- Quyết định của Tòa: Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định di chúc của ông Lưu là hợp pháp, từ đó cho bà Xê hưởng toàn bộ tài sản mà không chia cho bà Thẩm 2/3 kỷ phần thừa kế th
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1
BÀI THẢO LUẬN LỚN HỌC KÌ MÔN: LUẬT DÂN SỰ
Trang 3và cam kết bồi thường thiệt hại, tuy nhiên công ty Vinausteel không tham gia kí kết, nên không thuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự Công ty hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hại cho công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng.
Tóm tắt quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
- Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kiện bị đơn là Công
ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex Ngày 14/5/2001 Ngân hàng TMCP Công thương đã cho Xí nghiệp xây dựng 4-Công ty Xây dựng số II nay là Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex vay 2 tỷ đồng Nay Xí nghiệp xây dựng 4 không
có khả năng trả nợ nên Ngân hàng đã xử lý phát mại một phần tài sản thế chấp.
Do xí nghiệp xây dựng 4 thuộc Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex nên Ngân hàng yêu cầu công ty này phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ nêu trên và xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để thu hồi nợ.
Tóm tắt quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xê, sinh năm 1951.
- Bị đơn: -Chị Võ Thị Thu Hương, sinh năm 1965;
-Anh Nguyễn Quốc Chính, sinh năm 1961;
Nội dung bản án: Bà Xê, kết hôn với ông Lưu, không có con chung, tài sản chung của vợ chồng là một căn nhà cùng một số tài sản Khi ông Lưu chết, thì
vợ chồng chị Hương (con gái ông Lưu), anh Chính đã vào ở căn nhà này cùng
bà Xê Trước khi chết ông Lưu có để lại di chúc cho bà Xê được quyền sử dụng toàn bộ tài sản, bà Xê yêu cầu được thừa kế theo di chúc của ông Lưu Chị Hương cho rằng đây là tài sản của ông Lưu, bà Xê lấy ông Lưu là bất hợp pháp nên không đồng ý yêu cầu của bà Xê Còn bà Thẩm thì cho rằng căn nhà là tài sản chung của bà với ông Lưu nên bà yêu cầu được hưởng thừa kế theo pháp luật.
Trang 4- Quyết định của Tòa: Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định di chúc của ông Lưu là hợp pháp, từ đó cho bà Xê hưởng toàn bộ tài sản mà không chia cho bà Thẩm 2/3 kỷ phần thừa kế theo pháp luật là không đúng, làm thiệt hại đến quyền lợi của bà Thẩm Vì vậy Tòa án quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm giao cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử lại.
Tóm tắt quyết định 08/2013/DS-GĐT về ciệc “đòi tài sản bị chiếm giữ”
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị Ơn
- Bị đơn: bà Lý Thị Chắc.
- Các bên đương sự xác nhận nhà đất đang tranh chấp (nhà có diện tích 148.8m2trên diện tích 921.4 m2 đất) tại thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tình Tiền Giang
do cụ Nguyễn Kỳ Huệ (bố chồng chông đơn) tạo lập.
- Theo nguyên đơn, phần nhà đất trên do cụ HUệ tạo lập, trước khi cụ Huệ chết
đã để lại di chúc cho ông Nguyễn Kỳ Hòa (con trai cụ Huệ và chồng nguyên đơn) Năm 2008, ông Hòa mất, không để lại di chúc, phần nhà đất trên được các đồng thừa kế của ông Hòa ủy quyền cho bà Ơn , ngày 04/3/2011 bà Ơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong lúc ông Huệ còn sống, có cho bà Chắc ở nhà và trông nom nhà cửa Sau đó ông Hà tiếp tục cho bà ơn ở nhờ Sau khi ông Hà qua đời, bà Chắc cho ba người cháu vào ở nhờ, được sự đồng ý của
bà Ơn Sau bà Ơn yêu cầu bà Chắc và các cháu mình dọn ra khỏi nhà, đồng thời hoàn trả một số vật dụng trong nhà.
- Theo bị đơn, bà là con nuôi cụ Lý Thị Hiện (mẹ ruột ông Huệ) và dược bà Hiện đưa về ở cùng từ năm 1938, sau tiếp tục được cụ Hiện cho ở nhờ Phía nguyên đơn cũng xác nhận điều này Tuy nhiên không xác nhận được bà Chắc vào ở khi nào, trước hay sau 1/7/1991 vieecjToaf án dân sự cấp phúc thẩm và
sơ thẩm áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết là chưa đủ căn
cứ vì nếu bà Chắc vào ở căn nhà đang tranh chấp trước 1/7/1991 thì phải áp dụng Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 Mặc khác trong quá trình ở, bà Chắc có công chăm sóc, bảo quản tài sản Do đó giải quyết như tòa án dấn ự sơ thẩm, phúc thẩ là không hợp lý.
- Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm Giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét
Trang 5- Nội dung bản án: Bà Khót, ông Tâm, ông Nhật đều là con cụ Khánh Cụ Khánh mất để lại căn nhà Theo nguyên đơn là bà Khót và ông Tâm yêu cầu được thừa kế di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc do mất khả năng lao động và yêu được hưởng thừa kế là mỗi người 400 triệu Còn ông Nhật nói rằng căn nhà là do ông mua cho cụ Khánh nhưng ông để cụ Khánh đứng tên và cụ Khánh đã làm giấy ủy quyền nhà để ủy quyền cho ông được trọn quyền sử dụng và cụ Khánh đã có di chúc để lại toàn bộ di sản cho ông nên số tiền bồi thường giải tỏa nhà cũng là của ông Trong quá trình sử dụng, tiền xây dựng nhà cũng là ông bỏ ra nên ông Nhật không đồng ý với yêu cầu của bà Khót và ông Tâm.
- Quyết định của tòa: Không chấp nhận yêu cầu của bà Khót và ông Tâm về diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số 619/2011/DS – GĐT ngày 18/8/2011
về việc “chia thừa kế theo di chúc”
- Nguyên đơn – anh Lê Quốc Toản khởi kiện các bị đơn gồm – chị Lê Thị Thu
và anh Lê Quốc Tuấn về tranh chấp “chia thừa kế theo di chúc” Cha của các đương sự là ông Lê Gia Minh (mất năm 1997) có hai người vợ là bà Lê Thị Bằng (mất năm 1956) và bà Nguyễn Thị Lan (mẹ các đương sự), bà Lan có một người con riêng là chị Hoàng Thị Sâm Ông Minh và bà Bằng có hai người con cung là anh Lê Văn Vinh và chị Lê Thị Xuyên sống tại nhà đất khoảng 360 m2đất tại Xóm Mới, phường Dịch Vọng Năm 1965 bà Bằng mất Đến năm 1968, ông Minh kết hôn với bà Lan Khoảng năm 1893 ông Minh bán 200 m2 đất tại Xóm Mới để mua căn nhà số 120 đường Cầu Giấy, nhà và đất còn lại khoảng
150 m2 giao cho anh Vinh quản lý và sử dụng Năm 1996, Nhà nước thu hồi đất
để mở rộng đường, phần nhà đất số Cầu Giấy chỉ còn 15m2 Ông Minh dung số tiền đền bù mua 55m2 đất tại số 64 Trần Đăng Ninh
- Ngày 24/8/1997, trước khi chết ông Minh có dặn lại – “Giấy di chúc của bố”
là bán 55m2 đất tại 64 Trần Đăng Ninh Rồi chia như sau: chị Hương 20 cây vàng, chị Thúy, chị Thu mỗi người 18 cây vàng; còn phần nhà đất 120 Cầu Giấy nếu anh Tuấn ở thì chia đất thôi, anh Vinh, chị Xuyên, chị Sâm mỗi người 1 cây vàng Phần “giấy di chúc” này có chữ ký bà Tý (em ruột ông Minh), bà Lan và các con cùng ký tên.
- Sau khi ông Minh chết bà Lan chuyển nhương 55m2 đất tại 64 Trần Văn Ninh
và lập “Di chúc thừa kế nhà ở” có nội dung: anh Vinh hưởng 130m2 đất (tại Xóm Mới) và 1 cây vàng; chị Xuyên, chị Sâm mỗi người 30m2 đất và 1 cây vàng; chị Thu, chị Thúy, chị Hương mỗi người 18 cây vàng; anh Tuấn 50 cây vàng; anh Toản được hưởng căn nhà 3 tầng 15m2 Di chúc này có chữ ký bà Lan
và chứng thực của Ủy ban nhân dân phường Quan Hoa Sau đó 18/4/2005 bà Lan lại làm “Đơn xin hủy di chúc” có nội dung: “… Tôi và các con tôi đồng ý: Hủy bỏ di chúc mà trước kia tôi đã viết cho con trai tôi là Lê Quốc Toản” Nhưng đơn hủy di chúc này không do bà Lan viết mà do cháu Nguyệt Anh (con chị Thu) viết hộ.
Trang 6- Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy bỏ bán án sơ thẩm, phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tóm tắt quyết định 767/DS-GĐT ngày 17/10/2011 về việc “tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất”
- Vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất phàn đất có diện tích thực tế là 1332,4m2 do vợ chồng cụ Dương Văn Trượng để lại trong khối di sản 11552m2đất và một căn nhà Theo nguyên đơn – anh Dương Văn Đang cho biết, ngày 01/3/1979 cụ Trượng có lập “Tờ ủy quyền thay lời chúc ngôn” có cụ Trượng, cụ Tào ký tên điểm chỉ và xác nhận của Ủy ban Nhân dân xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Tào, tình Cần Thơ (nay là xã Hiệp Lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang) Với nội dung là cho anh Đang 3000m2 đất, hàng năm đóng lúa cho hai cụ ăn là 1000kg bằng 5 tạ Tuy nhiên, bản di chúc này thực tế được chứng thực năm
1997 Trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị đơn – ông Dương Văn Sáu có đưa ra một bản photocopy di chúc ngày 7/2/1999 do cụ Trượng nhờ ông Tam viết hộ có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã hiệp lợi có nội dung Cho anh đang được quyền sử dụng 2000m2 đất, anh Thanh được quyền sử dụng 2600m2
và ông sáu 2542m2 đất ruộng và 4310m2 đất vườn để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già Tuy nhiên bản di chúc trên không được tòa sơ thẩm, phúc thẩm công nhận Tuy nhiên, sau đó ông Sáu cung cấp được bản gốc di chúc 1999 Đồng thời theo xác nhận của các nhân chứng là các con cụ Trượng và người viết hộ di chúc cho biết cụ Trượng có lập di chúc 1999 Do đó tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm Giao lại hồ sơ vụ án cho tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tóm tắt quyết định 194/DS-GĐT ngày 23/04/2012 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”
- Nguyên đơn: ông Bùi Văn Nhiên
- Bị đơn: ông Bùi Văn Mạnh
Bản án tranh chấp về thừa kế tài sản do hai cụ Hoàng Thị Giảng và cụ Bùi Hữu Môn để lại Cụ Giảng chết ngày 08/05/1999, trước đó cụ Giảng và cụ Môn có lập một bản di chúc, nhưng do bản di chúc này không có chữ ký hay điểm chỉ của cụ Giảng Vì vậy, tòa án xác định cụ Giảng mất không để lại di chúc Bản di chúc này có chữ ký của cụ Môn và được các đương sự thừa nhận Tuy nhiên, 11/4/2000 cụ Môn cùng các con là ông Đức, ông Nhiên, ông Mạnh, bà My, ông Hồi (chồng bà My) và ông Thịnh (chồng bà Lương) thống nhất phân chia tài sản dưới sự vắng mặt của bà Lương (bà ương chấp nhận nội dung cuộc họp) Ông Đức qua đời trước cụ Môn, theo pháp luật phần di chúc đối với ông không có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, do ông Đức đã ở ổn định trước khi qua đời, vì vậy phần di sản để lại sẽ không đủ 169,3m2 (do trừ diện tích đã cho ông Đức) Tòa án ra quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, giao lại hồ sơ xét
xử lại sơ thẩm.
Trang 7Tóm tắt quyết định 363/DS-GĐT ngày 28/08/2013 về việc “tranh chấp thừa kế”
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Chim và bà Nguyễn Thị Bay.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Lân và bà Nguyễn Thị Sáu.
- Hai bên nguyên đơn và bị đơn xảy ra tranh chấp về diện tích đất thừa kế của
ba mẹ là hai cụ Nguyễn Văn Nhà và cụ Nguyễn Thị Việt để lại Phần tài sản gồm: một thửa đất có diện tích thực tế 1112m2, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 832m2 diện tích đất tại ấp Tân Điền xã Long Thượng (đứng tên bà Sáu); một thửa đất có diện tích 2198m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đứng tên cụ Nhà) tại ấp lộc Tiền, xã Mỹ Lộc.
- Bà Chim và bà Bay khởi kiện bà lân và bà Sáu yêu cầu được chia thừa kế hai thử đất trên Đối với thửa đất tại ấp Lộc Tiền, xã Mỹ Thọ, ông Nhã có để lại di chúc giao phần đất trên cho bà Sáu và bà Lên sử dụng với điều kiện không được cầm cố hoặc chuyển nhượng, đồng thời phải nuôi dưỡng ông Nguyễn Văn Cu khi ốm đau, tuổi già.
- Đối với thửa đất tại ấp Tân Điền, xã Long Thượng Nguồn gốc thửa đất do ông Nhà khai phá, nhưng bị bỏ hoang trong lúc chiến tranh Sau giải phóng, do bà Sáu, bà Lên và chồng bà Bay cùng khai phá Trong đó, phần đất ruộng do bà Bay sử dụng, với phần đất gò bà Sáu giao cho con trai quản lý và sử dụng trên
15 năm Trong quá trình sử dụng anh Tuấn (con bà Sáu) có chuyển nhượng một phần quyền wr dụng đất cho anhNguyeenx Thế Đệ, bà Chim, bà Bay không có
ý kiến Trong văn bản 04/UB.TLUB, Ủy ban nhân dân xã Long Thượng cũng xác nhận thửa đất trên do cụ nhà tạo lập từ năm 1969, đến năm 1975 để lại cho
bà Sau canh tác Trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Sáu trình bày được cụ Nhà cho quyền sử dụng đất từ năm 1975.
- Tòa án cho rằng cần phải xác minh thửa đất tại ấp Tân Điền có phải di sản thừa kế của cụ Nhà hay không? Hay là tài sản riêng của bà Sáu Từ đó sẽ có những hướng gf iải quyết khác nhau theo luật định Do đó, Tòa quyết định hủy
bỏ bán án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm Giao lại hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử lại sơ thẩm.
Khái quát nội dung án lệ 24/2018/AL
- Tình huống án lệ:
- Nhà, đất là tài sản chung của vợ chồng mà một người chết trước Người còn lại và các thừa kế của người chết trước đã thống nhất phân chia nhà, đất Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào.
Việc phân chia nhà, đất đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai Sau khi người còn lại chết mới phát sinh tranh chấp.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, phải xác định nhà, đất đó đã chuyển thành quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân Những người này chỉ có quyền khởi
Trang 8kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất.
Khái quát nội dung của án lệ 05/2016/AL:
- Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.
I TRƯỜNG HỢP ĐẠI DIỆN HỢP LỆ
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện.
- Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về người đại diện được trìnhbày sau đây:
1 Đại diện
- Căn cứ: Điều 139 BLDS 2005 và Điều 134 BLDS 2015
- BLDS 2015 thêm “pháp nhân” là người đại diện thay vì chỉ có cá nhân (là “một
người” theo BLDS 2005):
“Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là
người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
- Bỏ “chủ thể khác” (trong cụm cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác) là người thựchiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện trong BLDS 2005:
“Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua
người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu phápluật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó”
- Thay đổi điều kiện về người đại diện: từ “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này” sang “phải có
năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập, thực hiện.”
2 Căn cứ xác lập quyền đại diện
- Tách Điều 135 BLDS 2015 (căn cứ xác lập quyền đại diện) ra từ khoản 3 Điều
139 BLDS 2005
- BLDS 2015 thêm 2 căn cứ xác lập quyền đại diện là “quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền” và theo “điều lệ của pháp nhân”:
“Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và
người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định
của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)”
3 Đại diện theo pháp luật
Trang 9- Tách Điều 141 BLDS 2005 về người đại diện theo pháp luật ra thành 2 điều làĐiều 136 về đại diện theo pháp luật của cá nhân và Điều 137 về đại diện theopháp luật của pháp nhân.
- Bỏ đi quy định liên quan đến chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; tổ trưởng tổhợp tác đối với tổ hợp tác
- Điều 137 BLDS 2015 thêm quy định về số lượng người đại diện cho pháp nhân
(Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều
141 của Bộ luật này).
4 Đại diện theo ủy quyền
- Căn cứ: Điều 142, 143 BLDS 2005 và Điều 138 BLDS 2015
- Gộp Điều 142 và Điều 143 BLDS 2005 thành Điều 138 BLDS 2015
- Thay “người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân” thành “pháp nhân”, coipháp nhân như một chủ thể của pháp luật:
“Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự”
- Thêm điều luật quy định về hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tưcách pháp nhân:
“Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên
hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” (khoản 2
Điều 138 BLDS 2015)
5 Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện
- Căn cứ: Điều 139 BLDS 2015
- Là một điều khoản hoàn toàn mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005
6 Thời hạn đại diện
- Gộp Điều 147 (chấm dứt đại diện của cá nhân) và Điều 148 (chấm dứt đại diệncủa pháp nhân) của BLDS 2005 thành Điều 140 (thời hạn đại diện) (BLDS2015)
7 Phạm vi đại diện
- Căn cứ: Điều 144 BLDS 2005 và Điều 141 BLDS 2015
- Giới hạn lại quyền người đại diện có thể thực hiện (trước đó trong BLDS 2005,người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự
vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác)(khoản 1 Điều 141 BLDS 2015):
Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.
˗ Thêm nội dung mới về số lượng có thể đại diện:Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được
Trang 10nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chínhmình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Khoản 3 Điều 141 BLDS 2015)
8 Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thựchiện
- Căn cứ: Điều 145 BLDS 2005 và Điều 142 BLDS 2015
- Thêm các điều khoản loại trừ với trường hợp giao dịch dân sự do người không
có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh nghĩa vụ đối vớingười được đại diện (Khoản 1 Điều 142 BLDS 2015)
- Thêm hậu quả đối với trường hợp không có quyền đại diện và người đã giaodịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch, cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
mà gây thiệt hại cho người được đại diện (khoản 4 Điều 142 BLDS 2015)
9 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quáphạm vi đại diện
- Căn cứ: Điều 146 BLDS 2005 và Điều 143 BLDS 2015
- Thêm hậu quả đối với trường hợp người đại diện và người đã giao dịch cố ýxác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hạicho người được đại diện (khoản 4 Điều 143 BLDS 2015)
Lưu ý: những chỗ được in nghiêng phía trên là điểm mới trích trong các điều luật của BLDS 2015.
Câu 2: Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?
- Trong phần đầu của phần Nhận thấy của Quyết định cho thấy ông Mạnh đại diện cho
Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel:
- “Ngày 16/01/2007, Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (gọi tắt là Công ty kim khíHưng Yên – bên A) – do ông Lê Văn Mạnh – Phó Tổng Giám đốc làm đại diện kýHợp đồng mua bán phối thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Vinausteel – bên B)”1
Câu 3: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm gì với Vinausteel.
- Trích từ bản án: “Việc ông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết vào ngày 01/4/2007 “xin chịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhận trách nhiệm trả cho Công ty và các bên thứ ba (trong đó có Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel) tất cả các khoản nợ và bồi thường thiệt hại phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng” mà ông Mạnh
đã ký trước hoặc từ các giao dịch, hợp đồng của Công ty được ký kết trước đó Tuynhiên, Công ty Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên không thuộctrường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khản 1 Điều 315 Bộ luậtdân sự năm 2005”
1 Quyết định số 08/2013/KTMD-GĐT NGÀY 15/03/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trang 11Câu 4: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)
- Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh là thuyếtphục
- Vì ông Mạnh mặc dù đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên trực tiếp ký Hợp đồngvới Công ty Vinausteel nhưng đó là dưới danh nghĩa của Công ty chứ không phải làcủa riêng ông Mạnh, nghĩa là hợp đồng này là giữa hai pháp nhân với nhau Chính vìthế, việc Công ty Hưng Yên không giao đủ hàng là trách nhiệm của Công ty kim khíHưng Yên, không liên quan đến ông Mạnh Ông Mạnh được bà Lan ký giấy ủy quyềncho ông để thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thường mại trong phạm vi ngànhkinh doanh của Công ty Nên việc ông ký kết Hợp đồng với Vinausteel là hoàn toànkhông vượt quá thẩm quyền của ông, thỏa khoản 1 Điều 141 BLDS 2015về phạm viđại diện như sau:
“1 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.”
- Về vấn đề này, PGS TS Đỗ Văn Đại có nhận định: “Vì người đại diện xác lập, thựchiện giao dịch dân sự trên danh nghĩa của người được địa diện nên, mặc dù người đạidiện giao dịch trực tiếp với người thứ ba, giao dịch dân dân sự không được xác lậpgiữa người đại diện và người thứ ba Về phía người đại diện, mặc dù Bộ luật dân sựkhông quy định rõ, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng người đại diện không có tráchnhiệm đối với giao dịch được xác lập hợp pháp vì bên trong giao dịch là người đượcđại diện chứ không phải là người đại diện Bộ nguyên tắc châu Âu cũng theo hướngnày và đã quy định rõ hơn chúng ta tại Điều 3:302, theo đó “người đại diện không bịràng buộc đối với người thứ ba””2
- Theo Luật Doanh nghiệp 2014: “Người đại diện theo ủy quyền chịu trách nhiệmtrước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền do vi phạm các nghĩa vụ quy định tạiĐiều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ
ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiệnthông qua người đại diện theo ủy quyền”3
- Như vậy, trách nhiệm giải quyết vấn đề này là của toàn bộ Công ty kim khí HưngYên, còn ông Mạnh không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì đới với Công ty Vinausteel.Tuy nhiên, ông Mạnh phải chịu trách nhiệm đối với nội bộ Công ty của mình, Công tykim khí Hưng Yên theo Luật Doanh nghiệp nêu trên
- Có thể thấy, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng do người đại diện ký kết trong phạm viđại diện không là nghĩa vụ, trách nhiệm của người đại diện mà là của bên được đại
2 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam
2017 (xuất bản lần thứ 6), Bản án số 35-37, tr 288.
3 Khoản 3 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2014.
Trang 12diện Hay nói cách khác, hợp đồng dù do người đại diện ký kết thì trách nhiệm vẫnthuộc về pháp nhân.
Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, Công ty kim khí Hưng Yên có trách nhiệm thanh toán
các khoản nợ và bồi thường thiệt hại với công ty Vinausteel
- Trích trong phần Xét thấy của Quyết định: “Quá trình thực hiện hợp đồng trên, Công
ty kim khí Hưng Yên không giao đủ hàng là trách nhiệm của Công ty kim khí HưngYên”; “Công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ vàbồi thường thiệt hại cho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhan ông Mạnh, ôngDũng”
Câu 6: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.
- Ông Mạnh được bà Lan ký giấy ủy quyền cho ông để thực hiện các giao dịch dân sự,kinh tế, thường mại trong phạm vi ngành kinh doanh của Công ty Nên việc ông kýkết Hợp đồng với Vinausteel là hoàn toàn không vượt quá thẩm quyền của mình, nằmtrong phạm vi đại diện thỏa khoản 1 Điều 141 về phạm vi đại diện Ở Anh, “đại diện
là quan hệ phát sinh khi một bên, người được đại diện, cho phép người khác, ngườiđại diện, hành động trên danh nghĩa của họ và người đại diện chấp nhận làm việcđược cho phép” Trong thực tế, “các nguyên tắc của đại diện mở rộng cho nhữngtrường hợp khác” và một trong những trường hợp này là “ủy quyền đại diện có thểđược đưa ra sau khi người đại diện đã hành động trên danh nghĩa người được đại diện;hành động của người đại diện được coi là ‘chấp thuận’”
- Do đó, theo khoản 1 Điều 139 quy định về hậu quả pháp lý của hành vi đại diện nhưsau: “Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợpvới phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện” Vìvậy, Công ty kim khí Hưng Yên chịu trách nhiệm với bên thứ ba là Công tyVinausteel
- Bộ nguyên tắc châu Âu cũng theo hướng này tại Điều 3:302, theo đó “khi người đạidiện hành động trong phạm vi đại diện như đã được định nghĩa tại Điều 3:301, cácgiao dịch của người đại diện ràng buộc trực tiếp người được đại diện và người thứ
Trang 13ba” Ở đây, “người đại diện làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp lýgiữa người được đại diện và người thứ ba”.4
- Có thể thấy, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng do người đại diện ký kết trong phạm viđại diện là nghĩa vụ, trách nhiệm của bên được đại diện Nói cách khác, hợp đồng dù
do người đại diện ký thì trách nhiệm vẫn thuộc về pháp nhân, và pháp nhân khôngđược từ chối trách nhiệm này
Câu 7: Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.
- Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa
thuận trọng tài thì thỏa thuận này vẫn có ràng buộc Công ty Hưng Yên
- Thứ nhất, vì có thỏa thuận trọng tài trong Hợp đồng nên điều lệ của Công ty HưngYên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Công ty Hưng yên (như tranh chấp phátsinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án làkhông được áp dụng Vì theo Luật Trọng tài thương mại 2010: “Trong trường hợp cácbên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà ánphải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọngtài không thể thực hiện được”5 Việc Công ty Hưng Yên có điều lệ như trên là quyđịnh của riêng Công ty, không thể áp dụng với một công ty khác được
- Thứ hai, theo Điều 19 Luật Trọng tài thương mại nói về tính độc lập của thỏa thuậntrọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thayđổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện đượckhông làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.” Như vậy, dù thỏa thuận trọng tài làđiều khoản nhỏ hay văn bản đi kèm thì đều tách biệt với hợp đồng được thỏa thuận
Do đó, Công ty Hưng Yên vẫn phải chịu trách nhiệm cho những phần khác của hợpđồng chính, không vì có thỏa thuận trọng tài mà mất đi nghĩa vụ của mình
II TRƯỜNG HỢP ĐẠI DIỆN KHÔNG HỢP LỆ
Câu 1: Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?
- Trích từ phần Xét thấy của Quyết định:
- “Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chinhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong đó có nội dung “đề nghị Ngân hàngCông thương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ
An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001 ” và
“Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ An
Trang 14ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn kýHợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền”.
Câu 2: Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?
- Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu trách nhiệm với
Ngân hàng về hợp đồng trên
- Trích từ Quyết định: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty cổphần xây dựng 16 - Vinaconex phải trả khoản tiền nợ gốc và lãi (1.382.040.000 đồng)cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là có căn cứ”
- Tòa giải thích như sau:
- “Khi nhận được tiền, Xí nghiệp xây dựng 4 đã mua máy móc phục vụ công việc được Công ty giao và “cứ 6 tháng Xí nghiệp có báo cáo tài chính một lần” nên Ban giám đốc Công ty đều biết việc vay vốn Ngân hàng của Xí nghiệp xây dựng 4 và không phản đối Hơn nữa, ngày 28/10/2002, Công ty xây dựng số II Nghệ An có Côngvăn số 44 QĐ/CTII điều chuyển một số máy móc, phương tiện vận tải của Xí nghiệp xây dựng 4 (trong đó có một số thiết bị, máy móc hình thành từ vốn vay Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng trên) về văn phòng cơ quan để phục vụ thi công một số công trình do Công ty thực hiện
- Mặt khác, ngày 29/10/2004, Công ty cổ phần xây dựng 16 - Vinaconex có văn bản (thư xác nhận số dư) yêu cầu Ngân hàng Công thương Nghệ An xác nhận công nợ của
Xí nghiệp xây dựng 4 Công ty xây dựng số II Nghệ An tính đến ngày 30/6/2004; Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An đã xác nhận vào Thư xác nhận dư nợ: Xí nghiệp xây dựng 4 còn nợ 1.731.000.000 đồng
- Như vậy, sau khi Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền Ngân hàng, Công ty xây dựng số II Nghệ An biết và không phản đối nên Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công ty
cổ phần xây dựng 16 - Vinaconex) phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ này”6
Câu 3: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
- Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý.
- Trích khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện:
“1 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không cóquyền đại diện”
6 Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trang 15- Thứ nhất, việc Giám đốc Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công ty cổ phầnxây dựng 16 - Vinaconex) nói Công ty không chịu trách nhiệm vì Ngân hàng cho vayvốn sai nguyên tắc thì phải tự chịu trách nhiệm là không có cơ sở Ngày 25/02/2001,Tổng giám đốc Công ty xây dựng số II có Văn bản số 23CV/TCT thông báo cho Chinhánh Ngân hàng Công thường Nghệ An (nay là Ngân hàng TMCP Công thương ViệtNam – Chi nhánh Nghệ An) biết việc Công ty đồng ý cho Xí nghiệp xây dựng 4 trựctiếp vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An Việc Công ty xây dựng
số II Nghệ An có Công văn số 06CV/SDII.TCKT ngày 06/4/2011 đề nghị Ngân hàngkhông cho các Xí nghiệp thuộc Công ty vay vốn khi chưa có bảo lãnh sau đó thì vìNgân hàng không nhận được, nên Ngân hàng không biết là không được cho Xí nghiệpthuộc Công ty xây dựng số II vay vốn Ngoài ra, bên Công ty cũng không có bằngchứng chứng minh Ngân hàng đã nhận được Công văn số 06CV/SDII.TCKT ngày06/4/2011 nên việc Ngân hàng vẫn tiếp tục ký kết với Xí nghiệp xây dựng 4 là việc cóthể chấp nhận được, và Công văn số 06CV/SDII.TCKT coi như không có Theo điểm
a và điểm c khoản 1 Điều 142 nêu trên, Công ty xây dựng số II có quyền và nghĩa vụđối với giao dịch với Ngân hàng do đã công nhân giao dịch này
- Thứ hai, “cứ 6 tháng Xí nghiệp có báo cáo tài chính một lần” nên sau khi Xí nghiệp
4 nhận được tiền, Ban giám đốc Công ty đều biết việc Xí nghiệp vay vốn và không hềphản đối Ngoài ra, Công ty xây dựng số II có văn bản yêu cầu Ngân hàng xác nhậncông nợ của Xí nghiệp xây dựng 4 Điều này cho thấy Ban giám đốc Công ty xâydựng số II đều biết và không hề phản đối việc Xí nghiệp xây dựng 4 vay vốn Do đótheo điểm b khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 đã được nêu ở trên, Công ty xây dựng số IIphải có trách nhiệm đối với giao dịch giữa Xí nghiệp xây dựng 4 và Ngân hàng
- Đồng quan điểm nêu trên, theo Điều 3:207 Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng,
“giao dịch được xác lập, thực hiện bởi người không có quyền được đại diện hay vượtquá phạm vi đại diện có thể được người đại diện chấp nhận Một khi được chấp nhận,giao dịch được coi là đã được phép” Với quy định này, “giao dịch của người đại diệnđược coi là như đã ràng buộc người được đại diện và người thứ ba ngay từ đầu”.Tương tự như vậy trong Bộ nguyên tắc Unidroit (Điều 2.2.9)7
Câu 4: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?
- Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phảnđối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyềnđại diện) thì sự phản đối này của Ngân hàng không được chấp nhận
- Theo BLDS 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diệnxác lập, thực hiện: “Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyềnđơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầubồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có
7 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam
2017 (xuất bản lần thứ 6), Bản án số 48-51, tr 355.
Trang 16quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điềunày”8.
- Trong trường hợp này, Công ty xây dựng số II không phản đối hợp đồng, nghĩa là đãcông nhận giao dịch theo điểm a khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 Chính vì vậy, theođiều luật đã nêu ở phía trên về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyềnđại diện xác lập, Ngân hàng Công thương Nghệ An (người đã giao dịch với ngườikhông có quyền đại diện) không có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy
là quan hệ phát sinh khi một bên, người được đại diện, cho phép người khác, ngườiđại diện, hành động trên danh nghĩa của họ và người đại diện chấp nhận làm việcđược cho phép” Trong thực tế, “các nguyên tắc của đại diện mở rộng cho nhữngtrường hợp khác” và một trong những trường hợp này là “ủy quyền đại diện có thểđược đưa ra sau khi người đại diện đã hành động trên danh nghĩa người được đại diện;hành động của người đại diện được coi là ‘chấp thuận’”
- Ở Pháp, án lệ không cho phép người thứ ba phủ nhận giao dịch khi người được địadiện chấp nhận giao dịch Ở đây, pháp luật Pháp theo hướng các quy định về không cóquyền đại diện hay vượt quá phạm vi địa diện được thiết lập để bảo vệ người được đạidiện nên chỉ được người địai diện được viện dẫn án lệ để áp dụng, còn người thứ bakhông được viện dẫn án kệ để vô hiệu hóa hợp đồng khi người được đại diện chấpnhận và muốn duy trì hợp đồng, với lý do “vô hiệu hợp đồng do không có quyền đạidiện của người đại diện là vô hiệu tương đối và chỉ người được đại diện mới được yêucầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu”
III HÌNH THỨC SỞ HỮU TÀI SẢN
Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về hình thức sở hữu tài sản:
1 Tài sản thuộc sở hữu toàn dân - Căn cứ Điều 197 Bộ luật Dân sự 2015 Trước đây, quy định này là tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, nay đổi tên thành tài sản thuộc sở hữu toàn dân nhằm nhấn mạnh quyền sở hữu của toàn dân
8 Khoản 3 Điều 142 BLDS 2015.
Trang 172 Thực hiện các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân - Căn cứ Điều
sở hữu riêng, đó là cá nhân và pháp nhân
4 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng - Căn cứ Điều
206 Bộ luật Dân sự 2015 Bản chất nội dung không đổi, thay cụm từ “sở hữu tư nhân” thành cụm từ “sở hữu riêng
5 Sở hữu chung của cộng đồng - Căn cứ Điều 211 Bộ luật Dân sự 2015 Khẳng định bản chất tài sản chung của cộng đồng: Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.
6 Sở hữu chung của vợ chồng - Căn cứ Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 Bổ sung thêm quy định sau: .
- Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.
7 Sở hữu chung trong nhà chung cư
- Căn cứ Điều 214 Bộ luật Dân sự 2015
- Thêm một số quy định cần thiết trong việc sở hữu chung trong nhà chung cư:
- Phần diện tích, trang thiết bị và các tài sản khác dùng chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không phân chia, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc tất cả các chủ sở hữu có thoả thuận khác.
- Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản quy định trên, trừ trường hợp luật
có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác
- Trường hợp nhà chung cư bị tiêu huỷ thì quyền của chủ sở hữu căn hộ chung cư thực hiện theo quy định của luật.
8 Định đoạt tài sản chung - Căn cứ Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015
- Bổ sung quy định sau: .
- Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung
- Phân định rõ trường hợp từ bỏ phần quyền sở hữu đối với bất động sản, động sản
Trang 18- Đồng thời, thêm quy định cho trường hợp tất cả các chủ sở hữu chung
bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung
9 Chia tài sản thuộc sở hữu chung - Căn cứ Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015
- Quy định rõ nội dung của việc chia tài sản thuộc sở hữu chung, đồng
thời không thể chia bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia
có quyền bán phần quyền sở hữu của mình
10 Căn cứ xác lập quyền sở hữu - Căn cứ Điều 221 Bộ luật Dân sự 2015
- Thêm căn cứ xác lập quyền sở hữu sau:
- Do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
- Được chuyển quyền sở hữu bản án, quyết định của Tòa án.
- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy
Câu 2: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân với bà Thẩm.
- Ở đoạn xét thấy của Tòa án nhân dân tối cao: “ Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, ”
Câu 3: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định số 337 cho câu trả lời?
- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà.
- Ở đoạn: “ Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m² đất lả tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”
Câu 4: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc phần sở hữu riêng của ông Lưu
- Ở đoạn: “, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác
và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng
Trang 19góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”
Câu 5: Anh chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
- Theo tôi hướng giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là chưa hợp lý.
- Tòa án đã xác định căn nhà trên thuộc về quyền sở hữu riêng của ông Lưu chứ không phải là quyền sở hữu chung của ông Lưu và bà Thẩm Tuy nhiên, căn nhà
đó được tạo lập đang trong thời kì với bà Thẩm Căn cứ theo Điều 43 Luật hôn
nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản riêng như sau: “1 Tài sản riêng của
vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho
vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.” Như vậy, việc xác định căn nhà được tạo
lập trong thời kì hôn nhân là tài sản riêng của ông Lưu là không đúng.
Câu 6: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu cơ sở pháp lý.
- Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu không được quyền di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà.
- Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 213 Bộ luật dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng:
“2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3 Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”
IV DIỆN THỪA KẾ
Câu 1: Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao?
- Bà Thẩm, chị Hương thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông lưu vì bà Thẩm là
vợ hợp pháp của ông Lưu và chị Hương là con ruột của ông Lưu
- Bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu vì quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Lưu là bất hợp pháp
Trang 20- Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật
“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”
Câu 2: Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời có khác không? Vì sao?
- Nếu ông Lưu và bà Xê kết hôn vào cuối năm 1976 thì bà Xê thuộc hàng thừa kế thứnhất của ông Lưu.
- Căn cứ vào 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đốivới miền Bắc; trước Điểm a Khoản 4 Nghị quyết 02/HĐTP: “a) Trong trường hợp
một người có nhiều vợ (trước ngày ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bảnpháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán
bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn saukhông bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều làngười thừa kế hàng thứ nhất của người ểm và ngược lại, người chồng là người thừa kếhàng thứ nhất của tất cả các người vợ
- Theo đó, nếu ông Lưu và bà Xê kết hôn vào cuối năm 1976 và hai người lại ở miềnNam thì ông Lưu và bà Xê là vợ chồng hợp pháp Do đó bà Xê sẽ thuộc hàng thừa kếthứ nhất của ông Lưu
Câu 3: Trong vụ việc này chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì
- Căn cứ tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế: “Người thừa kế
là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sốngsau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm
Trang 21- Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015: “1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết ”
- Vì vậy, những người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà và đất có tranh chấp sau khi ông Hà chết 12/5/2008
V THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO
NỘI DUNG CỦA DI CHÚC
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt di chúc bằng toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê ?
- Đoạn của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt di chúc bằng toàn bộ tài sảncủa ông :
“Việc ông Lưu lập văn bản để là “di chúc” ngày 27/02/2002 là thể hiện ý chí củaông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ, phù hợp với quy định củapháp luật”
Câu 2 : Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không ? vì sao ?
- Căn cứ theo Điều 669, BLDS 2005 về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dungcủa di chúc:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của mộtngười thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trườnghợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần
di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sảntheo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sảntheo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
- Bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu, đồng thời không còn khả năng lao động, do
đó, bà Thẩm thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của dichúc đối với di sản của ông Lưu
- Chị Hương là người đã thành niên và có khả năng lao động, do đó, chị Hương khôngthuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với disản của ông Lưu
- Bà Xê không là vợ hợp pháp của ông Lưu, do đó, bà Xê không thuộc diện đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu