấp thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặcngười được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện Người làm đại diện cũng cần cótrách nhiệm về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ về thông tin do người uỷ quyềncông bố thông tin công bố Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đếngiá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật hoặc người công bố thông tinphải xác nhận hoặc đính chính thông tin trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thông tinhoặc yêu cầu của UBCKNN, SGDCK Ngôn ngữ thực hiện trên TTCK Việt Namphải là tiếng việt Trường hợp thông tin bổ sung bằng ngôn ngữ khác thì cần công
bố thông tin bao gồm Tiếng Việt và ngôn ngữ khác theo quy định Ngày công bố làngày thông tin xuất hiện trên phương tiện công bố thông tin; ngày báo cáo về việcCBTT là ngày gửi fax, gửi dữ liệu điện tử
Trang 91.4 Nội dung công bố thông tin
Chế độ CBTT là nội dung quan trọng nhất của pháp luật về CBTT trênTTCK Bởi lẽ các tổ chức phát hành khi thực hiện phát hành cổ phiếu ra côngchúng để huy động vốn thì cần cung cấp, công bố hệ thống các thông tin cần thiết
để nhà đầu tư đánh giá về thực tiễn tiềm tăng sinh lợi của đồng vốn mà mình đầu
tư Hệ thống thông tin công bố bao gồm: CBTT định kỳ là việc CBTT vào nhữngthời điểm quy định Các thông tin định kỳ thường là báo cáo tài chính năm, quý ;CBTT bất thường là việc CBTT ngay sau khi xảy ra các sự kiện quan trọng, có thểảnh hưởng giá chứng khoán hoặc lợi ích của nhà đầu tư Loại thông tin này cầnđược công bố ngay khi nó diễn ra để bảo đảm cho công chúng đầu tư biết đượcnhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.; CBTT theo yêu cầu là việc CBTT khiUBCKNN và SGDCK yêu cầu Tuỳ thuộc vào các yêu cầu quản lý khác nhau, cơquan quản lý thị trường có quyền yêu cầu các chủ thể tham gia thị trường công bốthông tin mà Thông tư 96/2020 TT-BTC đã có những quy định rõ ràng về từngnghĩa vụ và các loại thông tin mà các chủ thể nêu trên phải thực hiện công bố
2 Một số thành tựu đạt được
So với quy định tại Thông tư 155/2015/TT-BTC, Thông tư 96 hiện hành đã
mở rộng đối tượng công bố thông tin Theo đó, Thông tư 96 quy định khá toàndiện các đối tượng có nghĩa vụ công bố thông tin như: Công ty đại chúng; tổ chứcphát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng; tổ chức phát hành thực hiện chàobán cổ phiếu lần đầu ra công chúng; tổ chức niêm yết trái phiếu doanh nghiệp;công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; chi nhánh công tychứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lý quỹ nướcngoài tại Việt Nam; văn phòng đại diện công ty chứng khoán và công ty quản lýquỹ nước ngoài tại Việt Nam; quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đạichúng…
Trang 10Việc pháp luật yêu cầu toàn bộ công ty đại chúng phải thực hiện CBTT đã tạo
ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các cổ đông ở những công ty đại chúng, kể cả công ty đại chúng chưa niêmyết Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng được xâydựng dựa trên nền tảng của sự phát triển TTCK theo từng giai đoạn phát triển khácnhau giúp tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường, bảo vệ tốt hơnquyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Các quy định pháp luật đầy đủ đã tạođiều kiện thuận lợi để chủ thể có nghĩa vụ thực hiện CBTT cũng như việc pháthiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT Theobáo cáo tài chính, tính đến cuối năm 2020, đã có gần 1.490 công ty đại chúng chưaniêm yết cổ phiếu đã đăng ký hồ sơ công ty đại chúng với UBCKNN, gần 893công ty đại chúng niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK HàNội và 361 công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên UpCom (Thị trường đăng kýgiao dịch cổ phiếu chưa niêm yết) Theo quy định tại Thông tư 96/2020/TT-BTC,hoạt động CBTT của công ty đại chúng được thực hiện thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng, Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượngcông bố thông tin; Hệ thống công bố thông tin của UBCKNN; Trang thông tin điện
tử của SGDCK, phương tiện công bố thông tin khác theo Quy chế của Sở giao dịchchứng khoán; Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật(báo in, báo điện tử,…)
Ngày 20/06, Chương trình IR Awards 20222 chính thức công bố kết quả khảosát toàn diện về hoạt động công bố thông tin (CBTT) trên thị trường chứng khoáncủa tất cả doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong năm 2022 Kết quảkhảo sát trên 736 doanh nghiệp niêm yết (DNNY) cho thấy, chỉ có 385 DNNY đạtchuẩn CBTT, chiếm hơn 52% tổng số doanh nghiệp (DN) được khảo sát Mặc dùvậy, tỷ lệ này đã có chuyển biến rất tích cực theo thời gian qua 12 kỳ khảo sát
2 Xem phụ lục (1)
Trang 11(2011 - 2022), từ mức chỉ 3% (2011) nay đã ghi nhận thành tích vượt trội với 52%(năm 2022).
Từ thực trạng hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ViệtNam, chúng ta có thể rút ra được những ưu điểm phát triển pháp luật về CBTT trênTTCK Việt Nam trong giai đoạn vừa qua như sau:
Một là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam đã phản ánh
được mức độ phát triển, các yêu cầu về CBTT trong giai đoạn phát triển khác nhaucủa TTCK Các quy định pháp luật về CBTT đã đồng hành cùng những biến động,thăng trầm của TTCK, nhưng chính pháp luật về CBTT đã góp phần rất lớn vàoviệc nâng cao tính minh bạch trên thị trường, đặc biệt là việc hoàn thiện thông tin
mà các chủ thể tham gia thị trường phải thực hiện Đây là cơ sở quan trọng để tạolập kỷ luật của TTCK nước ta trong giai đoạn phát triển tiếp theo
Hai là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam góp phần rất
lớn vào việc thiết lập trật tự, kỷ cương thị trường Công khai là nguyên tắc quantrọng nhất của TTCK Nguyên tắc này yêu cầu các chủ thể tham gia thị trường phảicông khai thông tin liên quan đến hoạt động của mình Thông qua việc công khaithông tin, nhà đầu tư, cơ quan quản lý thị trường thấy được thực trạng hoạt động,tiềm năng phát triển của công ty, phát hiện và xử lý kịp thời các công ty không đủđiều kiện niêm yết ra khỏi hoạt động giao dịch, tránh thiệt hại cho nhà đầu tư
Ba là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK quy định cụ thể nội dung
thông tin cần công bố phù hợp vời từng chủ thể tham gia thị trường Các quy địnhnày là sự tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về CBTT trên TTCK