Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện các quyết định quản lý của mình đốivới công dân của mình bởi nhiều biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhưthuyết phục, kỷ luật, kinh tế, cưỡng chế
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu lần này, trước hết em xin chân thành cảm
ơn thầy Nguyễn Mạnh Cường đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn emlàm đề tài trong thời gian qua Em xin gửi tới khoa Quản trị văn phòng trườngĐại học Nội vụ Hà Nội lời cảm ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
em thực hiện và hoàn thành đề tài ngiên cứu này Với vốn kiến thức hạn hẹp vàkhả năng có hạn em rất mong nhận đươc những ý kiến đóng góp, phê bình từcác thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là bài tiểu của cá nhân em Các dữ liệu trong đề tài
là trung thực Những kết luận khoa học chưa được công bố trong bất kì côngtrình nào
Hà Nội, ngày 23 tháng 02 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Ý nghĩa luận và thực tiễn của đề tài 3
8.Cấu trúc của đề tài 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHI THỨC NHÀ NƯỚC 4
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của nghi thức nhà nước 4
1.1.1.Quan niệm về nghi thức Nhà Nước thời xưa 4
1.1.2.Nội dung của nghi thức nhà nước những năm đầu giải phóng 4
1.1.3.Lược sử về về Nghi thức Nhà Nước trong các cơ quan Nhà Nước 5
1.2.Khái niệm Nghi thức Nhà nước 8
1.2.1 Định nghĩa 8
1.2.2 Những vấn đề về sử dụng các biểu tượng quốc gia và thể thức văn bản quản lý nhà nước 9
1.2.3 Những vấn đề về công tác lễ tân, hay tổ chức tiếp đãi khách 17
1.2.4.Những vấn đề có liên quan đến kỹ năng giao tiếp của cán bộ, công chức trong giải quyết những công việc nội bộ nhà nước và hoạt động giao tiếp với các tổ chức và công dân 20
1.2.5.Những vấn đề có liên quan đến tổ chức hoạt động quản lý như hội họp, lễ kỷ niệm, cấp chứng chỉ, chứng thực, phong tặng, khen thưởng 22
1.2.6.Những vấn đề có liên quan đến hình thức của công sở như kiến trúc, trang trí, bài trí mặt trước toà nhà cũng như nội thất 23
1.3.Nội dung cấu thành nghi thức Nhà nước 23
Trang 4CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHI THỨC NHÀ NƯỚC 25
2.1 Nghi thức nhà nước chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia 25
2.2 Nghi thức nhà nước thể hiện quyền độc lập dân tộc trong quan hệ quốc tế 25
2.3 Thể hiện sự kiểm soát của Nhà nước với hoạt động ngoại giao 28
CHƯƠNG 3 HỆ THỐNG HÓA CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC TỪ 1945 ĐẾN NAY NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 32
3.1.Hệ thống hóa các văn bản quy định của Nhà nước về nghi thức nhà nước từ 1945 đến nay 32
3.2.Nhận xét: 35
3.3 Giải pháp hoàn thiện 36
KẾT LUẬN 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Nhà nước là một thiết chế tổ chức có cơ cấu tổ chức phức tạp với chứcnăng quản lý đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên một lãnh thổ nhấtđịnh Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện các quyết định quản lý của mình đốivới công dân của mình bởi nhiều biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhưthuyết phục, kỷ luật, kinh tế, cưỡng chế và tính quyền lực đó còn được thể hiệnbằng nhưng phương tiện mang tính hình thức đặc thù thuộc phạm trù các nghi lễnhư cách bài trí công sở, trang phục,các hoạt động lễ tân… Những nghi thức,thủ tục mang tính lễ nghi là một bộ phận quan trọng không kém gì những quyđịnh nêu trong những đạo luật Nó trở thành điều cốt lõi để đạt được thành côngtrong giao tiếp với các nước trên thế thới cũng như làm việc của các cơ quan nhànước Nghi thức nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản pháp luậtcủa nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế mà các bên thamgia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ hoặc thực hiện nghiêm chỉnhđảm bảo một nền thể chế chính trị phát triển theo hướng hiện đại, hoạt độnghiệu quả và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta và các nước trênthế giới ngày càng mở rộng và phát triển Các mối quan hệ hợp tác này đã gópphần tích cực cho sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước, gópphần giữ vững ổn định an ninh, hòa bình trong khu vực và trên thế giới Hàngnăm, chính phủ và các đơn vị địa phương đã tiếp đón rất nhiều đoàn khách quốc
tế vào làm việc tại Việt Nam, cả lãnh đạo cấp cao cho đến lãnh đạo các ngành vàđịa phương, cũng như cử hàng trăm ngàn lượt cán bộ, chiến sỹ đi thăm, làmviệc và học tập tại các nước; tổ chức Hàng trăm hội thảo, hội nghị và các khóatập huấn quốc tế nhằm tăng cường sự hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực côngtác trong các lĩnh vực liên quan cho cán bộ, công chức…Để đạt hiệu quả tối đatrong mọi hoạt động hợp tác như chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, đào tạo, tậphuấn thống nhất kế hoạch hợp tác và chương trình hoạt động chung, giao lưuvăn hóa, thể thao… đòi hỏi các cán bộ, công chức phải hiểu rõ công tác về nghi
Trang 6thức Nhà Nước Nghi thức Nhà Nước không những thể hiện chủ trương, chínhsách đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà còn thể hiện những nét văn minh vàbản sắc văn hóa của một dân tộc Thực hiện tốt nghi thức Nhà Nước là góp phầnquan trọng vào sự thành công của công tác đối ngoại và ngược lại, nếu xảy ra saisót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của công tác đối ngoại, thậm chí có thể
gây căng thẳng cho quan hệ ngoại giao Vì thế em chọn đề tài “ Tìm hiểu về lịch
sử phát triển và đặc điểm của nghi thức Nhà nước Hệ thống hóa các văn bản quy định về nghi thức Nhà nước từ 1945 đến nay và đưa ra nhận xét” để hiểu
hơn về nghi thức nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước
2 Lịch sử nghiên cứu.
Đề tài này đã có rất nhiều tiểu luận, luận văn nghiên cứu về lịch sử nghithức Nhà nước hay các cuốn sách viết về Nghi thức Nhà nước như:
- Nghi thức Nhà nước (NXB Thống Kê 2001) – TS.Lưu Kiếm Thanh viết
về tổng quan về Ngi thức Nhà nước; các biểu tượng quốc gia; tiếp khách vàchiêu đãi các đoàn khách trong nước và ngoài nước; nghi thức xã giao công sở
và các thể thức văn bản, văn bản pháp luật về nghi thức Nhà nước,cuốn sách nàygóp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của Nghi thức Nhà nước
- Tiểu luận Tìm hiều về lịch sử phát triển và đặc điểm của Nghi thức Nhànước – LuanVan.co nói về khái quát Nghi thức Nhà nước qua từng thời kì vàđưa ra ưu nhược điểm về các văn bản ban hành về Nghi thức Nhà nước tuynhiên chưa đi sâu khai thác về giải pháp cần giải quyết
Ngoài ra có các bài viết của các các nhân viết về các khía cạnh nhỏ củaNghi thức nhà nước nhưng không làm nổi bật được các phần nghiên cứu củamình
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tiến hành Nghi thức nhà nước nói chung
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các nội dung, các vấn
đề cơ bản liên quan đến Nghi thức nhà nước trong việc tổ chức, điều hành côngviệc tại các cơ quan Nhà nước và quá trình phát triển của Nghi thức nhà nướcqua các thời kì
Trang 74 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu sự phát triển và đặc điểm của Nghi thức
Nhà Nước, các đặc điểm và các văn bản quy định việc thực hiện nghi thức đồng thờiđánh giá được những ưu và nhược điểm việc vận dụng Nghi thức Nhà Nước
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ và hiểu được sự phát triển và đặc điểm
của nghi thức Nhà nước qua từng thời kì, nhận xét và đưa ra giải pháp thiết thựcnhất cho các văn bản quy định về nghi thức Nhà nước
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng.
- Cơ sở phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng, lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhànước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…
- Các phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử; phương pháp duy
vật biện chứng; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp
6 Giả thuyết khoa học.
Nếu các cơ quan Nhà nước đều hiểu rõ về lịch sử phát triển và đặc điểmcủa Nghi thức Nhà nước và nâng cao vấn đề này thì k xảy ra sai sót trong quản
lý nhà nước
7 Ý nghĩa luận và thực tiễn của đề tài.
- Ý nghĩa luận: Đưa ra được khái quát chung về nghi thức nhà nước vànêu ra được lịch sử phát triển và đặc điểm của nghi thức nhà nước qua từng thời
kì, hệ thống các văn bản quy định từ 1945 đến nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Khái quát Nghi thức nhà nước hiện nay
8.Cấu trúc của đề tài.
Đề tài nghiên cứu gồm ba chương:
Chương 1 Khái quát chung về Nghi thức Nhà Nước và lịch sử hình thành, phát triển của nghi thức nhà nước.
Chương 2 Đặc điểm của nghi thức Nhà Nước.
Chương 3 Hệ thống hóa các văn bản quy định của Nhà nước từ 1945 đến nay.Nhận xét và đánh giá.
Trang 8CHƯƠNG 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHI THỨC NHÀ NƯỚC
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của nghi thức nhà nước.
1.1.1.Quan niệm về nghi thức Nhà Nước thời xưa.
Các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Đông Ákhác trước đây luôn coi trọng và áp dụng rộng rãi tư tưởng “lễ hình kết hợp”,tức luôn coi trọng “Nghi lễ” và “phép” (pháp)
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thứcgiao tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung được quy định tại các vănbản pháp luật của Nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế màcác bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thực hiệnnghiêm chỉnh
1.1.2.Nội dung của nghi thức nhà nước những năm đầu giải phóng.
Ngay từ những ngày đầu của nền cộng hoà (1945), Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm đến công tác xây dựng lễ nghi nhà nước của chính quyền mới Cácvăn bản pháp luật đã kịp thời được ban hành để điều chỉnh những vấn đề thuộclĩnh vực này Ngay sau khi tuyên ngôn độc lập, ngày 591945, Chính phủ củanước Việt Nam mới đã có sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt namdân chủ cộng hoà số 5 về việc bãi bỏ Cờ quẻ ly của chế độ cũ và ấn định Quốc
kỳ mới của Việt Nam có “nền mầu đỏ tươi, ở giữa có sao năm cánh mầu vàngtươi”
Vào cuối những năm 50, sau khi hoà bình lập lại, ngày 21071956 Chínhphủ đã ban hành ba văn bản quan trọng là Điều lệ số 973/TTg về việc dùngQuốc huy, Điều lệ số 974/TTg về việc dùng Quốc kỳ và Điều lệ số 975/TTg vềviệc dùng Quốc ca nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Năm 1976, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cóNghị quyết ngày 27 về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca
Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác quy định về tổ chức việc cưới, việctang, việc hội, hướng dẫn về lễ phục, y phục công chức, thời giờ làm việc, quyđịnh một số nghi lễ nhà nước và tiếp khách nước ngoài v.v
Trang 91.1.3.Lược sử về về Nghi thức Nhà Nước trong các cơ quan Nhà Nước.
Từ thời xa xưa ông cha ta đã có quan niệm và biết được tầm quan trọngcủa nghi thức Nhà Nước trong việc trị vì đất nước Nghi thức Nhà Nước đượcthể hiện trong “ Lễ” “Trong đạo trị nước, lễ là cần hơn cả Lễ để nhận rõ việchiềm nghi, soi sáng chỗ vi ẩn, chia ra người trên kẻ dưới, tỏ rõ vật nọ phẩm kia
Lễ nghi 300 điều, uy nghi 3000 điều, chỗ nào cũng ngụ tinh thần của cổ nhân ở
đó Điển lễ thời cổ sâu kín tinh vi không thể nói hết được
Nước Việt ta dựng nước văn minh, thấm nhuần phong hóa Trung Hoa,mỗi đời nổi lên đều có lễ nghi, chất(phác) văn(hoa) bớt hay thêm, trước saucùng so sánh, trong đó độ nghi tiết hoặc có khác nhau, xa cách hàng nghìn năm,biên chép thiếu sót, nên phải tra cứu rõ ràng mà đính chính lại Đây hãy nói đếnnhững điều lớn như: quy chế mũ áo, nghi vệ xe kiệu, là để phân biệt người trên
kẻ dưới; lễ tế trời ở đàn Nam Giao, tế tổ ở nhà Tôn Miếu, là để kính quỷ thần;việc vui mừng thì có lễ khánh hạ của triều đình; việc đau thương thì có lễ tuấttang của nhà nước; cũng là những lễ tiến tôn sách phong thì làm ở nơi cung phủ,những lễ tế cáo cầu đảo thì để tiếp với bách thần Các lễ nghi đều có quan hệ vớiđạo trời lẽ vật, với điển nước phép triều, các đời diên cách, kỹ, dối khác nhau,cần phải chia ra từng mối, từng ngành mà không thể thiếu sót được
Từ đời Đinh đời Lý trở về trước, nghi tiết còn đơn giản, đến đời Trần, đời
Lê về sau, lễ chế mới không mà sau có, đều là do lễ nghĩa mà đặt, vănmỗi thời mỗi khác, nghi thức đã đặt, đều phải chép cả…Lễ vốn đã có từ trong
xã hội nguyên thủy, dùng để chỉ những tập tục mang tính quy phạm ( tục lệ) màcác thành viên trong thị tộc, bộ lạc phải tuân thủ.Cùng với sự ra đời của nhànước và phân hóa giai cấp, giai tầng các tục lệ được cải biên, chỉnh sửa phù hợpvới điều kiện phát triển mới cơ cấu tổ chức quyền lực, tương quan chính trị vàđời sống kinh tế xã hội
Lễ là yếu tố được thể hiện và thể hiện rất rõ và mạnh mẽ trong đạoKhổng Theo Kinh Lễ thì có đạo đức, nhân nghĩa mới thành Chỉ có Lễ thì mọiquan hệ giữa người với người, giữa người với đất trời mới được thông suốt Đã
là người thì phải biết đến Lễ, học Lễ thông suốt Cử chỉ, lời nói nhất thiết phải
Trang 10theo những khuôn phép nhất định, khuôn phép ấy là hợp với đạo của trời, củađất “Trời cao đất thấp, muôn vật tản mát khác nhau, bởi thế phải đặt ra lễ để giữgìn cho có trật tự Lễ là định phận kẻ trên người dưới Vương giả đời xưa dựngđặt ra mọi việc, việc gì cũng có lễ cả, như chế độ về áo xiêm, xe, kiệu; tế lễ có ởgiao miếu; lễ cát hung thì độ số bao nhiêu, nghi chương thế nào, đều có phẩmtrật Đó là việc lớn của điển lễ phép tắc, không thể sai lầm rối lẫn được Cho nên
lễ để trị nước trước hết phải cẩn thận về những điều ấy”
Các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Đông Ákhác trước đây rất coi trọng lễ nghi thức và chế độ Dưới thời phong kiến
Lễ là một trong ngũ thường, là gốc của kẻ quân tử Mọi hoạt động đều thấy hìnhảnh của Lễ:
+ Quân lễ là những nghi thức dùng trong việc nhà binh như xuất quân,diễn tập, khải hoàn…
+ Tân lễ là những nghi thức được triều đình dùng trong tiếp đãi các tânkhách như trong lễ triều kiến, sai sứ, triều hội, yến tiệc…
+ Gia lễ là những nghi thức mừng nhà vua và hoàng tộc như các lễ sinhnhật, lập thái tử, lập hoàng hậu,…
+ Cát lễ là những nghi lễ liên quan đến các đối tượng như thiên thần (mặttrời, mặt trăng, các tinh tú), thổ địa, nhân thần(tổ tiên, tiên thánh, tiên sư)
+ Hung lễ là những nghi thức về tống táng, thăm viếng gia đình có tangsự
với các nghi lễ về trang phục, thời gian để tang của những người trong giađình Nghi thức ra đời từ rất sớm cùng với sự phát triển của xã hội Ban đầukhông ai đặt ra quy tắc, chỉ là thói quen giao tiếp Các thói quen giống nhauđược lặp đi lặp lại và hình thành những hình thức đơn giản Đó là những Nghi lễbiểu thị 1 sự tôn trọng của thị tộc thị tộc, quốc gia quốc gia để không làm tổn hạidanh dự nước mình và uy tín quốc gia khác
Trước kia, nghi thức được áp dụng trong nghi thức đón tiếp các nước vàphái đoàn ngoại giao được gọi là nghi thức triều đình, để chủ yếu phô trươngsức mạnh, sự giàu có với nhau Nghi thức tạo ra khoảng cách giữa vua chúa với
Trang 11thần dân, giữa nước lớn với nước nhỏ Sau này được chia thành nghi lễ nhà nước
và nghi lễ ngoại giao
Nghi lễ nhà nước là lễ tiết rất quan trọng của nhà nước, mang nặng tínhquốc gia Đối tượng là người trong nước, do lễ tân trong nước chuẩn bị,được tổ chức theo nghi thức quốc gia truyền thống Áp dụng cho quốc khánh,quốc tang, lễ đăng quang nhậm chức hoặc tuyên dương công trạng thành tích
Nghi lễ ngoại giao là lễ tiết liên quan đến các quốc gia khác Đối tượngchính là người nước ngoài, mang tính quốc gia và quốc tế Được tổ chức theotập quán quốc gia và quốc tế Được áp dụng cho đón tiếp đoàn người nướcngoài, tổ chức để trình thư uỷ nhiệm, trao huân huy chương cho người nướcngoài
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thứcgiao tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, được quy định tại các vănbản pháp luật của nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc, hoặc quốc tế
mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thựchiện nghiêm chỉnh Ngay từ những ngày đầu của nền cộng hòa(1945), Đảng vànhà nước ta đã quan tâm đến công tác xây dựng lễ nghi nhà nước của chínhquyền mới Các văn bản pháp luật đã kịp thời được ban hành để điều chỉnhnhững vấn đề thuộc lĩnh vực này Ngay sau khi tuyên ngôn độc lập, ngày05/09/1945, Chính phủ của nước Việt Nam mới đã có sắc lệnh của Chủ tịchChính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa số 5 về bãi bỏ Cờ quẻ ly củachế độ cũ và ấn định Quốc kỳ mới của Việt Nam có “ nền mầu đỏ tươi, ở giữa
có sao năm cánh màu vàng tươi” Vào cuối những năm 50, sau khi hòa bình lặplại, ngày 21/07/1956 Chính phủ đã ban hành ba văn bản quan trọng là Điều lệ số973/TTg về việc dùng Quốc huy, Điều lệ số 974/TTg về việc dùng Quốc kỳ,Điều lệ số 975/TTg về việc dùng Quốc ca nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Năm 1976, quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cónghị quyết ngày 02/07 về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc Ca và thủ đô.Vềvấn đề giao tiếp xã hội và lễ tân nhà nước, Hội đồng chính phủ ra quyết định số56/CP ngày 18 tháng 03 năm 1975 về việc ban hành bản “thể lệ về tổ chức Các
Trang 12văn bản được ban hành vào các năm tiếp theo để phù hợp với chế độ và phươngthức hoạt động của Nhà Nước.
1.2.Khái niệm Nghi thức Nhà nước.
1.2.1 Định nghĩa.
Giao tiếp là hoạt động quan trọng trong đời sống, là nền tảng quan trọng
để xây dựng nên xã hội Nền văn minh nhân loại, nền văn hóa của mỗi dẫn tộc,quốc gia được kiến tạo thông qua hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp đượcthực hiện nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, để bày tỏ mỗiquan hệ, cách ứng xử, thái độ giữa con người với con người và giữa nhân loạivới tự nhiên
Hoạt động giao tiếp được thể hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ và phingôn ngữ Nhưng dù được thực hiện bởi phương thức nào đi nữa, hoạt động giaotiếp luôn luôn phải được đặt trong những bối cảnh nhất định, được thực hiện bởinhững cơ cấu nghi thức nhất định trong việc sử dụng các phương tiện giao tiếptương ứng nhằm đặt tới mục tiêu đặt ra
Hoạt động quản lý nhà nươc cũng không nằm ngoài những yêu cầu vềgiao tiếp xã hội Nhà nước là một thể chế tổ chức cơ cấu phức tạp với chức năngquản lý đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên một lãnh thổ nhất định.Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiên các quyết định quản lý của mình đối vớicác công dân của mình bởi nhiều biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước nhưtính thuyết phục, kỷ luật, kinh tế, cưỡng chế và tính quyền lực đó còn được thểhiện bằng các phương pháp mang tính hình thức đặc thù thuộc phạm trù cácnghi lễ như cách bài trí công sở (công đường), trang phục, các hoạt động lễtân…Những phương tiện hình thức xây dựng này có vai trò quan trọng khôngkém những quy phạm đưa ra trong các điều luật
Những nghi thức, thủ tục mang tính lễ nghi được thực hiện trong hoạtđộng giao tiếp quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của các phương thứctiến hành hoạt động đó Nội dung của những nghi thức và thủ tục đó kiến tạo cơbản khái niệm nghi thức nhà nước
Như vậy có thể hiểu “nghi thức nhà nước là những phương thức giao
Trang 13tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản pháp luật Nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh”.
1.2.2 Những vấn đề về sử dụng các biểu tượng quốc gia và thể thức văn bản quản lý nhà nước.
a) Quốc hiệu: Là tên gọi của đất nước
Trong lịch sử, đất nước ta đã có nhiều tên gọi khác nhau như: Văn Lang,
Âu Lạc, Giao Chỉ, Cửu Chân, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, An Nam …
Ngày 02091945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Theo Sắc lệnhcủa Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà số 49/SLngày
12101945, tiêu đề các văn bản nhà nước được ghi là: “Việt Nam Dân ChủCộng Hoà năm thứ nhất”
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, ngày 02071976, Quốc hội ra Nghịquyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca, và tên nước là “ cộnghoà xã hội chủ nghĩa việt nam” Quốc hiệu cùng với tiêu ngữ “ Độc lập Tự doHạnh phúc” cùng tạo thành tiêu đề văn bản được in trên đầu trang trang nhất
b) Quốc huy: Là huy hiệu của một nước hoặc hình tượng trưng cho một nước.
Theo quy định tại Điều 142 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992: "Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namhình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa,
ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ " Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam""
Việc sử dụng Quốc huy được quy định tại Hướng dẫn số BVHTTDL ngày 02/10/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch như sau:
3420/HD Quốc huy có thể làm to, nhỏ tùy theo sự cần thiết Các màu vàng ở mẫuQuốc huy có thể thay bằng mầu vàng kim nhũ, hoặc có thể dùng không tô mầu
- Quốc huy được treo ở chính của cơ quan, về phía trên, chỗ trông rõ nhấttại các cơ quan sau đây:
Trang 14+ Nhà họp của Chính phủ.
+ Nhà họp của Quốc hội khi họp
+ Trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện, xã, thành phố và thị xã
+ Bộ ngoại giao, các đại sứ quán và lãnh sự quán Việt Nam tại nướcngoài
-Quốc huy có thể treo ở lễ đài các ngày lễ lớn: 15 và 29 do Chính phủTrung ương hoặc các cấp chính quyền địa phương tổ chức
- Rước Quốc huy: trong các cuộc mít tinh, biểu tình, tổ chức ngày 15 và 9
2 Quốc huy được in hoặc đóng dấu nổi trên các thư, giấy tờ sau:
+ Bằng, huân chương, bằng khen của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chínhphủ
+ Các văn bản ngoại giao như quốc thư, uỷ nhiệm thư, thư giới thiệu củaChủ
tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
c) Quốc kỳ: là cờ tượng trưng cho một Quốc gia, cũng chính là Cờ Tổ quốc.
Đồng thời đó cũng là biểu trưng một cách rõ ràng quyền lực của nhân dân ta,chủ quyền của mình đối với lãnh thổ, cương vực đã được phân định Theo quyđịnh của pháp luật, việc sử dụng Quốc kỳ cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Trang 15- Quốc kỳ hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏthắm, giữa có ngôi sao vàng năm cánh mầu vàng tươi với các cánh sao làm theođường thẳng, trung tâm của sao đặt đúng trung tâm của cờ.
- Quốc kỳ được treo trong các phòng họp của các cấp chính quyền và cácđoàn thể khi họp những buổi long trọng, chỉ treo ngoài nhà những ngày lễ tết
- Các cơ quan nhà nước, các trường học (kể cả học viện), các đơn vị vũtrang, các cửa khẩu biên giới, các cảng quốc tế phải có cột cờ và treo Quốc kỳtrước công sở, hoặc nơi trang trọng trước cửa cơ quan
- Các đơn vị vũ trang, các trường phổ thông, trường dạy nghề và trunghọc chuyên nghiệp, các học viện, các trường đại học tổ chức chào cờ và hátQuốc ca một cách trang nghiêm vào sáng thứ hai hàng tuần, trước buổi họcđầu tiên (không dùng băng ghi âm và hệ thống phóng thanh thay cho việc hátQuốc ca)
- Quốc kỳ của nước ta treo với Quốc kỳ các nước khác trong nhữngtrường hợp sau:
+ Khi kỷ niệm Quốc khánh một nước bạn hay một nước ngoài
+ Khi đón tiếp đoàn đại biểu Chính phủ của một nước
- Khi treo Quốc kỳ không để ngược ngôi sao Treo Quốc kỳ ta với quốc
kỳ nước khác: đứng đằng trước nhìn vào thì cờ của ta ở bên tay phải, cờ nướcngoài ở bên tay trái; các cờ phải làm đúng kiểu mẫu bằng nhau và treo đều nhau
- Khi có quốc tang thì đính vào phía trên Quốc kỳ một dải vải đen, dàibằng chiều dài Quốc kỳ, rộng bằng một phần mười chiều rộng Quốc kỳ
- Hình nền đỏ sao vàng được in trên các bằng huân chương, bằng khen,giấy khen của các cấp chính quyền
+ Quốc kỳ được cắm vào xe ô tô của các đại sứ và lãnh sự Việt Nam ởnước ngoài Khi đón, đưa các đại biểu Chính phủ nước ngoài thì cắm Quốc kỳcủa ta và Quốc kỳ nước ngoài vào xe ô tô dùng cho các đại biểu ấy
d) Quốc ca: Là bài hát được thừa nhận là chính thức của một Quốc gia.
Theo quy định tại Điều 143 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam:"Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời
Trang 16của bài "Tiến quân ca" Việc sử dụng Quốc ca theo các quy định tại Điều lệ số975/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21071956, theo Thông báo của Chínhphủ số 31TB ngày 15 021993, với nội dung chính sau:
-Quốc ca có thể hát bằng lời hoặc cử nhạc khi:
- Khi cử Quốc ca, mọi người phải bỏ mũ, đứng nghiêm
- Cử Quốc ca của ta và quốc ca nước ngoài: cử quốc ca nước ngoài trước,Quốc ca ta sau
- Không dùng băng ghi âm và hệ thống phóng thanh thay cho việc hátQuốc ca khi chào cờ đựơc tổ chức vào sáng thứ hai hàng tuần, trước buổi họcđầu tiên tại các đơn vị vũ trang, trường phổ thông, trường dạy nghề và trunghọc chuyên nghiệp, các học viện, các trường đại học Lễ chào cờ tại các buổi lễlớn của Nhà nước hoặc các buổi đón tiếp mang tính nghi thức nhà nước, nhữngbuổi lễ kỷ niệm của ngành, địa phương có thể sử dụng băng ghi âm hoặc quânnhạc thay cho hát Quốc ca
e)Thể thức văn bản quản lý nhà nước:
Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thànhvăn (được văn bản hoá) do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩmquyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi hànhbằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội
bộ nhà nước hoặc giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân
Thể thức văn bản là những yếu tố hình thức và nội dung của chúng đãđược thể chế hóa Tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-VPCP-BNV ngày06/5/2005 của văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ, văn bản quản lý nhà nướcbao gồm những thành phần sau:
1.Quốc hiệu.
Trang 17Quốc hiệu ghi trên văn bản bao gồm 2 dòng chữ: “Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam” và “Độc lập Tự do Hạnh phúc”.
2.Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.
Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm tên của cơ quan, tổ chứcban hành văn bản và tên của cơ quan, tổ chức chủ quản cấp trên trực tiếp (nếucó)
3.Số, ký hiệu của văn bản.
a) Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật:
- Số của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm số thứ tự đăng ký đượcđánh theo từng loại văn bản do cơ quan ban hành trong một năm và năm banhành văn bản đó Số được ghi bằng chữ số Ảrập, bắt đầu từ số 01 vào ngày đầunăm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm; năm ban hành phải ghi đầy đủcác số;
- Ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm chữ viết tắt tên loạivăn bản và chữ viết tắt tên cơ quan hoặc chức danh nhà nước (Chủ tịch nước,Thủ tướng Chính phủ) ban hành văn bản Số, ký hiệu của văn bản quy phạmpháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành được thực hiệntheo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm2004
b) Số ký hiệu của văn bản hành chính
Số của văn bản hành chính là số thứ tự đăng ký văn bản do cơ quan, tổchức ban hành trong một năm Số của văn bản được ghi bằng chữ số Ảrập, bắt đầu
từ số 01 vào ngày đầu năm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm
Ký hiệu của văn bản hành chính: Ký hiệu của quyết định (cá biệt), chỉ thị(cá biệt) và của các hình thức văn bản có tên loại khác bao gồm chữ viết tắt tênloại văn bản và chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước banhành văn bản
-Ký hiệu của công văn bao gồm chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặcchức danh nhà nước ban hành công văn và chữ viết tắt tên đơn vị soạn thảo hoặc
Trang 18chủ trì soạn thảo công văn đó (nếu có).
4.Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản.
a) Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh:
+ Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương: là tên của thành phố trựcthuộc Trung ương
+ Đối với các tỉnh: là tên của thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc của huyệnnơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở, ví dụ:
Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấp huyện là tên củahuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ví dụ:
Địa danh ghi trên văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân vàcủa các tổ chức cấp xã là tên của xã, phường, thị trấn đó, ví dụ:
b) Ngày, tháng, năm ban hành văn bản
Ngày, tháng, năm ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân ban hành là ngày, tháng, năm vănbản được thông qua
Ngày, tháng, năm ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác và văn bảnhành chính là ngày, tháng, năm văn bản được ký ban hành
Ngày, tháng, năm ban hành văn bản phải được viết đầy đủ ngày .tháng năm …; các số chỉ ngày, tháng, năm dùng chữ số Ảrập; đối với những
số chỉ ngày nhỏ hơn 10 và tháng 1, 2 phải ghi thêm số 0 ở trước
5.Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản.
Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức banhành Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính, đềuphải ghi tên loại, trừ công văn
a) Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ,phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản
6.Nội dung văn bản.
a)Nội dung văn bản:
Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của một văn bản, trong đó, cácquy phạm pháp luật (đối với văn bản quy phạm pháp luật), các quy định được
Trang 19đặt ra; các vấn đề, sự việc được trình bày.
b)Bố cục của văn bản:
Văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng thì tuỳ theo nộidung có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; đối vớivăn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp thì bố cục theo các điều, khoản, điểm Cácphần, chương, mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề.Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý
vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới
Văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục như sau:
Nghị quyết: theo điều, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm;
Nghị định: theo chương, mục, điều, khoản, điểm; các quy chế (điều lệ)ban hành kèm theo nghị định: theo chương, mục, điều, khoản, điểm;
Quyết định: theo điều, khoản, điểm; các quy chế (quy định) ban hànhkèm theo quyết định: theo chương, mục, điều, khoản, điểm;
Chỉ thị (cá biệt): theo khoản, điểm;
Các hình thức văn bản hành chính khác: theo phần, mục, khoản,điểm
7 Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền.
a) Việc ghi quyền hạn của người ký được thể hiện như sau:
- Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải viết tắt “TM” (thay mặt) vàotrước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan tổ chức;
- Trường hợp ký thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì phải ghi chữviết tắt “KT.” (ký thay) vào trước chức vụ của người đứng đầu;
- Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” (thừa lệnh) vàotrước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức;
- Trường hợp ký thừa uỷ quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” (thừa uỷquyền) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức
a)Chức vụ của người ký
Chức vụ ghi trên văn bản là chức danh lãnh đạo chính thức của người kývăn bản trong cơ quan, tổ chức; chỉ ghi chức danh như Bộ trưởng (Bộ trưởng,
Trang 20Chủ nhiệm), Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc, Phó Giám đốc v.v ,không ghi lại tên cơ quan, tổ chức, trừ các văn bản liên tịch, văn bản do hai haynhiều cơ quan, tổ chức ban hành; văn bản ký thừa lệnh, thừa uỷ quyền và nhữngtrường hợp cần thiết khác do các cơ quan, tổ chức quy định cụ thể.
b)Họ tên bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản Đốivới văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính, trước họ tên của người
ký, không ghi học hàm, học vị và các danh hiệu danh dự khác, trừ văn bản củacác tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, trong những trường
hợp cần thiết, có thể ghi thêm học hàm, học vị
8.Dấu của cơ quan, tổ chức.
Việc đóng dấu trên văn bản được thực hiện theo quy định tại Nghị định số110/2004/NĐCP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư
và quy định của pháp luật có liên quan
Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấuquy định
Khi đóng dấu lên chữ ký thì dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký
về phía bên trái
Việc đóng dấu lên các phụ lục kèm theo văn bản chính do người ký vănbản quyết định và dấu được đóng lên trang đầu, trùm lên một phần tên cơ quan,
tổ chức hoặc tên của phụ lục
- Việc đóng dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản, tài liệu chuyênngành được thực hiện theo quy định của Bộ trường, Thủ trưởng cơ qan quản lýngành
9 Nơi nhận.
Nơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận vănbản với mục đích và trách nhiệm cụ thể như để kiểm tra, giám sát; để xem xét,giải quyết; để thi hành; để trao đổi công việc; để biết và để lưu
Đối với văn bản chỉ gửi cho một số đối tượng cụ thể thì phải ghi tên từng
cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản; đối với văn bản được gửi cho một hoặcmột số nhóm đối tượng nhất định thì nơi nhận được ghi chung, ví dụ:
Trang 21Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã (thuộc tỉnh .)
Đối với những văn bản có ghi tên loại, nơi nhận bao gồm từ “nơi nhận” vàphần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản
Đối với công văn hành chính, nơi nhận bao gồm hai phần:
Phần thứ nhất bao gồm từ “kính gửi”, sau đó là tên các cơ quan, tổ chứchoặc đơn vị, cá nhân trực tiếp giải quyết công việc;
Phần thứ hai bao gồm từ “nơi nhận”, phía dưới là từ “như trên”, tiếp theo
là tên các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan khác nhận công văn
11.Các thành phần thể thức khác.
1.2.3 Những vấn đề về công tác lễ tân, hay tổ chức tiếp đãi khách.
Lễ tân nhà nước là tổng hợp các nghi thức, thủ tục trong việc đón, tiễn,giao tiếp với khách nhằm giải quyết những công việc có liên quan đến quan hệnội bộ nhà nước, giữa các nhà nước, cũng như giữa nhà nước và công dân Nhưvậy, về cơ bản, lễ tân được hiểu là tổng hợp những quy định, nghi thức, thủ tụcđược các nhà nước tuân thủ thực hiện trong giao tiếp quốc tế
Tổ chức tiếp khách là một trong những hoạt động quan trọng, một côngtác cơ bản của các cơ quan công quyền, các đoàn thể, các tổ chức khác nhau.Công tác này được thực hiện không chỉ nhằm để giao tiếp xã hội thuần túy, đảmbảo hoạt động thông suốt đối với các hệ quả của quá trình quản lý, mà còn tạocho các nhà quản lý có điều kiện xem xét, đánh giá hiệu quả công việc từ phíabên ngoài
Việc tiếp khách đến giao dịch cần được tiến hành đảm bảo các yêu cầu