1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ LẦN 2

32 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng Lực Pháp Luật Dân Sự Của Chủ Thể Trong Xác Lập Giao Dịch
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài thảo luận
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 49,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quy định này hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, một cá nhân, một pháp nhânmuốn thực hiện được các giao dịch dân sự thì chủ thể đó phải có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ mà Nhà nước đã trao cho c

Trang 1

VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

Tóm tắt Bản án số 32 1 : Nguyên đơn (Người Việt Nam định cư ở nước ngoài)

khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Sau đóyêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền mà phía nguyên đơn đã đưa cho để mua đất xây nhà vàđầu tư trên phần đất tranh chấp

Biết rằng, nguyên đơn nhiều lần gửi tiền về Việt Nam để bị đơn mua nhà ở, đất và đứngtên giùm khi nào về thì trả lại, các bên xác lập các giao dịch giấy cho nền thổ cư, giấynhường đất thổ cư và giấy cam kết

Tòa nhận định, các giấy tờ mà các bên đã xác lập chưa được công chứng, chứng thựctheo quy định, hơn nữa nguyên đơn không đủ điều kiện để sở hữu nhà ở và đất theo LuậtĐất đai và Luật nhà ở Từ đó, tuyên vô hiệu các giấy như đã đề cập và hoàn trả cho nhau

2005 ghi nhận đối tượng của giao dịch dân sự là “người”

1 Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc “Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất”.

2 Sau đây gọi là BLDS.

Trang 2

Chúng ta thấy rằng, tại Điều 1 BLDS 20053 đã ghi nhận đối tượng điều chỉnh của luật dân

sự là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, nhưng khi quy định đối tượng của các giaodịch dân sự thì chỉ ghi nhận một trong các chủ thể là “người” Việc ghi nhận như vậytheo quan điểm của nhóm là chưa thật sự hợp lý vì đối tượng là pháp nhân hay các chủthể khác được ghi nhận tại BLDS 2005 vẫn phải thực hiện các giao dịch dân sự (hợpđồng, hành vi pháp lý đơn phương,…) Đến BLDS 2015 thì đã ghi nhận đối tượng củacác giao dịch dân sự là cá nhân, pháp nhân Việc ghi nhận một chủ thể “pháp nhân”, gópphần làm cho BLDS bao quát và điều chỉnh toàn bộ các đối tượng như đã quy định

Cũng tại quy định này BLDS 2015 đã bổ sung theo hướng chủ thể phải có năng lực phápluật dân sự và năng lực hành vi dân sự nhưng phải phù hợp với từng loại giao dịch dân sự

mà chủ thể đó muốn xác lập, thay vì chỉ quy định phải có năng lực hành vi dân sự nhưBLDS 2005 Việc quy định này hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, một cá nhân, một pháp nhânmuốn thực hiện được các giao dịch dân sự thì chủ thể đó phải có đầy đủ các quyền, nghĩa

vụ mà Nhà nước đã trao cho chủ thể đó từ lúc sinh ra (đối với chủ thể là người) hoặc từlúc đáp ứng được các điều kiện của BLDS và được thành lập (đối với chủ thể là phápnhân)

Chúng ta cũng biết rằng tùy vào độ tuổi hoặc đối tượng nào mà một người có thể tự mìnhthực hiện các giao dịch dân sự hoặc chỉ được thực hiện một số giao dịch dân sự hoặc chỉđược thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật Bởi vìkhông phải ai cũng có năng lực hành vi dân sự giống nhau như người mất năng lực hành

vi dân sự sẽ khác với người hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc người thành niên(người từ đủ 18 tuổi trở lên) sẽ có năng lực hành vi dân sự khác với người chưa thànhniên (người chưa đủ sáu tuổi, người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi,…)

3 Điều 1 Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Trang 3

Có quan điểm cho rằng “Quy định này có sự tiến bộ nhưng sẽ kéo theo những khó khăn

trong quá trình áp dụng BLDS 2015”4, quan điểm khác lại cho rằng “Như vậy, tổng kết

lại có thể thấy rằng chỉ có người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới có thể tự xác lập, thực hiện mọi hợp đồng theo nhu cầu của mình mà không cần phải có sự đồng ý của bất cứ cá nhân, tổ chức nào Tức là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự không bị giới hạn về phạm vi các lọai hợp đồng được tự xác lập, thực hiện Còn lại các cá nhân khác khi xác lập hợp đồng trong một số trường hợp cần phải có sự đồng ý hoặc phải do người đại diện xác lập thưc hiện Quy định này không chỉ hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người trực tiếp xác lập, thực hiện hợp đồng mà còn hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan…”5

Sự khác nhau thứ hai, tại điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 và điểm c khoản 1Điều 122 BLDS 2005; đây là sự khác nhau này về việc quy định đối tượng được xác lậpgiao dịch dân sự đó là “chủ thể” và BLDS 2005 quy định”người” Vấn đề quy định này

đã được phân tích và chỉ ra những điểm mới như ở trên

Sự khác biệt thứ ba, tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 và điểm b khoản 1Điều 122 BLDS 2005 Cụ thể là, BLDS 2015 quy định mục đích và nội dung của giaodịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, còn BLDS 2005 quy định không vi phạmđiều cấm của pháp luật Theo nhóm, với quy định của BLDS 2015 hợp lý hơn, bởi lẽ,pháp luật tức là chúng ta hiểu theo hướng mục đích và nội dung phải không vi phạm Luật(Quốc hội ban hành), Nghị định (Chính phủ ban hành), Thông tư (Bộ, các cơ quan ngang

Bộ ban hành),… Nhưng như vậy là không khách quan, và có thể dẫn đến việc lạm quyềncác cơ quan có thẩm quyền, không đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể khitham gia vào các giao dịch dân sự Đến BLDS 2015 đã điều chỉnh về sự bất cập trên bằng

cách quy định “… không vi phạm điều cấm của Luật”, việc quy định này hoàn toàn hợp

4 Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có sửa đổi, bổ

sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.300.

5 Lê Thị Hương (2019), Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015 – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh

Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr.39.

Trang 4

Quan điểm đã cho rằng “Với quy định vừa nêu, điều cấm là quy định trong “pháp luật”

mà khái niệm pháp luật được hiểu rất rộng Việc sử dụng khái niệm điều cấm của pháp luật được hiểu rất rộng Việc sử dụng khái niệm điều cấm có nội hàm rộng như trên là không thuyết phục vì sẽ giới hạn sự tự do của các chủ thể dân sự hoặc có thể dẫn đến sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc can thiệp vào các quan hệ tư Do vậy,

…”6

BLDS của chúng ta đã theo hướng của một số nước trên thế giới, như Bộ luật dân sự

Pháp có quy định liên quan đến nội dung của hợp đồng, Điều 1128 quy định “Nôị dung

của hợp đồng là hợp pháp và chắc chắn”, quy định này được cụ thể hóa tại các Điều từ

Điều 1162 đến Điều 1171, trong đó Điều 1162 quy định “Hợp đồng không được vi phạm

trật tự công cộng, kể cả về các điều khoản cũng như mục đích của hợp đồng, dù đã được biết hoặc không được biết bởi tất cả các bên” Ngoài ra còn có một số quy định khác

cũng được xem tương đồng với các quy định trong phần nghĩa vụ và phân quy địnhchung về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam.7

Sự khác nhau thứ tư, BLDS 2015 quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 117 và BLDS

2005 quy định tại khoản 2 Điều 122 là điều kiện về hình thức, điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự khi được luật quy định còn một bên là được pháp luật quy định

Như ở trên đã phân tích, quy định của BLDS 2015 hợp lý hơn, bởi lẽ, pháp luật tức làchúng ta hiểu theo hướng điều kiện về hình thức phải không vi phạm Luật (Quốc hội banhành), Nghị định (Chính phủ ban hành), Thông tư ( Bộ, các cơ quan ngang bộ ban hành),

… Nhưng như vậy là không khách quan, và có thể dẫn đến việc lạm quyền cơ các cơquan có thẩm quyền, không đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham giavào các giao dịch dân sự Đến BLDS 2015 đã điều chỉnh về sự bất cập trên

Có quan điểm cũng đã theo hướng của nhóm “Theo đó, BLDS năm 2005 dùng từ “pháp

luật” có phạm vi rất rộng, bao gồm cả văn luật và văn bản dưới luật; còn BLDS năm

6 Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có sửa đổi, bổ

sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.318

7 Lê Thị Hương (2019), Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015 – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh

Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr.57.

Trang 5

2015 sử dụng từ “luật" có phạm vi hẹp hơn, tức chỉ có văn bản luật mới có thể chi phối,

áp đặt hình thức như là một điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Hướng sửa đổi như trong BLDS năm 2015 đã tạo ra sự tự do cho các chủ thể dân sự trong việc lựa chọn hình thức xác lập giao dịch, đồng thời việc giới hạn quyền tự do lựa chọn về hình thức giao dịch của các chủ thể phải do luật quy định.”8

Câu 2 Đoạn nào của Bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Trích phần nhận định của Tòa án: “Hơn nữa, ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam

định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật Đất đai năm 2003 và Điều 121 Luật Nhà ở Việt Nam 2005… do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam …” 9

Câu 3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã

bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

Trích: “ … vì vậy giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư

ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân

sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” 10

Câu 4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)

về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

Theo quan điểm của nhóm, hướng giải quyết vấn đề về tranh chấp của Tòa án là hợp lý.Bởi lẽ:

8 Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có sửa đổi, bổ

sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 320 – 321.

9 Trích phần nhận định của Tòa án, Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc “Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất”, tr 5-6

10 Trích phần nhận định của Tòa án, Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc “Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất”, tr.6

Trang 6

Thứ nhất, chúng ta xem xét đến năng lực pháp luật của chủ thể mà cụ thể là năngluật pháp luật dân sự của nguyên đơn Căn cứ vào Điều 1 BLDS 2015, chủ thể của cácquan hệ pháp luật dân sự được quy định là cá nhân và pháp nhân, tức là chúng ta hiểutheo hướng, cá nhân và pháp nhân trong nước có những quyền và nghĩa vụ được Nhànước thừa nhận và pháp luật ghi nhận Tiếp đến Điều 16 BLDS 2015 quy định theohướng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự vànghĩa vụ dân sự Nghĩa là chúng ta hiểu rằng, cá nhân đều có các quyền và nghĩa vụ dân

sự Để được xem là có tư cách chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự thì phảiđáp ứng đủ tư cách về chủ thể (cá nhân là công dân Việt Nam, pháp nhân) Tại Điều 18BLDS 2015 đã quy định rõ, năng lực pháp luật dân sự của các cá nhân có thể bị hạn chếnếu luật, bộ luật khác có quy định

Vậy chúng ta xét đến năng lực pháp luật dân sự của nguyên đơn trong bản án này có đầy

đủ hay là chủ thể bị hạn chế năng lực pháp luật dân sự, liệu rằng nguyên đơn có được cóđầy đủ nội dung của pháp luật dân sự11 trong đó có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sựkhông?

Như đã đề cập, nguyên đơn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, căn cứ vào Điều 7Luật Nhà ở 201412, nguyên đơn có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, khoản 1 Điều 186Luật Đất đai năm 201313 cũng đã quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc

11 Nội dung của pháp luật dân sự được thể hiện “Mọi quan hệ pháp luật đều là mối liên hệ pháp lí giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó, được thể hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Vì vậy, nội dung của quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ đó Quyền của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên kia tạo thành mỗi liên hệ biện chứng, mâu thuẫn và thống nhất trong một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể Không có quyền của một bên thì cũng không có nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Trong những quan hệ đơn giản, có thể dễ dàng xác định trong đó một bên chỉ có quyền và một bên chỉ có nghĩa vụ (người cho vay và người vay tài sản ) Nhưng thông thường, các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ phức tạp, trong đó các bên có quyền đồng thời có nghĩa vụ với nhau trong quan hệ mua bán, cho thuê tài sản ).

12 Điều 7 Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.

13 Điều 186 Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Trang 7

các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền

sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.

Tiếp đến điểm b, Khoản 2, Điều 119 Luật Nhà ở14 quy định điều kiện của các bên tham

gia giao dịch về nhà ở như sau: “Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở

nước ngoài thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch”.

Từ những lập luận trên, nguyên đơn có thể có quyền dân sự đó là sở hữu nhà ở tại ViệtNam nhưng chúng ta thấy rằng, BLDS 2015 quy định cụ thể điều khoản chuyển tiếp tức

là “Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có

tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết;” và

áp dụng quy định tại Luật Nhà ở năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003 để áp dụng là hoàntoàn hợp lý

Nhưng liệu rằng khi áp dụng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo BLDS 2005thì đã đảm bảo được quyền lợi của nguyên đơn hay không? Khi BLDS 2005 chỉ quy địnhrằng, người đó phải có năng lực hành vi dân sự Nhưng chúng ta thấy rằng Tòa án không

đề cập tới bất kỳ nội dung nào để thể hiện năng lực hành vi của nguyên đơn có bị mấtnăng lực hay hạn chế năng lực hành vi dân sự theo BLDS 2005, pháp luật dân sự tại thờiđiểm này không ghi nhận tới năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân như thế nào mớiđược tham gia vào giao dịch dân sự

14 Điều 119 Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở

2 Bên mua, thuê, thuê mua nhà ở, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, nhận đổi, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận thế chấp, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý nhà ở là cá nhân thì phải

có điều kiện sau đây:

b) Nếu là cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở được giao dịch.

Trang 8

Thứ hai, xem xét đến hình thức của hợp đồng tức là các giấy chuyển nhượng, bản camkết giữa nguyên đơn và bị đơn của Tòa án Căn cứ vào Điều 127 BLDS 2005 dẫn chiếuđến Điều 122 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự vô hiệu khi không đáp ứng được các điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Như chứng minh ở trên, chúng ta thấy rằng giaodịch trên đã không đáp ứng được điều kiện về nội dung và mục đích tức là đã vi phạmđiều cấm của pháp luật có liên quan cụ thể là Luật Nhà ở 2005 và Luật Đất đai 2003 Từ

đó việc lập luận về các loại giấy tờ như Tòa án đã nhận định thực sự không cần thiết

Trang 9

Vấn đề 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC.

Tóm tắt Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa Dân sự TAND tối cao.

Hội và bà Hương cùng với 5 người con là chị Ánh, anh Bình, chị Thủy, chị Minh và anhToàn sở hữu một căn nhà và đất tại Tỉnh Phú Yên Năm 2007, ông Hội bị tai biến đếnnăm 2010 Tòa mới chính thức tuyên bố ông mất năng lực hành vi dân sự; ngày 8/2/2010

bà Hương tự ý bán căn nhà cho vợ chồng ông Hùng mà không hỏi ý kiến ông Hội mà chỉhỏi một người con là anh Bình; chị em bà Ánh không đồng ý và có gửi đơn yêu cầuUBND phường xem xét nên chị Ánh làm đơn yêu cầu hủy hợp mua bán của bà Hương,buộc vợ chồng ông Hùng phải giao lại giấy chứng nhận QSDĐ, bà Hương trả lại tiền choông Hùng

Câu 1 Từ thời điểm nào của ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất NLHVDS?

Từ thời điểm năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm một chỗ và không còn khảnăng nhận thức, đến ngày 7/5/2010 Tòa đã chính thức tuyên bố ông mất NLHVDS

Theo đó, ở phần Nhận thấy15 có đoạn: “Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm một chỗ

không nhận thức được, từ cuối năm 2008 hàng tháng gia đình phải góp tiền lo thuốc men cho cha”.

Còn về Tòa chính thức tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự, được thể hiện ở

phần Xét thấy, cụ thể tại đoạn: “…đến ngày 7/5/2010, ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất

năng lực hành vi dân sự, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông Hùng là đúng pháp luật”.

Câu 2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất NLHVDS?

15 Trích Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa Dân sự TAND tối cao, phần Nhận thấy, tr.34.

Trang 10

Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) (8/2/2010) được xác lập trước khi ông Hội

bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự (7/5/2010)

Theo đó, ở phần Xét thấy16 có đoạn: “Ngày 8/2/2010 ông Hội, bà Hương lập hợp đồng

chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền sử dụng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hội, bà Hương, diện tích 120m2…Bà Hương và anh Hùng cho rằng lúc bà ký hợp đồng ông Hội còn nhận thức được, không mất năng lực

hành vi dân sự, đến ngày 7/5/2010, ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi

dân sự, nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông Hùng là đúng pháp luật”.

Câu 3 Theo TAND tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Theo TAND tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu bởi vì “Xét thấy, tại

thời điểm bà Hương ký hợp đồng chuyển nhượng QSSĐ cho ông Hùng, bà Trinh thì ông Hội chưa chết nên chị Kim Ánh không có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSSĐ giữa vợ chồng ông Hội, bà Hương với vợ chồng anh Hùng, chị Trinh Đáng lẽ ra trong trường hợp này Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện…Do đó chị Hương có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 130 BLDS 2005”; có nghĩa TAND tối cao đã áp dụng quy định tại Điều 130 BLDS 2005 để

xác nhận phần giao dịch của ông Hội là vô hiệu

Câu 4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việt mà anh/chị biết.

Trong thực tiễn có vụ việc của ông Diện tại Quyết định số 102/2015/DS-GĐTngày 10/04/2015 của Tòa dân sự TANDTC17 giống hoàn cảnh của ông Hội

16 Trích Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa Dân sự TAND tối cao, phần Xét thấy, tr.38.

17 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ bảy),

Bản án số 59-61, tr.423-424.

Trang 11

Cụ thể Quyết định trín được tóm tắt như sau: Ngăy 16/01/1993 ông Diện viết

“Giấy nhượng tăi sản” để chuyển nhượng cho ông Sơn ba gian nhă tranh Tại Quyết định

số 07/2009/QĐST-DS ngăy 15/2/2009 TAND huyện Từ Liím tuyín bố ông Diệm mấtNLHVDS Tuy nhiín, tại Giấy chứng nhận số 744/KHTH ngăy 07/08/2007, bệnh việntđm thần Hă Nội chứng nhận ông Diện bị bệnh tđm thần phđn liệt đê được điều trị 07 lần

từ ngăy 14/03/1983 đến ngăy 24/10/2003 Tại biín bản phâp định giâm y tđm thần số 41/PYTT ngăy 25/11/2009, Trung tđm giâm định phâp y tđm thần Sở y tế Hă Nội ông Diện

bị bệnh tđm thần phđn liệt thể Paranoid từng giai đoạn với thiếu sót ổn định, khả năngnhận thức vă lăm chủ hănh vi bị hạn chế, cần có người giâm hộ Như vậy, ông Diện xâclập GDDS ở thời điểm tuyín bố chưa bị mất NLHVDS nhưng thực tế ở thời điểm năy lẵng đê bị bệnh tđm thần phđn liệt

Hướng giải quyết của Tòa ân trong trường hợp trín lă: Tòa ân giâm đốc thẩm đêtheo hướng có cơ sở xâc định tại thời điểm chuyển nhượng tăi sản ông Diện đê mấtNLHVDS Lẽ ra, trong quâ trình giải quyết vụ ân Tòa ân cấp sơ thẩm vă Tòa ân cấp phúcthẩm phải lăm rõ có hay không sự gian dối khi hai bín ký kết hợp đồng chuyển nhượng

sử dụng đất tại thời điểm giao kết hợp đồng ông Diện đê bị tđm thần

Cđu 5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của TAND tối cao trong vụ việc trín (liín quan đến giao dịch do ông Hội xâc lập)? Níu cơ sở phâp lý khi đưa ra hướng xử lý.

Hướng mă Tòa tuyín vô hiệu lă thuyết phục về mặt đảm bảo quyền lợi cho người

bị yếu thế ở đđy lă ông Hội tuy nhiín về cơ sở phâp lý mă Tòa âp dụng lă Điều 130BLDS 2005 lă chưa chính xâc, bởi lẽ:

Thứ nhất, tại Điều 130 BLDS 2005 để tuyín bố giao dịch dđn sự của người rơi văotình trạng mất NLHVDS chỉ được âp dụng khi “người năy bị đê bị Tòa ân tuyín bố mấtNLHVDS” còn thời điểm mă ông Hội giao dịch thì ông Hội chưa bị Tòa ân tuyín bố mất

Trang 12

NLHVDS, do đó việc Tòa án áp dụng Điều 130 BLDS 2005 nay là Điều 125 BLDS 2015

là không phù hợp

Thứ hai, trên Quyết định trên có 1 tình tiết là “vào tháng 12/2009, ông Hội nằm

một chỗ và người vợ dùng ngón tay của ông Hội để điểm chỉ vào hợp đồng mua bán” mà

“năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được”, như vậy trường

hợp này đã vi phạm yếu tố tự nguyện tại điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 Theo

quan điểm của một tác giả: “Việc tham gia vào các giao dịch dân sư đòi hỏi chủ thể phải

có sự tự nguyện, Một giao dịch dân sự nếu được xác lập mà không có sự tự nguyện của các bên chủ thể thì giao dịch đó có thể bị vô hiệu Do đó, yếu tố tự nguyện của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự là hết sức quan trọng” 18 Do đó, việc người vợ - ở đây

là bà Hương đã tự ý quyết định bằng việc tự ý lấy tay ông Hội điểm chỉ vào hợp đồngnhằm bán căn nhà cho vợ chồng ông Hùng, bà Trinh mà điều này không hề phụ thuộcvào ý chí chủ quan của ông Hội nên có thể xem xét vào sự vi phạm tính tự nguyện màcăn cứ tại Điều 122 BLDS 201519 thì giao dịch dân sự trên sẽ bị vô hiệu

Câu 6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có

bị vô hiệu không? Vì sao?

Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không

bị vô hiệu Vì theo điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 thì “Giao dịch dân sự chỉ làm

phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ”, mà giao

dịch tặng cho chỉ phát sinh quyền nên giao dịch đó sẽ không bị vô hiệu, có nghĩa khi ôngHội thực hiện giao dịch tặng cho thì lúc này nó chỉ phát sinh quyền đối với ông Hội; cònbên được nhận họ có thể nhận hoặc không cho nên không bị ràng buộc

18 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình những quy định chung về Luật Dân sự, Nxb Hồng Đức – Hội

Luật gia Việt Nam 2018, chương VI, tr.280.

19 Điều 122 Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

Trang 14

VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI.

Tóm tắt Quyết định số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tòa Dân sự TAND tối cao về vụ việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà”.

Nguyên đơn có bán cho bị đơn một căn nhà là hợp pháp và đã có hiệu lực Tuynhiên, con trai bị đơn lại không hỏi ý kiến bị đơn mà lại tự ý thỏa thuận hoán nhượng chonguyên đơn sở hữu, sử dụng ½ diện tích nhà Bị đơn đã không thông báo cho vợ chồngnguyên đơn biết tình trạng nhà, đất mà các bên thỏa thuận đã có quyết định thu hồi, giảitỏa, đền bù là có sự gian dối Mặt khác, tại bản “Thoả thuận hoán nhượng” không có chữ

ký của chồng nguyên đơn bán căn nhà cho bị đơn Do vậy, giao dịch “Thoả thuận hoánnhượng” giữa nguyên đơn và bị đơn vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132 BLDS 2005 đểgiải quyết

Tóm tắt Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 của Tòa Dân sự TAND tối cao.

Nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có sở hữu 5 lô đất, trong thời gian chờ giấychứng nhận QSDĐ thì nguyên đơn đi làm ăn xa (tháng 10/2001), tháng 4/2003 nguyênđơn về nước, tháng 8/2007 hai vợ chồng ly hôn thì mới biết được ở nhà bị đơn giả mạochữ kí của nguyên đơn mà không có sự uỷ quyền của nguyên đơn để lập hợp đồngchuyển nhượng cho ông Tài quyền sử dụng diện tích đất nêu trên Nguyên đơn khởi kiệnyêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) giữa bịđơn do nguyên đơn đứng tên với ông Tài bị vô hiệu Theo BLDS 1995 và BLDS 2005nguyên đơn không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài nên không có quyềnkhởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối Trường hợp này chỉ

có ông Tài mới có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừadối, nếu ông Tài không biết việc bị đơn giả mạo chữ ký của nguyên đơn khi tiến hànhgiao kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Theo Toà án, nếu xác định nguyên đơn cóquyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối thì căn cứ khoản

1 Điều 136 BLDS 2005 thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện

Trang 15

Câu 1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015?

Cơ sở pháp lý: Điều 132 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2015

Theo nhóm, điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự do có lừa dối của hai bộ luật

2005 và 2015 tương đối giống nhau, cụ thể:

Thứ nhất, phải tồn tại sự lừa dối trong giao dịch dân sự Theo cách nói thôngthường thì lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để lừa gạt người khác, làm chongười khác nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo từ đó khiến họ giao kết hợp đồng

Một quan điểm của tác giả như sau: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai sự

thật để làm cho bên đối tác ký hợp đồng với mình Hành vi lừa dối dẫn đến hậu quả là bên bị lừa dối không đạt được cái mà họ đích thực mong muốn Chính vì vậy, nó làm cho hợp đồng không còn là sự bình đẳng, tự do thể hiện ý chí”20

Thứ hai, lừa dối trong giao dịch phải là hành vi cố ý của một bên hoặc của ngườithứ ba Với quy định trên của BLDS, lừa dối là “hành vi” Thông thường “hành vi” lànhững công việc cụ thể Đó có thể là một hành động hay một lời nói hay cả hành động vàlời nói… Khái niệm “hành vi” trong lừa dối được sử dụng theo nghĩa tương đối rộng Từ

đó “có thể nói rằng, sự không hành động thông qua việc cố tình im lặng hoặc việc cố

tình không cung cấp đủ tài liệu, giấy tờ cần thiết có thể được coi là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng” Hành vi chỉ được coi là bộ phận cấu thành lừa dối khi nó là “cố ý”

của người có hành vi Ở đây phải chứng minh người có hành vi có “tà tâm” Do đó, nếumột người có hành vi làm cho bên kia hiểu sai lệch về hợp đồng nhưng hành vi nàykhông “cố ý” thì không có lừa dối.21

Một quan điểm của tác giả như sau: “ Tóm lại, để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kết hợp đồng hay không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây: Một là, phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên, Hai

20 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018

(xuất bản lần thứ 7), Bản án số 68-69, 70-71, tr.523.

21 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018

(xuất bản lần thứ 7), Bản án số 68-69, 70-71, tr.524-525.

Trang 16

là, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó Ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên đưa ra mà giao kết hợp đồng Và bốn là, phải có thiệt hại xảy ra” 22

Thứ ba, hành vi cố ý đó nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chấtcủa đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó Không

phải hành vi cố ý nào cũng được coi là lừa dối Theo BLDS, hành vi lừa dối phải “nhằm

làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Như vậy, để có thể là lừa dối, hành vi cố ý

phải có tính quyết định đối với bên bị lừa dối Hành vi này phải nhằm làm cho một bêntrong hợp đồng hiểu sai lệch về một yếu tố của hợp đồng nên mới giao kết Ở đây phảihội đủ yếu tố hiểu sai lệch của một bên và yếu tố tác động của việc hiểu sai lệch tới quyếtđịnh xác lập giao dịch vì BLDS yêu cầu hành vi của một bên hay người thứ ba nhằm làmcho bên kia hiểu sai lệch “nên đã xác lập giao dịch” Thực ra, khi một bên hiểu sai lệch

về hợp đồng thì bên này có nhầm lẫn về hợp đồng Do đó, cũng như đối với nhầm lẫn,cần phải xác định được có sự khác nhau giữa thực tế và nhận thức của bên (được coi lànạn nhân của lừa dối) Nếu có sự khác nhau (tức nhầm lẫn) thì lừa dối tồn tại còn nếukhông có sự khác nhau (tức không có nhầm lẫn) thì lừa dối không tồn tại.23

Một quan điểm của tác giả cho rằng: “ Việc một người bán hàng khoe không đúng

sự thật về hàng hóa của mình hoặc người bán hàng nói giá quá cao (nói thách) thì không

bị xem là lừa dối, bởi lẽ trong các trường hợp này người tiếp nhận thông tin không bị buộc phải kí hợp đồng nếu họ không muốn.” 24

Câu 2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?

Đoạn thứ ba trong phần Xét thấy25 cho thấy thoả thuận hoán nhượng đã bị tuyên

vô hiệu do có lừa dối:

22 Lê Thị Bích Thọ, “Lừa dối – Yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 04/2001, tr.21-24.

23 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018

(xuất bản lần thứ 7), Bản án số 68-69, 70-71, tr.526-527.

24 Lê Thị Bích Thọ, “Lừa dối – Yếu tố vô hiệu hợp đồng kinh tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 04/2001, tr.21-24.

25 Đoạn thứ ba phần Xét thấy của Quyết định giám đốc thẩm số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà”

Ngày đăng: 19/07/2021, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w