1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thảo luận dân sự lần 5

19 78 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 348,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ 2 Tóm tắt Bản án số 082020DSST ngày 2882020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc về “Vv tranh chấp thừa kế tài sản”. 2 Tóm tắt án lệ số 162017AL: 2 Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 3 Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay đổi bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 3 Câu 3: Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 4 Câu 4: Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời. 6 Câu 5: Suy nghĩ của anhchị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 7 Câu 6: Ở Án lệ số 162017AL, trong diện tích 398 m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 7 Câu 7: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 8 Câu 8: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K. 8 Câu 9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân ba Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 8 Câu 10: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu, vì sao? 9 Câu 11: Việc tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không? Vì sao? 9 Câu 12: Việc tòa án quyết định, 43,5m2 được chia cho 5 đồng thừa kế còn lại có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ 16 không? Vì sao? 10 VẤN ĐỀ 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN. 11 Tóm tắt: Quyết định số 26 11 Câu 1: Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 11 Câu 2: Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 12 Câu 3: Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng có nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao? 12 Câu 4: Nếu Ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao? 13 Câu 5: Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 13 Câu 6: Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 13 Câu 7: Suy nghĩ của anhchị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố). 13 VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ. 15 Câu 1: Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam? 15 Câu 2: Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 15 Câu 3: Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của quyết định tạo lập thành án lệ số 262018AL cho câu trả lời? 15 Câu 4: Việc Án lệ số 262018AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 15 Câu 5: Việc Án lệ số 262018AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 16 Câu 6: Suy nghĩ của anhchị về Án lệ số 262018AL. 16 TÌM KIẾM TÀI LIỆU. 18

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

MÔN HỌC: LUẬT DÂN SỰ

VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ

*Tóm tắt Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc về “V/v tranh chấp thừa kế tài sản”.

 Ông Trần Văn Hòa (nguyên đơn) và ông Tạ Ngọc Toàn, ông Lê Thành Nhân (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) yêu cầu khởi kiện anh Trần Hoài Nam và chị Trần Thanh Hương (bị đơn) về việc chia di sản thừa kế của bà Cao Thị Mai

 Bà Cao Thị Mai với ông Trần Văn Hòa kết hôn với nhau năm 1980 Quá trình hôn nhân bà Mai và ông Hòa có 2 con chung là anh Nam và chị Hương Ngoài

ra các đương sự đều xác nhận ông Hòa và bà Mai không có con đẻ con nuôi nào khác Bố mẹ bà Mai là các cụ Cao Tiến Đông và cụ Đào Thị Hài (đều chết trước

bà Mai)

 Tài sản ông Hòa và bà Mai tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân gồm: 1 ngôi nhà

3 tầng, 1 lán bán hàng xây dựng năm 2006, làm trên diện tích đất 169,5m2 (diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 84m2) thuộc thửa số 301,

tờ bản đồ 02, vị trí đất tại số nhà 257 đường Nguyễn Viết Xuân, phường Đống

Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, được UBND thị xã Vĩnh Yên cấp giấy

Trang 2

chứng nhận quyền sử dụng đất số 00469/QSDĐ ngày 05/10/1994 mang tên ông Trần Văn Hòa

 Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập và giao quyết định đưa vụ án ra xét xử

 Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Tài sản tranh chấp là nhà, đất tại phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, do không thỏa thuận được nên ông Hòa làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Mai để lại

Quyết định của Tòa án:

 Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn Hòa

 Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể

từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án

*Tóm tắt án lệ số 16/2017/AL:

 Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân

sự Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T Tài sản chung của ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398 m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc,

nguồn gốc đất do cha ông để lại Ngày 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết (trước khi chết không để lại di chúc) bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và

sử dụng nhà đất trên Năm 1991 bà G có chuyển nhượng cho ông K 131 m2đất Năm 1999, bà G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau đó bà muốn chia đất cho chị H1 nhưng giấy tờ bị anh T giữ nay Tòa án buộc anh T phải trả giấy lại cho bà G Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc bà Phùng Thị G để lại cho chị Phùng Thị H1 là 90m2, phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-02-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST ngày 04-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

 Theo Điều 612 BLDS 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”

Trang 3

 Di sản bao gồm tài sản của người chết mà không bao gồm nghĩa vụ của tài sản được thể hiện tại Điều 612 và các Điều 614, 615 BLDS 2015 Có thể hiểu, trước khi chia di sản, người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ của người chết để lại xong, phần còn lại mới phân chia Việc thực hiện nghĩa vụ không phải với tư cách là chủ thể của nghĩa vụ do họ xác lập mà thực hiện các nghĩa vụ của người chết bằng chính tài sản của người chết

 Vậy, di sản không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố

Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay đổi bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 quy định:

Điều 611 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên

bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Theo quy định tại Điều 612 BLDS 2015:

Điều 612 Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

 Thực tế có thể có nhiều trường hợp di sản người quá cố để lại bị thay thế bởi một tài sản mới:

+ Nếu việc di sản đó được thay thế bởi nguyên nhân khách quan:

 Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân con người không biết trước, không lường trước được hậu quả, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người

Ví dụ: hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, bão tố hay các thảm họa tự nhiên khác

 Những yếu tố này tác động vào di sản thừa kế làm cho nó bị hư hỏng và thay vào đó là di sản mới, di sản cũ không còn giá trị hiện thực

 Trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế, tài sản mới thay thế cho di sản thừa kế đó sẽ có hiệu lực pháp luật, phần tài sản mới này

sẽ được chia theo pháp luật

+ Được thay thế bởi nguyên nhân chủ quan:

 Nguyên nhân chủ quan được xác định có sự tác động phần nào đó bởi yếu tố con người

 Trường hợp này xác định thay thế vì mục đích gì, đó là nhằm chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế cũ đó hay nhằm mục đích khác Sự thay thế do tự bản thân cá nhân nào muốn thay thế hay đó là sự thay thế được sự đồng thuận bởi tất cả những người thừa kế và được pháp luật thừa nhận

Trang 4

 Nếu nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởi một tài sản khác khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thừa kế

 Tại thời điểm mở thừa kế di sản được quy định còn tồn tại thì di sản đó được chia theo quy định của pháp luật

 Tuy nhiên,nếu vì lý do chủ quan mà di sản thừa kế bị làm hư hỏng hoặc bị bán mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế thì giá trị phần di sản vẫn được coi là di sản thừa kế và người làm thất thoát di sản có trách nhiệm trả lại phần giá trị làm thất thoát để chia thừa kế

Câu 3: Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

 Theo điểm 1, mục II, Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao:

1 Xác định quyền sử dụng đất là di sản

1.1 Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản

gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền

sử dụng đất đó là di sản

1.2 Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại

giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm

mở thừa kế

1.3 Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các

loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để

ô tô, nhà ờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:

a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó

Trang 5

b) Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và

có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai

c) Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc

sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó

1.4 Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các

loại giấy tờ quy định tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 mục 1 này và cũng không có di sản

là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 này, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND theo quy định của pháp luật về đất đai

Ngoài ra theo Điều 101 Luật đất đai năm 2013 quy định:

“Điều 101: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ

về quyền sử dụng đất:

1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004

và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3 Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Trang 6

 Đất do người chết để lại nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nếu có các giấy tờ khác chứng minh được nguồn gốc đất hoặc UBND cấp có thẩm quyền có văn bản xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, đất được sử dụng ổn định lâu dài, không có tranh chấp thì Tòa án vẫn xác định đây là di sản thừa kế và tiến hành chia thừa kế theo đúng trình tự, quy định của pháp luật

 Với những quy định trên cho thấy pháp luật đang nhìn vào thực tế quyền sử dụng đất Cấp giấy là thao tác mang tính hình thức nhằm tạo tiền đề để nhà nước quản lý và tạo điều kiện thực hiện quyền của người sử dụng đất

Câu 4: Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời.

 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản Thể hiện ở đoạn:

 Đối với diện tích đất tăng 85,5m2chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng

không được coi là di sản thừa kế, cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa có trách

nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ

thuế đối với Nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ

ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Phần đề nghị

này của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận Các phần đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử xem xét để quyết định

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số

08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 Hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý Vì:

 Gia đình ông Hòa đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên một phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này hộ ông Hòa

đã quản lý, sử dụng ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới

rõ ràng, không có tranh chấp, không thuộc diện đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phần đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Vì thế, đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai

Trang 7

nên việc coi đó là di sản thừa kế và phân chia sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên đương sự

Câu 6: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398 m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn

N là 133,5 m2

 Vì năm 1991 bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131 m2cho ông Phùng Văn K nhằm trả nợ và lo cho cuộc sống gia đình nên số đất còn lại là 267,4m2 và được xác định là hình thành trong hôn nhân nên được xem là tài sản chung của 2 vợ chồng Theo khoản 2 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “ Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng” Như vậy, tài sản chung của

vợ chồng ông N bà G là 267,4 m2 Di sản của ông N sẽ là 133,5 m2theo khoản 2 điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “ Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận

về chế độ tài sản Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”

Câu 7: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn

K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

 Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là tài sản để chia Vì :

 Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G

đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131 m2nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398 m2(bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng

Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

 Hướng giải quyết của trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K là hợp lý Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng

Trang 8

cho ông K đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 131 m2là hợp pháp và tất cả các con của bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều không có ý kiến Căn cứ theo điều 223 BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng , ông K có quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng là 131 m2đất

Câu 9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân ba Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

 Theo Án lệ số 16/2017/AL, số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế, bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng

 Nên, nếu bà Phùng Thị G không đáp ứng điều kiện dùng số tiền thừa kế để lo cuộc sống của các con mà đem số tiền đó vun vén cho chính bản thân mình, thì

số tiền đó không được xem như là di sản để chia

 “(4) Số tiền chuyển nhượng được dùng để lo cuộc sống cho các đồng thừa kế Nói cách khác, mục đích của việc chuyển nhượng này không phải vì cá nhân người chuyển nhượng mà vì lợi ích chung của tất cả các đồng thừa kế”

Câu 10: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu, vì sao?

“Để xác định khối di sản của người chết để lại làm cơ sở để chia thừa kế thì phải xác định ở tại thời điểm người đó chết, tài sản riêng của họ và phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác gồm những gì”

Thì tại thời điểm bà Phùng Thị G chết, diện tích đất trong phần diện tích đất chung sau khi bán cho ông K là còn 133,5m2được ghi nhận trong bản án “do đó phần di sản của

bà Phùng Thị G để lại là khối tài sản 133,5m2được chia theo di chúc”

Câu 11: Việc tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số 16 không?

Vì sao?

Theo điều 630 BLDS 2015

1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Trang 9

2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Tòa án xác định, bà G trước khi qua đời có để lại di chúc định đoạt phần 90m2 cho chị H1, di chúc này được xem là hợp pháp

Vì 43,5m2 còn lại không nằm trong phần định đoạt di chúc của bà nên phần tài sản này được chia thừa kế theo điểm a, khoản 2, điều 650 BLDS 2015:

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

Đây không phải là nội dung án lệ 16 vì ở án lệ số 16 nói về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

Câu 12: Việc tòa án quyết định, 43,5m 2 được chia cho 5 đồng thừa kế còn lại có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ 16 không? Vì sao?

Theo điểm a khoản 2 điều 650 BLDS 2015, thì việc chia 43,5m2còn lại cho 5 đồng thừa kế còn lại là thuyết phục, vì bà G chỉ định đoạt 90m2cho chị H1 trong di chúc Theo điều 651 BLDS 2015:

Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Vì 5 đồng thừa kế này đều thuộc hàng thứ nhất nên được chia đều

Đây không phải là nội dung án lệ 16 vì ở án lệ số 16 nói về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

Trang 10

VẤN ĐỀ 2: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN.

Tóm tắt: Quyết định số 26

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Vũ (1960)

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh (1942)

Bà Nguyễn Thị Kim Dung (1953)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Vân (1952)

 Tại bản án sơ thẩm: cụ Phúc chết năm 1999 không để lại di chúc ,cụ Thịnh chết

có để lại di chúc Xác nhận 142,3m2 đất tại thửa 26 tờ bản án số 6 với trị giá 1.465.664.700đ là di sản của cụ Phúc và cụ Thịnh, bác yêu cầu kiện đòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung, giao cho ông Vân và vợ là bà Trần Thị Tám được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 26 tờ bản đồ số 6 và được sở hữu toàn

bộ tài sản có trên đất nhưng phải trả ký phần thừa kế cho ông Vi là

150.000.000đ và trả ông Vũ 110.000.000đ Ngày 27/2/2008, ông Vũ, bà Oanh,

bà Dung, ông Vi kháng cáo

 Tại bản án phúc thẩm: chấp nhận yêu cầu đòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung, giao cho vợ chồng ông Vân được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 26

tờ bản đồ số 6 và được sở hữu toàn bộ tài sản có trên đất nhưng phải trả ký phần thừa kế cho ông Vi là 150.000.000đ, trả cho ông Vũ 110.000.000đ, trả cho bà Oanh 40.000.000đ, trả cho bà Dung 40.000.000đ Quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét

xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

Câu 1: Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Nghĩa vụ mang tính nhân thân của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt, căn cứ khoản 8 Điều 372 BLDS 2015: “Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện Như vậy,

vì người quá cố là người đã chết nên nghĩa vụ phải do chính người quá cố đó thực hiện

sẽ đương nhiên chấm dứt

- Nếu nghĩa vụ mà người quá cố để lại không thuộc loại nghĩa vụ nêu trên (như nghĩa

vụ tài sản) thì nghĩa vụ này sẽ không đương nhiên chấm dứt, căn cứ Điều 615 BLDS 2015:

“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm

vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Ngày đăng: 12/11/2021, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w