Ưu điểm quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ PHÁT TRIỂN BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TRÊN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN T
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÙI THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG
VỀ PHÁT TRIỂN BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
CỦA TỈNH QUẢNG NINH(Khảo sát trên các sản phẩm báo chí của Trung tâm truyền thông
tỉnh Quảng Ninh năm 2019)
Chuyên ngành : Quản lý báo chí - truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
Hà Nội - 2020
Trang 2luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2020 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu Các nội dung trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2020
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Hương
Trang 4Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy cô giáo của Học viện Báo chí và Truyên truyền, đặc biệt PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng đã tận tình truyền đạt nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Các kiến thức
và kỹ năng, kinh nghiệm sống của thầy cô đã giúp tôi trưởng thành hơn trong nghề nghiệp của mình!
Tôi xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, lãnh đạo cơ quan đã hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn!
Do còn nhiều hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để bổ sung, hoàn thiện luận văn tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.2 Vai trò của quản lý thông điệp truyền thông về thực hiện chính sách 3
1.3 Các yếu tố của quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá
1.4 Những yếu tố tác động đến quá trình quản lý thông điệp truyền thông
VỀ PHÁT TRIỂN BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC TỈNH QUẢNG NINH
TRÊN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG 38 2.1 Các nhóm nội dung thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá
chiến lược cần quản lý trên các sản phẩm báo chí của Trung tâm truyền
2.2 Các yếu tố tác động đến quản lý thông điệp truyền thông về phát triển
2.3 Ưu điểm quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ PHÁT TRIỂN BA ĐỘT
PHÁ CHIẾN LƯỢC TRÊN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA TRUNG
TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH 84 3.1 Định hướng của tỉnh Quảng Ninh về phát triển ba đột phá chiến lược;
3.2 Giải pháp quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba
đột phá chiến lược trên các sản phẩm báo chí của Trung tâm Truyền
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 7Trang
triển ba đột phá chiến lược trên báo Quảng Ninh điện tử
triển ba đột phá chiến lược trên báo PTTH tỉnh Quảng Ninh
truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược tại báo in
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo chí không chỉ là một trong những công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước, góp sức tuyên truyền, thức tỉnh, giác ngộ quần chúng đoàn kết nhằm đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam đã tổng kết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết” Phấn đấu theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển báo chí cách mạng, hệ thống báo chí nước ta trong hơn 30 năm đổi mới đã có bước phát triển mạnh mẽ, cả về số lượng và chất lượng, trở thành đội quân chủ lực trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Hiện nay, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh đầy khó khăn, thách thức, các thế lực thù địch tăng cường tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng lại càng trở nên có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết
Trong bối cảnh báo chí đang rất phát triển, thông tin, truyền thông về chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện rộng rãi trên các phương tiện, công cụ đã góp phần rất quan trọng vào việc tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi là sự phát triển của khoa học công nghệ, thông tin đã giúp cho việc truyền tải các thông điệp truyền thông đến với đông đảo công chúng thì cũng xuất hiện nhiều yếu tố trở ngại, làm ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông, nhất là truyền thông chính sách của Đảng Nhà nước
Đặc biệt trong bối cảnh, tình hình hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ thông tin, lợi dụng sự phát triển của truyền thông xã hội nhằm chống phá các chủ trương của Đảng, Nhà nước Không chỉ lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để chống phá, đưa các thông tin xấu, sai lệch trên truyền thông xã hội, mà các thế lực thù địch còn lợi dụng sự thiếu hiểu biết, hám lợi của một bộ phận nhỏ nhà báo, nhà quản lý để lôi kéo, truyền bá tư tưởng lệch lạc trong nhận
Trang 9thức về những chính sách của Đảng, Nhà nước, đưa ra những thông điệp trong bài viết trên báo chí chính thống, thông điệp trên mạng xã hội sai lệch
Quản lý thông điệp truyền thông chính sách nói chung và quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng để phát triển đất nước nói riêng là yêu cầu rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay Nhất là đối với tỉnh Quảng Ninh, một địa phương đang dẫn đầu cả nước về thực hiện ba đột phá chiến lược, nếu các thông điệp truyền thông về vấn đề này không được quản lý tốt
sẽ dẫn đến những hậu quả là thông tin lệch lạc, làm người dân hiểu sai, hiểu méo
mó về chính sách, hiểu sai về thực tiễn sinh động chứng minh chủ trương của Đảng hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động báo chí - truyền thông, trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí - truyền thông trên địa bàn, đảm bảo đúng định hướng, tôn chỉ, mục đích, bám sát yêu cầu nhiệm
vụ chính trị của địa phương, thực hiện tốt vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc định hướng dư luận Chỉ đạo duy trì tốt hội nghị giao ban báo chí, thông tin báo chí theo định kỳ, cung cấp và định hướng thông tin kịp thời, góp phần hạn chế tối đa những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, bước đầu đã làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong lĩnh vực tư tưởng Thông tin trên báo chí được phản ánh kịp thời, nhạy bén, có định hướng rõ rệt trong các chủ đề chính trị, thời sự hằng ngày, hằng tháng Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các cơ quan báo chí được tăng cường Chỉ đạo thực hiện nghiêm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí, đảm bảo tính công khai, minh bạch về thông tin, góp phần đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin của người dân Các cơ quan báo chí -truyền thông đã tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin, tuyên truyền, bước đầu có một số tác phẩm báo chí đạt thứ hạng cao trong các giải báo chí quốc gia Đại bộ phận cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí của tỉnh có lập trường tư tưởng vững vàng, tinh thần làm việc nghiêm túc, tâm huyết với nghề; chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện tốt
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác thông tin, báo chí của tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế, như: Công tác điều hành, quản lý của cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí chưa năng động; đổi mới về nội dung có nhiều cố gắng
Trang 10nhưng đôi lúc chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin của công chúng; hình thức tờ báo và nội dung các chương trình phát thanh, truyền hình có thời điểm còn thiếu sức hấp dẫn; tính phản biện xã hội chưa cao; thông tin trên các loại hình báo chí trùng lặp , về cơ bản, công tác thông tin, tuyên truyền báo chí phát triển chưa tương xứng với vị thế của Quảng Ninh: là một trong 7 tỉnh kinh tế trọng điểm khu vực Bắc bộ, vị trí Quảng Ninh gần ngay 2 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh nằm trong khu vực có nhiều cơ hội khi mở rộng phát triển khu vực Trung Quốc - ASEAN, Quảng Ninh là một trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế
Để đáp ứng xu hướng phát triển của báo chí - truyền thông hiện nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 1276-QĐ/TU ngày 18/12/2018 về việc Thành lập Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Trung tâm trực thuộc Tỉnh ủy Quảng Ninh, được thành lập trên cơ sở hợp nhất các cơ quan thông tin, báo chí của tỉnh gồm Đài PTTH Quảng Ninh (cơ quan chủ quản là UBND tỉnh Quảng Ninh, Báo Quảng Ninh (Cơ quan chủ quản là Tỉnh ủy Quảng Ninh), Cổng thông tin điện tử (Cơ quan chủ quản là UBND tỉnh) và Báo Hạ Long (Cơ quan chủ quản là Hội VHNT tỉnh)
Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh là mô hình báo chí mới được Ban
Bí thư Trung ương, Ban Tuyên giao Trung ương và Bộ Thông tin Truyền thông đánh giá là cần thiết, góp phần đảm bảo cho hoạt động thông tin, báo chí của tỉnh phát triển theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu hướng phát triển chung của báo chí thế giới và khu vực; thông qua đó phát triển báo chí phù hợp với chiến lược, quy hoạch ngành và quy hoạch chung về kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh, trong đó đặc biệt lưu ý đến sự phù hợp với các trọng tâm phát triển của tỉnh trong tương lai; nâng cao hơn nữa chất lượng của các loại hình thông tin, báo chí cũng như nguồn nhân lực làm công tác thông tin, báo chí hiện có
Hiện nay, Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh có 4 kênh truyền thông gồm: báo Quảng Ninh (báo in hàng ngày), báo Quảng Ninh điện tử (baoquangninh.com.vn); Truyền hình Quảng Ninh và Phát thanh Quảng Ninh Ngoài ra thực hiện nhiệm vụ vận hành Cổng thông tin điện tử tổng hợp tỉnh (quangninh.gov.vn), Báo Hạ Long và sản xuất Đặc san Hoa Sen
Hoạt động theo mô hình mới, Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh đã tiếp tục phát huy và đẩy mạnh hiệu quả công tác truyền thông về phát triển ba đột phá
Trang 11chiến lược của Đảng Các nội dung truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng được triển khai tích cực, thường xuyên với nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo, bám sát sự chỉ đạo của Đảng, tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, của từng địa phương; kết hợp lồng ghép với tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, của đất nước theo tinh thần đổi mới, thiết thực, hiệu quả
Những thông tin tuyên truyền về phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng, trên các ấn phẩm của Trung tâm đã bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, vừa đáp ứng yêu cầu thường xuyên, cơ bản, lâu dài, vừa đáp ứng nhiệm vụ đột xuất, trước mắt Từ đó, khẳng định sự đúng đắn trong đường lối, chủ trương của Đảng; trong xác định những đột phá để phát triển đất nước; sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự nỗ lực của các cấp, ngành, địa phương; sự quan tâm, ủng
hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng Kịp thời phản ánh những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong phát triển ba đột phá chiến lược
Đồng thời, Trung tâm cũng định hướng thông tin những vấn đề đang được
dư luận quan tâm, theo dõi; chủ động cung cấp, trao đổi thông tin đối với những vấn
đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm liên quan đến thực hiện ba đột phá chiến lược, từ
đó đề xuất, tham mưu phù hợp cho việc định hướng tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội hiệu quả Tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, từ đó tăng thêm niềm tin của nhân dân với các chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Qua đó, góp phần vào việc bảo vệ vững chắc nền tảng
tư tưởng của Đảng, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng chống phá Đảng, Nhà nước ta
Bên cạnh những hiệu quả đã đạt được, công tác truyền thông về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội tiếp tục thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các cơ quan báo chí, thậm chí làm đảo lộn và thay đổi môi trường truyền thông hiện
Trang 12nay Trong đó, truyền thông về các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước chịu nhiều ảnh hưởng
Mặc khác, truyền thông về chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh vẫn chưa thực sự phong phú, đa dạng, mới chỉ tập trung vào các vấn đề, sự kiện chính trị nổi bật Các sản phẩm còn thiên về phản ánh, hạn chế ngôn luận, hình ảnh, thiếu sức thuyết phục, sức chiến đấu và tính dự báo định hướng tư tưởng đúng và kịp thời
Làm thế nào để đưa những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến được với đông đảo quần chúng nhân dân một cách nhanh, đúng, thuyết phục và kịp thời, tạo được sự đồng thuận, thống nhất trong thực hiện từ cơ sở? Các thông điệp truyền thông về chính sách được quản lý như thế nào từ cơ quan phát đi thông điệp
về chính sách đó, đến người tiếp nhận thông điệp truyền thông về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng tại tỉnh Quảng Ninh thực sự hiệu quả? Trước tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài "Quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược của tỉnh Quảng Ninh" (Khảo sát các sản phẩm báo chí của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh năm 2019) nhằm nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, làm sáng rõ vai trò, đặc điểm quản lý thông điệp truyền thông về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược của Đảng trên các sản phẩm của Trung tâm truyền thông Quảng Ninh; những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược, quản lý được những thông điệp chính sách đưa ra được công chúng tiếp nhận và làm chủ những thông tin về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược trên các sản phẩm báo chí tại Quảng Ninh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước luận văn, các nghiên cứu về vai trò của báo chí với việc tuyên truyền các chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề ba đột phá chiến lược trong phát triển KT-
XH đã xuất hiện khá nhiều, đặc biệt là giai đoạn Việt Nam hướng tới hội nhập kinh tế thế giới Các đề tài này đã làm rõ và nêu bật tầm quan trọng về tuyên truyền các khâu đột phá chiến lược trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý thông điệp truyền thông về các chính sách của Đảng, Nhà nước
ở một số ngành, lĩnh vực Mặc dù vậy, qua tìm hiểu chưa có đề tài luận văn nào nghiên cứu tổng quan, toàn diện về quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược, nhất là tại tỉnh Quảng Ninh - một địa bàn được đánh giá là triển
Trang 13khai thực hiện rất tốt, hiệu quả ba đột phá chiến lược này của Đảng Một địa phương đang thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận với những thành công dẫn đầu cả nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới công tác xây dựng hệ thống chính trị Trong quá trình nghiên cứu triển khai thực hiện đề tài, nhận thấy nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan là cơ sở tham khảo quan trọng định hình khung lý thuyết, các vấn đề về mặt lý luận bổ sung cho luận văn
Cụ thể:
- Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản Lao động Đây cũng là giáo trình môn học cùng tên nhằm cung cấp cơ sở lý luận - thực tiễn báo chí - truyền thông hiện đại, trong đó có lý luận về công chúng báo chí
- Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng (2014), Truyền thông -
Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nhà xuất bản Lao động Cuốn sách đề cập một cách toàn diện về lý luận và kỹ năng cơ bản của truyền thông, trong đó có vấn đề về công chúng truyền thông
- Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Cuốn sách đề cập tới những vấn đề chung
về tâm lý học báo chí, trong đó có nội dung Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng
- Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR- Công cụ phát triển báo chí, Nxb Trẻ, Hà Nội.Cuốn sách phân tích thực trạng và khả năng tương tác của các lĩnh vực PR được thực hiện và quản trị bởi tòa soạn báo với công chúng mục tiêu, từ đó đánh giá, những đề xuất về yêu cầu của PR nhằm tác động tích cực đến công chúng
- Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh Tác phẩm đưa ra những đánh giá, nhận diện về công chúng truyền thông trong xã hội hiện đại với những góc nhìn khác nhau như nhân khẩu học, nhu cầu, tâm lý…
- The Missouri Group (2007), Nhà báo hiện đại (News reporting and writing), Nhà xuất bản Trẻ (dịch) Cuốn sách cho chúng ta một cái nhìn khá toàn cảnh và đặc trưng của báo chí trong thời điểm hiện tại Nó đặt ra cho các nhà báo một lời cảnh báo nghiêm khắc: “Nhà báo phải thay đổi khi công chúng đã thay đổi”
Để làm phong phú nguồn tư liệu, tác giả còn tham khảo một số bài viết, bài báo đề cập đến công chúng báo chí được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các tạp chí nghiên cứu khoa học như:
Trang 14- Bài báo “Quy hoạch phát triển và Quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025
- Từ góc nhìn xã hội thông tin” của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng đăng trên Tạp chí thông và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) số 1, tháng 4/2020
- Bài báo “Giám sát và phản biện xã hội của báo chí - Từ góc nhìn tâm lý học truyền thông” của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đăng trên Tạp chí Người làm báo số tháng 5/2015 và Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông tháng 6/2015
- Bài báo “Tâm lý tiếp nhận và kỹ năng viết báo thuyết phục công chúng” của PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng đăng trên Website Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 10/4/2013
- Bài báo “Tâm lý tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng nông dân” của Thạc sỹ Lại Huy Thỏa đăng trên Tạp chí Người làm báo ngày 26/8/2014
- Bài báo “Hướng tới một nền báo chí vì công chúng” của TS Đỗ Chí Nghĩa, Tạp chí Văn nghệ quân đội ngày 12/7/2015
Ngoài những công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, tác giả còn tham khảo thêm các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp liên quan đến đề tài như:
- Luận án tiến sỹ “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội” của NCS Trần Bá Dung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2008
- Luận án tiến sỹ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” của NCS Phạm Thị Thanh Tịnh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2012
- Luận án tiến sỹ "Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam" của NCS Lê Thu Hà, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2014 Như vậy, có thể thấy đề tài nghiên cứu của tác giả đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, như đã đề cập, đến nay chưa có đề tài luận văn nào nghiên cứu trực tiếp việc quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược tại tỉnh Quảng Ninh Do vậy, đề tài luận văn của tác giả
có tính mới và không trùng lặp với các công trình đã công bố
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát thông tin về phát triển ba đột phát chiến lược trên các ấn phẩm thuộc Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh (tin, bài, ảnh, clip, phim tài liệu…) và việc quản lý
Trang 15các thông điệp truyền thông đó (chủ thể quản lý thông điệp truyền thông; khách thể tiếp nhận thông điệp truyền thông); từ đó, có đề xuất giải pháp, khuyến nghị để vừa nâng cao chất lượng truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược vừa quản lý được các thông điệp truyền thông phù hợp với từng thể loại báo chí, từng ấn phẩm
mà Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh đang quản lý Đề xuất các giải pháp quản lý truyền thông chính sách trên lĩnh vực cụ thể đối với tỉnh Quảng Ninh 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm liên quan đến đề tài, bao gồm: Truyền thông, báo chí, báo điện tử, phát thanh truyền hình, chính sách phát triển ba đột phá chiến lược, quản lý thông điệp truyền thông về chính sách
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận của báo chí - truyền thông, vai trò của truyền thông; đặc điểm của thông điệp truyền thông chính sách trên các ấn phẩm của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh; đặc điểm quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Khảo sát việc quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh cả về nội dung thông điệp và hình thức thông điệp
- Khảo sát, đánh giá ý kiến của công chúng và những nhóm liên quan (nhà báo, nhà quản lý ) về những thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất, khuyến nghị những giải pháp để Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó có việc truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược; Đề xuất các giải pháp khuyến nghị quản lý thông điệp truyền thông về chính sách nói chung trên báo chí Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược trên các sản phẩm của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh 4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh gồm: Báo in Quảng Ninh hàng ngày, Báo Quảng Ninh điện tử, Truyền hình Quảng Ninh,Cổng Thông tin Điện tử trong thời gian năm 2019
Trang 16Lý do tác giả luận văn lựa chọn phạm vi nghiên cứu như nêu ở trên là bởi vì:
- Đây là các ấn phẩm có uy tín và mức độ ảnh hưởng cao đối với công chúng địa phương
- Theo khảo sát bước đầu của tác giả luận văn, hầu hết những thông tin được đăng tải trên các ấn phẩm của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh nói chung và thông tin về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược nói riêng được đăng trên báo in cũng đều được đăng tải trên Báo Quảng Ninh điện tử thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này Vì thế, tác giả tập trung khảo sát sâu hơn trên báo Quảng Ninh điện tử
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2019 là phù hợp bởi đây là năm đầu tiên Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh đi vào hoạt động
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
và lý luận báo chí cách mạng Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn lựa chọn và tập trung vào thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tập hợp, hệ thống hóa các tài liệu, tư liệu, văn bản liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích thông điệp truyền thông: Phân tích các thông điệp sau các tin, bài thông tin về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các đối tượng gồm lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và truyền thông, Sở Giao thông Vận tải, Sở Giáo dục và đào tạo, Trường Đại học Hạ Long, Trung tâm hành chính công tỉnh, Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, thư ký tòa soạn, trưởng các phòng chuyên môn, biên tập viên, phóng viên, họa sỹ trình bày, công chúng, nhà quản lý… để tìm hiểu ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng này đối với việc truyền thông và quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm báo chí của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh
Trang 17- Điều tra xã hội học thông qua phiếu thăm dò ý kiến nhằm thu thập được thông tin, môi trường tiếp cận thông tin, nội dung thông tin quan tâm của công chúng, thực trạng truyền thông, phản ánh thông tin về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh để có thêm cơ sở dữ liệu tham khảo xây dựng giải pháp quản lý hiệu quả các thông điệp truyền thông nội dung này trên ấn phẩm đó Tìm hiểu phương thức kênh truyền thông khai thác thông tin từ những nguồn nào? Cách thức công chúng tiếp nhận thông tin về vấn đề này trên các ấn phẩm đó như thế nào? Công chúng đánh giá thế nào và mức độ hài lòng của họ về chất lượng thông tin mà các ấn phẩm đó cung cấp
về lĩnh vực này? Công chúng mong muốn gì, gợi ý gì để Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược? Tác giả luận văn sử dụng phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, với những câu hỏi in sẵn trên giấy, gửi lấy ý kiến trực tiếp đối tượng cần hỏi Để đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu, tác giả chọn mẫu điều tra vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện, với cách tiếp cận phi xác suất
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược, đồng thời góp phần xây dựng phương pháp luận khi nghiên cứu quản lý thông điệp truyền thông về chính sách nói chung và quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược ở các cơ quan báo chí địa phương
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc phân tích các tác phẩm báo chí giúp đội ngũ phóng viên, biên tập viên của Trung tâm Truyền thông Quảng Ninh nhìn rõ hiện trạng phản ánh thông tin; cách thức, hình thức và nội dung tác phẩm báo chí truyền thông về chính sách phát triển ba đột phá chiến lược; lãnh đạo Trung tâm truyền thông, lãnh đạo các sở, ngành, tỉnh Quảng Ninh có được nhìn nhận, đánh giá, ý thức hơn về việc quản lý thông điệp truyền thông
về chính sách nói chung, thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược nói riêng phù hợp với từng loại hình báo chí, từng sản phẩm truyền thông
mà Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh đang quản lý
Từ việc chỉ ra những thành công, hạn chế trong quản lý thông điệp truyền thông chính sách về phát triển ba đột phá chiến lược trên các ấn phẩm của Trung
Trang 18tâm Truyền thông Quảng Ninh sẽ đóng góp, bổ sung những tư tưởng mới, cách thức mới, phù hợp với xu thế phát triển truyền thông hiện đại để nâng cao hiệu quả quản
lý truyền thông báo chí về lĩnh vực truyền thông chính sách
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể thành tài liệu tham khảo hữu ích với
cơ quan của Đảng, chính quyền của tỉnh Quảng Ninh cũng như các địa phương khác, cơ quan báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, các doanh nghiệp
và những người quan tâm về vấn đề này; là tài liệu tham khảo hữu ích cho các phóng viên, sinh viên báo chí và các cơ sở đào tạo báo chí
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương, tiết, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề của nghiên cứu
Chương 2: Nhận diện quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược của tỉnh Quảng Ninh thông qua kết quả khảo sát
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao quản lý thông điệp truyền thông trên các sản phẩm báo chí của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Quản lý
Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các
bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động quản lý Trong xã hội hiện tại hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý
Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản
lý Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là
“trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [46, tr.303]
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt
Trang 20động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan
Với cách hiểu này thì quản lý nội dung chính là việc tác động có kế hoạch,
có chủ đích của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý nhằm đưa nội dung thông tin báo chí tới công chúng một cách chính xác, nhanh chóng, bài bản, sinh động, vừa đáp ứng nhu cầu công chúng vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan báo chí Quản lý ở đây có những đặc điểm chính: là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin
1.1.2 Thông điệp
Trong cuốn truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Tạ Ngọc Tấn, Phạm Đình Huỳnh, Lương Khắc Hiếu và cộng sự, cho rằng: "Thông điệp là nội dung thông tin về một vấn đề nào đó được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp truyền thông chứa đựng những thông tin mà người truyền thông muốn chia sẻ với đối tượng của mình" [27, tr.65] Trong lĩnh vực truyền thông, thông điệp là một phát ngôn hoàn chỉnh dành cho một nhóm đối tượng cụ thể, trong một hoàn cảnh nhất định nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, hiệu quả tác động của thông điệp không phải lúc nào cũng như nhau, bởi nó còn phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp, phương tiện và bối cảnh của truyền thông Vì vậy trong quá trình truyền thông phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi tác động của thông điệp tới đối tượng, nhận thông tin phản hồi từ đối tượng, kịp thời điều chỉnh thông điệp hoặc về nội dung hoặc về hình thức cho phù hợp với đối tượng và bối cảnh
Còn trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng quan niệm rằng: Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến,
Trang 21hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó
Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh,
cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp [14, tr.13]
Có thể tóm lại như sau: Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận
- Phân loại của thông điệp
Theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng, truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012) chia ra thông điệp truyền thông có 4 loại như sau:
- Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới
- Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông
- Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan
- Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn
đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra
Trong cuộc sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta rất hay nhầm lẫn giữa thông điệp và thông tin Vậy thực chất thông tin là gì? Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh Trên quan điểm triết học thì thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và
xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ , ký hiệu, hình ảnh v.v hay nói rộng hơn bằng tất phương tiện tác động lên giác quan của con người
Như vậy có thể thấy giữa thông tin và thông điệp có điểm giống nhau là đều làm gia tăng sự hiểu biết của con người và được con người cảm nhận theo một phương thức nào đó Tuy nhiên giữa thông tin và thông điệp lại có sự khác nhau cơ bản là thông điệp chỉ là một phần của thông tin nhưng là phần nội dung quan trọng
Trang 22nhất, được truyền đi có chủ đích, được mã hóa bằng nhiều hình thức và giữa điểm đầu, điểm cuối có chung một phương thức truyền- nhận
Theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững và PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng, thông điệp
là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này
là quy ước, giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khách, hệ thống ký hiệu ấy phải được giải mãi bởi đầu nhận Hệ thống ký hiệu ấy có thể là lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ, thái độ…
“Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả
về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông” [14, tr.244]
Mỗi thông điệp có đời sống riêng của nó: có môi trường và điều kiện cụ thể, có quá trình phát sinh, phát triển và suy thoái Thông điệp được quá nhiều người biết đến trong thời gian dài có thể giảm hoặc mất tính hấp dẫn; tình hình và điều kiện kinh tế -
xã hội thay đổi cũng có thể làm cho thông điệp “già đi” hoặc “lỗi mốt” Do đó nhà truyền thông chú ý theo dõi để “làm tươi” thông điệp cả về nội dung và hình thức
- Sáu yêu cầu của thông điệp:
Thứ nhất, thông điệp phải phù hợp với công chúng - nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông Yêu cầu cao nhất, trong bản thân thông điệp thể hiện rõ và hài hòa giữa mục tiêu truyền thông, tuyên truyền vận động của chủ thể với nhu cầu, mong đợi của nhóm đối tượng Cho nên, trước khí xây dựng thông điệp cần tiến hành nghiên cứu nhóm đối tượng
Thứ hai, thông điệp phải phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đối với tất cả các thông điệp - từ thông điệp của chiến dịch truyền thông đến thông điệp quảng cáo
Thứ ba, thông điệp phải phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với văn hóa - lối sống dân tộc và phát triển; đề phòng những hệ quả ngoài ý muốn đối với nhóm đối tượng không thuộc phạm vi gây ảnh hưởng, nhất là đối với trẻ em
Thứ tư, thông điệp phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể hiện lợi ích của công chúng - nhóm đối tượng Do đó cần làm thể nào để nhóm đối tượng biết được rằng, thực hiện theo thông điệp thì họ có lợi ích
Thứ năm, thông điệp phải phù hợp với các kênh truyền thông
Thứ sáu, thông điệp phải ngắn gọn, hàm súc, sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu và
dễ làm theo
Trang 23và cuộc sống phong phú xung quanh, đánh giá được khả năng, xác định đúng cách thức, phương hướng cho những hành vi và hoạt động tiếp theo
Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, "Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau" [27, tr.8] Tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng cho rằng:
Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩa, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người khác/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội [14, tr.12-13]
Từ cách phân tích trên, tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra định nghĩa:
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội [14, tr.12-13]
Theo Dương Xuân Sơn:
Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng La tinh "Commune", có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân
Trang 24với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp
mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội [50, tr.7]
Tác giả Dương Xuân Sơn khái quát lý thuyết truyền thông tổng quát có 3 loại: loại thứ nhất xác định bản chất và nội dung của quá trình truyền thông Loại thứ hai, đề cập quá trình cơ bản chung cho tất cả các loại truyền thông của con người Loại thứ ba, đề cập bối cảnh mà quá trình truyền thông xảy ra Từ những phân tích, tác giả Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm: "Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong nhận thức và hành vi" [50, tr.13]
Hiện nay, trên thế giới tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông, với các góc độ tiếp cận khác nhau: từ ký hiệu lời, sự hiểu biết của người, góc độ tương tác, quá trình chuyển tải, góc độ giảm độ không rõ ràng, góc độ chuyển giao, truyền tải, trao đổi, góc độ ghép nối, kết nối, tính công cộng, góc độ kênh, phương tiện, lộ trình, góc độ dẫn dắt, góc
độ phản ứng, góc độ khuyến khích, góc độ chủ định, góc độ thời gian, tình huống, góc độ quyền lực
Ngoài ra, còn có các quan niệm khác về truyền thông, như: truyền thông là quá trình truyền thông tin có nghĩa giữa cá nhân với nhau; là quá trình trong đó một
cá nhân (người truyền tin) truyền những thông điệp với tư cách là những tác nhân kích thích (thường là những ký hiệu ngôn ngữ) để sửa đổi hành vi của những cá nhân khác (người nhận tin)… Điều này cho thấy tính phức tạp, đa dạng của truyền thông Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, mỗi định nghĩa, quan niệm về truyền thông cũng có những khía cạnh hợp lý riêng và đều có những điểm chung, với những nét tương đồng rất cơ bản
1.1.4 Phát triển ba đột phá chiến lược
Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, đất nước ta đứng trước mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng và yêu cầu phát triển với thực trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các ngành sản xuất trì trệ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế Trên nền tảng đổi mới tư duy kinh tế, chúng ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã độc quyền kinh doanh theo kiểu bao cấp, chuyển sang vận hành cơ chế kinh tế thị trường với các doanh nghiệp thuộc nhiều
Trang 25thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia kinh doanh Nhờ đó, kinh tế phát triển sống động, đạt tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Sự chuyển đổi cơ chế nêu trên đã giải quyết được mâu thuẫn trong sự phát triển của đất nước và thực sự là một đột phá chiến lược Từ đột phá có tính mở đường này, chúng ta đã thực hiện thành công Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, tạo đà cho bước phát triển mới, cao hơn
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với ba khâu đột phá: (i) Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách nhằm giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước; (ii) Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; (iii) Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng
bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh
Sau 10 năm triển khai thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng Đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Thể chế kinh tế thị trường cơ bản được hình thành, các loại thị trường từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn kết ngày càng tốt hơn với thị trường thế giới Quy mô giáo dục và đào tạo tăng nhanh, chất lượng nguồn nhân lực có bước cải thiện đáng kể Cải cách hành chính
mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được triển khai mạnh mẽ và đạt được những kết quả tích cực, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, thực hiện các giao dịch
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn các hạn chế, yếu kém, đặc biệt là việc tổ chức thực hiện các khâu đột phá vẫn thiên về hướng tiệm tiến, chưa thực sự quyết liệt và thiếu đồng bộ, sức sản xuất chưa được giải phóng triệt để Những hạn chế, yếu kém này đang cản trở sự phát triển và để đất nước phát triển nhanh, bền vững, cần phải tập trung sức giải quyết, tháo gỡ Chính vì vậy, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 xác định ba khâu đột phá, gồm: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc
Trang 26đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; và, (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông
sự vận hành phức tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích [55, tr.7] Tác giả Nguyễn Văn Dững tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đưa ra khái niệm: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế [12, tr.61] Một số quan điểm khác thì không định nghĩa báo chí riêng biệt mà gắn báo chí với truyền thông Theo tác giả Hoàng Phê, báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung và trừu tượng nhất là "quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng" [46, tr.1053] Theo tác giả Phan Quang báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người Theo Luật báo chí năm 2016 thì báo chí là sản phẩm thông tin về các
sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử
Từ những quan điểm nêu trên, luận văn đưa ra một khái niệm chung: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn, là phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chủ đạo, chiếm vị trí trung tâm, có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, khái niệm báo chí để được hiểu là truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến TTĐC, trước hết phải nói đến báo chí
Trang 27Như vậy có thể thấy, quản lý thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý là
cơ quan chủ quản hoặc lãnh đạo cơ quan báo chí đến nội dung và hình thức thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược được đăng tải trên báo chí bằng những cách khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý
1.2 Vai trò của quản lý thông điệp truyền thông về thực hiện chính sách
3 đột phá chiến lược trong lý luận và thực tiễn báo chí hiện nay
1.2.1 Đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển ba đột phá chiến lược tới công chúng hiệu quả
Một chu trình truyền thông hoàn chỉnh bao gồm 5 bước: (1) Nghiên cứu ban đầu công chúng/nhóm đối tượng, (2) Thiết kế thông điệp, (3) Chọn kênh thông tin, chuẩn bị tài liệu, (4) Chiến dịch truyền thông, (5) Nghiên cứu phản hồi Do đó, có thể thấy, thiết kế thông điệp là khâu công việc cơ bản, quan trọng thứ hai sau khi xác định công chúng/nhóm đối tượng Nếu không có thiết kế thông điệp ngay từ ban đầu thì sẽ chu trình truyền thông rất dễ bị chệch hướng, không đáp ứng được điều cả đối tượng quản lý thông điệp và đối tượng tiếp nhận thông điệp đang mong muốn Hay nói cách khác, hoạt động truyền thông không tạo ra hiệu quả phục vụ cho mục tiêu của chủ thể quản lý và và sẽ gặp thất bại vì không được đạt được mục đích truyền thông để đối tượng chấp nhận Đối với mỗi cơ quan báo chí, mục tiêu đầu tiên là tạo ra những tác phẩm, sản phẩm báo chí hay, hấp dẫn công chúng với thông điệp rất rõ ràng, phục vụ cho tôn chỉ, mục đích của tờ báo, bài báo đó hướng tới Trong sự bùng nổ về thông tin, sự phát triển rất mạnh mẽ của báo chí mỗi cơ quan báo chí, nhà báo cần có đủ năng lực để đưa ra được thông điệp thông qua tác phẩm báo chí của mình khi công chúng tiếp nhận
Chính sách (hay còn gọi là chính sách công) là vấn đề quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như với từng địa phương cụ thể Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định Việc xây dựng, hoạch định chính sách, công bố chính sách tới người dân, thực thi như thế nào liên quan nhiều tới công tác truyền thông chính sách
Bản thân chính sách công rất phức tạp từ hệ thống đến sự tham gia của các chủ thể chính sách Trên cơ sở đó, có thể tạm định nghĩa: Truyền thông chính sách
Trang 28là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách
để đạt mục tiêu chính sách
Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội Trong khâu xây dựng chính sách, truyền thông chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp Trong khâu thực hiện chính sách, truyền thông chính sách giúp việc giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội Khâu đánh giá truyền thông chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời tuyên truyền cho kết quả chính sách, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách
Với phát triển ba đột phá chiến lược, chính sách này đã được Đảng ta đề ra
và thực hiện qua nhiều kỳ đại hội khác nhau Thời kỳ nào cũng cho thấy sự gắn liền với hoạt động truyền thông chính sách Từ khi chuẩn bị ban hành, quá trình thông qua chính sách, thực thi chính sách đều được báo chí phản ánh một cách trung thực, khách quan nhất
Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là "Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội
ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau" Chiến lược đề ra 5 quan điểm,
12 định hướng phát triển, hình thành một hệ thống đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại như một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm phát triển bền vững Để tạo tiền đề thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ này, Chiến lược xác định phải đột phá vào ba khâu yếu, hiện đang là những điểm nghẽn, cản trở sự phát triển và nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo xung lực mới có sức lan toả mạnh, giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững
Trang 29Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 xác định ba khâu đột phá, gồm: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; và, (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
Với sự đồng hành của báo chí, các chủ trương, chính sách liên quan tới ba đột phá chiến lược mọi thời kỳ đều được thông tin một cách nhanh chóng, chính xác tới cán bộ, đảng viên, nhân dân cả nước
Thời kỳ 2011-2016, báo chí đã thành công trong việc bám sát chủ trương, quan điểm của Đảng truyền thông về ba đột phá chiến lược, tạo tiền đề tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng - Nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016 Báo chí thời kỳ này góp phần giúp các tổ chức, cá nhân, cán
bộ, đảng viên ,người dân và doanh nghiệp nắm rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước
về tinh thần, yêu cầu cơ bản để thể chế kinh tế thị trường phát huy hết mặt tích cực của nó là các yếu tố của kinh tế thị trường hình thành đầy đủ, các loại thị trường phát triển đồng bộ với độ minh bạch cao, được quản lý và giám sát tốt; nhờ đó, thị trường xác lập sự cân bằng động trong phân bổ nguồn lực vào các ngành sản xuất
và dịch vụ theo tín hiệu thị trường, bảo đảm hiệu quả kinh tế Thiếu các điều kiện này, thị trường không thể cho tín hiệu đúng, các nguồn lực không thể dịch chuyển thuận lợi và do đó, các chủ thể kinh doanh không thể phát huy được tiềm năng và nền kinh tế không đạt được hiệu quả Báo chí thời kỳ này cũng góp phần giúp nhân dân thấy rõ quyết tâm của chính phủ trong việc đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức,
cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học công nghệ; hướng trọng tâm hoạt động khoa học công nghệ vào phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ưu tiên sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh cũng như quyết tâm huy động nhiều nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo trên các vùng miền của đất nước
Trang 30Từ sau Đại hội XII của Đảng tới nay, báo chí góp phần giúp công chúng nắm
rõ những thay đổi, điều chỉnh trong ba đột phá chiến lược của Đảng, Nhà nước như: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là: Hoàn thiện thể chế về cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp nhà nước; thể chế về tài sản và quyền về tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt
và hưởng lợi từ tài sản); thể chế về thị trường các yếu tố sản xuất, bảo đảm để thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực; thực hiện phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường vào những ngành, lĩnh vực và vùng có hiệu quả cao, có tác động lan toả Phát triển thị trường tài chính một cách cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; giữa thị trường vốn cổ phiếu
và trái phiếu; giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; giữa dịch vụ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; quan tâm phát triển thị trường vốn đầu
tư mạo hiểm và tín dụng tiêu dùng Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư theo mức độ hiệu quả kinh tế dự tính của dự án Khuyến khích và tạo thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, tăng cường kết nối và phát huy tác động lan toả với các khu vực kinh tế trong nước Hoàn thiện luật pháp liên quan về đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp; phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất Tiếp tục hoàn thiện luật pháp về lao động và thị trường lao động; tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động ở trong nước
Báo chí cũng phản ánh rõ quyết tâm thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với việc tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại: Đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng
dự án Tập trung vốn đầu tư công và các nguồn vốn đầu tư khác để thực hiện một số
dự án đầu tư hạ tầng trọng điểm và tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước Sớm triển khai xây dựng một số khu hành chính - kinh tế đặc biệt; ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh
1.2.2 Thông tin chính xác kết quả thực hiện phát triển ba đột phá chiến lược
Có thể thấy việc thực hiện ba đột phá chiến lược ở nước ta thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả tích cực Thông qua báo chí, nhất là công tác quản lý báo chí,
Trang 31những bài viết trên các loại hình khác nhau đã phản ánh trung thực, nhanh chóng, sinh động kết quả thực hiện chủ trương, chính sách này ở mọi miền khác nhau
Qua các phương tiện báo chí, công chúng có cái nhìn toàn diện về kết quả thực hiện ba đột phá chiến lược của từng địa phương Như đối với tỉnh Quảng Ninh, trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, thông tin về ba đột phá chiến lược trên báo báo chí Trung ương cũng như báo chí của tỉnh được thực hiện liên tục, tần suất cao Với rất nhiều loạt chuyên đề, bài viết trên tất cả các hạ tầng truyền hình, phát thanh, báo in, báo điện tử về việc triển khai thực hiện ba đột phá chiến lược của Đảng đã tạo sự đồng thuận, thống nhất cao không chỉ trong tỉnh Quảng Ninh, tạo những đổi mới, đột phá trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nhanh nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng của tỉnh
Từ kết quả của các địa phương trong thực hiện phát triển ba đột phá chiến lược với những kết quả to lớn đều được báo chí phản ánh rõ nét, trung thực, đầy đủ
và khách quan nhất Thông qua đó, báo chí góp phần giúp người dân củng cố niềm tin vào chính sách của Đảng, Nhà nước Đồng thời góp phần phản ánh vai trò to lớn của báo chí trong việc đồng hành, cổ vũ toàn dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
1.2.3 Góp phần bảo vệ chủ trương, chính sách của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai lệch, xuyên tạc về ba đột phá chiến lược của các thế lực thù địch Diễn biến hòa bình là chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành bằng các biện pháp phi quân sự, nhằm chiến thắng chủ nghĩa xã hội không cần chiến tranh
Bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, chủ nghĩa đế quốc đã góp phần làm tan rã chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX Hiện nay, “diễn biến hoà bình” được chủ nghĩa đế quốc tập trung vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam được coi là một trọng điểm Để chống phá cách mạng Việt Nam chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các âm mưu, thủ đoạn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực kinh tế luôn được chúng xem là mũi nhọn Trong đó, những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển ba đột phá cũng là tâm điểm của những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong thời gian qua
Ví dụ tiêu biểu nhất của ba đột phá chiến lược là trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tích cực triển khai thực hiện và đưa Nghị quyết
Trang 32Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” vào cuộc sống; thì trên các trang mạng xã hội các phần tử phản động, thù địch liên tục đăng tải nhiều nội dung xuyên tạc quan điểm của Đảng ta về vai trò của thành phần kinh tế nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân; nổi lên có blog (danlambao) đã đưa ra cái gọi là Nói dai - nói dài - nói sảng, với nhiều luận điệu phán bừa hết sức phản động Đọc các bài viết trên, chúng ta dễ nhận thấy đây là mưu đồ của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước
ta, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Chúng đã đánh đồng doanh nghiệp nhà nước với thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay nhằm hạ thấp vai trò, vị thế và uy tín của thành phần kinh tế nhà nước Hệ thống doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận của thành phần kinh tế nhà nước Chúng xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế tư nhân của Đảng, Nhà nước
ta Thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Sau hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của chúng ta về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có những bước tiến quan trọng Từ chỗ kỳ thị, coi nhẹ đã thừa nhận kinh tế tư nhân “là một trong những động lực" và đến nay “là một động lực quan trọng” để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trên thực tế, kinh tế tư nhân đã ngày càng phát triển; tỉ trọng trong GDP chiếm 39 - 40%; đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh; số lượng doanh nghiệp của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng
Thông qua quản lý báo chí, bằng việc xử lý những thông tin sai lệch, xuyên tạc này, người dân có cái nhìn đúng đắn, khách quan hơn về chủ trương, chính sách
và thực tiễn phát triển kinh tế, môi trường đầu tư ở Việt Nam Báo chí cho thấy dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an sinh xã hội của đất nước Những thành tựu đạt được là những biểu hiện sinh động trên thực tiễn chủ trương “khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” của Đảng, nhà nước ta
Trang 331.3 Các yếu tố của quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí
1.3.1 Chủ thể quản lý
Quản lý đối với hoạt động báo chí nói chung, quản lý thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí nói riêng cũng như bất kỳ một dạng quản lý nào khác là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy Nhà nước, là công việc của bộ máy hành pháp Nó là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp cấp tỉnh tiến hành
để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân, đảm bảo thực hiện tốt vai trò điều tiết vĩ mô đối với báo chí trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo về
tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Theo đó, quản lý báo chí cấp tỉnh nói chung và quản lý thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí địa phương nói riêng chủ yếu được tiến hành bởi các chủ thể như: Tỉnh ủy (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy); UBND tỉnh (Sở TTTT); Ban biên tập, Ban giám đốc các cơ quan báo chí Cụ thể:
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, với vị trí, chức năng là cơ quan tham mưu của Tỉnh
ủy về công tác xây dựng Đảng thuộc các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tuyên truyền,
lý luận chính trị, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa giáo, biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh thì trong quản lý báo chí Ban Tuyên giáo có vai trò cụ thể là tham mưu giúp cấp ủy chỉ đạo, định hướng hoạt động báo chí, xuất bản; Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên từ thành phố đến cơ sở
Theo Điều 7, Luật Báo chí năm 2016, cơ quan quản lý báo chí bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí Các bộ,
cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhcó trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản
lý nhà nước về báo chí tại địa phương và nhiệm vụ này được giao cho Sở Thông tin
và truyền thông cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về: báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô
Trang 34tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh và truyền hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm (sau đây gọi tắt là thông tin và truyền thông); các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật
Hội đồng biên tập (đối với Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, với các
cơ quan báo chí khác là Ban hoặc Bộ biên tập): là bộ não của cơ quan, là ban quản
lý, lãnh đạo tòa soạn, xây dựng phương hướng, chiến lược phát triển tòa soạn trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Hội đồng Biên tập do cơ quan chủ quản thành lập làm nhiệm vụ bàn bạc và giải quyết các vấn đề liên quan đến xuất bản các ấn phẩm báo chí của tòa soạn, đứng đầu là Giám đốc, Tổng biên tập, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền đối nội và đối ngoại, tổ chức cán bộ, vận hành tòa soạn xuất bản đều đặn các ấn phẩm đảm bảo chất lượng trong đó có quản lý thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí Giám đốc, Tổng Biên tập chịu trách nhiệm phân công các thành viên trong Hội đồng Biên tập thực hiện công tác tổ chức, quản lý các phòng, ban chuyên môn và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, biên tập và kiểm duyệt tin bài hằng ngày, xây dựng các đề án phương hướng phát triển, đổi mới, nâng cao chất lượng các ấn phẩm, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán
bộ, phóng viên Các thành viên Hội đồng Biên tập chịu trách nhiệm trước Giám đốc, Tổng Biên tập về toàn bộ phần việc được phân công và tham gia chỉ đạo hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của phóng viên và công tác biên tập, xuất bản
- Các nhà báo, phóng viên trực tiếp viết bài: là chủ thể quản lý trực tiếp, chịu trách nhiệm chính với những bài viết, tư liệu, hình ảnh liên quan tới thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trước cơ quan báo chí
1.3.2 Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý trong phạm vi luận văn được xác định là thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược Theo đó, việc quản lý cần tập trung bám sát quan điểm thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ)” là một nội dung trong sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII mà Đảng, Nhà nước ta chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả
Trang 35Trong thời gian qua, đánh giá việc thực hiện ba đột phá chiến lược, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhận định ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh có bước được cải thiện Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đạt kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng nhận định, việc thực hiện ba đột phá chiến lược còn có những hạn chế, yếu kém Đó là thực hiện các đột phá chiến lược và tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, chưa tạo được đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu cầu Với những thành tựu và hạn chế, yếu kém trong thực hiện ba đột phá chiến lược thời gian qua, cho thấy để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong 5 năm tới mà Văn kiện Đại hội XII đã xác định là phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đòi hỏi phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược
1.3.3 Nội dung quản lý
Quản lý thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí tập trung vào hai nội dung chính là quản lý nội dung và quản lý hình thức thông điệp truyền thông Cụ thể
Về quản lý nội dung:
Các cơ quan báo chí cần tích cực truyền thông, trong các tác phẩm báo chí của mình cần nhấn mạnh nội dung trọng tâm vào thông điệp truyền thông về phát triển ba đột phá chiến lược ở các khía cạnh như:
1 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính
Yêu cầu cơ bản để thể chế kinh tế thị trường phát huy hết mặt tích cực của nó
là các yếu tố của kinh tế thị trường hình thành đầy đủ, các loại thị trường phát triển đồng bộ với độ minh bạch cao, được quản lý và giám sát tốt; nhờ đó, thị trường xác lập sự cân bằng động trong phân bổ nguồn lực vào các ngành sản xuất và dịch vụ theo tín hiệu thị trường, bảo đảm hiệu quả kinh tế Thiếu các điều kiện này, thị
Trang 36trường không thể cho tín hiệu đúng, các nguồn lực không thể dịch chuyển thuận lợi
và do đó, các chủ thể kinh doanh không thể phát huy được tiềm năng và nền kinh tế không đạt được hiệu quả
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô Một tiêu chí quan trọng đo lường sự phát triển của thể chế kinh tế thị trường là mức độ cạnh tranh trong các lĩnh vực sản xuất và dịch
vụ Cạnh tranh làm bộc lộ khả năng của các chủ thể kinh tế Trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia thị trường buộc phải phát huy lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh; đồng thời, luôn tìm cách tạo lập lợi thế cạnh tranh mới nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực,
mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh Đây chính là triết lý tăng trưởng mới - Tăng trưởng dựa trên sức cạnh tranh
Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, loại bỏ các hình thức ưu đãi và bao cấp còn tồn tại trên thực tế; minh bạch hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo các tiêu chí của doanh nghiệp đăng ký trên thị trường chứng khoán.Đổi mới cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo hướng cơ quan hoạch định chính sách không đồng thời thực hiện chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp Trong điều kiện các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và thay đổi khó lường, độ rủi ro và tính bất định tăng lên, không thể thực hiện có hiệu quả các yêu cầu trên đây nếu không xây dựng được một hệ thống thể chế chất lượng cao Muốn vậy, phải cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia trên tất cả các nội dung: thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và tài chính công gắn với một hệ thống phân cấp hợp lý, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng quản trị công - một trong những điểm yếu trong quản lý ở nước ta
Phải nâng cao tính minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách để vừa giảm thiểu sự bất định, độ rủi ro đối với nhà đầu tư, vừa tránh đầu cơ, ngăn chặn tham nhũng và giảm các chi phí giao dịch cho doanh nghiệp Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách và thể chế; đề cao vai trò phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và đánh giá hiệu quả thực thi
Trang 37Phải đầu tư cao hơn cho nông nghiệp nông thôn, triển khai có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, coi trọng phát triển các lĩnh vực văn hóa, làm cho văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực để phát triển kinh tế Tập trung hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng rộng mở và hiệu quả, hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng
2 Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ
Chúng ta đang sống trong một thời đại với ba đặc điểm kinh tế lớn chi phối
sự phát triển của mỗi quốc gia Đó là:
(i) Khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, rất mạnh, hơn bất kỳ một thời đại nào trước đó Chính sự phát triển này tạo ra làn sóng công nghiệp hóa lần thứ ba
và hình thành nền kinh tế tri thức;
(ii) Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều, thúc đẩy sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu; cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng quyết liệt và mỗi quốc gia phải giành cho được ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó;
(iii) Tình trạng khan hiếm các loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được, đòi hỏi con người phải tìm kiếm các dạng nguyên liệu, năng lượng mới, bảo đảm phát triển bền vững Những đặc điểm nêu trên làm nổi bật vai trò ngày càng tăng của nguồn lực con người - lợi thế cạnh tranh động trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia
Tình hình đó vừa đặt ra yêu cầu vừa tạo điều kiện cho việc thay đổi mô hình phát triển, từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ nhưng chất lượng thấp sang sự phát triển dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp bao gồm khả năng áp dụng các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại Chìa khóa của sự chuyển đổi, nhân tố trung tâm của quá trình này là nguồn nhân lực chất lượng cao
Cần phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất,
Trang 38bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.Xét đến cùng, đây là khâu quan trọng nhất trong ba khâu đột phá, có vai trò chi phối việc thực hiện các đột phá khác, vì chính con người tạo ra và thực thi thể chế, xây dựng bộ máy, quy hoạch và phát triển kết cấu hạ tầng
Thực hiện tốt đột phá này sẽ làm tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng - một quan điểm quan trọng mà Đại hội XI đã xác định Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy quốc gia nào xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người thì hoàn toàn có thể thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn Những năm qua, chúng ta đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn, chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề không hợp lý Chúng ta đang thiếu cả cán bộ quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp; thiếu đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế kỹ thuật và công nhân có tay nghề cao Đây là những trở ngại lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Chiến lược nhấn mạnh,phải đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình
độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức Phát triển nguồn nhân lực vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài theo tiến trình phát triển của tri thức nhân loại
3 Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
Kết cấu hạ tầng là đường dẫn của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để phân bố lực lượng sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ sẽ mở rộng không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, làm tăng tính hiệu quả nhờ quy mô Trong những năm qua, chúng ta đã huy động
Trang 39nhiều nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo trên các vùng miền của đất nước Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém, lạc hậu, việc quy hoạch xây dựng lại không đồng bộ, đầu tư dàn trải, khả năng kết nối các loại hình vận tải, kết nối giữa các vùng trong nước và với các tuyến vận tải quốc tế còn hạn chế Quy mô kinh tế ngày càng tăng, quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ càng bộc lộ những bất cập trong kết cấu hạ tầng nước ta, nhất là hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị, làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh và là một trong những điểm nghẽn tăng trưởng
Xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớnlà một khâu đột phá Để thực hiện tốt đột phá này, phải thay đổi cách tiếp cận từ khâu quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên đến phương thức huy động nguồn lực và thủ tục triển khai dự án Cần xây dựng quy hoạch theo sự phân bổ lực lượng sản xuất và bố trí dân cư gắn với quá trình đô thị hoá trên tầm nhìn cả nước Nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng ở các địa phương
là rất lớn Trong điều kiện nguồn lực có hạn, quyết định của chúng ta không thể dựa vào lòng mong muốn mà phải lựa chọn cái tốt nhất có thể nhằm giải tỏa nhanh các điểm nghẽn vận tải, đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, trong thời gian ngắn nhất
Đặc trưng cơ bản của thông tin báo chí đó là tính xác thực, tiêu biểu, tính thời sự, tính định hướng trực tiếp Đặc trưng của báo chí hiện nay là các loại hình báo chí sử dụng mạng thông tin toàn cầu (Internet) là phương tiện chuyển tải thông tin Với ưu thế về chữ viết và hình ảnh, âm thanh và hình ảnh động, so với các loại hình truyền thông khác, báo chí có tốc độ lan truyền ngay tức thì, nhất là báo mạng phạm vi tác động không giới hạn, sự hấp dẫn do tính tương tác cao vì vậy nhanh chóng thông tin đến với đối tượng công chúng
Trang 40Ở thể loại khác, các bài phản ánh về phát triển ba đột phá chiến lược cũng là những dạng bài thông tin, phản ánh, đáp ứng các tiêu chí cơ bản của một tác phẩm báo chí, thường được dùng để thông tin, phản ánh về những vấn đề, sự kiện, nhân vật, hoàn cảnh, tình huống ở cấp độ trung bình, vừa phải đảm bảo yêu cầu về tính thời sự, tính xác thực và tính định hướng trực tiếp của những thông tin
- Thứ hai, quản lý báo chí cần phát huy thế mạnh về hình ảnh, âm thanh khi phản ánh thông điệp về phát triển ba đột phá chiến lược … phương thức truyền thông thông điệp phát triển ba đột phá chiến lược được thể hiện qua hình ảnh, nội dung của bài báo, là cách thức thực hiện việc truyền thông tin đến đối tượng cần hướng tới Theo đó phương thức truyền thông thông điệp phát triển ba đột phá chiến lược có nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên đối với báo chíphương thức truyền thông thông điệp phát triển ba đột phá chiến lược thường thông qua các bài báo, các tin bài có nội dung liên quan
Đặc biệt, về phương thức truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược qua báo chí hiện nay có điểm nổi bật đó là sử dụng các hình ảnh phát triển ba đột phá chiến lược có nội dung, chủ đề, ý nghĩa rõ ràng, có giá trị thông tin thời sự, phản ánh được khía cạnh tiêu biểu của vấn đề Bên cạnh đó việc sử dụng các video được tích hợp trong các bài viết về phát triển ba đột phá chiến lược hoặc được đưa lên các trang mạng xã hội mà báo chí liên kết càng nâng cao tính xác thực và phản ánh đúng bản chất sự việc được chuyển tải đến công chúng rõ nhất
- Thứ ba, về tần suất, số lượng bài, báo chí phải thường xuyên, liên tục, thậm chí có chuyên mục riêng về thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược Trong thời đại “kỷ nguyên số”, việc cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, liên tục, tức thời được xem là vô cùng quan trọng, là vấn đề sống còn của tờ báo Chính điều này đã tạo nên vị thế và cuộc tranh đua của báo chí với các phương tiện truyền thông khác Tính tức thời được các tờ báo khai thác tối đa nhằm thoả mãn nhu cầu cập nhật thông tin của công chúng
1.3.4 Phương pháp quản lý
Quản lý báo chí nói chung, quản lý thông điệp truyền thông phát triển ba đột phá chiến lược trên báo chí nói riêng được thể hiện trên nhiều phương thức khác nhau tùy theo từng giai đoạn lịch sử, trong hoàn cảnh cụ thể, phương pháp quản lý
có tác dụng quan trọng đến sự thành công hay thất bại của các nhiệm vụ, mục tiêu quản lý Quá trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng