1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thảo luận dân sự lần 5

23 41 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 106,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được ngườiquản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản dongười chết để

Trang 1

ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Trang 2

TÓM TẮT ÁN LỆ SỐ 16/2017/AL:

-Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Tòa Dân sự Tòa

án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữanguyên đơn là chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị Pvới bị đơn là anh Phùng Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị PhùngThị N2, chị Phùng Thị H3 Các bên đang tranh chấp với nhau về vấn đề chia thừa kế.Ngày 07-7-1984 ông Phùng Văn N chết và không để lại di chúc Năm 1991, bà PhùngThị G chuyển nhượng 131m2 cho ông Phùng Văn K, còn 267 m² và được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất Bà muốn cho con gái là Phùng Thị H1 một phần diện tích vìhoàn cảnh Vì anh Phùng Văn T không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ nên bàPhùng Thị G không tách đất được Vì thế nên chị H1 khởi kiện ra Tòa đòi anh T giaogiấy nhưng T vẫn không giao Tháng 3-2010, Bà G lập di chúc để lại cho chị H1 là90m² Ngày 19-12-2010 bà Phùng Thị G chết, các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyếtphân chia di sản thừa kế theo di chúc bà Phùng Thị G để lại cho chị Phùng Thị H1 là90m², phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật Tại Bản án dân sự sơ thẩm số11/2011/DSST ngày 04-10-2011 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định: Chấpnhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H1, không chấp nhận yêu cầu củachị Phùng Thị N1, chị Phùng Thị H2, chị Phùng Thị P khởi kiện chia thừa kế tài sản của

bà Phùng Thị G theo pháp luật, ngày 18-01-2011 các nguyên đơn chị Phùng Thị N1, chịPhùng Thị H2, chị Phùng Thị P, chị Phùng Thị H1 kháng cáo không đồng ý với quyếtđịnh của bản án sơ thẩm, Quyết định số 131/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 12-11-2013 của Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, với nhận định: Tòaphúc thẩm không đưa phần đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K vào phần đểchia là có căn cứ, Tòa sơ thẩm đưa 398 m² vào phần di sản để chia là không có căn cứ.Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của bà Phùng Thị G

để chia theo di chúc cho chị Phùng Thị H1 90m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chiatheo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng

Trang 3

Quyết định: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-02-2012của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST ngày04-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án “Tranhchấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn chị Phùng Thị H1, chị Phùng Thị N1, chị PhùngThị H2, chị Phùng Thị P với bị đơn là anh Phùng Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan gồm chị Phùng Thị N2, chị Phùng Thị H3 Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dânthành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

1.1 Di sản là gì và có bao gồm nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu CSPL khi trả lời?

- Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sảnchung với người khác (CSPL: Điểu 612 Bộ luật Dân sự 2015)

- Có bao gồm nghĩa vụ của người quá cố (cụ thể điêu 615 Bộ luật Dân sự 2015):

1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi

di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được ngườiquản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản dongười chết để lại

3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản dongười chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừtrường hợp có thỏa thuận khác

4 Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũngphải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân

1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

- Thứ nhất, nếu việc di sản đó được thay thế bởi nguyên nhân khách quan

- Nguyên nhân khách quan: hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, bão tố hay các thảm họa tự nhiênkhác Những yếu tố này tác động vào di sản thừa kế làm cho nó bị hư hỏng và thay vào

đó là di sản mới, di sản cũ không còn giá trị hiện thực

- Trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế thì tài

sản mới thay thế cho di sản thừa kế đó sẽ có hiệu lực pháp luật, phần tài

sản mới này sẽ được chia theo pháp luật

- Thứ hai, được thay thế bởi nguyên nhân chủ quan

- Nguyên nhân chủ quan được xác định có sự tác động phần nào đó bởi yếu tố con người

Sự thay thế do tự bản thân cá nhân nào muốn thay thế hoặc sự thay thế được sự đồngthuận bởi tất cả những người thừa kế và được pháp luật thừa nhận

- Nếu nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởimột tài sản khác thì khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thừa kế

Trang 4

- Nếu vì lý do chủ quan mà di sản thừa kế bị làm hư hỏng hoặc bị bán mà không có sựđồng ý của các đồng thừa kế thì giá trị phần di sản vẫn được coi là di sản thừa kế vàngười làm thất thoát di sản có trách nhiệm trả lại phần giá trị làm thất thoát để chia thừakế.

1.3 Để được coi là di sản, theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

TL: Theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án Nhân dân tốicao, tại chương II mục 1 tiểu mục 1.1 quy định: Đối với đất do người chết để lại (khôngphân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã

có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 1987, Luật đất đai 1993, Luậtđất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là di sản

1.4 Trong bản số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5 m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Vì sao?

- Tòa án có coi diện tích đất tăng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di

sản vì gia đình ông Hòa đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên một phầntrên một phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này hộ ông Hòa đãquản lý, sử dụng ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng,không tranh chấp, không có diện tích đất thuộc đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất nằmtiếp giáp với phía trước ngôi nhà ông Hòa Đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận saukhi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong bản án 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

TL: Hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong bản án 08 về diện tích đất chưa được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý vì mặt dù 85,5m² chưa được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất nhưng hộ ông Hòa đã sử dụng ổn định, ranh giới các hộ xungquanh đều rõ ràng và không có tranh chấp

1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của ông Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

- Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2, phần di sản của ông Phùng Văn N là133,5m2 (loại bỏ 131m2 đất từ 398m2 đất đã bán cho ông Phùng Văn K) Vì theo nhậnđịnh của Tòa án: “mảnh đất đó được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải đượcxác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G”

1.7 Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia hay không? Vì sao?

TL: Theo án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K khôngđược coi là phần di để chia vì phần diện tích đất là 131m² đã chuyển nhượng và lấy sốtiền đó dùng để trả nợ và nhằm mục đích nuôi các con, nên thực chất đã chia trong sựnuôi dưỡng các con của bà Phùng Thị G rồi

Trang 5

1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong án lệ trên liên quan

đến diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

- Theo nhóm, nhóm đồng ý với hướng giải quyết trong Án lệ 16/2017/AL liên quan đếnphần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K Bởi vì:

- Trong vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận rằng lúc còn sống bà

Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131m 2 đất cho ông Phùng Văn K và

không hề phản đối việc này Sau đó ông K cũng đã được cấp giấy chứng

nhận quyền sử đất chứng tỏ mạnh đất đó đươc chuyển nhượng là không

trái pháp luật

- Bà G bán đất cho ông K để thưc hiện nhiệm vụ chung là lo cho cuộc sống

của bà và các con

* Như vậy, phần đất đã chuyển nhương cho ông K là hoàn toàn hợp pháp

và không liệt kê phần đất chuyển nhượng cho ông K (131m 2) vào di sản

đã chia là hoàn toàn hợp tình

1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là phần di sản để chia hay không? Vì sao?

TL: Trong trường hợp bà Phùng Thị G bán đất mà không dùng số tiền đó lo cho cuộcsống của cá nhân thì số đất này cũng có thể không phải là phần di sản để chia vì số đất398m² được hình thành trong thời gian hôn nhân, nên bà có thể tự mình quyết định ½ sốđất, mà cụ thể là 199m², nên theo em thì bà có quyền quyết định số đất kia được dùng vàoviệc riêng của mình mà không phải nằm trong di sản để chia

1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong

diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

- Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất

trên là 133,5 m2 Vì “ diện tích 267 m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng

được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản

chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng

Thị G chỉ có quyền định đoạt ½ khối tài sản (133,5 m2).”

1.11 Việc Tòa xác định phần còn lại của di sản bà Phùng Thị G là 43,5m² có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

TL: Việc Tòa xác định phần còn lại của di sản bà Phùng Thị G là 43,5m² là hợp lý vì diệntích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G được xác định là tài sản chung của vợ chồng ôngPhùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt ½diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà là 133,5m2 – 90m2 (đãcho chị Phùng Thị H1) còn lại là 43,5m² Đây là một phần trong Phần Nhận định của Tòa

án, cụ thể: [4] Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hìnhthành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng ôngPhùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt ½diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần di sảncủa bà Phùng Thị G để lại là ½ khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho chịPhùng Thị H1 (con gái bà Phùng Thị G) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ

Trang 6

phần còn lại (trong đó chị N2 nhường kỷ phần thừa kế cho anh Phùng Văn T; chị PhùngThị H2, chị Phùng Thị N1 và chị Phùng Thị P nhường kỷ phần cho chị Phùng Thị H1).Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sảncủa ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn T là mộttrong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I củaNghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này

ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng

1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43.5 m 2 được chia cho 5 kỷ phần

còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của án lệ số

16 không? Vì sao?

- Việc Tòa án Quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là

thuyết phục

- Bởi vì phần di sản của bà để lại là 133,5m 2 chia theo di chúc cho con gái bà là

90m2 còn lại là 43,5m2 chia theo pháp luật

- Đây không là nội dung của án lệ số 16 vì nội dung án lệ là công nhận hợp đồng

chuyển nhượng của các đồng thừa kế

II Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản

2.1 Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và

những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Nghĩa vụ của người quá cố đương nhiên chấm dứt nếu như cá nhân đó chết hoặcpháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thựchiện

- Cơ sở pháp lí: Khoản 8 Điều 372 BLDS 2015

- Nghĩa vụ của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt nếu như không thuộcđiều kiện trên, có nghĩa là thuộc những nghĩa vụ mà người quá cố không trực tiếplàm như việc phân chia thừa kế, tiền phạt hoặc các khoản chi phí khác,.v/v

- Cơ sở pháp lí: Khoản 9 Điều 372, Điều 658, BLDS 2015

2.2 Theo BLDS ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Căn cứ theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế cótrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại,trừ trường hợp có thỏa thuận khác

+ Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lạiđược người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế

Trang 7

trong phạm vi di sản do người chết để lại Người quản lý di sản là người được chỉđịnh trong di chúc hoặc do những người thừa kế cử ra Trường hợp di chúc khôngchỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý

di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đócho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản Trường hợp chưaxác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định thì disản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý

+ Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụtài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản màmình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

+ Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo dichúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa

kế là cá nhân

2.3 Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao?

- Nghĩa vụ của bà Loan đối với Ngân hàng là nghĩa vụ về tài sản

- Bởi vì bà Loan vay của Ngân hàng 100 triệu đồng, là bà Loan đã đứng tên mình đểvay số tiền đó, có nghĩa là bà Loan phải có trách nhiệm là phải trả lại cho Ngânhàng tiền bà đã mượn

2.4 Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao?

- Nếu Ngân hàng yêu cầu được thanh toán, thì các con bà Loan có nghĩa vụ trả nợtrên của bà Loan

- Bởi vì theo Khoản 3 Điều 615 BLDS 2015, thì di sản đã được chia thì mỗi ngườithừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng khôngvượt qua quá phần tài sản mà mình đã được nhận trừ trường hợp có thỏa thuậnkhác

2.5 Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá

cố trong khi họ còn sống?

- Trong Quyết định số 26,

+ Ông Vân có công chăm sóc cha mẹ và công quản lí tài sản

+ Ông Vi có công lớn trong việc nuôi dưỡng cha mẹ (ông Vi là người gửi tiền chocha mẹ để không phải bán nhà)

2.6 Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào?

Trong Quyết định trên, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân và ông Vi đãđược ghi nhận nhưng không xác định rõ công sức chăm sóc cha mẹ và quản lý di sản mà

Trang 8

ông Vân, ông Vi được hưởng là bao nhiêu để đối trừ, số tiền còn lại mới chia cho cácđồng thừa kế là chưa hợp lý.

2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố)

- Hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm là thỏa đáng

- Vì trong bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm đều chưa xác định chính xác toàn bộ diệntích thửa đất mà cụ Nguyễn Văn Phúc và cụ Phạm Thị Thịnh để lại là bao nhiêu do lờikhai về diện tích của các người còn không khớp Do không xác định được chính xác diệntích đất nên cũng không thể định giá đúng thửa đất đó theo quy định, giá cả thị trường

Và cả 2 tòa sơ thẩm cùng phúc thẩm đề xác định 02 ngôi nhà một tầng là tài sản của cụPhúc, cụ Thịnh là chưa đủ cơ sở vững chắc

• Công sức chăm sóc cha mẹ, quản lý di sản mà ông Vân, ông Vi được hưởng là baonhiêu, không được xác minh cụ thể để đối trừ Vậy nên sẽ không phân chia tài sản

cho các đồng thừa kế là những người con của cụ Thịnh một cách đúng đắn và công

bà Nguyễn Thị M và hai con là Cấn Thùy L và Cấn Hoàng K

Năm 1972 cụ T chết Năm 1973, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L sinh được 4 ngườicon là các ông, bà: Cấn Thị C, Cấn Thị M2, Cấn Anh C và Cấn Thị T2

Sinh thời cụ K, cụ T tạo lập được 612m2 đất, trên đất có 2 căn nhà 3 gian, tọa lạc tại thôn

T, xã P, huyện Th, thành phố Hà Nội, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm

2002 đứng tên hộ cụ Cấn Văn K Sau khi cụ T chết, toàn bộ nhà đất nêu trên do cụ K và

cụ L quản lý Năm 2002 cụ K chết, khối tài sản này do cụ L và ông Cấn Anh C quản lý

Cụ K và cụ T chết không để lại di chúc

Trang 9

Nay các đồng nguyên đơn là con cụ K với cụ T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của

cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K theo quy định của pháp luật, trong đó bà N1, bà N2,

bà M1, bà T1, bà H, ông T, bà C và bà Nguyễn Thị M (vợ ông S) đề nghị kỷ phần ông, bàđược hưởng giao lại cho ông V làm nơi thờ cúng cha mẹ, tổ tiên

Tòa án cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết và khôngchấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung đối với phần di sản của

Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quyđịnh tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mởthừa kế trước ngày 01-01-2017 Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kếngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiệnchia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật

3.1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam.

Trong thừa kế,pháp luật quy định có 3 loại thời hiệu sau:

1.1Thời hiệu yêu cầu chia di sản

-Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản,10 nămđối với động sản,kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về ngườithừa kế đang quản lý di sản đó

-Đối với trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giảiquyết như sau:

Trang 10

+Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luậtngay tình,liên tục,công khai trong thời hạ 10 năm đối với động sản,30 năm đối với bấtđộng sản.

+Di sản thuộc về Nhà nước,nếu không có người chiếm hữu tài sản không có căn cứ phápluật nhưng ngay tình,liên tục,công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản,30 nămđối với bất động sản

1.2Thời hiệu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của ngườikhác

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyềnthừa kế của người khác là 10 năm,kể từ thời điểm mở thừa kế

1.3Thời hiệu thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03năm,kể từ thời điểm mở thừa kế

3.2 Pháp luật nước ngoài có đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không?

-Pháp luật nước ngoài có có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chi di sản

-Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theopháp luật của nước mà pháp luật nước đó áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài tương ứng Việc áp dụng pháp luật nước nào để giải quyết sẽ theo các quy tắcxác định của tư pháp quốc tế

3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành án lệ 26/2018/AL cho câu trả lời?

-Thời điểm ở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm 2017

-Đoạn của Quyết định tạo lập thành án lệ 26/2018/AL là:

“Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quyđịnh tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở

Trang 11

thừa kế trước ngày 01-01-2017 Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kếngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiệnchia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật”.

3.4 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không?Có thuyết phục không?Vì sao?

Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS năm 2015 cho di sản của

cụ T là thuyết phục Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 quyđịnh:

“1 Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc ápdụng pháp luật được quy định như sau:

d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.”

Theo khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 quy định:

“1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc vềngười thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý

di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của

sẽ được Toà án hiểu là bao gồm cả thừa kế theo pháp luật Dựa vào Nghị quyết số58/1998/NQ-UBTVQH10 và Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH về giao dịch dân

sự nhà ở Thì cả hai Nghị quyết này đều có quy định về thời hiệu yêu cầu chia di sản nên

Ngày đăng: 15/11/2021, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w