1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận dân sự lần 7

14 92 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 98,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b Hàng th

Trang 1

ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

BÀI THẢO LUẬN THỨ BẢY MÔN: LUẬT DÂN SỰ

ĐỀ TÀI: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Trang 2

I Xác định vợ chồng của người để lại di sản

- Tóm tắt Bản án số 20/2009/DSPT ngày 11 và 12/02/2009:

- Nguyên đơn là bà Bằng, bà Khiết, bà Triển và bà Tiến kiện bị đơn là ông Thăng về việc tranh chấp chia thừa kế Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị Tiến, bà Nguyễn Thị Bằng, bà Nguyễn Thị Triển và

bà Nguyễn Thị Khiết đối với ông Nguyễn Tất Thăng về việc chia di sản thừa kế của

cụ Thất, cụ Tần, cụ Thứ

1.1 Điều luật nào của BLDS quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật?

- Điều 651 BLDS 2105 quy định về “Người thừa kế theo pháp luật”:

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,

em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau

3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

1.2 Suy nghĩ anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được nghiên cứu.

- Việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc nghiên cứu trên là hợp lý

- Vì căn cứ điểm a khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về người thừa kế theo pháp luật: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13011960 -ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước -ngày

2531977 ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước -đối với miền Nam và -đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng

là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ

Theo đó cụ Thứ và cụ Thát sống chung với nhau như vợ chồng trước năm 1960 ở miền Bắc Như vậy, cụ Thứ là vợ hợp pháp của cụ Thát và thuộc hàng thứa kế thứ nhất

1.3 Vợ/chồng của người để lại di chúc thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Vợ/chồng của người để lại di chúc thuộc hàng thừa kế thứ nhất Căn cứ theo điểm a khoản

1 Điều 676 BLDS 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

1.4 Cụ Thát và cụ Thứ có đăng ký kết hôn không? Vì sao?

Trang 3

Cụ Thát và cụ Thứ không có đăng ký kết hôn, vì cụ Thứ và cụ Thát chỉ sống chung với nhau như vợ chồng trước năm 1960

1.5 Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Căn cứ theo tinh thần của Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì nếu:

“Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.”.

1.6 Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống chung với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

- Ngoài việc sống chung với cụ Thứ, cụ Thát còn sống chung với cụ Tần

Đoạn của bản án cho câu trả lời: “Các đương sự đều thống nhất là cụ Thát mất năm 1961 có

vợ là cụ Tần mất năm 1995 có 4 người con là ông Thăng, bà Bằng, bà Khiết và bà Triển Theo các nguyên đơn và bà Khiết thì cụ Thát có vợ hai là cụ Phạm Thị Thứ (mất năm 1994)

có 1 con là bà Tiến.”

1.7.Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống vơi nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ không là người thừa kế của cụ Thát Căn cứ theo khoản a Mục 4 của Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về người thừa kế pháp luật: “a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản

án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”

1.8 Câu trả lời có thay đổi không khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?

Khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam thì câu trả lời sẽ thay đổi và cụ Thứ là người thừa

kế của cụ Thát Căn cứ theo khoản a Mục 4 của Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về người thừa kế pháp luật: “a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong

cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”

Trang 4

1.9 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát.

Việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát có thể được xem dưới góc độ pháp luật trong hai giai đoạn khác nhau:

+ Xét dưới góc độ pháp luật trong hoàn cảnh chiến tranh:

Thời điểm cụ Thứ và cụ Thát sinh sống với nhau như vợ chồng là trước năm 1960 Vì vậy theo Nghị quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 thì cụ Thứ hoàn toàn được coi là người thừa kế của cụ Thát

+ Xét dưới góc độ pháp luật hiện nay:

Việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế trong pháp luật là chưa phù hợp Vì căn cứ theo khoản 2 và 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về Giải thích từ ngữ:

“Trong luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

2 Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;

6 Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;”

Cụ Thứ và cụ Thát thực tế sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên không thể thừa hưởng thừa kế của nhau

II Xác định con của người để lại di sản

- Tóm tắt Quyết định số 182/2012

- Cụ Dung và cụ Cầu có duy nhất người con là bà Nga Năm 1962 bà đã thoát ly gia đình Ông Tùng là cháu họ của hai cụ, được hai cụ nhận nuôi vào năm 2 tuổi Hai cụ

đã nuôi dưỡng ông Tùng và ông Tùng cũng là người chăm sóc hai cụ khi già yếu và đến khi hai cụ chết ông cũng là người lo mai táng Ông Tùng đã bảo quản, duy trì khối tài sản này từ khi hai cụ chết Tòa án công nhận ông Tùng là con nuôi của hai cụ và nếu ông Tùng có yêu cầu được chia tài sản của hai cụ thì sẽ giải quyết theo quyết định của pháp luật

2.1 Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở

pháp lý khi trả lời.

- Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất

- Căn cứ tại Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015: “ 1 Những người thừa

kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm:

vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”

2.2 Trong trường hợp nào một ngưòi được coi là con nuôi của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

- Căn cứ tại khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010: “ Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí.”

- Vì vậy, để một người được coi là con nuôi của người để lại di sản thì việc nhận nuôi con nuôi phải được đăng kí với cơ quan có thẩm quyền

Trang 5

2.3 Trong bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

- Bà Tý được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi Đoạn các nguyên đơn trình bày: “ Các bà có nghe nói trước đây bố mẹ các bà có nhận bà Nguyễn Thị Tý là con nuôi, sau đó bà Tý về với bố mẹ đẻ và đi lấy chồng”

2.4 Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào có câu

trả lời?

- Tòa án không công nhận bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần

Đoạn quyết định của bản án dân sự sơ thẩm: “ Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải

là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ.”

2.5 Suy nghĩ của anh chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý.

- Hướng giải quyết của Toà án là hoàn toàn đúng Vì trong lý lịch của cụ Thát, cụ Tần không ghi phần con nuôi là bà Tý Không những vậy, cha mẹ của bà Tý còn sống và sau đó đã đoàn tụ cùng gia đình

2.6 Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào? Vì sao

- Trong quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách

là con nuôi Vì hai cụ đã nuôi dưỡng anh Tùng từ khi anh Tùng 2 tuổi và anh Tùng cũng là người chăm sóc, nuôi dưỡng hai cụ khi già yếu và đến khi hai cụ chết ông cũng là người lo mai táng

2.7 Suy nghĩ của anh chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng.

- Hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng là hợp tình hợp lý

Vì thời điểm xảy ra trước khi có Luật hôn nhân và gia đình nên mặc dù anh Tùng không là con nuôi hợp pháp nhưng anh được nhận nuôi từ ý chí của hai cụ và được nuôi dưỡng khôn lớn Anh Tùng còn làm tròn nghĩa vụ của một người con đó là nuôi dưỡng hai cụ khi về già và khi hai cụ chết anh cũng là người mai táng

2.8 Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng có được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung không? Vì sao?

- Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì anh Tùng không được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung Vì theo Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “ Việc nhận nuôi con do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”

- Trong khi đó hoàn cảnh trong Quyết định 182 cụ Cầu và cụ Dung không đi đăng kí

để nhận ông Tùng là con nuôi nên không được coi ông Tùng là con nuôi của hai cụ

Do đó, anh Tùng không được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung

2.9 Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản Căn cứ vào Điểm a Khoản

1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật: “ 1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ

Trang 6

nhất gồm: vợ , chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”

2.10 Đoạn nào của bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát?

- Đoạn cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát: “ Bà Tiến còn xuất trình lý lịch và giấy khai sinh chính do Ủy ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến có bố là Nguyễn Tất Thát, mẹ là Phạm Thị Thứ.”

2.11 Suy nghĩ của anh chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến?

- Giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến là thuyết phục Vì bà Tiến được bà Khiết khai trong sơ yếu lí lịch Đảng viên và bà Tiến cũng xuất trình được giấy khai sinh cùng với lời xác nhận của họ hàng, hàng xóm Như vậy, với các chứng cứ trên đã

đủ cơ sở để khẳng định bà Tiến là con chung của cụ Thát và cụ Thứ

2.12 Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào xác định con dâu, con rể là ngưòi thừa kế của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh chị biết.

- Theo quy định tại Điều 756, 757, 757-1, 757-2 pháp luật thừa kế của Pháp thì vợ chồng có quyền thừa kế được thừa kế một mình hoặc cùng với người thân thích khác của người để lại di sản

- Nếu vợ chồng có con chung thì người vợ hoặc chồng còn sống sẽ được quyền hưởng

¼ di sản hoặc quyền hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản hiện tại

Nếu vợ hoặc chồng chết trước mà có con riêng thì vợ hoặc chồng còn sống được hưởng ¼ di sản Trong trường hợp không có con cháu, nếu người để lại di sản có cha

mẹ thì vợ hoặc chồng còn sống được hưởng 1 nửa di sản, 1 nửa còn lại chia đều cho cha mẹ người để lại di sản

- Nếu cha mẹ của người để lại di sản đều chết thì phần di sản lẽ ra người này được hưởng sẽ thuộc về vợ hoặc chồng còn sống

- Vợ hoặc chồng còn sống sẽ được hưởng toàn bộ di sản trong trường hợp người để lại

di sản không có con, cháu, cha mẹ sau người để lại di sản

III CON RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG

3.1 Bà Tiến có là con riêng của chồng cụ Tần không?Vì sao?

- Bà Tiến là con riêng của chồng cụ Tần

-Vì trong Bản án có đoạn: “Bà Tiến còn xuất trình lý lịch và giấy khai sinh chính do

Ủy ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến có bố là Nguyễn Tất Thát,mẹ là Phạm Thị Thứ”

3.2 Trong điều kiện nào con riêng của chồng được thừa kế di sản của vợ?Nêu cở

sở pháp lý khi trả lời.

“Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”

CSPL:Điều 654 BLDS năm 2015

3.3 Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần không?Vì sao?

- Bà Tiến không đủ điều kiện để hưởng di sản của cụ Tần

Trang 7

- Vì theo Điều 654 BLDS năm 2015 quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”.Trong Bản án không đề cập đến việc bà Tiến và cụ Tần Con riêng và bố dượng,

mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa

kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này” Trong Bản án không đề cập đến việc bà Tiến và cụ Tần có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con nên không có cơ sở pháp lý để bà Tiến nhận thừa kế của cụ Tần

3.4 Nếu bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ mấy của cụ Tần?Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

-Nếu bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tần

CSPL:Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015

3.5 Suy nghĩ của anh/chị về việc Toà án không thừa nhận tư cách thừa kế của

bà Tiến đối với di sản của cụ Tần.

- Hướng giải quyết của Toà án là hợp lý.Vì theo Điều 654 BLDS năm 2015 quy định:

“Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”.Trong khi đó,Bản án không đề cập đến việc bà Tiến và cụ Tần có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con Vì vậy Toà án giải quyết không cho bà Tiến nhận thừa kế của cụ Tần là hoàn toàn hợp pháp

3.6 Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về chế định thừa kế liên quan đến hoàn cảnh của con riêng của vợ/chồng trong BLDS hiện nay.

- Về quan hệ thừa kế giữa con riêng của vợ/chồng hiện nay quy định tại Điều 654 BLDS năm 2015 quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”

- Tiêu chí để xác định con riêng với bố dượng,mẹ kế có được hưởng thừa kế hay không là dựa vào quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con,mẹ con là một phạm trù rất trừu tượng,không thể xác định một cách cụ thể,rõ ràng “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” là như thế nào,không thống nhất về thời gian,mức độ nuôi dưỡng,chăm sóc nên khi áp dụng và thực tiễn nhiều khi rất khác nhau do những cách hiểu của các nhà áp dụng pháp luật

- Về mặt đạo đức thì “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” không phải lúc nào cũng thể hiện bằng vật chất,vậy “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” bằng tinh thần như yêu thương,quan tâm thì có được xem là chăm sóc,nuôi dưỡng

- Trường hợp khi người chết để lại di sản,vì không muốn con riêng hưởng di sản nên

có người đã phủ nhận “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” đã có Vậy cần phải quy định biện pháp xác minh nào để thừa nhận “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” đã có để bảo đảm quyền lợi của con riêng

Trang 8

-Pháp luật đã không quy định một cách cụ thể vì thế đây là điều cần thiết phải bổ sung

để tránh gây tình trạng điều luật được hiểu không thống nhất,đảm bảo quyền lợi cho người hưởng di sản thừa kế

IV Thừa kế thế vị và hàng thừa kế thứ hai, thứ ba

- Tóm tắt Bản án số: 69/2018/DSPT ngày 09/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao ở Hà Nội.

- Bà Đỗ Thị T5 (tên gọi khác Đỗ Thị Thanh T5) không lấy chồng và có người con nuôi là chị Đỗ Đức Phương C3 (chết năm 2007) Năm 2009 bà T5 chết, không để lại

di chúc, có di sản là thửa đất số 203, Tờ bản đồ số 12, diện tích 127,3 m 3 tại khối 7 (tổ 12 cũ), phường L, thành phố H Anh Thiều Văn C1 (chồng của chị C3) khởi kiện yêu cầu: giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế tài sản của bà T5 giữa anh và ông Đỗ Quang V và công nhận hai cháu Thiều Thụy Thủy T7 và cháu Thiều Đỗ Gia H4 được hưởng toàn bộ di sản do bà T5 để lại

- Sau khi nghiên cứu kĩ hồ sơ có trong vụ án Tòa án nhân dân cấp cao quyết định:

- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về bản án dân sự sơ thẩm số 03/2017/DSST ngày 14/06/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về vụ án “Tranh chấp quyền thừa kế”

- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2017/DS-ST ngày 14/06/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về vụ án “Tranh chấp quyền thừa kế” Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Hà tĩnh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

- Hoàn trả lại cho anh Thiều Văn C1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm

4.1 Trong vụ việc trên, nếu chị C3 còn sống, chị C3 có được hưởng thừa kế của

cụ T5 không? Vì sao?

- Trong vụ việc trên, nếu chị C3 còn sống, chị C3 sẽ được hưởng thừa kế của cụ T5

Vì theo điểm a, khoản 1 điều 651 Người thừa kế theo pháp luật BLDS 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Chị C3 là con nuôi của cụ T5 nên sẽ được hưởng

4.2 Khi nào áp dụng chế định thừa kế thế vị? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Áp dụng chế định thừa kế thế vị khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

- Vì căn cứ theo Điều 652, BLDS 2015 quy định về Thừa kế thế vị: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”

Trang 9

4.3 Vợ/chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ có được hưởng thừa kế thế vị không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Vợ của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ không được hưởng thừa kế thế vị

Vì căn cứ vào Điều 652, BLDS 2015 quy định về Thừa kế thế vị: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.” Theo

đó, vợ của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ không thuộc những trường hợp được hưởng thừa kế thế vị đã được pháp luật quy định Vì vậy, vợ của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ không được hưởng thừa kế thế vị

4.4 Trong vụ việc trên, Tòa án không cho chồng của chị C3 hưởng thừa kế thế

vị của cụ T5 Hướng như vậy có thuyết phục không? Vì sao?

- Hướng giải quyết của Tòa án như vậy là thuyết phục Vì căn cứ theo điều 652 BLDS

2015 quy định về Thừa kế thế vị: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” Như vậy chỉ có 2 con của chị C3 mới có quyền hưởng di sản còn chồng chị C3 thì không có quyền hưởng di sản đó

4.5 Theo quan điểm của các tác giả, con đẻ của con nuôi người quá cố có thể thừa kế thế vị không?

- Theo quan điểm của các tác giả, con đẻ của con nuôi của người quá cố được hưởng thừa kế thế vị Vì: con nuôi nằm ở hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản Nên khi người con nuôi qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người quá cố thì con đẻ của con nuôi có quyền được hưởng thừa kế thế vị của người quá cố

- “Trong trường hợp con nuôi chết trước cha nuôi, mẹ nuôi thì con đẻ của người con nuôi (tức là cháu của cha nuôi, mẹ nuôi của người đã chết) được hưởng phần di sản

mà đámg lẽ cha, mẹ của cháu còn sống vào thời điểm mở thừa kế được hưởng Nhưng nếu là con nuôi của con đẻ thì trường hợp này lại không được thừa kế thế vị.”

- Cơ sở pháp lý: Quy định của BLDS 2015 Điều 651 Khoản 1 Điểm a,b:

“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,

em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;”

+ Ở đây chỉ quy định con nuôi trên thực tế được hưởng di sản theo hàng thừa kế thứ nhất mà không đề cập đến cháu nuôi Nhưng theo quy định của Điều 652 BLDS 2015:“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;”

Trang 10

- Cháu nuôi không thuộc hàng thừa kế thứ hai nhưng trong trường hợp đặc biệt nếu người nhận cha, mẹ đẻ làm con nuôi chết trước hoặc cùng thời điểm với cha, mẹ thì cháu nuôi sẽ được phát sinh quyền thừa kế

4.6 Trong vụ việc trên, đoạn nào cho thấy Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5.

- Phần nhận định của Tòa án, [3]…“Chị C3 (chết năm 2007) và bà T5 (chết năm 2009) cả hai không để lại di chúc nên hai cháu T7 và Huy được thừa kế thế vị di sản của bà T5 theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005"

4.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5

- Theo em, Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 là hợp

lý vì cụ thể tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rõ thừa kế thế vị rồi

4.8 Theo Bộ luật Dân sự hiện hành, chế định thừa kế thế vị có được áp dụng đối với thừa kế theo di chúc không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Thừa kế thế vị là một chế định thuộc thừa kế theo pháp luật nên nó không được áp dụng đối với thừa kế theo di chúc trừ một số trường hợp tại Khoản 2 Điều 650 BLDS 2015:

a Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế"

4.9 Theo anh chị có nên áp dụng chế định thừa kế thế vị cho cả trường hợp thừa kế theo di chúc không? Vì sao?

- Theo em, không nên áp dụng chế định thừa kế thế vị cho cả trường hợp thừa kế theo

di chúc Vì thừa kế thế vị chỉ phát sinh từ thừa kế theo pháp luật mà không phát sinh

từ thừa kế theo di chúc Nếu cha mẹ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà, cụ (người để lại di sản) thì phần di sản định đoạt cho cha mẹ (nếu không có di chúc) sẽ

vô hiệu Phần di sản đó sẽ chia theo pháp luật và lúc này cháu, chắt mới được hưởng thừa kế thế vị

4.10 Ai thuộc hàng thừa kế thứ 2 và hàng thừa kế thứ 3

- Hàng thừa kế thứ 2 và hàng thừa kế thứ 3 được quy định tại điểm b, c khoản 1 điều

651 Bộ luật Dân sự 2015: b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,

em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

4.11 Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 ở thời điểm

mở thừa kế không? Vì sao?

Ngày đăng: 15/11/2021, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w