Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của Nhà nước về việc tập trung phát triển năng lực học sinh trong Chương trình giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng được thể hiện qua n
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Tác giả: Dương Thị Thao
Tổ bộ môn: Ngữ văn - Ngoại ngữ Năm thực hiện: 2020 - 2021
Số điện thoại: 0976063182
Nghĩa Đàn, tháng 3 năm 2021
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Tác giả: Dương Thị Thao
Tổ bộ môn: Ngữ văn - Ngoại ngữ Năm thực hiện: 2020 - 2021
Số điện thoại: 0976063182
Nghĩa Đàn, tháng 3 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Tổng quan và điểm mới trong kết quả nghiên cứu 3
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lí luận 4
2.2 Cơ sở thực tiễn 8
2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, BAN CƠ BẢN 11
2.1 Những đặc điểm của thể loại ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 trung học phổ thông ban cơ bản 11
2.2 Cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 Trung học phổ thông, ban cơ bản để phát triển năng lực học sinh 11
3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 24
3.1 Mục đích thực nghiệm 24
3.2 Tổ chức thực nghiệm 24
3.3 Phương pháp thực hiện 24
3.4 Thiết kế giáo án dạy học thực nghiệm 24
3.5 Kết quả thực nghiệm 45
3.6 Nhận xét kết quả thực nghiệm 45
PHẦN III KẾT LUẬN 46
1 Quá trình nghiên cứu 46
2 Ý nghĩa của đề tài 46
3 Phạm vi ứng dụng của đề tài 48
4 Hướng phát triển của đề tài 48
5 Đề xuất, kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 55
Trang 4Phụ lục 1 PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ THỰC TRẠNG DẠY
HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT NAM DÀNH CHO GIÁO VIÊN 55 Phụ lục 2 PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN VỀ THỰC TRẠNG DẠY
HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT NAM DÀNH CHO HỌC SINH 56 Phụ lục 3 PHIẾU THU THẬP KẾT QUẢ CÁC NĂNG LỰC ĐẠT
ĐƯỢC CỦA HỌC SINH 57 Phụ lục 4 NHỮNG BỨC TRANH ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG TẠO TÂM THẾ ĐỌC 59 Phụ lục 5 CÁC PHIẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH 60 Phụ lục 6 MỘT SỐ HÌNH ẢNH HỌC SINH TRỰC TIẾP THỰC HIỆN
CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 64
Trang 6PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục Việt Nam đang đứng trước sự chuyển mình mang tính chất bước ngoặt, đó là chuyển từ chương trình dạy học theo định hướng tiếp cận nội dung sang chương trình dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ chú trọng học sinh vận dụng, áp dụng được điều gì qua việc học Theo đó, hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh được xác định là một trong những yếu tố cơ bản nhất của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của Nhà nước về việc tập trung phát triển năng lực học sinh trong Chương trình giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng được thể hiện qua nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau đây:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”
Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”
Những quan điểm, định hướng nêu trên là tiền đề, cơ sở là môi trường pháp
lý đồng thời xác định nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản nhất của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học nói riêng Thế nhưng hiện nay trên thực tế, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết, phần lớn học sinh phổ thông còn thụ động trong quá trình học tập, khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ mà thực tiễn cuộc sống đặt ra còn hạn chế
Nắm bắt được thực tế đó, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chú trọng, tập trung đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh theo định hướng phát triển năng lực thông qua các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Trên tinh thần đó, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 đã đưa ra định hướng chung cho giáo viên là cần chủ động, linh hoạt khi xây dựng, tổ chức các bài học theo yêu cầu tích hợp nội môn, tích hợp liên môn và tích hợp những nội dung giáo dục ưu tiên (xuyên môn) thành chủ đề dạy học, phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất, năng
Trang 7lực học sinh Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trên thực tế hiện nay việc xây dựng kế hoạch bài học theo chủ đề và việc vận dụng cách thức, phương pháp dạy học theo chủ đề để phát triển năng lực học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc và lúng túng
Xuất phát từ tính cấp thiết của việc phát triển năng lực học sinh, của việc đổi mới và đa dạng hóa các hình thức, phương pháp dạy học theo chủ đề được thể hiện trong mục tiêu của chương trình giáo dục trung học phổ thông chương trình tổng thể năm 2018 nói chung và chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm
2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói riêng Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, bản thân người học và đặc biệt là từ thực trạng dạy và học hiện nay, đồng thời nhằm rèn luyện cho bản thân cách đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng
phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Phát triển năng lực học sinh qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam” làm đề tài sáng kiến
kinh nghiệm
2 Mục đích nghiên cứu
Đổi mới cách thức, phương pháp dạy học chủ đề theo hướng phát triển năng lực học sinh một cách hiệu quả qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp10 THPT, ban cơ bản
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực và việc dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực học sinh Tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng dạy học phát triển năng lực học sinh trong môn Ngữ văn nói chung và việc phát triển năng lực học sinh qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam ở trường THPT nói riêng
- Tập trung vào việc đổi mới cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản nhằm phát triển năng lực học sinh Xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính hiệu quả và tính khả thi của những vấn đề mà đề tài đưa ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản để phát triển năng lực học sinh
- Bài lên lớp nội khóa chủ đề Ca dao Việt Nam - Ngữ văn 10, ban cơ bản
- Học sinh lớp 10, trường trung học phổ thông Cờ Đỏ, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói chung và dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn
Trang 8Ngữ văn nói riêng
- Nghiên cứu cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT; Các tài liệu liên quan đến
việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; phương pháp dạy học Ngữ văn 5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Dùng phiếu điều tra lấy ý kiến của giáo viên, học sinh về việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn Ngữ văn nói chung và việc dạy học chủ
đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực học sinh nói riêng Dùng phiếu khảo sát để thu thập kết quả về việc hình thành và phát triển năng lực học sinh sau khi học văn bản
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực học sinh Tiến hành dạy thực nghiệm và rút ra kết luận kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Phân tích, tính toán, thống kê kết quả khảo sát và thực nghiệm qua phiếu điều tra từ đó rút ra kết luận và đưa ra ý kiến đề xuất
6 Tổng quan và điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Trong những năm gần đây, việc dạy học theo chủ đề đã được chú trọng thực
hiện ở môn Ngữ văn Đối với việc dạy học thể loại ca dao Việt Nam theo định
hướng phát triển năng lực học sinh cũng đã được một số giáo viên tiến hành nhưng
đa số còn mang tính đơn lẻ, chưa theo chủ đề và đặc biệt là chưa thực sự đổi mới theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 Từ thực tế đó, đề tài đã đổi mới các cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thức được rằng để các cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam phát huy được hiệu quả trong việc phát triển năng lực học sinh, giáo viên cần đổi mới mạnh mẽ việc thiết kế bài học Vì vậy đề tài đã đưa ra cách xây dựng kế hoạch bài dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo hướng mới phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể năm 2018 nói chung và chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nói riêng Đây là những đóng góp vô cùng quan trọng bởi trên thực tế hiện nay, đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện của chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể nói chung và chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn nói riêng, nhiều giáo viên đang lúng túng trong việc đổi mới cách thức, phương pháp dạy học theo chủ đề và xây dựng kế hoạch bài học theo chủ đề trong môn Ngữ văn
Trang 9PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Năng lực
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, trong đó đáng chú ý một số định nghĩa sau:
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể
- Chương trình giáo dục Trung học bang Quesbec của Canada năm 2004 định nghĩa năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khía cạnh này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú
- Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) đã định nghĩa năng lực
là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất, tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15, tr.661]
- Tài liệu tập huấn về Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT do Bộ Giáo dục
và Đào tạo phát hành năm 2015 quan niệm: “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6, tr.49]
Từ các định nghĩa và quan niệm như trên, có thể thấy rằng dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều có những điểm gặp gỡ cơ bản khi đề cập đến khái niệm này Theo đó, năng lực được hiểu là khả năng thực hiện có hiệu quả những hành động, việc làm cụ thể dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm, sự vận dụng thành thục các kĩ năng, thao tác cùng với một thái độ đúng đắn, tích cực Trong quá trình con người học tập, rèn luyện và lao động không ngừng để mang lại những kết quả cao nhất, tốt nhất thì năng lực được hình thành và phát triển, đó là khả năng cá nhân giải quyết các vấn
đề do những tình huống thực tiễn mà cuộc sống đặt ra
1.1.2 Phát triển năng lực học sinh qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam
Chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới từ đầu thế kỉ XXI cho đến nay đều có xu thế chung là chuyển từ dạy học cung cấp nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực Đối với nền Giáo dục Việt Nam,
Trang 10đây là một sự thay đổi mang tính bước ngoặt và cũng là một yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện theo Nghị quyết 29 năm 2013 của Đảng và Nghị quyết 88 năm 2014 của Quốc hội Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hóa những vấn đề cơ bản, cần thiết để thực hiện triển khai chương trình và sách giáo khoa theo định hướng ấy Theo đó, môn Ngữ văn đảm nhiệm vai trò chính trong việc thực hiện nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, nội dung giáo dục này có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng và hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Thông qua ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật, nhà trường bồi dưỡng, phát triển cho học sinh những phẩm chất, năng lực chủ yếu và những phẩm chất, năng lực đặc thù
Một trong những điểm mới rất quan trọng của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 đang được triển khai thực hiện đó là việc xây dựng chương trình theo hướng mở, tinh thần này được thể hiện ở việc không quy định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp Với tính chất mở như vậy, nên việc biên soạn SGK và việc xây dựng kế hoạch bài học cũng như việc lựa chọn cách thức, phương pháp dạy học có nhiều thay đổi Dạy học không theo các bài đơn lẻ mà theo từng chủ đề tích hợp, căn cứ vào chương trình, GV chủ động, linh hoạt xây dựng chương trình
và tổ chức các bài học theo yêu cầu tích hợp nội môn, tích hợp liên môn và tích hợp những nội dung giáo dục ưu tiên thành từng chủ đề Định hướng dạy học như thế sẽ giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống đồng thời giúp người học rút ngắn quá trình huy động tổng hợp các nguồn lực thành năng lực
Trên thực tế hiện nay khi đang sử dụng bộ SGK hiện hành ở tất cả các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, bên cạnh việc dạy học theo từng bài đơn lẻ, các tổ nhóm chuyên môn ở các trường THPT đã căn cứ vào chương trình
và SGK hiện hành để tiến hành lựa chọn nội dung, xây dựng thành các chủ đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực
tế của nhà trường Chủ đề dạy học trong môn Ngữ văn hiện nay phần lớn là chủ đề dạy học đơn môn, đó là các chủ đề được xây dựng bằng cách cấu trúc lại nội dung kiến thức môn học trên cơ sở nghiên cứu nội dung chương trình môn học như dạy học chủ đề theo loại, thể loại tác phẩm văn học; chủ đề theo giai đoạn văn học; chủ
đề theo mạch kiến thức văn học, làm văn, tiếng Việt đảm bảo các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ để từ đó phát triển năng lực HS Trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đang hiện hành, thể loại ca dao Việt Nam được trình bày theo từng nhóm văn bản, trong quá trình dạy học, GV có thể không dạy theo cách trình bày như vậy mà tích hợp thành chủ đề dạy học theo thể loại ca dao Việt Nam
Nhìn một cách tổng thể ở bộ phận văn học dân gian Việt Nam trong chương
Trang 11trình Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản, thể loại ca dao Việt Nam đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm dung lượng tương đối lớn so với các thể loại văn học dân gian Việt Nam khác Việc dạy học thành chủ đề ca dao Việt Nam sẽ giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc hơn về khái niệm, đặc trưng của thể loại ca dao trong một mối liên hệ mạng lưới của nhiều bài ca dao khác nhau Với một cái nhìn bao quát trên những đơn vị văn bản cụ thể, trình độ nhận thức của HS có thể đạt được ở mức độ cao hơn: phân tích, tổng hợp, đánh giá về thể loại, để từ đó khi đứng trước tất cả các bài ca dao khác, HS biết cách tiếp cận, khai thác và vận dụng vào giải quyết những yêu cầu thực tiễn Mặt khác, nếu việc dạy học tiến hành theo các nhóm bài ca dao như hiện nay, HS chỉ biết từng đơn vị kiến thức gắn với nội dung
cụ thể của từng bài thì việc dạy học theo chủ đề ca dao Việt Nam sẽ giúp HS có được tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ khác với nội dung trong SGK, đồng thời hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ đề có thể vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS về thể loại ca dao Việt Nam Từ đó, việc thực hiện bồi dưỡng và phát triển phẩm chất, năng lực HS sẽ có hiệu quả cao hơn
Xét về mặt loại hình văn học, ca dao là thể loại thuộc vào loại hình thơ ca,
đó là những lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng nhằm diễn tả thế giới nội tâm của người dân lao động Đi vào tìm hiểu thế giới của những bài ca dao Việt Nam, chúng ta sẽ thấy ca dao có nội dung vô cùng phong phú đó là tư tưởng, tình cảm của con người trong các mối quan hệ bạn bè, tình yêu đôi lứa, làng xóm, quê hương đất nước, gia đình được diễn tả bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo Qua ca dao, nhân dân ta đề cao những giá trị tốt đẹp của dân tộc đó là truyền thống nhân văn, nhân đạo; tinh thần lạc quan, yêu đời vốn tồn tại từ bao đời nay của người Việt Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn học dân gian nói chung và thể loại ca dao nói riêng là những sáng tạo tinh thần to lớn, đáng
tự hào của nhân dân Việt Nam là kết tinh những tinh hoa của dân tộc Với mỗi tâm hồn người Việt, ca dao là nguồn sữa trong lành nuôi dưỡng bao thế hệ, tìm về với
ca dao là tìm về với cội nguồn, đắm mình vào cuộc sống giản dị “canh rau muống”, “cà dầm tương” Đến với ca dao ta bắt gặp những biểu tượng thân thuộc của làng quê Việt Nam như gốc đa, bến nước, sân đình, dòng sông Chính cuộc
sống lao động của cha ông ta là chất liệu để làm nên những câu ca dao mê đắm lòng người và chính những câu ca dao ấy dù trong mọi hoàn cảnh luôn đem đến sức sống mãnh liệt, tình yêu quê hương đất nước sâu đậm cho con người Qua ca dao, ta cảm nhận được rõ hơn sự kì diệu của ngôn ngữ vừa tinh tế lại vừa giản dị, không cầu kì mà diễn tả được những ý tình sâu sắc Với những đặc trưng riêng của loại hình văn học dân gian, với những đặc trưng riêng của thể loại đã tạo nên một phạm trù thẩm mĩ riêng, một vẻ đẹp thuần khiết cho ca dao, đem đến sự khác biệt cho ca dao so với các tác phẩm thơ ca của bộ phận văn học viết Như vậy, Khi dạy học ca dao Việt Nam theo chủ đề sẽ có tác dụng phát huy tinh thần dạy học theo đặc trưng thi pháp thể loại như đã nói ở trên, giúp HS có được cái nhìn khá đầy đủ,
Trang 12có được ấn tượng sâu sắc về đặc trưng, vẻ đẹp của thể loại ca dao hơn là dạy học theo từng nhóm bài như cách trình bày của SGK hiện hành Việc dạy học theo chủ
đề ca dao Việt Nam cùng với những chủ đề dạy học khác của môn Ngữ văn ở các cấp học, sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực đặc biệt là các năng lực chuyên biệt của bộ môn Ngữ văn
mà chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể năm 2018 đã đặt ra
Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian các dân tộc khác trên thế giới, bộ phận văn học dân gian có một hệ thống thể loại riêng, mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức riêng biệt Tuy nhiên, hệ thống thể loại của văn học dân gian vẫn thống nhất ở các đặc trưng cơ bản Trong những đặc trưng đó, tính thực hành, tính ứng dụng thực tiễn được coi như là mục đích sáng tác chủ yếu của các thể loại văn học dân gian đặc biệt là thể loại ca dao Sinh hoạt cộng đồng là môi trường sinh thành, lưu truyền, biến đổi của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Bên cạnh đó, ca dao chính là phần lời để kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng Vì vậy khi dạy học thể loại ca dao Việt Nam theo chủ đề sẽ tổ chức được nhiều hơn các hoạt động trải nghiệm gắn với các tình huống thực tiễn, phù hợp với môi trường diễn xướng, với tính ứng dụng thực tiễn của thể loại ca dao Qua các hoạt động trải nghiệm đó, phẩm chất và năng lực HS
sẽ được phát triển một cách hiệu quả hơn, toàn diện hơn
1.1.3 Các năng lực cần phát triển cho học sinh qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam
Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định mục tiêu chung của chương trình: Môn Ngữ văn hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu đó là lòng yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính Môn Ngữ văn giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức
về cội nguồn và bản sắc dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam Môn Ngữ văn góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực đặc thù: năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học - một biểu hiện cụ thể của năng lực thẩm mĩ
Căn cứ vào mục tiêu chung của môn học, mục tiêu cho từng cấp học, từng khối lớp để GV xác định những phẩm chất và năng lực cụ thể mà HS được phát triển sau mỗi bài học Theo đó, khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, bài dạy học cũng đặc biệt hướng đến việc hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù mà chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra, cụ thể:
Các năng lực chung, bao gồm: Năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, năng lực sáng tạo
Trang 13Các năng lực đặc thù thuộc về môn Ngữ văn, bao gồm: Năng lực ngôn ngữ
và năng lực văn học Các năng lực này được thể hiện cụ thể qua các năng lực đọc, viết, nói và nghe
đó của môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định trọng tâm của chương trình đổi mới căn bản và toàn diện ngành Giáo dục là chuyển từ chương trình dạy học tiếp cận nội dung sang chương trình dạy học tiếp cận năng lực
Khi được hỏi về những thay đổi của giáo dục Việt Nam đặc biệt là việc chuyển từ chương trình dạy học theo định hướng tiếp cận nội dung sang chương trình dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực, 100% GV đều cho biết họ nhận thức rõ về sự thay đổi này Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy cũng như qua quá trình tìm hiểu, điều tra cho thấy giờ dạy học vẫn nặng về kiến thức, việc hình thành
và phát triển năng lực vẫn chưa có những biểu hiện cụ thể và chưa có kết quả rõ ràng Phần lớn HS còn lúng túng trong việc giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp thiếu tự tin, làm việc nhóm còn mang tính hình thức, HS vẫn chưa thực sự cảm thấy môn Ngữ văn là môn học mang nhiều ý nghĩa và hữu dụng với các em Niềm hứng thú, tinh thần sáng tạo, ý thức vận dụng những điều đã học vào thực tiễn và đem những hiểu biết từ thực tiễn vào bài học trong môn Ngữ văn còn thấp Phần lớn HS chỉ thụ động tiếp thu hệ thống kiến thức bài học trên lớp, trông chờ vào việc GV “rót” kiến thức, ý thức tự học, tự tìm hiểu, tự khám phá là rất hạn chế Vì vậy, kết quả đầu ra của quá trình giáo dục vẫn là những HS thiếu về những năng lực chung lẫn những năng lực đặc thù của môn Ngữ văn
Trước hết, cần thừa nhận rằng hiểu biết một cách hệ thống về các năng lực chung và năng lực đặc thù mà môn Ngữ văn cần phát triển cho HS ở GV còn hạn chế Phần lớn các GV khi xác định mục tiêu và yêu cầu cần đạt về những năng lực
HS cần hình thành, phát triển sau mỗi bài dạy học trong môn Ngữ văn là còn mơ
hồ, mang tính hình thức, chưa chính xác và chưa trọng tâm Trong quá trình dạy học, nhiều GV còn lúng túng trong khâu tổ chức, việc sử dụng các cách thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực còn nhiều hạn chế Việc xây dựng kế
Trang 14hoạch bài học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh với nhiều
GV thật sự còn gặp nhiều khó khăn và đang trong tình trạng mò mẫm, thử nghiệm
2.2.2 Thực trạng phát triển năng lực học sinh qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam ở trường Trung học phổ thông
Về phía GV, để thấy được thực trạng phát triển năng lực HS qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 8 GV giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Cờ Đỏ (phụ lục 1), kết quả thu được như sau:
- Về việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, có 8/8 GV (chiếm 100%) được điều tra, khảo sát đều cho rằng dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong môn Ngữ văn nói riêng và tất cả các môn học nói chung đều rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn và phù hợp với xu thế phát triển của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Tất cả các GV đều biết rằng trong chương trình Giáo dục phổ chương trình tổng thể năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tập trung vào việc phát triển năng lực HS ở tất cả các cấp học, ở tất cả các môn học
- Về việc phát triển năng lực HS qua môn Ngữ văn: Có 8/8 GV (chiếm 100%) đều cho rằng môn Ngữ văn là một trong những môn học đóng vai trò chính
để hình thành, phát triển năng lực học sinh và Ngữ văn cũng là môn học có nhiều
cơ hội để phát triển năng lực học sinh thông qua các cách thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, thông qua tổ chức đa dạng các hoạt động học tập Tất cả các
GV đều có ý thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS, trong quá trình thiết kế bài học, quá trình tổ chức thực hiện tất cả các GV đều chú ý sử dụng các cách thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để hướng đến mục tiêu này Tuy nhiên có 6/8 GV (chiếm 75%) thừa nhận trong quá trình thực hiện họ đều đang gặp nhiều vướng mắc, lúng túng, cách tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức, khi xác định mục tiêu yêu cầu cần đạt cho bài dạy học còn khá mơ hồ vì vậy những năng lực cần hình thành và phát triển cho HS sau mỗi bài học chưa thu được kết quả rõ ràng
- Về việc dạy học theo chủ đề trong môn Ngữ văn để phát triển năng lực học sinh, nhận thức của GV như sau: Có 8/8 GV (chiếm 100%) khi được khảo sát, phỏng vấn đều cho rằng dạy học theo chủ đề trong môn Ngữ văn đã được thực hiện trong nhiều năm gần đây nhưng chưa đồng loạt 5/8 GV (chiếm 62,5%) thừa nhận rằng mặc dù những chủ đề dạy học được tiến hành trong các năm học đã được tổ chuyên môn thống nhất, hướng dẫn nhưng quá trình xây dựng kế hoạch bài học theo chủ đề còn rườm rà, GV chưa thật sự hiểu thấu đáo về bản chất và dạy học theo chủ đề chưa thực sự đổi mới
- Về việc phát triển năng lực HS qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam: Có 8/8 GV (chiếm 100%) khi được khảo sát, phỏng vấn đều cho rằng việc dạy học các bài ca dao theo nhóm như cấu trúc của sách giáo khoa Ngữ văn 10 Ban cơ bản hiện
Trang 15hành thành chủ đề dạy học theo thể loại ca dao Việt Nam là rất phù hợp nhưng họ chưa bao giờ thực hiện và cũng chưa có những đề xuất với tổ chuyên môn Tất cả các GV đều thừa nhận, họ chưa đổi mới được cách thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học để xây dựng kế hoạch bài dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực HS
Về phía HS, để thấy được thực trạng dạy học các bài ca dao Việt Nam hiện nay và nhận thức của các em về sự cần thiết của việc dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực, đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát 132 học sinh ở các lớp 10C2, 10C3 và 10C4 của trường THPT Cờ Đỏ năm học 2020 -
2021 (Phụ lục 2), kết quả thu được như sau:
- Về việc dạy học các bài ca dao Việt Nam hiện nay: Có 115 HS (chiếm 87,12%) khi được khảo sát cho rằng giờ học về các bài ca dao Việt Nam không có
gì mới so với các bài học khác trong môn Ngữ văn, ấn tượng và hiểu biết của các
em về thể loại ca dao là chưa hệ thống, chưa sâu sắc Ý thức vận dụng những hiểu biết của các em sau khi học xong các bài ca dao Việt Nam để tìm hiểu các bài ca dao Việt Nam khác cũng như việc liên hệ kiến thức từ bài học với thực tiễn cuộc sống của HS còn thấp
- Về việc dạy học các bài ca dao Việt Nam thành chủ đề theo định hướng phát triển năng lực HS: Có 120 HS (chiếm 90,9%) được khảo sát cho biết, các em mong muốn GV khi dạy học bộ phận văn học dân gian Việt Nam nói chung và thể loại ca dao Việt Nam nói riêng sẽ tạo ra được những điểm khác biệt so với việc dạy học các văn bản thuộc bộ phận văn học viết Các em mong thầy cô sẽ có những hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học mới, đa dạng, phù hợp với đặc trưng của thể loại ca dao Việt Nam Để sau khi học các em có được ấn tượng và những hiểu biết thật sự sâu sắc về đặc trưng của thể loại ca dao Việt Nam, qua đó góp phần giúp các em hình thành và phát triển được những phẩm chất, năng lực cần thiết gắn với bài học
Từ việc điều tra, khảo sát và phân tích thực tế như trên, có thể thấy việc phát triển năng lực HS trong môn Ngữ văn qua dạy học chủ đề nói chung và qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam nói riêng đã được GV có ý thức thực hiện, có những hiểu biết cơ bản và khẳng định đây là cách thức dạy học cần thiết, mang lại nhiều hiệu quả Tuy nhiên việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong môn Ngữ văn còn gặp nhiều khó khăn, còn nhiều tồn tại đặc biệt là chưa đổi mới cách thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học, năng lực mà HS được hình thành và phát triển là chưa thực sự rõ ràng Dạy học theo chủ đề trong môn Ngữ văn nói chung còn nhiều vướng mắc, GV còn lúng túng khi xây dựng kế hoạch bài học theo chủ đề để phát triển năng lực HS, hiệu quả đạt được là chưa cao như mục tiêu
đã đề ra Dạy học chủ đề ca dao Việt Nam để phát triển năng lực HS theo đa số GV
là hợp lý và cần thiết nhưng chưa được thực hiện, GV thật sự chưa tìm ra được cách thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, sáng tạo cho chủ đề dạy học này
Trang 162 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, BAN CƠ BẢN
2.1 Những đặc điểm của thể loại ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 trung học phổ thông ban cơ bản
Văn học dân gian Việt Nam nói chung và thể loại ca dao Việt Nam nói riêng
có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền văn học dân tộc vì vậy trong chương trình phổ thông bộ phận văn học này được giới thiệu và đưa vào dạy học với số lượng khá nhiều Ở cấp trung học cơ sở, bộ phận văn học dân gian được trải dài từ lớp 6 đến lớp 7 với nhiều thể loại trong đó có ca dao Ở cấp phổ thông, bộ phận văn học dân gian được dạy học ngay ở đầu chương trình Ngữ văn lớp 10 với hệ thống các thể loại cơ bản Riêng thể loại ca dao Việt Nam được đưa vào chương trình môn Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản của SGK hiện hành gồm hai nhóm
văn bản: nhóm những bài “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” (gồm có 6 bài) và nhóm những bài “Ca dao hài hước” (gồm có 4 bài) Trong hai nhóm văn
bản đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những hướng dẫn cụ thể cho những bài ca dao tổ chức dạy học trên lớp và những bài ca dao HS tự học Về thời lượng dạy học các bài ca dao, tổ chuyên môn của các trường được phép linh động điều chỉnh cho phù hợp với thực tế dạy học ở trường mình miễn là đảm bảo được thời lượng chung của môn học
Hai nhóm bài ca dao được SGK Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản đưa vào dạy học đã bao quát những đặc trưng tiêu biểu của thể loại ca dao Việt Nam trên cả hai phương diện nội dung, tư tưởng và hình thức nghệ thuật Chính vì vậy việc GV chủ động, linh hoạt hệ thống lại các bài ca dao để tiến hành dạy học theo chủ đề Ca dao Việt Nam là rất phù hợp Cách tích hợp chủ đề theo thể loại như thế này trước hết sẽ góp phần hình thành và phát triển có hiệu quả những phẩm chất, năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn thông qua các phương pháp dạy học tích cực và quá trình
tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng Bên cạnh đó, những bài ca dao Việt Nam được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản ở cả hai nhóm bài
“Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” và “Ca dao hài hước” đều gắn với môi
trường diễn xướng có tính ứng dụng thực tiễn vì vậy sẽ rất phù hợp để tổ chức một cách đa dạng các hoạt động dạy học, đặc biệt là các hoạt động trải nghiệm Đây sẽ là
cơ hội để hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam
2.2 Cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 Trung học phổ thông, ban cơ bản để phát triển năng lực học sinh
Để hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS như mục tiêu, yêu cầu
mà chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể năm 2018 cũng như chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra, cần đổi mới đồng bộ từ quan điểm xây dựng chương trình, nội dung
Trang 17môn học, SGK và đặc biệt là đổi mới cách thức, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của GV Để việc dạy học chủ đề ca dao Việt Nam thật sự phát huy hiệu quả theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS đề tài đưa ra một số cách
cách thức, phương pháp như sau:
2.2.1 Tổ chức tích hợp các hoạt động đọc - viết - nói - nghe trong dạy học chủ
đề ca dao Việt Nam
Định hướng về nội dung giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể năm 2018 đã xác định: Chương trình môn Ngữ văn được thiết kế theo các mạch chính tương ứng với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Theo đó kiến thức tiếng Việt, làm văn và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe Trên tinh thần định hướng chung của chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể năm 2018, xuất phát từ đặc điểm môn học, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 đã thống nhất quan điểm khi xây dựng chương trình là lấy việc rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt, làm văn
và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe
Để thực hiện được mục tiêu, yêu cầu đó, chương trình đã thống nhất tích hợp cả ba cấp học; tích hợp triệt để và nhất quán đến mức cao nhất có thể giữa ngôn ngữ và văn học, giữa các kiểu, loại văn bản và giữa các hoạt động đọc, viết, nói và nghe Như vậy, việc dạy học chủ đề ca dao Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản bằng cách tổ chức tích hợp các hoạt động đọc, viết, nói và nghe chính là đã tiến hành dạy học theo tinh thần đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 Qua cách thức, phương pháp tổ chức các hoạt động đọc, viết, nói và nghe khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam sẽ phát triển được các năng lực chung, đặc biệt là các năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn: năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học
2.2.1.1 Phương pháp dạy đọc ca dao Việt Nam
Khi xây dựng nội dung giáo dục trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra thời lượng cho các năng lực đọc, viết, nói và nghe ở cấp THPT như sau: Đọc khoảng 60%, viết khoảng 25%, nói và nghe khoảng 10%; đánh giá định kì khoảng 5% Như vậy, thời lượng dành cho việc rèn luyện kĩ năng đọc chiếm nhiều nhất trong trục kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Chính vì thế, khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, cần tập trung nhiều hơn cho việc tổ chức hoạt động đọc và phương pháp dạy đọc
ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại Qua đó, giúp HS biết đọc và tự đọc được các bài ca dao có trong chương trình cũng như khi các em đứng trước những bài ca dao khác
Trang 18Về kĩ thuật đọc: Trước hết, dạy học chủ đề ca dao Việt Nam cần hình thành
và phát triển kĩ thuật đọc cho HS qua việc đọc từng bài ca dao GV yêu cầu HS đọc trực tiếp toàn bộ các bài ca dao được đưa vào chương trình và sưu tầm để đọc thêm một số bài ca dao khác Bên cạnh yêu cầu đọc đúng, đọc trôi chảy khi dạy đọc các bài ca dao cần đặc biệt hình thành và phát triển cho HS những kĩ thuật đọc sau:
- Kĩ thuật đọc diễn cảm: Ca dao thuộc loại hình thơ ca, đó là loại hình văn học thiên về cảm xúc, tâm tư tình cảm, đề cao thế giới chủ quan với những rung động tinh tế trong sâu thẳm tâm hồn con người Vì vậy, khi đọc các bài ca dao, GV cần đặc biệt chú ý hướng dẫn HS kĩ thuật đọc diễn cảm từ âm sắc, ngữ điệu, ngắt nhịp đến khả năng biểu cảm…
- Kĩ thuật đọc biểu diễn, sáng tạo: Văn học dân gian Việt Nam là cuốn bách khoa toàn thư của nhân dân ta, xét về mặt chức năng thì văn học dân gian không chỉ là loại hình nghệ thuật ngôn từ mà còn phục vụ những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng như lao động sản xuất, tín ngưỡng, giải trí… Ca dao là phần lời thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, vì vậy GV cần chú ý đến tính biểu diễn khi dạy đọc cho HS
Về đọc hiểu ca dao Việt Nam: Ca dao là văn bản văn học và cũng là một loại
văn bản, nên dạy đọc hiểu văn bản ca dao cũng cần tuân thủ cách đọc hiểu văn bản, văn bản văn học nói chung Tuy nhiên, ca dao có những đặc điểm riêng về mặt thể loại vì thế GV tổ chức cho HS tìm hiểu, giải mã các bài ca dao theo một quy trình phù hợp với đặc trưng thể loại để giúp HS chuyển hóa những hiểu biết trong quá trình đọc hiểu thành những năng lực cần thiết Cụ thể như sau:
- Đọc hiểu nội dung các bài ca dao:
Trước hết, để đọc hiểu nội dung các bài ca dao cần đặt văn bản trong mối liên hệ với hoàn cảnh ra đời Văn học dân gian Việt Nam nói chung và ca dao Việt Nam nói riêng là những sáng tác tập thể của nhân dân ta và ra đời chủ yếu trong hoàn cảnh lịch sử xã hội phong kiến xưa Chính hoàn cảnh lớn này đã chi phối, ảnh hưởng đến nội dung, tư tưởng của các bài ca dao, như khi đọc hiểu bài ca dao có
lời dẫn cưới “Cưới nàng anh toan dẫn voi…” và lời thách cưới “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang…” cần hướng dẫn để HS đặt bài ca dao vào hoàn cảnh xã
hội phong kiến với những tục lệ, quy định khắt khe Chính vì những tục lệ và quy định hà khắc đó mà biết bao đôi lứa đã không đến được với nhau Từ việc liên hệ đến hoàn cảnh xã hội như vậy, HS sẽ hiểu được chàng trai và cô gái trong bài ca dao đã vượt lên những tục lệ nghiêng về vật chất để coi trọng nghĩa tình Bên cạnh đặt các bài ca dao vào hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh rộng, GV cần hướng dẫn đề HS
biết đặt các bài ca dao vào hoàn cảnh cảm hứng, bởi chính hoàn cảnh cảm hứng sẽ
tác động trực tiếp đến việc hình thành một trạng thái tình cảm nhất định gắn liền với một hệ thống hình tượng nhất định trong bài ca dao Như khi đọc hiểu bài ca
dao “Thân em như tấm lụa đào - Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” hay bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…”, cần hướng dẫn để HS đặt tâm trạng, cảm xúc của
người phụ nữ vào hoàn cảnh cảm hứng cụ thể: người con gái ý thức được số phận
Trang 19bấp bênh, giá trị của bản thân bị rẻ rúng và nỗi lo bủa vây vào đúng độ tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất, tuổi đang yêu và đáng được yêu Chính thời điểm đó càng gợi lên sự đau xót, tội nghiệp và sự thương cảm sâu sắc từ phía độc giả cho thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa
Đặc biệt, khi dạy đọc hiểu nội dung các bài ca dao Việt Nam GV cần chú ý hướng dẫn, tổ chức để HS tập trung phân tích mạch cảm xúc được thể hiện trong văn bản Để làm được điều đó trước hết HS cần hướng đến phân tích nhân vật trữ tình trong bài ca dao, bởi tiếng nói trữ tình xét đến cùng là bản chất của thơ ca Dòng chảy của mạch cảm xúc, suy tư, tâm trạng của chủ thể trữ tình xuyên suốt bài
ca dao là cảm hứng chủ đạo làm nên nội dung cơ bản của tác phẩm Xét về mặt loại hình văn học, ca dao là thể loại thuộc vào loại hình thơ ca, đó là những tác phẩm thơ trữ tình dân gian, được sáng tác nhằm mục đích diễn tả thế giới nội tâm của con người Thế giới tình cảm, cảm xúc chủ quan của chủ thể trữ tình được xem
là nguồn khởi phát và là nội dung cơ bản của thơ ca trữ tình nói chung và ca dao trữ tình nói riêng (cái gốc của hài hước cũng là trữ tình) Có thể nói tính chủ quan
là đặc trưng nổi bật nhất của ca dao, vì vậy nó chi phối tới mọi phương diện nghệ thuật, từ nội dung tới hình thức thể hiện và tạo nên mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành các bài ca dao Trong các bài ca dao trữ tình, thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chính Các đối tượng, sự kiện và sự việc của hiện thực khách quan được thể hiện một cách gián tiếp và chúng có chức năng là khơi dậy những tình cảm sâu sắc, mới mẻ, tái hiện đối tượng để chủ thể bộc lộ quá trình cảm xúc, suy tưởng của mình Tiếp cận, khai thác thể loại ca dao Việt Nam, thông qua những tín hiệu nghệ thuật đặc trưng để người học cảm nhận được đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ tình yêu đôi lứa, quan hệ gia đình, xã hội, quê hương đất nước Tất cả làm nên thế giới tâm hồn phong phú với nhiều cung bậc tình cảm: yêu thương, khát vọng hạnh phúc, thủy chung, tình nghĩa, lạc quan, yêu đời kết tinh thành vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân Việt Nam qua bao thế hệ
Trong bài ca dao, chủ thể trữ tình có thể được “tạo hình” trực tiếp bằng các
đại từ nhân xưng “Em”, “Anh”, “Đôi ta” hoặc những từ ngữ, hình ảnh mô tả cử chỉ, hành động, trạng thái nội tâm như “lo phiền”, “thương nhớ” Tuy nhiên,
trong ca dao, tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình còn được bộc lộ gián tiếp qua
những hình ảnh mang tính biểu tượng, ẩn dụ: cây đa, bến nước, con đò, gừng cay, muối mặn, chiếc khăn, ngọn đèn, đôi mắt, chiếc cầu, tấm lụa đào…, hình ảnh so sánh “Thân em như tấm lụa đào”, hình ảnh nhân hóa “Khăn thương nhớ ai… Đèn thương nhớ ai” và hình ảnh hoán dụ “Mắt thương nhớ ai”… Vì vậy, dạy đọc hiểu
các bài ca dao Việt Nam, cần đặc biệt chú ý khai thác hệ thống những hình ảnh này bởi chúng như một thứ ngôn ngữ đặc biệt tạo nên tính hàm súc, biểu cảm cho bài
ca dao, diễn tả được một cách sâu sắc, phong phú và tinh tế mạch cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình
Trang 20Bên cạnh việc nắm bắt mạch cảm xúc của các bài ca dao qua chủ thể trữ tình, GV còn cần hướng dẫn, tổ chức để HS phân tích được mạch cảm xúc đó thông qua một tín hiệu nghệ thuật cũng hết sức đặc biệt thường được thể hiện trong các bài ca dao Việt Nam đó là yếu tố không gian và thời gian Thực chất khi tìm hiểu các bài ca dao chúng ta sẽ thấy yếu tố không gian và thời gian ở đây đã được chủ quan hóa, nội tâm hóa, chúng thấm đẫm nỗi niềm, tâm trạng và cảm xúc của
chủ thể trữ tình Chẳng hạn trong bài ca dao: “Khăn thương nhớ ai - Khăn rơi xuống đất - Khăn thương nhớ ai - Khăn vắt lên vai - Khăn thương nhớ ai - Khăn chùi nước mắt…” thì đằng sau tất cả sự “lên”, “xuống”, “rơi”, “vắt” của chiếc
khăn kia là một con người hiện lên rất rõ trong tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ
vò Nhớ đến mức không còn tự chủ được cả bước đi dáng đứng, đó là nỗi nhớ có không gian, cái không gian trải ra nhiều chiều để diễn tả những vận động trái chiều
“rơi”, “vắt”, “chùi” còn nỗi nhớ thì quanh quất ở mọi hướng Cùng với yếu tố
không gian, yếu tố thời gian cũng là tín hiệu nghệ thuật thể hiện một cách sâu sắc
thế giới cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình Như trong lời ca dao “Đèn thương nhớ ai - Mà đèn không tắt” đã diễn tả được nỗi nhớ theo thời gian của người con gái đang yêu, nỗi nhớ từ ngày sang đêm, từ chiếc khăn đến ngọn đèn “Đèn không tắt” hay chính con người đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ niềm thương đằng đẵng với thời gian? Nếu hình ảnh chiếc khăn trong lời ca dao “Khăn thương nhớ ai” biết giãi bày thì ngọn “đèn không tắt” ở đây biết thổ lộ Thời gian gắn với
ngọn đèn đã nói với chúng ta rất nhiều điều trong tâm hồn của chủ thể trữ tình mà bài ca dao không diễn tả trực tiếp bằng lời
Như vậy, khi dạy đọc hiểu các bài ca dao trong chủ đề ca dao Việt Nam cần phải tổ chức, hướng dẫn để HS khám phá được thế giới chủ quan, tâm trạng, mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình từ những bài ca dao cụ thể đến những hiểu biết khái quát, sâu sắc về thế giới tâm hồn của con người Việt Nam Đây là phương pháp dạy đọc hiểu các bài ca dao theo đúng đặc trưng thể loại về phương diện nội dung Nếu việc tổ chức đọc hiểu các bài ca dao không tập trung đi theo hướng này thì ấn tượng về thể loại ca dao Việt Nam ở HS sẽ rất mờ nhạt Qua quá trình khám phá về thế giới chủ quan, đời sống tâm hồn của con người Việt Nam trong ca dao một cách hệ thống sẽ đánh thức được những cảm xúc thẩm mĩ, nhân văn ở HS, góp phần khơi dậy những phẩm chất và năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn đặc biệt
là năng lực ngôn ngữ và văn văn học - một biểu hiện cụ thể của năng lực thẩm mĩ, bởi xét đến cùng mọi cái đẹp trong thế giới này đều được quy tụ về vẻ đẹp của tâm hồn con người
- Đọc hiểu hình thức các bài ca dao
Trước hết, việc đọc hiểu hình thức các bài ca dao phải bắt đầu từ việc đọc hiểu cấu tứ, tức là đọc hiểu đặc điểm tổ chức của bài ca dao đó Phần lớn các bài ca dao Việt Nam được sáng tác bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể Một bài ca dao có các câu thơ, dòng thơ, đoạn thơ, tứ thơ và các ý thơ Các yếu
tố đó liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành chỉnh thể một bài ca dao, trong đó tứ thơ
Trang 21là cái ý lớn, bao trùm toàn bộ văn bản Một bài ca dao có thể có nhiều ý và các ý có thể giống nhau, đó là kết quả của sự tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của các tác giả dân gian, nó có vai trò chi phối toàn bộ các yếu tố khác trong tác phẩm Trong quá trình đọc hiểu bài ca dao, có thể hướng dẫn để HS dựa trên sự phân chia tự nhiên của văn bản để phân tích Như khi đến với bài ca dao dẫn cưới, thách cưới của chàng trai và
cô gái “Cưới nàng anh toan dẫn voi… Nhà em thách cưới một nhà khoai lang…”
HS có thể khai thác văn bản theo hình thức kết cấu đối đáp tự nhiên: lời chàng trai
và lời cô gái Tuy nhiên, ở nhiều bài ca dao có cách thức tổ chức không rõ ràng, không định sẵn thì giáo viên cần hướng dẫn để học sinh chú ý đến diễn biến tâm trạng, sự thay đổi mạch cảm xúc của chủ thể trữ tình để khai thác hợp lí, làm cơ sở
cho sự phân tích và lí giải văn bản sâu sắc hơn Như ở bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…” HS có thể xác định bố cục văn bản và khai thác văn bản theo sự thay đổi tâm
trạng, cảm xúc của người con gái đang yêu từ nhớ thương da diết, trào dâng ở mười dòng đầu chuyển sang lo âu, muộn phiền ở hai dòng cuối Đối với những bài ca dao ngắn có cấu tứ đơn giản thì quá trình đọc hiểu chỉ cần đi theo cách tổ chức văn bản
bằng các hình ảnh gắn liền với ý thơ như “Tấm lụa đào”, “muối mặn”, “gừng cay”,
“khom lưng”, “chống gối”, “hai hạt vừng”…
Tiếp đến, việc đọc hiểu hình thức bài ca dao cần đặc biệt chú ý vào việc đọc hiểu ngôn ngữ của văn bản Ca dao có những đặc điểm riêng về ngôn ngữ, khác với lời thơ của văn học viết Lời ca dao thường ngắn, phần lớn đặt theo thể lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể Ngôn ngữ ca dao là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, trước hết đó là ngôn từ có nhịp điệu, sự phân dòng của lời trong bài ca dao nhằm mục đích tạo thành đơn vị nhịp điệu Cuối mỗi dòng ca dao đều là chỗ ngừng, thể thơ lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể thường được sử dụng trong ca dao là một dạng cấu tạo nhịp điệu đặc biệt Bản thân ngôn ngữ của ca dao cũng là ngôn ngữ giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, những từ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm Vì vậy để đọc hiểu một bài ca dao, cần hướng dẫn để HS tìm hiểu một cách toàn diện các yếu
tố ngôn ngữ làm nên tính nhạc trong ca dao như vần, nhịp, thanh điệu Mặt khác, trong quá trình đọc hiểu các bài ca dao cần phải tổ chức để HS đi từ lớp ngữ nghĩa, lớp hình ảnh, lớp âm thanh, nhịp điệu để tìm hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng vì trong nhiều trường hợp ý nghĩa mà bài ca dao gợi ra từ những yếu tố đó của ngôn ngữ
còn quan trọng hơn điều bài ca dao nói rõ Như trong lời ca dao "Khăn thương nhớ
ai - Khăn rơi xuống đất - Khăn thương nhớ ai - Khăn vắt lên vai - Khăn thương nhớ ai - Khăn chùi nước mắt ” có sáu câu thơ hỏi khăn với 24 chữ, thì đã có đến
16 thanh bằng mà hầu hết là thanh không, gợi nỗi nhớ thương bâng khuâng, da diết, đậm màu sắc nữ tính của người con gái biết kìm nén cảm xúc của mình, không bộc lộ một cách dễ dàng
Ngôn ngữ ca dao có nét đặc biệt là thường diễn tả những điều trừu tượng bằng các hình ảnh biểu tượng Đến với ca dao Việt Nam chúng ta sẽ bắt gặp một
loạt các hình ảnh, biểu tượng như gốc đa, bến nước, sân đình, con đò, gừng cay, muối mặn, con cò, tấm lụa đào, củ ấu gai, chiếc khăn, ngọn đèn, đôi mắt Đó là
Trang 22cách nói rất riêng mang tính nghệ thuật cao của ca dao, vì vậy khi đọc hiểu các bài
ca dao Việt Nam, GV cần hướng dẫn để HS khai thác hệ thống hình ảnh, biểu tượng này Bên cạnh đó, ngôn ngữ ca dao còn sử dụng hàng loạt các biện pháp
nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ “Thân em như tấm lụa đào”; nhân hóa, điệp cấu trúc
“Khăn thương nhớ ai Đèn thương nhớ ai”; hoán dụ “Mắt thương nhớ ai”; đối lập, nói quá “Làm trai cho đáng sức trai - Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng” khi đọc hiểu các bài ca dao Việt Nam, GV cần chú ý để hướng dẫn HS
khai thác hệ thống các biện pháp nghệ thuật này Đặc biệt, ngôn ngữ ca dao có lối diễn đạt bằng một số công thức, mô típ mang đậm sắc thái dân gian như mô thức
mở đầu “Thân em như” gợi lên ở người đọc về nỗi đau thân phận của người phụ
nữ trong xã hội phong kiến xưa Đó là “lời chung” lời “tự hát” của chính họ về số phận nhỏ bé, khổ đau, bất hạnh được gửi gắm trong mỗi bài ca Vì vậy khi phân tích các bài ca dao cần hướng dẫn để học sinh chú ý khai thác các mô típ, công thức mang đậm sắc thái dân gian này để hiểu hết ý nghĩa mà các bài ca dao muốn thể hiện
Trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản, chủ đề ca dao Việt Nam được tiến hành dạy học ở đầu chương trình, khi mà những kiến thức lí luận văn học về loại, thể loại chưa được trang bị cho HS thì hướng khai thác thể loại ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại sẽ giúp HS có được những kiến thức, kĩ năng phông nền rất quan trọng Qua đó góp phần hình thành những năng lực đặc thù của
bộ môn Ngữ văn cho học sinh và các năng lực đó sẽ tiếp tục được phát triển một cách toàn diện hơn ở những chủ đề dạy học sau
- Đọc liên hệ, so sánh, kết nối
Trên cơ sở HS đã đọc hiểu những bài ca dao Việt Nam trong chủ đề, thông qua hệ thống câu hỏi, GV tổ chức cho HS làm việc để liên hệ, so sánh ca dao Việt Nam với thơ ca của nền văn học viết Việt Nam Qua đó, HS thấy được một số điểm gần gũi về nội dung, nghệ thuật giữa các tác phẩm văn học thuộc hai bộ phận khác nhau Đồng thời, giáo viên tổ chức cho HS liên hệ, kết nối với bản thân để trình bày được ý nghĩa, sự tác động của những bài ca dao Việt Nam đến tâm hồn,
tư tưởng, tình cảm của HS, thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm
- Đọc mở rộng
Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 THPT, ban cơ bản, những bài ca dao được đưa vào dạy học có nội dung diễn tả tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ lứa đôi, gia đình, xã hội Vì vậy khi tổ chức dạy đọc mở rộng ở chủ đề ca dao Việt Nam, GV sẽ đưa vào những bài ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động trong các mối quan hệ khác Để từ đó, HS có cơ hội rèn luyện kĩ năng đọc hiểu các bài ca dao một cách thành thục và được mở rộng sự hiểu biết về thế giới tâm hồn của con người Việt Nam thông qua các bài ca dao đó Cụ thể trong đề tài này, GV tổ chức cho HS vận dụng kĩ năng đọc hiểu thể loại ca dao vào việc đọc hiểu một bài ca dao
Trang 23không có trong SGK, không cùng chủ đề với các bài ca dao đã học GV chuẩn bị sẵn ngữ liệu và hệ thống câu hỏi gợi ý trong cùng một phiếu học tập để các nhóm
HS tiến hành khai thác, tìm hiểu Sau đó GV gọi lần lượt các nhóm trình bày theo hình thức tiếp sức cho đến khi hoàn thành phiếu học tập
2.2.1.2 Phương pháp dạy viết về ca dao Việt Nam
Dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo thể loại có thể tích hợp với phân môn Làm văn và tiếng Việt khi tổ chức cho học sinh viết về ca dao Theo định hướng chung của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, đối với học sinh THPT, khi tiến hành dạy học GV cần tổ chức, hướng dẫn để HS thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn như thu thập thông tin cho bài viết từ nhiều nguồn (tài liệu phong phú trên internet, phỏng vấn, thu thập dữ liệu từ thực tế…); thảo luận, phân tích về tiêu chí đánh giá bài viết; biết tự chỉnh sửa, trao đổi trong nhóm để hoàn thiện bài viết và rút kinh nghiệm sau mỗi lần viết bài GV có thể kết hợp sử dụng phương pháp phân tích mẫu các kiểu văn bản với phương pháp hướng dẫn kĩ thuật viết tích cực nhằm giúp HS thành thạo kĩ năng tạo lập theo từng kiểu văn bản và phát triển năng lực sáng tạo qua bài viết Tùy vào từng đối tượng, GV
có thể yêu cầu HS viết các văn bản thông thường hoặc yêu cầu HS rèn luyện cách tạo lập văn bản điện tử và văn bản đa phương thức Cách dạy tạo lập văn bản mà chương trình môn Ngữ văn năm 2018 đang hướng tới là cách dạy viết dựa trên tiến trình tạo lập văn bản
Trên tinh thần đó, khi tiến hành dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, GV tổ chức, hướng dẫn dạy viết cho HS theo tiến trình tạo lập văn bản một cách phù hợp
để mang lại hiệu quả cao trong việc hình thành và phát triển năng lực HS, đó là các năng lực chung: hợp tác và giao tiếp, sáng tạo, tự học và các năng lực đặc thù: năng lực ngôn ngữ và văn học Hoạt động tổ chức viết được tích hợp với hoạt động đọc, nói và nghe khi dạy học chủ đề ca dao nhằm mục đích rèn luyện cho HS cách tạo lập các kiểu văn bản có đề tài liên đến thể loại ca dao Việt Nam chứ không phải
đề trình bày lại những kiến thức của các bài ca dao mà HS đã được học trong phần dạy đọc Phương pháp dạy viết về ca dao Việt Nam được tiến hành như sau:
- Trước hết giáo viên chia lớp ra thành 4 nhóm để thực hiện nhiệm vụ học tập theo cách thức trao đổi, thảo luận, tìm kiếm thông tin Thời gian các nhóm tiến hành là trước, trong và sau khi học chủ đề ca dao Việt Nam, có nghĩa là hoạt động viết diễn ra trong cả quá trình học tập chủ đề Để tạo lập được văn bản, GV giành nhiều thời gian cho HS tạo lập văn bản ở nhà, viết nháp, chỉnh sửa, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện trên lớp Trong cả quá trình tổ chức cho HS thực hiện hoạt động viết về ca dao Việt Nam, GV luôn hướng dẫn, trợ giúp, góp ý, điều chỉnh để các nhóm hoàn thành nhiệm vụ và học được cách tạo lập văn bản
- Trước khi viết:
Giáo viên lựa chọn chủ đề, kiểu loại văn bản, cách tạo lập văn bản hướng dẫn cho mỗi nhóm: Nhóm 1: Viết văn bản thuyết minh giới thiệu về nội dung của
Trang 24ca dao Việt Nam; nhóm 2: Viết văn bản thuyết minh giới thiệu về đặc sắc nghệ thuật của ca dao Việt Nam; nhóm 3: Viết văn bản thuyết minh giới thiệu về một bài ca dao mà mình yêu thích; Nhóm 4: Viết văn bản thuyết minh giới thiệu về dân
ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh Giáo viên cung cấp cho các nhóm một văn bản mẫu của loại văn bản cần tạo lập để các nhóm tiến hành phân tích mẫu Giáo viên hướng dẫn học sinh thu thập thông tin cho bài viết: từ nguồn internet, từ sách báo, từ phỏng vấn và từ một số thông tin nền… Tiến hành sắp xếp lại các thông tin, phác thảo dàn ý, phân loại các ý, sắp xếp ý theo trình tự, thống nhất cách trình bày
- Tiến hành viết: Các nhóm tự phân công nhiệm vụ cho các thành viên tiến hành viết phần mở bài, viết phần nội dung chính theo dàn ý, viết phần kết bài Học sinh tiến hành viết ở nhà, sau đó các nhóm họp trao đổi, thống nhất lại toàn bộ bài viết, giao cho một người hoàn thiện sau đó cả nhóm chỉnh sửa Trong quá trình các nhóm tiến hành viết, giáo viên tiến hành trợ giúp, hướng dẫn
- Trình bày bài viết: Các nhóm thực hiện trên lớp, tiến hành chỉnh sửa, bổ sung HS không đọc bài viết mà trao đổi bài viết giữa các nhóm Các nhóm tiến hành đánh giá chéo nhau để tiếp tục hoàn thiện bài viết sau khi học xong chủ đề
2.2.1.3 Phương pháp dạy nói và nghe về ca dao Việt Nam
Hoạt động nói và nghe được tích hợp với các hoạt động đọc và viết trong dạy học chủ đề ca dao Việt Nam là phù hợp với định hướng dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 nhằm hình thành, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực ngôn ngữ và văn học Qua hoạt động nói và nghe, HS được thể hiện khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách
rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tôn trọng người nói người nghe; có thái
độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận Để đạt được mục đích đó, phương pháp dạy nói và nghe trong dạy học chủ đề ca dao Việt Nam được tiến hành như sau:
- Về hoạt động nói: Trên thực tế hoạt động nói đã được HS thực hiện khi giải quyết các nhiệm vụ học tập trong hoạt động đọc các bài ca dao Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động này sẽ được tập trung thực hiện sau khi hoạt động đọc và viết được tổ chức Để kết nối hoạt động đọc, viết với hoạt động nói, giáo viên hướng dẫn cách thức, quy trình và tổ chức cho HS thực hành thuyết trình trước lớp các chủ đề đã chuẩn bị trong hoạt động viết Cùng với hoạt động nói được thực hiện khi các nhóm trình bày các vấn đề đã được chuẩn bị, GV hướng dẫn cho HS cả lớp cách thức quan sát, phân tích để thảo luận
- Về hoạt động nghe: GV hướng dẫn HS cách lắng nghe để nắm bắt được nội dung nghe (khi nghe các nhóm trình bày vấn đề đã được chuẩn bị, khi nghe thảo luận sau trình bày), từ đó hiểu và đánh giá được quan điểm, ý định của người nói; hướng dẫn HS chú ý kiểm tra những thông tin chưa rõ; chú ý lắng nghe, hợp tác với thái độ tích cực, tôn trọng người nói, tôn trọng những ý kiến khác biệt trong thảo luận
- Về hoạt động nói và nghe tương tác: GV hướng dẫn HS biết đặt câu hỏi để
Trang 25hiểu nội dung nghe (sau khi các nhóm trình bày, khi thảo luận), thực hiện đúng lượt lời khi hội thoại Để hoạt động thực hành nói và nghe tương tác đạt hiệu quả cao, GV linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS, tạo điều kiện cho mọi HS được thực hành nói và thể hiện khả năng lắng nghe của mình bằng cách yêu cầu từng cặp HS thảo luận, nói cho nhau nghe
2.2.2 Tổ chức một số hoạt động trải nghiệm qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam
Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình tổng thể năm 2018 đã xây dựng kế hoạch giáo dục cụ thể cho hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp
1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12) Trong hai giai đoạn đó, chương trình cũng đã xây dựng các môn học, các hoạt động giáo dục bắt buộc và hoạt động trải nghiệm là một trong những nội dung giáo dục cơ bản, là hoạt động bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12 HĐTN có vai trò tạo ra mối quan hệ bổ sung và hỗ trợ cho hoạt động dạy học
Đặc điểm nổi bật của HĐTN là tạo điều kiện cho HS tiếp xúc và mở rộng ứng dụng thực tế, trải nghiệm được nhiều vấn đề trong thực tiễn cuộc sống xã hội, đồng thời gây hứng thú trong học tập và có vai trò to lớn trong việc phát triển năng lực HS Chính đặc điểm này của HĐTN sẽ rất phù hợp khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại Có thể nói tính ứng dụng thực hành được coi là mục đích chủ yếu của các thể loại văn học dân gian Việt Nam đặc biệt là thể loại tục ngữ, ca dao Vì vậy, khi dạy học thể loại ca dao Việt Nam, cần chú ý gắn các bài ca dao với môi trường sinh hoạt cộng đồng, chú trọng liên hệ thực tiễn để hiểu đúng, hiểu sâu về nội dung và nghệ thuật Bằng cách tổ chức các HĐTN khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam sẽ giúp HS học tập một cách sôi nổi, hào hứng, năng động và sáng tạo để góp phần hình thành, phát triển những năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn Để tổ chức các HĐTN cũng như vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm hình thành và phát triển năng lực HS qua dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, GV sẽ chia lớp ra thành 4 nhóm, GV hướng dẫn cho HS kĩ thuật làm việc nhóm, đặc biệt chú ý giao các yêu cầu về nhà cho các nhóm chuẩn bị, các nhóm tự bầu nhóm trưởng, thư kí Sau đó, GV sẽ giao nhiệm
vụ cụ thể cho mỗi nhóm theo tiến trình bài học để các em được trải nghiệm
2.2.2.1 Hoạt động trải nghiệm tổ chức cuộc thi
Trong kho tàng ca dao Việt Nam, những bài ca dao có thể kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng chiếm một số lượng khá lớn vì vậy khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, thay vì gọi HS đọc, GV tổ chức cuộc thi hát đối đáp ở một số bài thể hiện rõ đặc trưng diễn xướng của ca dao Hoạt động trải nghiệm tổ chức cuộc thi được tiến hành như sau:
- Ở bài ca dao mang âm hưởng dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh, GV sẽ kết hợp với một số bài ca dao khác, hướng dẫn cho nhóm 1 và 2 luyện tập hát đối đáp giao duyên Cả hai nhóm sẽ tiến hành thi hát đối đáp khi dạy học đến bài ca dao này Đối với HS của quê hương Nghệ Tĩnh việc đặt bài ca dao trên vào một số bài ca
Trang 26dao mang âm hưởng dân ca Ví, Dặm và tiến hành thi hát đối đáp dao duyên trong dạy học chủ đề ca dao Việt Nam có ý nghĩa rất sâu sắc Đây là cơ hội để các em được đắm mình trong làn điệu dân ca của quê hương, thấy được thành tựu sáng tạo của cư dân vùng đất mình đang sinh sống - một loại hình trình diễn dân gian độc đáo, có giá trị nhân văn sâu sắc (Phụ lục 6)
- Ở bài ca dao có lời dẫn cưới của chàng trai “Cưới nàng anh toan dẫn voi…” và lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang…”,
GV hướng dẫn cho nhóm 3 và 4 thi hát đối đáp Phần nhạc điệu các nhóm được tự
do lựa chọn, đảm bảo sự phù hợp với phần lời, thể hiện tính văn hóa, sáng tạo, cả
hai nhóm sẽ thể hiện khi dạy học đến bài ca dao này (Phụ lục 6)
Hoạt động trải nghiệm tổ chức thi hát khi dạy học chủ để ca dao Việt Nam
sẽ lôi cuốn HS tham gia một cách chủ động, tích cực vào bài học, đáp ứng nhu cầu
về vui chơi giải trí cho HS; thu hút tài năng và sự sáng tạo của HS; phát triển khả năng hoạt động và tương tác, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Qua việc tổ chức thi hát ở một
số bài ca dao theo đúng đặc trưng thể loại sẽ hình thành và phát triển cho HS năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp
2.2.2.2 Hoạt động trải nghiệm làm phóng viên
Hoạt động này được tổ chức thực hiện kết hợp với hoạt động trải nghiệm làm biên tập viên và giao cho nhóm 4 ở các lớp thực nghiệm, các em sẽ đóng vai là một phóng viên thực sự khi tiến hành phỏng vấn ca sĩ hát dòng nhạc dân gian để tìm hiểu các vấn đề về dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh (Phụ lục 6)
Để thực hiện tốt hoạt động này, GV hướng dẫn HS các nhóm chuẩn bị hệ thống câu hỏi, cách thức phỏng vấn, các nhóm đã được phân công sẽ thảo luận với nhau, thống nhất những nội dung, cách thức, đối tượng và phương tiện để tiến hành phỏng vấn nhân vật giao lưu Sau thời gian tìm hiểu, phỏng vấn các thành viên trong nhóm sẽ họp lại báo cáo kết quả, cả nhóm sẽ thống nhất những nội dung cơ bản, biên tập lại và trình bày với tư cách là một biên tập viên, nhà hùng biện trong
bài dạy học về chủ đề ca dao Việt Nam Qua HĐTN làm phóng viên, sẽ hình thành
và phát triển được ở HS năng lực giao tiếp, năng lực ngôn ngữ, năng lực sáng tạo
2.2.2.3 Hoạt động trải nghiệm làm biên tập viên
Đối với nhóm 4, hoạt động trải nghiệm này sẽ được kết hợp thực hiện trong hoạt động phỏng vấn Ngoài kênh thông tin trên mạng internet, sách báo… các em
sẽ tìm hiểu trực tiếp qua việc trò chuyện, phỏng vấn nhân vật giao lưu về những nội dung liên quan đến dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh nói riêng Để tổ chức được hoạt động trải nghiệm này, GV hướng dẫn cho HS trước một
số vấn đề như cách thức tìm hiểu, nội dung tìm hiểu: vai trò của ca dao khi kết hợp với phần nhạc để làm nên những bài dân ca say đắm lòng người, những làn điệu dân
ca trên mọi miền đất nước, đặc trưng riêng của dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh, giá trị của dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh… Sau khi tìm hiểu, phỏng vấn, HS nhóm 4 sẽ tự
Trang 27biên tập lại nội dung, trong giờ học chủ đề hai nhóm sẽ cử đại diện lên trình bày vấn
đề như một biên tập viên, một nhà hùng biện thực thụ (Phụ lục 6)
Đối với nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 hoạt động trải nghiệm này sẽ được thực hiện sau khi các em đã tìm kiếm các nguồn thông tin trên mạng internet, sách báo… về nội dung, đặc sắc nghệ thuật của ca dao Việt Nam, về một bài ca dao bất
kì mà HS yêu thích Tương tự như nhóm 4, HS nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 sẽ tự biên tập lại nội dung, trong giờ học chủ đề hai nhóm sẽ cử đại diện lên trình bày vấn đề như một biên tập viên, một nhà hùng biện thực thụ (Phụ lục 6)
Qua HĐTN này sẽ giúp HS hình thành và phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, năng lực ngôn ngữ và văn học
2.2.2.4 Hoạt động trải nghiệm thiết kế và trình bày nội dung trên phần mềm power point
Để tổ chức hoạt động trải nghiệm này, trước khi bài học diễn ra, GV giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh tìm kiếm, xử lí thông tin và thiết kế cho bài trình chiếu power point Cụ thể như sau:
- Nhóm 1: Giới thiệu về nội dung của ca dao Việt Nam
- Nhóm 2: Giới thiệu những nét đặc sắc về nghệ thuật của ca dao Việt Nam
- Nhóm 3: Giới thiệu về một bài ca dao Việt Nam mà anh/chị yêu thích
- Nhóm 4: Giới thiệu về dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh
Để tổ chức thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ này, nhóm trưởng các nhóm sẽ phân công các thành viên trong nhóm tìm kiếm thông tin bằng các từ khóa như “Phần mềm tạo video clip”, “nội dung”, “nghệ thuật”, “ca dao”, “dân ca”,
“Ví”, “Dặm”, “nét độc đáo”, “đặc trưng”… để tìm kiếm thông tin, tranh ảnh, âm thanh, vi deo từ nguồn internet Cùng với đó, HS tìm hiểu, tìm kiếm thông tin từ sách báo, tài liệu, từ hoạt động phỏng vấn Sau đó, nhóm trưởng sẽ tổ chức họp cả nhóm để biên tập lại nội dung: yêu cầu mỗi thành viên trình bày kết quả, hiểu biết của mình để từ đó các nhóm tiến hành thảo luận, trao đổi, bàn bạc để đi đến thống nhất về sản phẩm cần hoàn thành Đối với nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 vì đặc điểm của vấn đề được trình bày nên phần trình chiếu chỉ là những hình ảnh, ngữ liệu mang tính minh họa
Sản phẩm cuối cùng của cả 4 nhóm sẽ được trình bày bởi 4 biên tập viên đại diện cho 4 nhóm, kết hợp lời của biên tập viên và phần trình chiếu nội dung, hình ảnh trên phần mềm power point (Phụ lục 6) Thông qua HĐTN này, sẽ giúp HS biết sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, hình thành và phát triển được năng lực hợp tác và giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực ngôn ngữ và văn học
2.2.3 Tổ chức đánh giá trong dạy học chủ đề ca dao Việt Nam
Với đặc trưng của chương trình dạy học tiếp cận năng lực là chú trọng đến khả năng vận dụng của HS qua việc học Vì vậy, cùng với việc đổi mới phương
Trang 28pháp dạy học là đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá Cách kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục chuyển từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề; coi trọng cả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có thể điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Để vừa đánh giá HS theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học vừa đánh giá dựa vào năng lực khi dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, cần kết hợp tổ chức đánh giá thường xuyên và đánh giá trong cả quá trình học tập chủ đề Cách thức tiến hành đánh giá được thực hiện thông việc quan sát của GV và HS tức là GV và HS
sẽ thu thập thông tin thông qua tri giác trực tiếp và ghi chép trung thực những hoạt động, phản ứng, thái độ… của HS trong những hoạt động cụ thể Công cụ để đánh giá là bằng các phiếu đánh giá, kết hợp đánh giá giữa GV với học sinh và giữa HS với HS, tất cả các phiếu đánh giá sẽ được thu lại sau khi học xong chủ đề Khi tổ chức các hoạt động đọc, viết, nói và nghe cho HS, giáo viên kết hợp đánh giá năng lực HS trên một số phương diện như sau:
2.2.3.1 Đánh giá bài viết
Viết là một trong những hoạt động hết sức quan trọng trong dạy học chủ đề
ở môn Ngữ văn Qua việc tổ chức hoạt động viết, HS có nhiều cơ hội để phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học Để phần nào thấy được kết quả của việc hình thành
và phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học ở học sinh, trong quá trình tổ chức hoạt động viết, GV tổ chức đánh giá bài viết của các nhóm HS, các nhóm HS đánh giá chéo lẫn nhau trên các nội dung tương ứng với bố cục của văn bản: Mở bài, thân bài và kết bài Mức độ đánh giá sẽ được thể hiện cụ thể trong phiếu đánh giá (Phụ lục 5)
2.2.3.2 Đánh giá phản hồi, lắng nghe, trình bày ý tưởng
Dạy học chủ đề ca dao Việt Nam có một chuỗi nhiệm vụ học tập mà HS thực hiện qua việc GV tổ chức các hoạt động đọc, viết, nói và nghe Trong những nhiệm vụ mà HS thực hiện đặc biệt có yêu cầu hoàn thành và trình bày ý tưởng dưới sự hướng dẫn của GV Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ học tập này, HS sẽ hình thành và phát triển được các năng lực hợp tác, giao tiếp, sáng tạo, năng lực ngôn ngữ và văn học Vì vậy, để góp phần phát triển và phần nào đánh giá được các năng lực trên, trong quá trình dạy học chủ đề ca dao Việt Nam, GV tổ chức đánh giá phản hồi, lắng nghe việc trình bày ý tưởng của HS trên các tiêu chí: Nội dung trình bày, cách thức trình bày, khả năng tương tác với người nghe, việc quản
lý thời gian và những điều chỉnh hợp lí, kịp thời khi trình bày Những tiêu chí này
sẽ được cụ thể qua phiếu quan sát, đánh giá (Phụ lục 5) và sẽ được các nhóm tiến hành đánh giá chéo lẫn nhau Tất cả các thành viên trong nhóm được tham gia đánh giá, sau đó nhóm trưởng sẽ tập hợp các ý kiến đánh giá lại và thống nhất kết quả cuối cùng
Trang 292.2.3.3 Đánh giá các nhóm thực hiện nhiệm vụ và sự hợp tác của học sinh khi làm việc nhóm
Để góp phần vào việc hình thành, phát triển cũng như phần nào thấy được kết quả hình thành và phát triển năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực tự học của HS qua việc thực hiện nhiệm vụ, sự hợp tác khi làm việc nhóm, GV tổ chức đánh giá trên các tiêu chí cụ thể:
- Đối với việc đánh giá các nhóm thực hiện nhiệm vụ, GV quan sát trên các tiêu chí: khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ; mức độ tích cực, chủ động sáng tạo, hợp tác của các thành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập Những tiêu chí này sẽ được cụ thể trong phiếu học tập (Phụ lục 5)
- Đối với việc đánh giá sự hợp tác của HS khi làm việc nhóm, GV giao cho nhóm trưởng các nhóm quan sát các thành viên của nhóm mình, cả nhóm tham gia thảo luận và thống nhất để đưa ra kết luận trên các tiêu chí: ý thức, thái độ khi nhận nhiệm vụ; việc tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm; quá trình thực hiện nhiệm vụ và sự hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác… Những tiêu chí này sẽ được cụ thể trong phiếu học tập (Phụ lục 5)
3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm
Thông qua thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng các cách thức, phương pháp dạy học chủ đề ca dao Việt Nam để hình thành và phát triển năng lực HS
về năng lực của HS qua quan sát của GV; qua phiếu khảo sát HS (Phụ lục 3) và phiếu đánh giá của GV, HS (Phụ lục 5) Từ đó, đề tài so sánh kết quả đánh giá ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng để rút ra những kết luận cần thiết
3.4 Thiết kế giáo án dạy học thực nghiệm
CHỦ ĐỀ DẠY HỌC: CA DAO VIỆT NAM
Thời lượng: 4 tiết Bước 1 Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng của chủ đề:
- Học sinh hiểu, phân tích, lí giải và đánh giá được những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của các bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa (Bài số 1 số 4
Trang 30và số 6); ca dao hài hước (Bài số 1 và số 2)
- Từ việc đọc hiểu những bài ca dao cụ thể, HS xác định được đặc trưng về mặt thể loại của ca dao Việt Nam
- Biết cách đọc hiểu và chia sẻ kinh nghiệm đọc hiểu một bài ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại
- Vận dụng những hiểu biết về thể loại ca dao Việt Nam vào đọc hiểu những bài ca dao tương tự ngoài chương trình
- Bước đầu nhận biết điểm giống và khác nhau giữa thơ ca dân gian và thơ
ca của văn học viết
- Từ đó, HS có thể hình thành các năng lực chung và các năng lực đặc thù: + Các năng lực chung: Năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, năng lực sáng tạo
+ Các năng lực đặc thù bao gồm: Năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học được thể hiện qua năng lực đọc, năng lực viết, năng lực nói và nghe
Bước 2: X y dựng bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề ca dao Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực
mối quan hệ giữa
ca dao và dân ca
- Hiểu rõ đặc trưng về mặt thể loại của ca dao Việt Nam
- Đọc diễn cảm các bài ca dao Việt Nam
- Đọc sáng tạo các bài ca dao Việt Nam, kết hợp biểu diễn
- Nêu được thông
- Khái quát giá trị, nội dung, ý nghĩa
và những đặc sắc nghệ thuật của thể loại ca dao Việt Nam từ các bài ca dao đã học
- Trình bày những quan điểm riêng, phát hiện sáng tạo
- Thấy được, lí giải được sự ảnh hưởng hiện thực xã hội đến số phận, tâm hồn, đời sống tình cảm của người bình dân qua ca dao
- Tự đọc và khám phá giá trị của một bài ca dao mới, tương tự không có trong chương trình
Trang 31- Chỉ ra được đặc
sắc nghệ thuật của
mỗi bài ca dao và
đặc điểm nghệ
thuật của thể loại
ca dao Việt Nam
- Lý giải thái độ, quan điểm thẩm
mỹ, ước mơ và khát vọng của nhân dân qua ca dao Việt Nam
- Rút ra được kinh nghiệm đọc hiểu một bài ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại
- Phân biệt được đặc điểm nghệ thuật của thơ ca dân gian và thơ ca của văn học Viết
- Nắm được quy
trình viết một văn
bản thuyết minh
- Phân tích và đánh giá được hiệu quả
sử dụng các thủ pháp nghệ thuật mang đậm màu sắc dân gian của ca dao Việt Nam
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung
và nghệ thuật giữa
ca dao với thơ ca của văn học viết
- Hoàn thành một bài văn thuyết minh giới thiệu, trình bày
về một vấn đề cụ thể
- Phân tích bối cảnh (không gian, thời gian) diễn xướng của một số bài ca dao
- Nêu được ý nghĩa,
sự tác động của các bài ca dao đối với tâm hồn, tình cảm của bản thân; thể hiện được những đánh giá của cá nhân
về ca dao Việt Nam
- Chuyển được bài viết thành một bài thuyết trình có sự kết hợp giữa yếu tố ngôn ngữ và yếu tố phi ngôn ngữ
ước 3 Xây dựng câu hỏi/ bài tập của chủ đề dạy học “Ca dao Việt Nam”
1 Tạo lập văn bản viết
- Cảm nhận, phân tích một bài ca dao Việt Nam
- Thuyết minh, giới thiệu về nội dung, nghệ thuật của ca dao Việt Nam
- Thuyết minh, giới thiệu về một bài ca dao mà anh/chị yêu thích
- Thuyết minh, giới thiệu về dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh
- Ý nghĩa, sự tác động tích cực của ca dao đối với tâm hồn, tư tưởng và tình cảm của bản thân
- Vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân qua ca dao Việt Nam
- Hình tượng người phụ nữ trong ca dao Việt Nam
2 Tạo lập văn bản n i
- Bài thuyết trình về nội dung, nghệ thuật của ca dao Việt Nam
- Bài thuyết trình về một bài ca dao tự chọn
- Bài thuyết trình về dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh
- Trao đổi thảo luận về một vấn đề nổi bật của ca dao Việt Nam
- Chia sẻ kinh nghiệm đọc hiểu một bài ca dao Việt Nam
Trang 32Bước 4: Kế hoạch thực hiện chủ đề
Nội dung Hình thức tổ
chức dạy học
Thời lượng Thời điểm Thiết bị dạy học và học liệu
NĂNG LỰC ĐẶC THÙ: Năng lực ngôn ngữ và văn học được biểu hiện cụ thể qua:
Năng lực
đọc
- Đọc đúng, đọc trôi chảy, đọc diễn cảm kết hợp biểu diễn
- Trình bày được các tri thức đọc hiểu về ca dao; mối quan hệ giữa ca dao và dân ca Trên cơ sở đó biết vận dụng vào đọc hiểu những bài ca dao cụ thể
(2)
- Biết đọc hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật một bài
ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại: hiểu được, cảm nhận được, lí giải và đánh giá được tâm hồn, tư tưởng, tình cảm và thái độ của người bình dân trong xã hội phong kiến xưa qua nghệ thuật đậm màu sắc dân gian của
ca dao
- Tổng hợp, đánh giá được giá trị nội dung và nghệ thuật qua hệ thống các bài ca dao Việt Nam; rút ra được cách thức đọc hiểu một bài ca dao Việt Nam
(3)
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung
và nghệ thuật giữa ca dao Việt Nam với các tác phẩm văn học viết trong nền văn học Việt Nam
- Nêu được ý nghĩa, sự tác động của các bài ca dao đối với tâm hồn, tình cảm của bản thân
(4)
- Biết vận dụng kiến thức và cách đọc đã có ở các giờ đọc hiểu về ca dao Việt Nam để tự đọc hiểu những bài ca dao Việt Nam tương tự không có trong chương trình (5)
Trang 33tố tạo tính chuẩn xác, hấp dẫn kết hợp sử dụng âm thanh, hình ảnh, vi deo minh họa
(6)
- Chuyển được văn bản thuyết minh thành bài thuyết trình power point có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
(8)
- Biết trao đổi, thảo luận, đối thoại, tranh luận trong quá trình dạy học chủ đề, khi nghe thuyết trình, khi đứng trước những ý kiến trái chiều
- Biết đặt câu hỏi về những điều mình còn trăn trở, cần được giải thích
- Biết lắng nghe, nắm bắt và đưa ra các nhận xét, đánh giá của bản thân về bài thuyết trình
(9)
NĂNG LỰC CHUNG Năng lực
giao tiếp và
hợp tác
- Chia sẻ nguồn tư liệu, hiểu biết và những trải nghiệm của bản thân; thảo luận nhóm, thuyết trình, đối thoại với giáo viên, bạn học và nhân vật phỏng vấn về các vấn đề của bài học
(15)
Yêu nước Biết quý trọng, tự hào, giữ gìn và phát triển các giá trị văn học, văn hóa dân gian Việt Nam (16)
Trang 34B Thiết bị dạy học, học liệu và công tác chuẩn bị
I Giáo viên
1 GV chuẩn bị dụng cụ dạy học và học liệu sau
- SGK, sách giáo viên, máy tính, máy chiếu, loa
- Kế hoạch dạy học, phiếu học tập, một số tranh ảnh trình chiếu power point
- Mẫu bài văn thuyết minh Giấy A0, bút dạ, bảng phụ
- Công cụ đánh giá: Phiếu đánh giá một số yêu cầu học tập, phiếu đánh giá năng lực học sinh đạt được sau khi học xong chủ đề
2 Giao nhiệm vụ cho HS làm việc ở nhà
- GV chia lớp học thành 4 nhóm, hướng dẫn và phân công nhiệm vụ cụ thể
- Các nhóm phải: Hoàn thành cơ bản bài văn thuyết minh của nhóm mình và chuyển hoàn chỉnh thành bài thuyết trình trình chiếu power point Hoàn thành phiếu đánh giá chéo nhau theo cặp nhóm khi được GV giao nhiệm vụ
II Học sinh chuẩn bị trước ở nhà
- SGK, học bài cũ, chuẩn bị bài mới
- Tìm kiếm, phân loại, tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu, từ internet,
từ hoạt động phỏng vấn… để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Văn bản thuyết minh và bài thuyết trình trình chiếu power point
Nội dung dạy học trọng tâm
PP/KTDH chủ đạo
Phương án đánh giá Hạt động 1:
(2), (10), (13), (14)
(1), (3), (4), (5), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16)
- Sinh hoạt lễ hội dân gian Bài ca dao Thằng Bờm
- Khái niệm ca dao, đặc trưng thể loại, mối quan hệ giữa ca dao, dân ca
- Cảm nhận khái quát: Nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của các chùm ca dao
- Đọc hiểu chi tiết nội dung và hình thức nghệ thuật của các bài ca dao Việt Nam theo đặc trưng thể loại
- Tổng hợp, đánh giá giá trị nội dung
và nghệ thuật của ca dao Việt Nam
- Kinh nghiệm, cách
- Dạy học trực quan, làm việc nhóm
- Trao đổi cặp, vấn đáp
- Đọc diễn cảm, đọc kết hợp biểu diễn, đọc sáng tạo
- Đàm thoại, vấn đáp, thảo luận nhóm, sử dụng phiếu học tập, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh
- Hoạt động trải nghiệm
- Sử dụng hệ thống câu hỏi
- Phiếu đánh giá
- Phiếu đánh giá, nhóm đánh giá chéo, giáo viên đánh giá
- Phiếu đánh giá, chấm phiếu học tập, nhóm đánh giá chéo, giáo viên đánh giá