Các hình thức giáo dục mới ra đời là hệquả tất yếu từ xã hội hiện đại, trong đó học tập trực tuyến trên nền tảng côngnghệ thông tin được nhiều người lựa chọn bởi sự tiện d
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG PHƯƠNG THẢO
DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT
NAM CHO HỌC SINH LỚP 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG PHƯƠNG THẢO
DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHỦ ĐỀ CA DAO VIỆT
NAM CHO HỌC SINH LỚP 10
Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Thị Bích
2 TS Hoàng Mai Diễn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: “Dạy học trực tuyến chủ đề
ca dao Việt Nam cho học sinh lớp 10” dưới sự chỉ dẫn của TS Nguyễn Thị Bích và TS Hoàng Mai Diễn là kết quả quá trình tôi tự nghiên cứu không sao
chép của bất cứ ai Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trungthực, khách quan chưa được công bố ở công trình nghiên cứu nào trước đây
Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên cáctác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả của luận văn
Hoàng Phương Thảo
Trang 4Cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhữngngười đã luôn dành cho tôi sự động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăntrong quá trình hoàn thiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,song luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong sẽnhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để công trìnhđược hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục biểu đồ v
MỞ ĐẦU v
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
4 Mục đích nghiên cứu 18
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Giải thuyết khoa học 19
7 Bố cục của đề tài 19
NỘI DUNG 20
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHỦ ĐỀ CA DAO CHO HỌC SINH LỚP 10 20
1.1 Cơ sở lí luận 20
1.1.1 Dạy học chủ đề 20
1.1.2 Dạy học trực tuyến 22
1.1.3 Thể loại ca dao 41
1.1.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 10 trung học phổ thông 47
1.2 Cơ sở thực tiễn 50
1.2.1 Những quy định, hướng dẫn về dạy học trực tuyến 50
1.2.2 Thực tiễn việc dạy học trực tuyến ca dao ở trường phổ thông 52
1.2.3 Đánh giá thực tiễn về dạy học trực tuyến 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 59
Trang 6Chương 2: CÁCH THỨC DẠY HỌC TRỰC TRUYẾN CHỦ ĐỀ CA
DAO VIỆT NAM CHO HỌC SINH LỚP 10 60
2.1 Những yêu cầu đối với bài học 60
2.1.1 Yêu cầu về mục tiêu 60
2.1.2 Yêu cầu về nội dung 60
2.1.2 Yêu cầu về phương pháp, hình thức tổ chức bài học 61
2.1.3 Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh 62
2.1.4 Yêu cầu về kiểm tra, đánh giá 62
2.2 Quy trình thiết kế bài học trực tuyến chủ đề ca dao 64
2.3 Cách thức tổ chức bài học trực tuyến chủ đề ca dao 93
2.3.1 Dạy học trực tuyến hoàn toàn (Online learning) 93
2.3.2 Dạy học trực tuyến kết hợp (Blended learning) 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 95
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 96
3.1 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc thực nghiệm 96
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 96
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 97
3.1.3 Nguyên tắc thực hiện 97
3.2 Tổ chức thực nghiệm 97
3.2.1 Thời gian thực nghiệm 97
3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 97
3.3 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 98
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 98
3.3.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm 99
3.4 Kết quả thực nghiệm 100
3.4.1 Phản hồi chung từ phiếu hỏi 100
3.4.2 Những nhận xét và đánh giá bước đầu 104
3.5 Một số đề xuất, kiến nghị 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Minh họa việc áp dụng dạy học trực tuyến chủ đề ca dao 54Biểu đồ 1.2 Thái độ của học sinh khi học văn dưới hình thức học trực
tuyến theo chủ đề 55Biểu đồ 1.3 Minh họa nhu cầu dạy - học trực tuyến chủ đề ca dao cho học
sinh lớp 10 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, bối cảnh hội nhập toàn cầu đã và đang cónhững tác động lớn đến sự phát triển của xã hội Theo xu hướng quốc tế hóa,giáo dục Việt Nam cũng đang “chuyển mình” từ nền giáo dục chú trọng vàomục tiêu truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục theo định hướng tiếp cận nănglực Dạy học được mở rộng cả về phạm vi và đối tượng, đáp ứng nhu cầu cũngnhư điều kiện của đông đảo người học Các hình thức giáo dục mới ra đời là hệquả tất yếu từ xã hội hiện đại, trong đó học tập trực tuyến trên nền tảng côngnghệ thông tin được nhiều người lựa chọn bởi sự tiện dụng và hiệu quả cao mànó mang lại
1.2 Trực tuyến là một phương thức dạy học tích cực, mới mẻ dựa trêncông nghệ thông tin và truyền thông Với phương thức này, việc học trở nênlinh hoạt, đa dạng và hấp dẫn, kích thích được sự hứng thú, chủ động của ngườihọc Kiến thức có thể được lĩnh hội ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu phù hợp vớihoàn cảnh, năng lực, cá tính, nhu cầu công việc riêng của bản thân… chỉ cầnphương tiện máy tính, hay điện thoại và mạng Internet Bài học trực tuyến cókhả năng cung cấp một lượng ngữ liệu phong phú hơn ngữ liệu trong sách giáokhoa, đồng thời thể hiện được hệ thống yêu cầu học tập cụ thể dành cho họcsinh dưới nhiều dạng thức, để các em tự giác hoạt động, không bó buộc theophương pháp giảng truyền thống Với những ưu điểm đó, học tập trực tuyếnđang ngày càng được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng phát triển Đặc biệt,trong bối cảnh toàn cầu đang nỗ lực đối mặt với đại dịch Covid-19 những ngàyvừa qua, học trực tuyến đã trở thành phương thức học tập được lựa chọn hàngđầu trong giáo dục như một giải pháp để “tạm dừng đến trường nhưng khôngdừng học” Tuy nhiên, dạy và học trực tuyến như thế nào để đạt hiệu quả caonhất vẫn là câu hỏi lớn mà giáo dục đặt ra
Trang 91.3 Đối với môn Ngữ văn, mục tiêu giáo dục theo chương trình mới làgiúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người,có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn, có tinhthần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế Chươngtrình hướng đến hình thành cho học sinh phẩm chất và những năng lực chung:Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyếtvấn đề và sáng tạo Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lựcngôn ngữ và văn học, rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, có hệ thốngkiến thức phổ thông nền tảng về Tiếng Việt, phát triển tư duy hình tượng và tưduy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hóa, biếttạo lập các văn bản thông dụng, biết tiếp nhận và đánh giá các văn bản văn học,các giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống Như vậy, để tổ chức hiệu quả một giờ họcNgữ văn trên lớp mà trong đó học sinh giữ vai trò làm chủ quá trình nhận thứcquả thật là không dễ dàng Giáo viên cần tích hợp đa dạng các phương pháp dạyhọc, trong đó hình thức dạy học trực tuyến theo chủ đề là một định hướng mớiđem lại hiệu quả giáo dục cao.
1.4 Trong tiến trình văn học Việt Nam, văn học dân gian ra đời sớm vàphát triển bền lâu theo suốt chiều dài lịch sử Bộ phận văn học này không chỉ cóvai trò cội nguồn, mà còn phản ánh chân thực tâm tư, tình cảm và những phẩmchất tốt đẹp của người dân Việt Ca dao là thể loại tiêu biểu của văn học dângian, được chọn lựa đưa vào giảng dạy (một số văn bản) trong chương trìnhNgữ văn lớp 10 Bài học này cung cấp tri thức và có giá trị giáo dục thẩm mĩcao đối với học sinh Bởi thế, trên cơ sở chương trình hiện hành, nó rất cầnđược đầu tư thiết kế giảng dạy dưới những hình thức và phương pháp mới đểđem lại hiệu quả học tập tốt nhất Dạy học ca dao không đơn thuần chỉ để cungcấp ngữ liệu văn bản, không chỉ để đọc hiểu ý nghĩa của từng câu ca mà cònphải bồi đắp tình yêu quê hương, khơi dậy ý thức gìn giữ những nét đẹp vănhóa truyền thống trái tim mỗi học trò
Trang 10Với những lí do trên và hy vọng có thể đóng góp một tài liệu tham khảohữu ích, thiết thực, mới mẻ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập phầnvăn học dân gian Việt Nam trong chương trình Ngữ văn, chúng tôi lựa chọn đề
tài: “Dạy học trực tuyến chủ đề ca dao Việt Nam cho học sinh lớp 10” để
nghiên cứu và thực nghiệm
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử ứng dụng dạy học trực tuyến
2.1.1 Ứng dụng trên thế giới
Thuật ngữ “dạy học trực tuyến” xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 10 năm
1999 trong một hội nghị Quốc tế về CBT (Computer - Based Training) Từ thờiđiểm đó, các cụm từ như "online learning", "virtual learning" hay “e-learning” bắtđầu xuất hiện ngày càng nhiều Có thể nói, kết hợp các từ cụm từ "online learning"
trường học tập chuyên nghiệp Trong đó, người học có thể tương tác với môi
điện tử khác (intranet, extranet, truyền hình tương tác, CD-Rom, vv)
Rất lâu trước khi Internet ra đời, các khóa học từ xa đã được Isaac Pitmanmang đến vào những năm 1840 Isaac
Pitman là một giáo viên có trình độ và
giảng dạy ở một trường tư ở Vương Quốc
Anh Ông đã dạy các học sinh của mình
phương pháp viết tốc ký thông qua hệ
thống mail (tốc ký có thể hiểu là một hình
thức viết tắt, một phương pháp viết ngắn
gọn hơn so với cách viết một ngôn ngữ
thông thường) Pitman gửi các bài tập của
mình cho các học sinh của ông qua hệ
thống mail và nhận lại các kết quả mà các học sinh đã hoàn thành
Sir Isaac Pitman (1813 - 1897)
Trang 11Trong năm 1924, các máy thử nghiệm đầu tiên được phát minh Thiết bịnày cho phép học sinh tự kiểm tra Sau đó, vào năm 1954, BF Skinner - mộtgiáo sư Đại học Harvard đã phát minh ra “teaching machine” (máy giảng dạy),trong đó cho phép các trường học dùng các chương trình để quản lý hướng dẫnhọc sinh của mình Tuy nhiên cho đến năm 1960, các chương trình đào tạo dựatrên máy tính đầu tiên mới được giới thiệu đến thế giới Chương trình này dựatrên máy tính đào tạo (hoặc chương trình CBT) được biết đến như PLATO-Programmed Logic được dùng cho việc tự động hoạt động giảng dạy Nó đượcthiết kế cho sinh viên theo học các trường đại học Illinois, nhưng cuối cùng lạiđược sử dụng trong các trường học trên toàn khu vực.
Với sự ra đời của máy tính và internet trong những năm cuối thế kỷ 20,các công cụ E-learning và phương pháp phân phối được mở rộng Từ đầunhững năm 1960, các giáo sư và các nhà tâm lí học đã nghiên cứu, miêu tả vàbước đầu thử nghiệm việc dùng máy tính cũng như thư điện tử để phát triển cáckhóa học dựa trên công nghệ Càng về sau khi khoa học kỹ thuật phát triển, E-learning đã trở thành hình thức học tập trực tuyến phổ biến ở các nước có nềncông nghệ cao, có nhiều trung tâm đào tạo các hệ hình giáo dục Thế hệ máyMac OS (Macintosh Operating System) đầu tiên ra đời trong những năm 1980cho phép các cá nhân có thể đặt máy tính ở nhà của họ, và điều này giúp íchcho họ rất nhiều trong việc học tập, nghiên cứu cũng như phát triển các kỹnăng Sau đó, trong thập kỷ tiếp theo, môi trường học tập ảo bắt đầu thực sựphát triển mạnh, càng ngày con người càng tiếp cận thông tin qua kênh internetnhiều hơn và cơ hội trực tuyến thực sự mở ra
Trong những năm 2000, các doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng E- learning
để đào tạo nhân viên của họ Các nhân viên mới có thể dễ dàng tiếp cận các quytrình nghiệp vụ cùng những thông tin trong hệ thống E-learning - nơi cung cấpcho họ đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm để thực hiện tốtcông việc của mình Đối với các cá nhân, việc học tập trực tuyến
Trang 12thông qua hệ thống E-learning không chỉ giúp họ tăng thêm kiến thức, kỹ năng,bằng cấp mà còn có nhiều cơ hội về việc làm, những mối quan hệ xã hội và đờisống tinh thần phong phú.
Tại Mĩ, tính đến năm 2000, có gần 47% các trường đại học, cao đẳngthiết kế mô hình đào tạo từ xa, tạo nên khoảng 54.000 khóa học trực tuyến hữuích Tại Singapore, khoảng 87% trường Đại học sử dụng phương pháp đào tạotrực tuyến Ở Hàn Quốc, hình thức học tập này cũng được phổ biến ở cáctrường Hiện nay, có nhiều công ty lớn đầu tư vào E-learning, nổi bật là cáccông ty như SAP, Docent, Saba, IBM, Oracel Theo ước tính năm 2010, E-learning trên toàn cầu đạt 500 tỉ USD Ở các nước công nghiệp phát triển điểnhình là Mĩ, đã đạt được 10,3 tỉ USD vào năm 2002 và tăng lên nhanh chóng đạt83,1 tỉ USD vào năm 2002
Vào khoảng năm 2010 trở đi, sự bùng nổ về công nghệ ứng dụng trêncác nền tảng di động hay sự phát triển vượt bậc của một thế hệ mạng xã hộimới như Facebook, Google Plus, Instagram, đã làm cho hệ thống tương tácthông tin với người sử dụng internet trở nên phong phú hơn bao giờ hết Quađó, các phương thức tương tác trên môi trường đào tạo trực tuyến cũng cónhững chuyển biến thay đổi nhằm phù hợp hơn với người sử dụng Các ứngdụng di động kết hợp internet cho phép người học tương tác trong môi trường
E-learning mọi lúc, mọi nơi
Ngày nay, thông qua Web, người dạy có thể hướng dẫn trực tuyến (hìnhảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học Điều này đã tạo ramột cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả.Đó chính là kỉ nguyên của E-Learning Cũng giống như các thị trường côngnghệ khác, thị trường E-learning cũng không ngoại lệ, E-learning cũng trải quanhững giai đoạn thăng trầm Tại thời điểm hiện nay, các nhà phân tích cho rằng
E-learning là một thị trường lớn với cái nhìn thực tế về sự liên quan của côngnghệ và ý tưởng Tuy nhiên, thực tại so sánh với thị trường giáo dục truyền
Trang 13thống thì nhiều người vẫn đặt câu hỏi rằng "khi nào thì E-learning mới thực sựcất cánh?".
Tại châu Á, E-learning vẫn đang trong tình trạng mới phát triển, chưa cónhiều thành công và ứng dụng rộng vì một số lí do như sau: Các định kiến bảothủ, lạc hậu, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo theo lối mòn truyền thống củavăn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ chưa đồng nhất, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn
và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia Tuy nhiên, đó chỉ là những rào cảntạm thời bởi hệ thống giáo dục tại các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừanhận những hiệu quả tích cực và tiềm năng to lớn mà E-learning mang lại
Trong thời gian gần đây, E-learning đã phát triển mạnh tại nhiều quốc giatrên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản Cùng với đó, việc ứng dụng mô hìnhgiáo dục trực tuyến cũng có nhiều bước tiến mạnh mẽ Việc nghiên cứu E-learningtại những nước đang phát triển đã được quan tâm nhiều hơn và các hội nghị, hộithảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến E-learning vàkhả năng áp dụng vào môi trường giáo dục chính quy Hiện tại, E-learning đượctriển khai với quy mô sâu rộng tại nhiều quốc gia phát triển với rất nhiều tính năng
hỗ trợ cho người học Đầu tiên phải nói đến tính linh hoạt trong việc học và thanhtoán chi phí học tập Từ khi đăng ký học đến lúc hoàn tất khóa học, người học cóthể học theo thời gian biểu mình định ra mà không bị gò bó bởi thời gian và khônggian lớp học Chi phí học thấp tính theo tháng với mỗi môn được thanh toán mộtcách nhanh chóng bằng các phương thức thanh toán điện tử khác nhau Điều nàyhoàn toàn phù hợp với những quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển như
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Singapore,…
Ở Mỹ, đã có hàng triệu học sinh phổ thông đăng ký học Online Đưa lớphọc lên mạng Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại những nước này Khôngchỉ là một phong trào tự phát, tại nhiều bang ở Hoa Kỳ các nhà quản lý giáodục đã ban hành quy mỗi học sinh phải đăng ký học một số môn nhất định tạicác lớp học trực tuyến Theo lý giải của các nhà quản lý, đây là bước chuẩn bị
Trang 14nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc học tại các trườngđại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỷ 21.
Đối với Hàn Quốc, chính phủ xem đây như một công cụ để giảm tải chiphí dạy kèm tại các trung tâm luyện thi, qua đó góp phần bình đẳng trong giáodục Cùng với đó, kênh truyền hình học đường được mở ra là các website cungcấp các bài giảng ôn thi đại học miễn phí, thu hút một số lượng rất lớn học sinhtham gia Một số giáo viên giỏi ở Hàn Quốc cho rằng E-learning mang lại cơhội và sự công bằng hơn cho giáo dục bởi những học sinh nghèo có thể thamgia vào khóa luyện thi của những thầy giỏi với mức học phí rất ít so với lớpluyện thi thông thường
2.1.2 Ứng dụng ở Việt Nam
Thuật ngữ E-Learning nhen nhóm trên thế giới từ những năm 1999,nhưng phải đến hơn 13 năm để lĩnh vực này bắt đầu được quan tâm trên thếgiới cũng như ở Việt Nam Trên thực tế, việc học trực tuyến đã không còn mới
mẻ ở các nước tiên tiến Song ở Việt Nam, nó mới chỉ bắt đầu phát triển một sốnăm gần đây với việc kết nối internet băng thông rộng được triển khai mạnh mẽtới tất cả các trường học Sự hữu ích, tiện lợi của E-learning là rất lớn nhưng đểđạt được thành công trong bối cảnh giáo dục Việt Nam, các cấp quản lý cần cónhững quyết sách hợp lý
Bước sang thế kỉ 21 và trong xu hướng gõ cửa thời đại công nghiệp 4.0,việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đời sống là một yêu cầu tất yếu, đặcbiệt là đối với giáo dục Việt Nam Chỉ thị 58 - CT/TW ngày 17/2/2000 của BộChính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ “Đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, các ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn
xã hội Đặc biệt, tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối mạng Internet tất cả các cơ sử giáo dục và đào tạo” [2].
Trang 15Từ trước năm 2002, hệ thống tài liệu nghiên cứu về E-learning ở ViệtNam không nhiều Nhưng từ năm 2003, việc nghiên cứu lĩnh vực này đã đượcquan tâm hơn, nhiều hội thảo giáo dục đã được tổ chức và nhận được sự ủng hộcủa các chuyên gia Các trường Đại học như: Đại học Công nghệ - Đại họcquốc gia, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, Họcviện Bưu chính Viễn thông… đã nghiên cứu và triển khai thành công, bước đầugóp phân thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu, đềtài, luận bắt được đưa ra Phần lớn các đơn vị nghiên cứu và xây dựng dựa trênhệ thống mã nguồn mở Moodle.
Từ năm 2006, việc triển khai ứng dụng E-learning đã có nhiều khởi sắcnhờ sự quan tâm của các cấp các ngành và sự nỗ lực của các đơn vị giáo dục cụthể Một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng giáo dục trực tuyến trong dạyhọc đó là Đại học Công nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học xây dựng …Giai đoạn này hệ thống giáo dục học dựa trên các đối tượng, chủ đề Năm
Trang 162007, cuộc thi danh giá của ngành Công nghệ thông tin - “Nhân tài đất Việt” doBộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyềnthông tổ chức đã trao tặng giải Nhất cho giải pháp về E-learning, đó là giảipháp “Học trực tuyến và thi trực tuyến ứng dụng cho việc nâng cao chất lượngđào tạo” Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning Châu Á với sự tham gia củaBộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học công nghệ…
Năm 2010, thị trường E-learning sôi động với sự ra đời của hoc360.vn.Bước sang giai đoạn lấy cá nhân người học nắm vai trò chủ đạo, các bài giảngđược ghi hình, xử lý hậu kỳ một cách bài bản Các bài giảng tập trung mạnhvào phân tích hành vi học tập, xây dựng các biểu đồ học tập Đây cũng là thờigian nhiều nhánh của giáo dục trực tuyến được triển khai
Cùng với sự phát triển của mạng internet băng thông rộng cùng với nhucầu học tập của thế kỷ 21 ở Việt Nam có rất nhiều website dạy học trực tuyếnđược hình thành Có thể kể tới các website dạy học trực tuyến chất lượng như:
- “Hocmai.vn” - website trực tuyến lâu đời với các thầy cô giáo trựctuyến lâu năm đã có kinh nghiệm lâu dài như thầy Lê Bá Trần Phương, thầy VũKhắc Ngọc, Với mức giá học hợp lí, vừa phải cùng đội ngữ tư vấn chuyênnghiệp, tận tình, đây là website dạy học cho học sinh muốn ôn thi đại học vàtrung học phổ thông Quốc gia
- “Choolbus.vn” - webside trực tuyến mới nhất hiện nay khi mà ngườihọc có thể vừa học vừa giao lưu trực tuyến cùng nhau trong một thời gian nhấtđịnh bằng việc trò chuyện qua wepcam Đây là cách học vô cùng mới mẻ vàhiện đại Từ đó giúp người học có thể trao đổi bài tập cũng như các thắc mắccủa mình Web có nhiều học phần đa dạng và phong phú như toán, đồ họa vàlập trình, ngoại ngữ
- “Viettelstudy.vn” - website học tập chính thức của tập đoàn viễn thôngViettel, một tập đoàn lớn và có thế mạnh trong cả nước Viettelstudy.vn hiện có
Trang 17đa dạng các khóa học dành cho tất cả các đối tượng Đặc biệt, chương trình họctiếng Anh miễn phí rất hữu ích sẽ phần nào giúp cho người học cải thiện kỹnăng học tập của mình.
- “Edumall.vn” - “siêu thị” các khóa học trực tuyến ngắn hạn lớn tại ViệtNam với hàng nghìn khóa học thuộc mọi lĩnh vực, đội ngũ giảng viên chuyênnghiệp, giàu kinh nghiệm và mạng lưới học viên rộng khắp cả nước
Tuy nhiên các khóa học trực tuyến này thực sự chưa chú trọng đếnphương pháp tổ chức dạy học trực tuyến, các khóa học vẫn chủ yếu sử dụngviệc số hóa các bài giảng, đưa lên hệ thống để cho học viên tự học; học viên sẽ
tự kiểm tra đánh giá với các bài tập đã xây dựng mà không giới hạn về thờigian học tập; thiếu các hoạt động mang tính tương tác với sự định hướng củagiảng viên để tích cực hóa người học và phát triển các kỹ năng: Kỹ năng lập kếhoạch, kỹ năng nhóm, kỹ năng phân tích- tổng hợp
2.2 Lịch sử nghiên cứu dạy học trực tuyến
2.2.1 Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài.
Từ thực tiễn lịch sử ứng dụng, đã có nhiều công trình khoa học nghiêncứu về dạy học E-learning để đặt nền móng và đưa ra những cách thức triển
khai phù hợp Tác giả Rosenberg trong nghiên cứu “E-learning: Strategies for Delivering Knowledge in the Digital Age.” (Học tập điện tử: Chiến lược truyền
tải kiến thức trong kỷ nguyên số) [52] có đề xuất khái niệm về E-learning như
là quá trình dạy học sử dụng công nghệ thông tin và mạng viễn thông để phânphối các giải pháp nâng cao kiến thức và hiệu quả đào tạo, được dựa trên batiêu chuẩn cơ bản sau:
+ E-learning cho phép cập nhật, lưu trữ hay phục hồi, phân phối và chia
sẻ kiến thức hoặc thông tin thông qua mạng máy tính
+ E-learning được phân phối tới người sử dụng cuối cùng thông qua mộtmáy tính sử dụng công nghệ Internet chuẩn Tiêu chuẩn này xuất phát từ sự
Trang 18thay đổi nhanh chóng của máy tính Việc sử dụng các công nghệ Internetchuẩn, chẳng hạn như giao thức TCP/IP và các trình duyệt Web, cho phép tạo
ra một hệ thống kết nối toàn cầu
+ E-learning tập trung vào các giải pháp học tập dựa trên các mô hìnhđào tạo truyền thống Tiêu chuẩn này đáp ứng mục đích của E-learning là nângcao hiệu quả đào tạo thông qua quá trình phân phối kiến thức và thông tin
Theo tác giả Rosenberg, kỷ nguyên số gắn liền với những đột phá vềcông nghệ, internet, kỹ thuật số, thực tế ảo…, đã và đang phát triển với một tốcđộ chóng mặt chưa từng thấy trên toàn thế giới Các chuyên gia cho rằng, kỷnguyên số sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất, đặcbiệt trong lĩnh vực lao động, khi máy móc dần thay thế con người Thời đạithông tin của chúng ta được hình thành bằng cách tận dụng sự tiến bộ của kỹthuật thu nhỏ kích cỡ máy tính Sự tiến triển của công nghệ trong đời sống hàngngày và tổ chức xã hội đã dẫn đến sự hiện đại hóa tiến trình thông tin và truyềnthông đã trở thành động lực của sự tiến hóa về mặt xã hội
Tác giả Naidu S trong nghiên cứu “E-Learning-A Guidebook ofPrinciples, Procedures and Practices” (Học tập điện tử - Sách hướng dẫn về cácnguyên tắc, thủ tục và thực tiễn) [50] đã đề cập đến việc sử dụng công nghệthông tin và truyền thông vào trong quá trình dạy học Một số lượng lớn các
thuật ngữ khác cũng được sử dụng để mô tả loại hình dạy và học này như: học tập trực tuyến, học tập ảo, học tập phân phối, học tập dựa trên web và mạng.
Về cơ bản, tất cả các thuật ngữ trên đều đề cập tới các tiến trình giáo dục sửdụng công nghệ thông tin và truyền thông để cung cấp các hoạt động dạy họcđồng bộ và không đồng bộ
Gần đây một số công trình nghiên cứu điển hình về dạy học trực tuyếntrên nền E- learning như: Allen I.E and Seaman J [48], Bra P.D., Smits D.,Van der Sluijs K., Cristea A.I., Foss J., Glahn C Các tác giả nghiên cứu về
Trang 19thống học tập trực tuyến để quản lý bài giảng, quản lý hồ sơ học viên, tổ chứcthi trắc nghiệm online; tổ chức các lớp học trực tuyến trên nền E-learning.
Đặc biệt là luận án tiến sĩ “Adaptation And Acceptance In Online Course Design From Four-Year College And University Instructors: An Analysis Using Grounded Theory” của Sally J Baldwin [53] đã đưa ra tường minh về thiết kế khóa học trực tuyến, tác giả đã nghiên cứu thành công việc tạo ra các khóa học trực tuyến mà ở đó một vấn đề đã được giải quyết triệt để đó là “các bài học được chuyển đến một trình duyệt web hoặc thiết bị di động, được truy cập dễ dàng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu” Với những ưu điểm tuyệt vời của các khóa học trực tuyến khi người dùng sử dụng chúng thì những khóa học này
ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi hơn Tuy nhiên, hiện nay khi có rất nhiềunhững khóa học trực tuyến trên mạng với quá nhiều thông tin cần thiết thì việc
để thiết kế khóa học trực tuyến đủ thu hút và tạo niềm tin cho khách hàng làmột bài toán khó với nhà phát hành Việc tham gia những khóa học tạo nên sựhứng thú và người dùng thấy thú vị sẽ đem lại hiệu quả và hiệu ứng cao hơn sovới những khóa học đơn thuần và nhàm chán khác Chính vì thế mà việc thiếtkế khóa học trực tuyến là một việc hết sức quan trọng và cần thiết
Luận án đã phân tích cho người đọc thấy được tầm quan trọng của việcthiết kế khóa học trực tuyến Vậy chúng ta cần phải xây dựng và thiết kế khóahọc trực tuyến như thế nào và bằng phương pháp nào cho hiệu quả? Đừng lạmdụng quá nhiều kiến thức vào trong bài giảng mà hãy áp dụng những phươngpháp từ thực tế vào việc xây dựng phần mềm Trước tiên, bạn cần phải xác định
rõ mục tiêu cũng như nội dung của khóa học trực tuyến mà bạn xây dựng là gì?Thông qua việc xác định rõ ràng mục đích và nội dung đó bạn có thể truyền đạtcho khách hàng một cách rõ nhất thông điệp của mình cũng như có được xuấtphát điểm tốt đẹp Điều đó không có nghĩa là bạn sẽ đưa ra cả một danh sáchdài những bài giảng, những khóa học mà bạn sẽ cung cấp cho khách hàng Hãychú ý tới nhu cầu của khách hàng khi sử dụng phần mềm cũng như học khóa
Trang 20học trực tuyến của bạn Khi tìm hiểu được nhu cầu và mục đích của họ, bạn sẽtìm ra câu trả lời cho việc phát triển và thiết kế khóa học trực tuyến của mìnhnhư thế nào cho hiệu quả Bên cạnh đó, tạo ra giá trị cho các bài giảng của bạn
là một điều cần thiết Đừng giáo dục những thông tin sáo rỗng mà hãy gắn vớithực tế Đồng thời việc giảng dạy nên tạo cho người nghe như cuộc trò chuyệnhơn là một bài giảng lý thuyết khô khan Những điều đó sẽ giúp cho việc thiếtkế khóa học trực tuyến trở nên hiệu quả và đem lại nhiều thú vị cho khách hàngcủa bạn
Những công trình nghiên cứu trên tuy đã có sự phân tích thấu đáo về lýthuyết, đưa ra những kiến thức sâu sắc về kỹ thuật tạo lập các phần mềm cũngnhư hệ thống quản lý đào tạo, nhưng các tác giả chưa thực sự giải quyết triệt để
về phương pháp giảng dạy được áp dụng trong các môi trường học trực tuyến,
ở những điều kiện đa dạng khác nhau, cụ thể: Làm thế nào để giáo viên tươngtác với học viên, học viên tương tác với nhau cũng như học viên và giáo viêntương tác với nội dung học tập có hiệu quả; tạo ra được một môi trường học tậptrực tuyến ảo mà ở đó học viên luôn được quan tâm, khích lệ học tập như tronglớp học truyền thống? Đâu là phương pháp ưu thế cho các đơn vị bài học?
2.2.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam.
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về dạy học trực tuyến cũng đãđem đến nhiều kiến thức và suy ngẫm cho bạn đọc, điển hình như tác giảNguyễn Thị Hương Giang trong luận án tiến sĩ “Công nghệ dạy học trực tuyếndựa trên phong cách học tập” [20] Theo tác giả, “trong thế kỉ XXI - thời đại của kỉ nguyên số và thông tin - dạy học trực tuyến trở thành một hình thức dạy học tất yếu Tuy nhiên, những thay đổi từ dạy học giáp mặt sang dạy học trực tuyến đặt ra nhiều bài toán khó cho người dạy, người học và cả những chuyên gia thiết kế khóa học Một trong những thách thức để triển khai dạy học trực tuyến hiệu quả là tìm ra cách thức để hỗ trợ người học làm quen với môi trường mới, định hướng họ học tập phù hợp với năng lực, đặc điểm học tập của họ” Vì vậy, mục đích chính của nghiên cứu là đưa ra các giải pháp sư
Trang 21trong việc thiết kế môi trường dạy học trực tuyến phù hợp với đặc tính của sinhviên, trong đó mẫu khảo sát là sinh viên kĩ thuật của trường Đại học Bách khoa
Hà Nội Kết quả nghiên cứu đề xuất nhóm các phương pháp - phương tiện dạyhọc trực tuyến, tạo nên những môi trường học tập trực tuyến thích ứng với đặctrưng của từng nhóm người học, góp phần nâng cao chất lượng của các khóahọc trực tuyến hiện nay
Dạy học trực tuyến là hình thức dạy học tích hợp các ứng dụng của côngnghệ thông tin và truyền thông vào việc phân phối các bài học thông quainternet Ngày nay, mạng internet và các dịch vụ của nó đã bùng nổ và có sẵntrong mọi hoạt động xã hội, trong đó có giáo dục Do đó, hầu hết các lớp họcđều có thể sử dụng internet và các phương tiện điện tử ở một mức độ nhất định
Vì vậy, một lớp học sử dụng hình thức dạy học trực tuyến hay không phụ thuộcvào ba tiêu chí cơ bản: Mức độ truyền tải kiến thức qua internet (thông quachiến lược/phương pháp sư phạm được thiết kế); Tỷ lệ học liệu điện tử được sửdụng trong khóa học (học bằng phương tiện dạy học hiện đại); Mức độ linhđộng về không-thời gian giữa thầy và trò (môi trường dạy học) Tác giảNguyễn Thị Hương Giang [17] cũng đã làm rõ về công nghệ dạy học trực
tuyến, “Công nghệ dạy học trực tuyến là một hệ thống phương tiện dạy học trực tuyến, phương pháp dạy học trực tuyến và kỹ năng dạy học trực tuyến, nhằm vận dụng những qui luật của tâm lí học, giáo dục học, tác động vào người học trực tuyến, tạo nên một nhân cách xác định” Nghiên cứu đề cập đến
cơ sở hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật theo cấu trúc ba giai đoạn vàvận dụng vào quá trình dạy thao tác thể chất trong môi trường trực tuyến.Những đề xuất mang tính sư phạm đảm bảo khả năng định hướng người họctrực tuyến để họ lĩnh hội kiến thức và hình thành năng lực kĩ thuật một cáchhiệu quả trong môi trường có cấu trúc, hướng dẫn đầy đủ
Theo như tác giả Nguyễn Thúy Hồng [25], mô hình chức năng có thể cungcấp cái nhìn trực quan về các thành phần tạo nên nôi trường E-learning và
Trang 22những đối tượng thông tin giữa chúng ADL (Advanced Distributed Learning) một tổ chức chuyên nghiên cứu và khuyến khích việc phát triển và phân phốihọc liệu sử dụng các công nghệ mới đã công bố các tiêu chuẩn cho SCORM(SCORM được hiểu là một tập hợp các tiêu chuẩn và các mô tả cho mộtchương trình e-learning dựa vào web) mô tả tổng quát chức năng của một hệthống E-learning bao gồm:
-+ Hệ thống quản lý học tập (LMS) như là một hệ thống dịch vụ quản lýviệc phân phối và tìm kiếm nội dung học tập cho người học, tức là LMS quản
lý các quá trình học tập
+ Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS): Một LCMS là một môitrường đa người dùng, ở đó các cơ sở đào tạo có thể tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại,quản lý và phân phối nội dung học tập trong môi trường số từ một kho dữ liệutrung tâm LCMS quản lý các quá trình tạo ra và phân phối nội dung học tập.Theo như tác giả Nguyễn Thị Thanh Hồng trong luận án tiến sĩ giáo dục
“Tổ chức tự học cho sinh viên đại học sư phạm qua e-elarning” [24],
E-learning có một số lợi ích sau: “E-E-learning đem dến một môi trường đào tạo năng động hơn với chi phí thấp hơn; E-learning uyển chuyển, nhanh và thuận lợi; E-learing tiết kiệm thời gian, tài nguyên và mang lại kết quả tin cậy; E- learning mang lại kiến thức cho bất kỳ ai cần đến” Nghiên cứu tập trung nêu
rõ hiệu quả của quá trình dạy học chính là sự tương tác của tư duy, hành động
và lời nói giữa giáo viên và sinh viên Nhờ sự trợ giúp của ngôn ngữ mà tư duyđược củng cố và phát triển Giao tiếp bằng lời cho phép người học nhận thứcthế giới xung quanh, nhận ra mình trong thế giới đó Tuy nhiên, phát triển tưduy chỉ với một hệ thống giao tiếp không thôi thì chưa đủ, cần phải có hoạtđộng tự học của sinh viên Những nỗ lực của sinh viên là nhằm làm chủ kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo tạo điều kiện cho sự phát triển nhận thức và trí tuệ Cốtlõi của học tự học và khi xem xét đến mối quan hệ giữa dạy và học thì dạy chỉ
Trang 23là ngoại lực, còn tự học là nhân tố quyết định đến bản thân người học - nội lực.Nhưng quá trình dạy cũng có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình học Do vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lýbằng hành động của mình, tự phát triển bên trong Thầy là tác nhân, hướng dẫn,
tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Người thầy giỏi là người dạy cho trò biết tựhọc Người trò giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời
Quá trình tự học của học sinh có thuận lợi rất lớn về mặt thời gian, nhưnglại gặp phải khó khăn là thiếu tư liệu học tập và không có sự định hướng củagiáo viên, nên quá trình tự học thường không đạt được hiệu quả mong muốn.Việc xây dựng được hệ thống e-Learning sẽ phát huy những thuận lợi đồng thờikhắc phục được những khó khăn trên Từ việc tìm hiểu nội hàm các quan niệm
tự học của một số tác giả trong và ngoài nước thì tự học là quá trình người học
tự mình thực hiện và học tập để chiếm lĩnh tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo,những kinh nghiệm lịch sử xã hội qua đó hoàn thiện bản thân Tự học có thểdiễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sáchgiáo khoa đã được ban hành Đó là một hoạt động mang tính tích cực, chủđộng, tự giác nhằm đạt được mục tiêu học tập xác định của người học Nhưvậy, quá trình dạy học trực tuyến theo tiếp cận công nghệ sẽ phải đảm bảo cácnguyên tắc thống nhất giữa: Tính khoa học và tính công nghệ, tính khả thi vàtính hiệu quả, tính tuân thủ nguyên tắc với tính độc lập sáng tạo Những nguyêntắc này sẽ thiết lập các mối quan hệ giữa phương tiện dạy học trực tuyến,phương pháp dạy học trực tuyến và kỹ năng dạy học trực tuyến
2.3 Tình hình thiết kế bài học trực tuyến chủ đề ca dao Việt Nam
Trong dạy học Ngữ văn, E-learning đã được ứng dụng khá rộng rãi trongnhững năm gần đây Các bài giảng nhìn chung đã cung cấp đầy đủ về mặt nộidung, có ứng dụng nhiều hiệu ứng thu hút người học Tuy nhiên, số lượng bàigiảng được thiết kế dưới hình thức này còn hạn chế, phương pháp còn đơnđiệu, đa số đều áp dụng mô hình dạy học đọc hiểu quen thuộc thiên về trình
Trang 24chiếu kiến thức Khảo sát trên trang thư viện trực tuyến Violet - kho tư liệu lớnnhất về các tài liệu học tập và giảng dạy trực tuyến công khai, chỉ có 71 bài dạytrực tuyến Trong đó Ngữ văn lớp 10 có 22 bài, Ngữ văn lớp 11 có 19 bài vàNgữ văn lớp 12 có 30 bài.
Riêng đối với dạy học ca dao dân gian Việt Nam, khảo sát trên Violetchúng tôi thấy có 3 bài giảng liên quan Tuy nhiên, ba bài giảng đó chỉ đề cập tớinội dung của một bài học trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 Cụ thể: Mộtbài giảng về ca dao yêu thương tình nghĩa của tác giả Nguyễn Minh Hiền, và haibài giảng về Khái quát văn học dân gian Việt Nam của tác giả Lê Thị Mai vàNguyễn Huy Hoàng Dạy học ca dao dân gian Việt Nam với sự tổng hợp kiến thứctheo chuyên đề thì hiện nay chưa có bài giảng nào được thiết kế thực hiện
Như vậy, thông qua việc khảo sát sơ bộ một số bài giảng trực tuyến hiệncó, chúng ta thấy rằng hình thức dạy học này còn mới và đang trong quá trìnhthực nghiệm Số lượng và chất lượng các bài dạy chưa cao Đa số các bài cónội dung còn sơ sài, chú trọng nhiều về mặt hình ảnh, âm thanh mà chưa khaithác được những đặc sắc nghệ thuật theo thi pháp thể loại; chưa chú trọng mởrộng các ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, hoạt động kiểm tra đánh giá còn đơnđiệu, tính tương tác giữa giáo viên với học sinh còn nhiều hạn chế Đặc biệt,việc thiết kế bài giảng trực tuyến theo chủ đề chưa được xây dựng, mặc dù đây
là một trong những định hướng thay đổi của chương trình giáo dục mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ứng dụng dạy học trực tuyến learning) trong dạy học Ngữ văn cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm IspringSuite 9
(E-3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các bài ca dao dân ca, trong đó có cácvăn bản thuộc sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10; dạy học trực tuyến chủ đề cadao Việt Nam trên phần mềm Ispring Suite 9
Trang 25- Tiến hành thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài.
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyêt
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp này để giới thuyết lịch sử vấn đề và xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các công trình nghiên cứu, sáchchuyên khảo và các nguồn tài liệu khoa học có liên quan đến lý luận, công nghệdạy học hiện đại, tự học và phát triển năng lực tự học, E-learning và dạy họctrực tuyến, công nghệ thông tin,… có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Phương pháp này được chúng tôi sửdụng trong quá trình xin ý kiến tư vấn từ chuyên gia về những học thuật liên quan đến đề tài, cách thức thiết kế và giảng dạy bài học theo hình thức E - Learning
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng khi
so sánh đối chiếu giữa hình thức dạy học truyền thống với hình thức dạy họctrực tuyến và so sánh đối chiếu giữa những bài học dạy trực tuyến để có thể rút
ra được ưu và nhược điểm của từng bài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát Sư phạm: phương pháp này được vận dụng trongquá trình chúng tôi thực nghiệm sản phẩm, quát sát phản ứng của người học khihọc một bài giảng trực tuyến
Trang 26- Phương pháp điều tra, khảo sát: là phương pháp quan trọng trong quátrình thực nghiệm sư phạm Thông qua thực nghiệm, chúng tôi sẽ có nhữngđánh giá ban đầu về tính đúng đắn cũng như hiệu quả nghiên cứu của đề tài từnhững đối tượng được khảo sát Phương pháp này sẽ làm cho đề tài có tínhkhách quan và tính thực tiễn cao.
- Phương pháp thống kê, phân loại: sử dụng trong việc tìm hiểu ứng dụngcủa dạy học E-Learning trên thế giới Đồng thời sử dụng trong việc đánh giákết quả của đề tài thông qua việc lấy ý kiến đánh giá khách quan
6 Giải thuyết khoa học
Nếu bài học trực tuyến được áp dụng mở rộng sẽ giúp nâng cao hiệu quảgiáo dục cả về chất và lượng Việc học sẽ được tiến hành ở nhiều điều kiệnkhông gian và thời gian khác nhau, phát huy được năng lực của học sinh (đặcbiệt là năng lực tự học) cũng như khả năng ứng dụng công nghệ thông tin từphía người dạy
Trang 271.1.1.1 Khái niệm dạy học chủ đề
Theo lý luận về khoa học giáo dục, “Chủ đề” là một thuật ngữ được ứngdụng trong khoa học phát triển giáo dục hiện đại, chỉ một tổ hợp kiến thức trọnvẹn trong nội dung giáo dục có tính chất tích hợp “Dạy học chủ đề” là tìm tòinhững khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học,… có sự giaothoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn
để làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn Họctập theo chủ đề, học sinh có thể phát huy tốt hơn khả năng chủ động, sáng tạo,khái quát, tổng hợp kiến thức và vận dụng vào thực tiễn Trên cơ sở kế hoạchdạy học giáo viên có thể thiết kế tiến trình dạy học cụ thể cho mỗi chủ đề màkhông nhất thiết phải theo trình tự bài/ tiết trong sách giáo khoa Mỗi chủ đề cóthể được thực hiện ở nhiều tiết học, mỗi tiết chỉ có thể thực hiện một hoặc một
số bước trong tiến trình tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Các nhiệmvụ học tập có thể được thực hiện ở trong học ngoài giờ lên lớp Ngoài việc tổchức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập cho học simh ở ngoài lớphọc và ở nhà
Cần phân biệt giữa “dạy học chủ đề” và yếu tố chủ đề thuộc phương diệnnội dung của tác phẩm văn học Trong luận văn này, khái niệm “chủ đề” mà tôisử dụng để nghiên cứu là khái niệm theo Khoa học giáo dục, nhằm đảm bảo bàihọc trực tuyến chủ đề ca dao có nội dung bám sát vào chương trình hiện hành,
Trang 28nhưng kế hoạch và các hoạt động dạy học được thiết kế theo định hướng pháttriển năng lực để hiệu quả giáo dục nâng cao hơn.
1.1.1.2 Đặc điểm của dạy học chủ đề
Dạy học theo chủ đề có sự kết nối, nhóm gộp các đơn vị bài học dựa trênmột tiêu chí phù hợp, sẽ giúp người học có điều kiện tập trung khai thác nộidung kiến thức một cách hiệu quả, có thêm nhiều thời gian thực hành, vận dụngkiến thức đã học để giải quyết các vấn đề Dạy học theo chủ đề cũng như một
số mô hình tích cực khác, giáo viên luôn phải nghĩ rằng các em tự tin và có thểbiết nhiều hơn ta mong đợi, vì thế dạy học cần tận dụng tối đa kiến thức, kinhnghiệm, kĩ năng có sẵn của các em và khuyến khích khả năng biết nhiều hơnthế của học sinh về một vấn đề mới để giảm tối đa thời gian và sự thụ động củahọc sinh trong khi tiếp nhận kiến thức mới, để tăng hiểu biết lên nhiều lần sovới nội dung cần dạy, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh
Dạy học theo chủ đề hướng tới việc sử dụng kiến thức, hiểu biết vào thựctiễn các nhiệm vụ học tập nhắm tới sự lĩnh hội hệ thống kiến thức có sự tíchhợp cao, đồng thời hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác như cácnăng lực, kĩ năng sống… Trong dạy học theo chủ đề kiến thức mới được họcsinh lĩnh hội trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập Đó là kiến thức tổchức theo một tổng thể Hơn nữa với việc học sinh lĩnh hội kiến thức trong quátrình giải quyết nhiệm vụ học tập, cũng mang lại một lợi thế to lớn đó là mởrộng không gian, thời gian dạy học, tinh giản thời gian dạy, độ ứng dụng thựctế cao hơn nhiều Việc dạy học theo chủ đề sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạocủa giáo viên trong công tác giảng dạy và thực hiện kế hoạch dạy học
Tóm lại, dạy học chủ đề là một mô hình dạy học kiểu mới áp dụng nhiềuphương pháp dạy học ưu thế, đặc biệt cần thiết trong công tác bồi dưỡng học
Trang 29vì dạy học theo chủ đề giúp cho học sinh tổng hợp kiến thức, xâu chuỗi các vấn
đề, nhìn nhận vấn đề một cách đa dạng, đa chiều…
1.1.2 Dạy học trực tuyến
1.1.2.1 Khái niệm dạy học trực tuyến
Trực tuyến là hoạt động kết nối trên mạng truyền thông, chỉ một trạng
thái kết nối với mạng Internet toàn cầu Đây là khái niệm dùng trong thời đạiInternet, có ý nghĩa liên quan đến công nghệ máy tính và viễn thông
Dạy học trực tuyến là phương thức học thông qua một máy vi tính, điện
thoại thông minh kết nối mạng đối với một hoặc một số máy chủ ở nơi khác cólưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đềcho học sinh học trực tuyến từ xa Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của côngnghệ thông tin, có rất nhiều hình thức dạy học trực tuyến được tạo lập và hỗ trợbằng các phần mềm khác nhau Trong đó, bài học e-learning là phổ biến vàhiệu quả hơn cả Về bản chất, dạy học online và dạy học trực tuyến đều làphương thức giáo dục sử dụng Internet để kết nối giữa giáo viên và người học;nhưng dạy học online là tương tác thời điểm (tức là ngữ liệu học tập và kiếnthức chỉ được hiển thị trong một khoảng thời gian nhất định của giờ học), còndạy học trực tuyến ưu thế hơn ở điểm có thể lưu trữ dữ liệu một cách lâu bền
E-learning được xem là một hình thức học tập mới của thế kỉ 21 mà cácphương pháp trước đó chưa có E-leaning được hình thành từ những năm 1980
và đến thời điểm hiện tại, hình thức học này đã trở nên rất rộng rãi bởi nhữnglợi ích mà nó đem đến cho người học Với học sinh trung học phổ thông ở nước
ta hiện nay thì e-learning sẽ là một hình thức học khá phù hợp cho việc pháttriển các khả năng học tập độc lập, tự chủ và sáng tạo của các em
Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-learning, dưới đây sẽtrích ra một số định nghĩa về e-learning đặc trưng nhất:
-E-learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập(WilliamHorton)
Trang 30-E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựatrên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare InfobaseInc).
- E-learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tảihoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thôngkhác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIECenter)
- E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệđiện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, videotape, các hệ thống giảng dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy; cácphương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân (e-learningsite)
- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin,học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triểnkhả năng cá nhân." (Lance Dublin)
Ngoài ra, e-learning còn được định nghĩa là việc thực hiện chương trìnhgiáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng, thông qua các phương tiện điện tử E-learning liên quan đến việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trên mộtphương diện nào đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo,bồi dưỡng
Trong bài viết “E-learning và ứng dụng dạy học” của hai tác giả Lê HuyHoàng và Lê Xuân Quang, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội có đưa
ra cách hiểu về E-learning như sau: E-learning là một hình thức học tập thôngtin qua mạng Internet dưới dạng các khóa học và được quản lí bởi các hệ thốngquản lý học tập đảm bảo sự tương tác, hợp tác đáp ứng nhu cầu học mọi lúc,mọi nơi của người học” [23] Theo cách hiểu như vậy, một hệ thống E-learningphải đảm bảo được các điều kiện dưới đây:
- Sử dụng mạng Internet
- Tồn tại dưới dạng các khóa học, hoặc các đơn vị học tập riêng lẻ
- Sử dụng các phần mềm quản lý học tập
Trang 31Trong thông tư “Quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí tổchức đào tạo qua mạng” của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2016 có giải thích vềhình thức học tập E-learning như sau: Học tập điện tử (e-learning) là hình thứchọc tập mà qua đó người học có thể tự học mọi lúc mọi nơi thông qua hệ thốngcác học liệu điện tử đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hìnhảnh, video, đồ họa…) Các hình thức học tâp như M-learning (học thông quathiết bị di động), U-Learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tếảo diễn ra ở bất kì nơi nào), hay Smart - Learning (Phương tiện học tập thôngminh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-Learning.
Như vậy, có thể thấy mọi cách hiểu đều mang dấu hiệu thống nhất: Họctrực tuyến (E- learning) là một hình thức học tập không diễn ra tại các lớp họctruyền thống, mà học tập được tiến hành thông qua các thiết bị, phương tiện,thông tin truyền thông
1.1.2.2 Các hình thức dạy học trực tuyến
Bản chất của học trực tuyến là một hệ thống học tập mềm dẻo và linhhoạt Việc tổ chức các hoạt động dạy học có thể được triển khai dưới nhiềuhình thức khác nhau Xét từ góc độ vai trò của hệ thống e-learning trong việchoàn thành một khóa học, có thể kể ra hai hình thức học tập chính là học tậptrực tuyến hoàn toàn và học tập trực tuyến kết hợp
- Hình thức học tập trực tuyến hoàn toàn (Online learning)
Là hình thức hoàn thành khóa học được thực hiện toàn bộ trên môitrường mạng Internet thông qua hệ thống quản lý học tập Theo phương thứcnày, E-learning chỉ khai thác được những lợi thế cơ bản của học online (nhanh,tiện lợi, linh hoạt) chứ chưa quan tâm tới những thế mạnh đặc thù của dạy họcgiáp mặt trực tiếp giữa người dạy và người học Thuộc về hình thức này, có haicách thể hiện là dạy học đồng bộ khi người dạy và người học cùng tham giavào hệ thống quản lý học tập và dạy học không đồng bộ, khi người dạy vàngười học tham gia vào hệ thống học tập vào những thời điểm khác nhau
- Hình thức học tập trực tuyến kết hợp (Blended learning)
Trang 32Là hình thức triển khai khóa học dựa trên sự kết hợp của hai hình thứchọc trực tuyến và dạy học giáp mặt Theo cách này, E-learning được thiết kếvới mục đích hỗ trợ quá trình dạy học và có vai trò cung cấp những tri thức nộidung, chủ điểm trọng tâm và phù hợp nhất với thế mạnh của loại hình này Cònlại với những tương tác khác, người dạy vẫn thực hiện thông qua hình thức dạyhọc giáp mặt trực tiếp với học trò, nhằm khai thác tối đa lợi thế của dạy họcđọc hiểu, đặc biệt là rèn cho học sinh năng lực tạo lập văn bản nói và viết thànhthục, hiệu quả hơn Khi sử dụng hình thức học tập trực tuyến kết hợp, nội dunghọc tập cần được thiết kế sao cho khéo léo và phù hợp, để tạo tính liên hệ mậtthiết, bổ sung và tương tác hiệu quả, nhịp nhàng, hướng tới mục tiêu nâng caochất lượng cho khóa học.
Với những đặc điểm trên, hình thức học tập trực tuyến kết hợp là hìnhthức được sử dụng phổ biến và chiếm ưu thế cao hơn hình thức học tập trựctuyến hoàn toàn Hình thức này đa và đang được áp dụng trên hệ thống giáodục toàn thế giới, kể cả những nước có nền giáo dục phát triển
1.1.2.3 Cách thức thiết kế bài học trực tuyến
Để xây dựng bài giảng và tổ chức dạy học theo hình thức học tập trựctuyến, ta có thể thao tác qua 7 bước Nội dung cụ thể của các bước như sau:
- Bước 1 - Phân tích: Đây là bước đầu tiên của quá trình thiết kế bài họctrực tuyến Ở bước này, người giáo viên cần phải nghiên cứu hệ thống tài liệu,giáo trình, đánh giá các mức độ kỹ năng và trình độ hiện có của người học… để
từ đó xác định mục tiêu, trọng tâm và những kiến thức cơ bản cần có được saukhi học Việc xác định mục tiêu trong bước đầu tiên này là rất quan trọng Giáoviên cần nêu rõ trên các phương diện: Kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực
- Bước 2 - Xây dựng kế hoạch: Với những kết quả đã được phân tích vàtổng hợp từ bước 1, giáo viên tiếp tục lên kế hoạch đào tạo sao cho phù hợp vớiđối tượng người học Ở giai đoạn này, giáo viên cần xây dựng kế hoạch bámsát vào những nội dung cần đạt, hoạch định rõ thời lượng dạy và học cho từng
Trang 33nội dung; sau đó tạo yêu cầu học tập cho từng đơn vị kiến thức ứng với khoảngthời gian nhất định, và thiết kế cách phiếu, bảng, tài liệu…
- Bước 3 - Thiết kế bài giảng chi tiết: Đây là bước tiến hành thiết kế kịchbản dạy học cho một bài học cụ thể Bài giảng này tương tự như một giáo án,trong đó người soạn cần xác định rõ ràng mục đích, mục tiêu của các hoạt độngdạy học, hoạt động tương tác (đặc biệt là họat động tương tác với máy tính cókết nối Internet, bởi trong dạy học trực tuyến, học sinh sẽ chủ yếu được làmviệc trực tiếp với máy tính chứ không phải giáo viên)
- Bước 4 - Tạo lập học liệu điện tử: Sau khi đã có bài giảng chi tiết, giáoviên sẽ lựa chọn một phần mềm dạy học trực tuyến phù hợp để xây dựng bàihọc Đây là giai đoạn quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải có hiểu biết và
ký năng sử dụng công nghệ thông tin ở trình độ cao Kết thúc quá trình này,giáo viên phải xây dựng được một bài học trực tuyến hoàn chỉnh để tiến hànhcác bước tiếp theo
liệu học tập trực tuyến, giáo viên cần thực hiện bước tiếp theo là đăng tải bài giảngnên mạng Internet Trong trường hợp giáo viên cộng tác với các trung tâm hoặccác tổ chức dạy học trực tuyến thì sẽ đăng lên các trang mạng cảu các tổ chức đó.Sau khi đăng tải thành công bài giảng sẽ tiến hành các bước tiếp theo
Người giáo viên sau khi đưa các bài giảng lên Internet sẽ tiếp tục tiến hành cáchoạt động dạy học trực tuyến trên hệ quản trị đào tạo Giáo viên có thể tạo lập cácphòng chat để người học có thể tham gia trao đổi trực tuyến về các nội dung củabài học; hoặc có thể bày tỏ ý kiến thông qua phần bình luận về bài giảng
- Bước 7 - Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùngtrong quy trình thiết kế một bài học trực tuyến Đây là bước giáo viên tiến hànhkiểm tra, đánh giá người học xem sau quá trình học tập, người học tiếp thuđược những gì, có đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra ban đầu hay không Đồngthời, giáo viên cũng nên tiến hành lấy ý kiến phản hồi của người học về chất
Trang 34lượng bài giảng, những điểm mạnh, yếu của bài học để từ đó cải thiện chất lượng cho chính bài giảng của mình.
1.1.2.4 Kĩ thuật dạy học trực tuyến
chèn các video YouTube hoặc các liên kết web trực tiếp vào trong bài thuyết
trình Nếu có phần cứng hỗ trợ, với iSpring Suite bạn có thể tạo nội dung video
và audio muốn chèn vào tập tin PPT
+ Tiện ích iSpring Suite cho phép bạn chia nhỏ bài thuyết trình thành
nhiều chương và gán các giọng tường thuật khác nhau cho từng phần đó Cácgiọng tường thuật này được tạo qua tùy chọn tương ứng trong ứng dụng và quathao tác nhập thông tin cần thiết như tên, tiêu đề, tên website và hình ảnh gắnkèm, tùy theo nhu cầu sử dụng của bạn
+ iSpring Suite còn có khả năng chỉnh sửa và sắp xếp từng phần trong
bài thuyết trình của bạn qua các danh mục riêng biệt như sắp xếp các slide,video hay ghi âm,
+ Đặc biệt, iSpring Suite giúp giáo viên kiểm soát nội dung bài tập của học
sinh khi học trực tuyến, kết quả bài tập tương tác được gửi trực tiếp về email
-Nhược điểm:
+ Ít dạng câu hỏi tương tác
+ Là phần mềm nước ngoài, cần Việt hóa khi sử dụng
Trang 35+ Là phần mềm trả phí.
+ Đôi khi bị lỗi do thường xuyên cập nhật phần mềm
* Adobe Presenter: Là phần mềm được phát hành mởi hãng phần mềm nổi tiếng thế giới Adobe Adobe Presenter có chức năng soạn thảo bài giảng
điện tử giúp giáo viên có thể dễ dàng tạo ra các bài giảng theo tiểu chuẩn về learning phổ biến và có thể sử dụng bài giảng để dạy - học trực tuyến thông qua
e-mạng Internet Đặc điểm nổi bật Adobe Presenter là sử dụng khả năng mạnh
mẽ của Ms PowerPoint để soạn thảo nội dung
- Ưu điểm:
+ Chèn đa phương tiện (Flash, âm thanh, hình ảnh) vào các nội dungtrình chiếu trong bài giảng Chèn các câu hỏi tương tác lên bài giảng, đóng gói
và xuất bản bài giảng theo nhiều định dạng khác nhau
+ Tích hợp chỉnh sửa nhiều định dạng của bộ sản phẩm Adobe như: Chỉnh sửa âm thanh (Adobe Audition), chỉnh sửa ảnh (Adobe Photoshop), chỉnh sửa video (Adobe Premiere),
+ Adobe Presenter giúp đóng gói một cách dễ dàng theo nhiều định
dạng khác nhau như chuẩn scrom, tải lên web HTLM5 một cách dễ dàng
+ Adobe Presenter có nhiều dạng câu hỏi tương tác khác nhau.
+ Ngoài ra, Adobe Presenter hỗ trợ trình chiếu trực tiếp trên
Youtube - Nhược điểm:
+ Là phần mềm nước ngoài khó sử dụng
+ Phần mềm cần máy tính cấu hình cao mới có thể sử
dụng + Đây là phần mềm trả phí tương đối cao
b Hướng dẫn sử dụng phần mềm iSpring Suite
Với các yếu tố như cấu hình máy tình, tính năng, ngôn ngữ, tôi chọn
phần mềm iSpring Suite để thiết kế bài dạy E - learning Sau khi cài đặt và bẻ
khóa phần mềm thì iSpring sẽ tích hợp vào PowerPoint với giao diện gồm 6nhóm chức năng như sau:
Trang 36* Nhóm Narration:
- Record Audio: Ghi âm trực tiếp lời giảng Đối với laptop sẽ có Micaro
tích hợp, đối với máy tính để bàn cố định cần trang bị Micaro kết nối Nhấn
Start Record để bắt đầu và kết thúc bằng cách nhấn OK.
- Record Video: Quay video trực tiếp người giảng Đối với laptop sẽ có
Camera tích hợp, đối với máy tính để bàn cố định cần trang bị Webcam Nhấn
Start Record để bắt đầu và kết thúc bằng cách nhấn OK.
Trang 37- Manage Narration: Chèn file ghi âm và video sẵn có.
+ Bước 1: Nhấn Manage Narration, giao diện mới sẽ mở ra.
+ Bước 2: Nhấn Audio để chọn file ghi âm có trong máy Bảng Import Autio sẽ hiện ra, chọn Adjust slide duration rồi nhấn Insert để thêm
file ghi âm hoặc file nhạc
Trang 38+ Bước 3: Nhấn Video để chọn file video sẵn có trong máy Bảng Import Autio sẽ hiện ra, chọn Adjust slide duration rồi nhấn Insert để
thêm video
+ Bước 4: Chọn Edit Clip để lọc âm và chỉnh sửa âm thanh (Delete: Xóa đoạn âm thanh; Silence: Tắt tiếng đoạn âm thanh đã chọn; Trim: giữ lại đoạn âm thanh đã chọn; Remove noise: lọc âm thanh, tách tiếng ồn; Adjust Volume: chỉnh độ lớn nhỏ của âm thanh; Fade in: phát âm thanh từ lớn dần; Fade out: phát âm thanh nhỏ dần)
Trang 39+ Bước 5: Nhấn Save and Close để lưu khi hoàn thành.
Trang 40* Nhóm Insert:
- Quiz: Tạo trò chơi và các câu hỏi tương tác
+ Bước 1: Trong Quizzes chúng ta có rất nhiều nội dung có thể tạo ra
trong mục Question, bạn có thể sử dụng Quizzes làm các trò chơi, các
dạng câu hỏi lựa chọn vấn đáp để được điểm hoặc tạo ra các bài khảo sátcho học sinh