Tài sản bao gồm bất động sản và động sản… Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sả
Trang 1ĐỀ TÀI: TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN
BÀI THẢO LUẬN THỨ BA
MÔN: LUẬT DÂN SỰ
Trang 2ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Trang 4
I Khái niệm tài sản
1.1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về một vài giấy tờ có giá.
- Điều 105 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản"
- Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy
tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”
Ngoài ra, các quy định khác của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm:
- Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
- Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
- Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009;
- Các loại chứng khoán (Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại điểm 3 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010;
- Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trang 51.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Đoạn nào của quyết định số 06 cho câu trả lời?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không là giấy tờ có giá Quyết định số 06 ghi nhận:
Theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản như sau: “1 Tài sản
là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất động sản
và động sản… Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá
Quyết định số 06/2017/QĐ-PT có đoạn:
Theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tài sản như sau: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”; Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Căn cứ Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý
để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất,
là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy
tờ có giá
1.3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định trên có cho câu trả lời không? Vì sao?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không là tài sản Quyết định số 06 cho ta câu trả lời rằng
Trang 6giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá Do đó, việc ông Hai khởi kiện yêu cầu ông Thái đòi trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, chiếu theo Điều 105, 115 BLDS 2015 và khoản 6 Điều
3 Luật đất đai Bởi vì, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những căn cứ cho phép xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, chứ hoàn toàn không phải là tài sản
1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của thực tiễn xét xử liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài);
Từ khái niệm tài sản được ghi nhận tại Điều 105 BLDS 2015, có chăng “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chỉ là một loại giấy tờ chứa đựng, ghi nhận quyền sở sử dụng đất, sở hữu nhà được chứng nhận từ nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền? Trích một phần bình luận trong bài viết của tác giả Đỗ Thành Công:
Gần đây, Tòa án nhân dân tối cao ban hành công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại chứng nhận quyền sở hữu tài sản (“Công văn 141”) Theo công văn 141, các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng kí xe mô tô, xe máy; Giấy đăng kí xe ô tô…) không phải là giấy tờ có giá được quy định tại Điều 163 BLDS 2005, do đó, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại các giấy tờ này thì Tòa án không thụ lý giải quyết Khi trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ vụ án dân sự liên quan tới yêu cầu kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do người khác đang chiếm giữ, Tòa án phải hướng dẫn cho người khởi kiện yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền buộc người chiếm giữ bất hợp pháp giấy tờ nêu trên phải trả lại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ đó Tác giả đã nêu
ra nhận định: “Việc Tòa án nhân dân tối cao coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện
Trang 7hành Theo Điều 163 BLDS 2005, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ
có giá, tuy nhiên hoàn toàn có thể xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật Điều này là hợp lý bởi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định, thậm chí có hình dạng cụ thể (là tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiện việc nắm giữ, chiếm giữ, quản lý đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), có giá trị sử dụng (được dùng để chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất Việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể tham gia vào giao dịch trao đổi mua bán không làm mất đi bản chất tài sản của nó Thứ ba, việc Tòa án nhân dân tối cao coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản dẫn đến nhiều hệ quả không giải thích được về mặt lý luận và thực tế, đồng thời nhận thức này làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lại của người sử dụng đất… Việc coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải
là tài sản đã tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất đối với loại giấy tờ này, từ đó dẫn tới việc Tòa án không có cơ sở để thừa nhận việc bảo hộ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một khi có tranh chấp… Giá trị vật chất của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không lớn (chỉ là một tờ giấy trên đó Nhà nước ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất) Tuy thế, loại giấy tờ này rất có ý nghĩa trong việc chứng minh quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất Thực tiễn xét xử hiện nay không coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản, tuy nhiên quan điểm này tỏ ra thiếu cơ
sở pháp lý và thực tiễn.” Vì những điều đã đề cập ở trên, việc thừa nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản trong thực tiễn xét xử là cần thiết
Theo em, xét về phương diện pháp lí, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
có thể được coi là loại tài sản nếu nhìn nó dưới góc độ đơn thuần chỉ là một
tờ giấy, vì nó là vật
1.5 Nếu áp dụng BLDS 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?
Nếu áp dụng BLDS 2015, cụ thể là Điều 105 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không được coi là tài sản Vì giấy
Trang 8chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà là văn bản chứa đựng quyền sử dụng đất chứ không phải là tài sản
1.6 Bitcoin là gì?
Bitcoin (ký hiệu: BTC, XBT, ) là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin
có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào
Bitcoin là loại tiền mã hoá điển hình nhất, ra đời đầu tiên, và được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử Các doanh nghiệp có xu hướng muốn thanh toán bằng Bitcoin để giảm thiểu chi phí Đến tháng 7 năm 2018, lượng tiền cơ sở của Bitcoin được định giá hơn 109 tỷ đô la Mỹ - là loại tiền mã hóa
có giá trị thị trường lớn nhất Những biến động lớn trong giá trị của mỗi bitcoin đã tạo nên những lời chỉ trích về tính phù hợp kinh tế của Bitcoin như
là một loại tiền tệ
1.7 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?
Theo Tòa án, Bitcoin không phải là tài sản theo pháp luật Việt Nam :
- Theo Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm: tất
cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối
Trang 9với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự
Bên cạnh đó, theo Điều 4, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016)
đã có quy định rất rõ các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, trong
đó không có loại phương tiện tương tự như Bitcoin, cụ thể: "Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” Đồng thời, các quy định của Nghị định 101/2012/NĐ-CP cũng cấm sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp tại Việt Nam Như thế, ở khía cạnh này nếu xem Bitcoin là một phương tiện thanh toán thì nó chưa được pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện để thực hiện các hoạt động thanh toán Từ đó có thể thấy rằng, ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện nay Bitcoin chưa được xem là một loại tài sản, và không được nhà nước công nhận
1.8 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
- Pháp luật nước ngoài có xem Bitcoin là tài sản
- Năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại bitcoin như là một loại tiền ảo phi tập trung có thể chuyển đổi Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, CFTC, đã phân loại bitcoin là một loại hàng hóa vào tháng 9 năm 2015 Theo IRS, bitcoin bị đánh thuế như một tài sản
1.9 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam.
Quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam khi không coi Bitcoin là tài sản theo pháp luật Việt Nam là hợp lý Do sự phát triển quá nhanh và khó kiểm soát của tiền ảo, pháp luật chưa có quy định cụ thể nào về việc sử dụng đồng tiền Bitcoin, Ngân hàng
Trang 10Nhà nước Việt Nam cũng không chấp nhận loại tiền ảo như một đồng tiền sử dụng
Với cơ chế hoạt động không có sự kiểm soát, Bitcoin nằm ngoài thẩm quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nướckhi bạn mở một tài khoản Bitcoin, bạn không cần phải khai báo bạn là ai, đến từ đâu, làm gì và thu nhập bao nhiêu hàng tháng Chỉ cần một vài cú click chuột để tạo một địa chỉ ví trên hệ thống (wallet address), địa chỉ đó thường là một dãy ký tự xếp ngẫu nhiên tương tự như số tài khoản ngân hàng của bạn, và bạn có thể gửi nó cho bất kỳ ai để bảo họ chuyển tiền vào đó cho bạn
Vì thế những giao dịch ngầm chúng ta khó kiểm soát được cho những hoạt động của tội phạm rửa tiền, trốn thuế, chuyển tiền bất hợp pháp, thanh toán, tài trợ chủ quyền quốc gia về phát hành tiền tệ sẽ bị xâm phạm, ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, pháp luận nước ta đã thực hiện những chính sách quản lý riêng Tuy nhiên, mức độ phủ song của Bitcoin hiện tại vẫn còn những vấn đề Nhà nước chưa kiểm soát được Hy vọng trong thời gian sớm nhất chúng ta sẽ có một cái nhìn cụ thể về loại hình này
1.10 Quyền tài sản là gì ?
- Quyền tài sản là quyền trị giá được tính bằng tiền, không đòi hỏi có sự
chuyển giao trong giao dịch dân sự Đối với quyền tài sản là đối tượng phải đáp ứng được hai yêu cầu là trị giá được tính bằng tiền và được chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự Quyền tài sản gồm có: quyền sử dụng tài sản thuê, quyền thực hiện hợp đồng, quyền đòi nợ, quyền trị giá bằng tiền, quyền sở hữu trí tuệ Các quyền tài sản khác gắn với nhân thân thì không thể chuyển giao như: quyền cấp dưỡng, quyền thừa kế, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe
1.11 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Theo đó:
Trang 11Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, không đòi hỏi phải có sự chuyển giao trong giao dịch dân sự Đối với quyền tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự phải đáp ứng được hai yêu cầu là trị giá được bằng tiền và
có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự Quyền tài sản bao gồm quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê, quyền trị giá bằng tiền, quyền thực hiện hợp đồng, quyền sở hữu trí tuệ Những quyền tài sản khác gắn với nhân thân thì không được chuyển giao như quyền thừa kế, quyền cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe
II Căn cứ xác lập quyền sở hữu
2.1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?
Trong Quyết định của Tòa án, đoạn khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm là:
“Gia đình chị Nhữ Thị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút đã nhiều thế hệ, tuy chị Vân có lời khai thừa nhận gia đình chị thuê nhà của cụ Hảo và nộp tiền thuê nhà cho ông Chính (con cụ Hảo), nhưng cụ Hảo vào miền Nam sinh sống từ năm 1954, ông Chính không xuất trình được tài liệu cụ Hảo ủy quyền cho ông Chính quản lý căn nhà Trong khi đó chị Vân khai gia đình chị ở tại căn nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954, lúc đầu là ông nội chị ở, sau này là bố chị Vân và chị Vân tiếp tục ở.”
Quyết định của Tòa án là hợp lí vì cho dù không xác định được thời điểm mà gia đình chị Vân thuê nhà là năm 1954 hay 1968 thì đến thời điểm năm 2004 khi cụ Hảo kiện ra Toà thì cũng đã quá 30 năm Vậy việc chiếm hữu trên 30 năm của chị Vân đối với ngôi nhà là thỏa đáng theo Khoản 1 Điều 186 Bộ luật Dân sự 2005: “ Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì