1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên báo quân đội nhân dân (khảo sát trên trang quốc phòng an ninh, báo quân đội nhân dân năm 2018)

160 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù nội dung truyền thông có tính chất đặc thù, riêng biệt,là ưu thế, thế mạnh của tờ báo, song việc quản lýthông điệp truyền thông về HLQS thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế như

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ XUÂN DÂN

QUẢN LÝ THÔNG ĐIệP TRUYỀN THÔNG

Về HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

(Khảo sát trên trang Quốc phòng - An ninh, Báo Quân đội nhân dân năm 2018)

Chuyên ngành : Quản lý báo chí và truyền thông

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Lương Khắc Hiếu

HÀ NỘI -2019

Trang 3

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS LƯU VĂN AN

Trang 4

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Lương Khắc Hiếu Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Vũ Xuân Dân

Trang 6

Bảng 4: Thống kê số lượng tin, bài viết về huấn luyện của các đơn vị,

quân binh chủng khảo sát từ 1/1/2018 đến 31/12/2018 56

Bảng 5: Đánh giá về chất lượng nội dung trong quản lý hoạt động sáng

tạo tác phẩm 59

Trang 7

Biểu đồ 1: Đánh giá phân tích thực trạng trong quản lý thông điệp truyền

thông về HLQS trên Báo QĐND, trang QP-AN của quá trình xây dựng kế hoạch truyền thông qua phân tích thực trạng 48 Biểu đồ 2: Đánh giá phân tích thực trạng trong quản lý thông điệp truyền

thông về HLQS trên Báo QĐND, trang QP-AN của quá trình xây dựng kế hoạch truyền thông qua phân tích đối tượng 49 Biểu đồ 3: Đánh giá xác định các hoạt động và hoạt động trong quản lý

thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND, trang

QP-AN của quá trình kế hoạch truyền thông qua xác định các hoạt động truyền thông 52 Biểu đồ 4: Đánh giá về thời gian biểu trong quản lý thông điệp truyền

thông về HLQS trên Báo QĐND, trang QP-AN 53 Biểu đồ 5: Đánh giá về quản lý hình thức sáng tạo tác phẩm 58 Biểu đồ 6: Đánh giá về quản lý quy trình TCSX sản phẩm báo chí (quy

trình biên tập) thông điệp về HLQS trên Báo QĐND 61 Biểu đồ 7: Đánh giá lập thời gian biểu trong quản lý thông điệp truyền

thông về HLQS trên Báo QĐND, trang QP-AN của quá trình thực hiện kế hoạch truyền thông qua kiểm tra giám sát 68 Biểu đồ 8: Đánh giá nhận thức về tác động thông điệp truyền thông về

HLQS trên trang QP-AN 71 Biểu đồ 9: Đánh giá đến thái độ về tác động thông điệp truyền thông về

HLQS trên trang QP-AN 73

Trang 8

thông về HLQS 97

Sơ đồ 2: Quy trình biên tập tin, bài truyền thông về HLQStrên báo

QĐND, trang QP-AN sau khi thay đổi quy trình 99

Trang 9

Chương 1:QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ HUẤN

LUYỆNQUÂN SỰ TRÊN BÁO CHÍ - NHỮNG VẤN

ĐỀ LÝ LUẬN 19

1.1 Khái niệm quản lý và quản lý truyền thông 19

1.2 Quan niện về huấn luyện quân sự và quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên báo chí 26

1.3 Vai trò của quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên báo chí 36

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀHUẤN LUYỆN QUÂN SỰ TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 42

2.1 Giới thiệu về Báo Quân đội nhân dân 42

2.2 Thực trạng quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân trong năm 2018 46

2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân 69

Chương 3:NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁPNÂNG CAO QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNGVỀ HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRONG NHỮNG NĂM TỚI 77

3.1 Những vấn đề đặt ra trong quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân 77

3.2 Giải pháp tăng nâng cao lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân trong những năm tới 85

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 103

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 10

Những năm qua, trước sự bùng nổ của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, báo chí thế giới và trong nước có bước phát triển mạnh

mẽ cả về loại hình và số lượng; cả về nội dung, hình thức, chất lượng thông tin và tác dụng xã hội Các cơ quan thông tấn, báo chí có xu hướng tích hợp trong hoạt động nhiều loại hình báo chí cùng một lúc (báo in, báo nói, báo hình), trở thành các cơ quan truyền thông đa phương tiện với mô hình tòa soạn hội tụ Báo chí quân đội nói chung và Báo QĐND nói riêng cũng hòa nhập sự phát triển đó Theo Quyết định số 1431/QĐ-TTg ngày 26/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ Báo QĐND được xác định là 1 trong 6 cơ quan

truyền thông chủ lực, định hướng dư luận “thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện”

Bảo vệ Tổ quốc được xác định là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng đó,

QĐND Việt Nam phải xây dựng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, nâng cao trình độ HLQS, khả năng SSCĐ, đủ khả năng hoàn thành

tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống Để thực hiện nhiệm vụ đó,truyền thông về HLQS là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên nhằm cổ vũ, động viên

bộ đội đang ngày đêm không quản ngại khó khăn, gian khổ luyện rèn, đồng

Trang 11

thời khẳng định sức mạnh, khả năng SSCĐ của quân đội và củng cố niềm tin của nhân dân vào LLVT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhiệm vụ truyền thông về quân đội nói chung, HLQS nói riêng càng đặt ra cấp thiết hơn, yêu cầu các tòa soạn, trong đó có Báo QĐND phải đổi mới quản lý truyền thông

Thứ hai: Xuất phát từ đòi hỏi của nhiệm vụ HLQS trong thời kỳ mới

Huấn luyện quân sự (HLQS) là nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, nhằm bảo đảm cho Quân đội ta luôn có trình độ tác chiến, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) cao, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể xảy ra Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới đặt ra nhiều nội dung, nhiệm vụ mới, yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao Theo đó, nhiệm vụ HLQS của Quân đội ta cần được tổ chức thực hiện có chất lượng và truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ kỹ chiến thuật của bộ đội và sức mạnh tổng hợp, khả năng SSCĐ của các đơn vị

Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, QUTW và BQP về công tác HLQS, nhất là là Nghị quyết số 765-NQ/QUTW của QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-

2020 và những năm tiếp theo, thời gian qua, QUTW, BQP đã lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, thống nhất, triển khai toàn diện nhiệm vụ HLQS đạt nhiều thành tựu quan trọng

Trong triển khai thực hiện nhiệm vụ HLQS, các đơn vị mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng luôn đoàn kết, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo,

tự lực, tự cường, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, làm chủ vũ khí, trang bị; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, sát với đối tượng, địa hình tác chiến,

Trang 12

huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm; cơ bản bảo đảm an toàn tốt về người và vũ khí, trang bị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong HLQS, toàn quân đã bám sát và thực hiện tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp; chú trọng đổi mới công tác kiểm tra, phúc tra, hội thi, hội thao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là trong huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại và luyện tập, diễn tập ở các cấp.Kết quả đó đượclãnh đạo Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và khẳng định QĐND Việt Nam có đủ khả năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống Những kết quả đạt được cần được truyền thông kịp thời, nhằm cổ vũ, động viên CB, CS và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội ta

Thứ ba: Xuất phát từ thực trạng truyền thông và quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND

Báo QĐNDlà cơ quan của QUTW và BQP, tiếng nói của LLVT và nhân dân Việt Nam; là tờ báo chính trị hàng đầu của đất nước, được Chính phủ xác định là 1 trong 6 cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện, định hướng dư luận Với bề dày lịch sử truyền thống gần 70 năm xây dựng, phát triển, Báo luôn thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích tuyên truyền toàn diện mọi mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước, trong đó luôn chú trọng làm tốt vai trò quản lý truyền thông về HLQS - một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của QĐND hiện nay Mặc dù nội dung truyền thông có tính chất đặc thù, riêng biệt,là ưu thế, thế mạnh của tờ báo, song việc quản lýthông điệp truyền thông về HLQS thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế như: chưa thực sự đổi mới về nội dung, hình thức, chưa thực sự thu hút, hấp dẫn người đọc; chưa phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng tầm mức, kết quả HLQS của toàn quân; chưa có nhiều tác phẩm báo chí hay, xuất sắc, đoạt giải caotrong các giải thưởng báo chí Trong công tác quản lý cũng bộc lộnhững hạn chế như: quy trình thực hiện tác phẩm báo còn dài (N-3) tốn nhiều thời gian, chưa bảo đảm tính cập nhập thông tin

Trang 13

nhanh, chính xác, kịp thời; trình độ năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ, PV, biên tập viên, CTV trong lĩnh vực này còn hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng với nhiệm vụ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Những nghiên cứu về truyền thông và quản lý truyền thông

Trong nghề nghiệp và công việc của nhà báo (1992), tác giả Phan

Quang đã có bài báo khoa học “Về hiệu quả báo chí” Tác giả cho rằng: Hiệu

quả là một phạm trù khoa học, đồng thời cũng là mục tiêu mà con người phải tính đến trong hoạt động của mình Nội dung thông tin hấp dẫn, đáp ứng yêu cầu kịp thời, chính xác và đầy đủ đối với người nhận tin, đó chính là yếu tố quan trọng làm cho hiệu quả công tác báo chí phát huy tác dụng thực sự trong việc hướng dẫn dư luận và phục vụ nhân dân

Tác giả Tạ Ngọc Tấn (1999), trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí cho rằng: “Mỗi nhà báo muốn hoạt động một cách có hiệu quả phải xác định các nhiệm vụ công tác của mình phù hợp với tính chất khách quan của các chức năng báo chí Việc nắm vững những tri thức về các chức năng của báo chí là điều kiện quan trọng, một trong những yếu tố quyết định tính hiệu quả trong hoạt động của nhà báo”

Cũng theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng

(2001), khẳng định: Mô hình truyền thông một chiều, công chúng là người thụ động tiếp nhận thông tin đã không còn phổ biến Mối quan hệ hai chiều giữa truyền thông và công chúng được thể hiện rõ ràng hơn Công chúng có vai trò nhất định trong quá trình truyền thông, tác động trở lại chủ thể truyền thông

Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động thông tin, việc nghiên cứu công chúng có vai trò quan trọng Những phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông sẽ là một trong số các yếu tố quy định hoạt động truyền thông tiếp theo

Trang 14

Tác giả Mai Quỳnh Nam (2001) trong “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng” đã khái quát sự ra đời, phát triển của truyền thông,

truyền thông đại chúng, sự cấp thiết và tính phức tạp trong nghiên cứu truyền thông đại chúng Theo tác giả, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ trong những năm vừa qua và trở thành một chủ đề cơ bản của xã hội học hiện đại… Nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng là vấn

đề cấp bách và phức tạp Điều đó xuất phát từ chỗ người ta ngày càng nhận thấy khả năng tác động to lớn của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Mặt khác, tính phức tạp của hướng nghiên cứu này lại phụ thuộc bởi tính chất đa chức năng của truyền thông đại chúng và các mối quan hệ nhiều chiều

ở sự tương tác với hệ thống này trong thực tế Tác giả Mai Quỳnh Nam đưa ra

quan điểm: “Một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả truyền thông đại chúng là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp”

Vẫn theo tác giả Mai Quỳnh Nam: Đo lường tính hiệu quả của các nội dung thông điệp thực chất là tìm hiểu một khía cạnh của yếu tố phản hồi truyền thông Đo lường về hiệu quả của nội dung thông điệp nói riêng và cả quá trình truyền thông nói chung là một trong những vấn đề phức tạp Điều này xuất phát từ chỗ người ta ngày càng nhận thấy khả năng tác động to lớn của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Mặt khác, tính phức tạp của hướng nghiên cứu này lại phụ thuộc bởi sự đa chức năng của truyền thông đại chúng và các mối quan hệ nhiều chiều ở sự tương tác với hệ thống truyền thông đại chúng trong thực tế Những nghiên cứu hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng phải dựa trên chức năng xã hội, điều hành và kiểm soát xã hội của hệ thống này

Trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học về hiệu quả của một tờ báo, tác

giả Mai Quỳnh Nam cho rằng: “Nghiên cứu hiệu quả xã hội của một phương tiện truyền thông không chỉ dừng lại ở việc xem xét mức độ và cơ chế hoạt động giao tiếp của các nhóm công chúng với phương tiện truyền thông đại

Trang 15

chúng đó mà còn phải tìm hiểu xem họ yêu thích những nội dung nào? Những nội dung đó tạo nên sự quan tâm của họ ra sao?”

2001 Trong cuốn Ngôn ngữ báo chí (2001), tác giả Vũ Quang Hào cho

rằng: “Khái niệm hiệu quả báo chí đều được đề cập một cách sâu sắc và phân tích rất kỹ lưỡng bởi vì bản chất của báo chí nói riêng và truyền thông đại chúng nói chung là đưa thông tin đến cho đám đông Hiệu quả của quá trình

ấy mặc dù rất khó có thể tính đếm cụ thể (trừ những kết quả điều tra xã hội học), nhưng những người làm truyền thông đều đặt vấn đề hiệu quả báo chí lên hàng đầu với tư cách là mục đích đầu tiên của quá trình làm truyền thông”

Tác giả Shirley Biagi (2004) trong Media impact (Tác động truyền thông)

đề cập đến định hình các luật và quy định; cải cách các quy tắc đạo đức truyền thông đại chúng; phương tiện truyền thông toàn cầu: giao tiếp thay đổi Cuốn sách cũng đề cập đến các ngành công nghiệp phương tiện truyền thông, bao gồm: Thông tin đại chúng và cuộc sống hàng ngày; sách; tạp chí; phát thanh; truyền hình; internet truyền thông: mở rộng web Về quảng cáo, gồm nội dung: Mối quan hệ người tiêu dùng và công chúng; những ý tưởng quảng bá Về thay đổi các thông điệp, gồm các nội dung: Tin tức, thông tin và các vấn đề chính trị

Tác giả E.P.Prôkhôrốp (2004), trong cuốn Cơ sở lý luận của báo chí đã

nhận định: Sự ra đời của mạng thông tin điện tử toàn cầu có giá trị to lớn về mặt truyền thông Mạng internet đã tạo ra khả năng nhận tin đa dạng nhất, giúp cho con người toàn cầu, trong đó có các nhà báo, trao đổi thông tin, phổ biến thông tin nhanh chóng và hiệu quả Báo chí nói chung và báo chí điện tử nói

riêng, “Trong quá trình báo chí thực hiện các chức năng tư tưởng, văn hóa và các chức năng khác người ta thấy xuất hiện vấn đề tính hiệu quả trong việc thực hiện các chức năng ấy” “Tính hiệu quả của tác động báo chí còn phụ thuộc vào những phẩm chất cụ thể của các tác phẩm được quy định bởi tài khéo léo vận dụng (bởi những kỹ năng công nghệ, bởi thủ pháp nghệ thuật

Trang 16

hoặc tài năng vốn có) của nhà báo” “Những kết quả mà nhà báo hướng đến là hiệu quả tạo nên những thay đổi cụ thể trong ý thức, hành vi của công chúng

Vì tính hiệu quả - đó là mức độ thực hiện các mục tiêu đáp ứng những nhu cầu của công chúng về thông tin, có tính đến những khả năng của nhà báo và công chúng”

Cuốn sách “Truyền thông đại chúng - những kiến thức cơ bản”nhà

xuất bản Thông tấn (2004) là cuốn sách được chọn dịch và biên soạn của tác giả người Đức - Claudia Mast Mặc dù đây là tài liệu đã được xuất bản từ năm

2004 nhưng vẫn mang ý nghĩa thực tiễn cao Nội dung cuốn sách đề cập những vấn đề hết sức cơ bản đối với những người làm công tác truyền thông đại chúng Đó là những khái niệm về thông tin, các phương tiện thông tin, hoạt động thông tin, đối tượng thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ và đạo đức của nhà báo; nghề nghiệp báo chí và đạo đức của nhà báo; nghề nghiệp báo chí và hoạt động truyền thông trong cơ chế thị trường

Trong cuốn Communication research: Asking question, finding answers (Nghiên cứu truyền thông: đặt câu hỏi, tìm câu trả lời) (2006), tác giả Joann Keyton tập trung giới thiệu phương pháp nghiên cứu cơ bản và phương pháp định tính, định lượng trong quá trình nghiên cứu truyền thông Qua đó, giúp sinh viên sử dụng hiệu quả các tài liệu nghiên cứu truyền thông bằng phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu và phân tích thông tin Bên cạnh đó, nó còn định hướng cho sinh viên, những người muốn phát triển và thực hiện các dự án nghiên cứu Joann Keyton giới thiệu tổng quát về quá trình nghiên cứu: Làm thế nào để biến một ý tưởng thành một câu hỏi, lựa chọn một phương pháp nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu và viết ra kết quả nghiên cứu; đồng thời cung cấp cho người đọc hàng trăm ví dụ về nghiên cứu truyền thông đã được thực hiện, rút ra từ các bài báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Nguyễn Quang Hòa có công trình “Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban thư ký toà soạn trong cơ quan báo chí” (Luận án Tiến sĩ Báo chí, Học

Trang 17

viện Báo chí và Tuyên truyền, 2009) đề cập đến vấn đề lập kế hoạch, tổ chức các chuyên đề, sự kiện trên một số nhật báo

Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012) của tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, cho rằng: “Truyền thông là một hiện tượng phức tạp, bao gồm hàng loạt các thành tố trong sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, làm thế nào sắp xếp các thành tố đó một cách lôgích để hình dung một cách tổng quát hiện tượng truyền thông, quá trình truyền thông là một nhiệm vụ quan trọng” Các tác giả cuốn sách đưa mô hình truyền thông

của Lasswell, Claude Shannon; mô hình truyền tin của Shannon và Wever;

mô hình truyền thông của David Berlo; mô hình truyền thông của Charles Osgood và Wilbur Schramm Và cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra

mô hình truyền thông trong cuốn sách “Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng

cơ bản”

Cũng về đề tài nghiên cứu truyền thông thay đổi hành vi, tác giả Đỗ

Thị Thu Hằng cho rằng: “Truyền thông thay đổi hành vi là chiến lược truyền thông đa cấp, hướng tới mục tiêu thay đổi hành vi và duy trì hành vi bền vững thông qua các can thiệp truyền thông với từng bước thay đổi hành vi của đối tượng”

Cuốn sách Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành

sự nghiệp đổi mới (2012) của tác giả Nguyễn Thế Kỷ đề cập nhiều nội dung,

trong đó có vai trò của báo chí, mạng xã hội, các phương tiện truyền thông qua internet trên thế giới và ở Việt Nam Cuốn sách cũng đề cập thực trạng ở nước ta hiện nay, bên cạnh thế mạnh và ưu điểm cơ bản, một số tờ báo còn thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng - văn hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ Cùng với những báo, tạp chỉ điện tử đã được cấp phép đúng luật, xuất hiện nhiều trang điện tử không phải là cơ quan báo chí, nhưng hoạt động và đăng tải thông tin như một cơ quan báo chí, vi phạm Luật Báo chí và các quy định khác… Từ thực trạng báo chí Việt Nam,

Trang 18

các tác giả của cuốn sách nêu một số giải pháp, nhiệm vụ nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với báo chí

Vẫn theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng (2013) cuốn giáo trình Tâm lý học

báo chínhà xuất bản Lý luận chính trị Quốc gia Tác giả đề cập kiến thức và

khả năng ứng dụng tâm lý học trong nghề nghiệp và cuộc sống bao gồm: bản chất của tượng tâm lý người, các xu 16 hướng của tâm lý học hiện đại; kiến thức và kỹ năng nhận biết các mặt cơ bản trong đời sống tâm lý con người; kiến thức về các giai đoạn hình thành và phát triển tâm sinh lý trong vòng đời của mỗi con người; kiến thức về tâm lý sáng tạo và tâm lý học nhân cách; hiểu về hệ thống các quy luật của quá trình nhận thức nói chung và các vấn đề

về tâm lý tiếp nhận các tác phẩm sản phẩm báo chí của công chúng; kiến thức và kỹ năng nghiên cứu công chúng báo chí từ đó hiểu được tâm lý công chúng nhằm thực hiện tốt cho việc truyền thông

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dững (2013) khi bàn về “Cơ chế tác động

của truyền thông đại chúng” trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí đã đưa ra mô hình

cơ chế tác động của truyền thông đại chúng Tác giả cho rằng, qua mô tả đối tượng tác động của truyền thông đại chúng, thông điệp qua các kênh truyền thông tác động vào dư luận xã hội, tạo ra hiệu ứng xã hội; trên cơ sở đó góp phần nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết, thay đổi thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu truyền thông và nhu cầu phát triển Những chuyển biến tích cực ấy gọi là hiệu quả truyền thông

Trong cuốn Communication research: Asking question, finding answers (Nghiên cứu truyền thông: đặt câu hỏi, tìm câu trả lời) nhà xuất bản

McGraw-Hill Higher Education, (2014), tác giả Joann Keyton tập trung giới thiệu phương pháp nghiên cứu cơ bản và phương pháp định tính, định lượng trong quá trình nghiên cứu truyền thông Qua đó, giúp sinh viên sử dụng hiệu quả các tài liệu nghiên cứu truyền thông bằng phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu và phân tích thông tin

Trang 19

Một cuốn sách khác do tác giả Nguyễn Văn Dững (2017) chủ biên là

Báo chí truyền thông - những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 3) nhà xuất bản Lao

động Cuốn sách tập hợp các bài viết nghiên cứu lý luận chung và kinh nghiệm, thực tiễn về báo chí truyền thông của những nhà nghiên cứu và nhà báo đang hoạt động báo chí ở Việt Nam và trên thế giới Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Thị Trường Giang có bài viết Phát triển báo mạng điện tử cho thiết bị di động - xu hướng tất yếu đã khái quát nhu cầu và thói quen sử dụng thiết bi di động của công chúng hiện nay Thiết bị di động hiện nay không chỉ là thiết bị liên lạc mà đang trở thành một phương tiện truyền thông phổ biến với nhiều tính năng ưu việt, đã và đang hình thành một xu hướng truyền thông, trở thành một lĩnh vực ngiên cứu quan trọng của truyền thông trên toàn cầu

2.2 Những nghiên cứu vềthông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự và quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự

Tháng 6/1949, trong Thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh nêu 6 điểm chính của báo chí cách mạng: “1 Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung; 2 Mục đích là kháng chiến và kiến quốc Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3 Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân thi đua ái quốc Vì vậy: 4 Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì: 5 Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát Và: 6 Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa” Một số vấn đề về chỉ đạo HLQS (1969), Trung tướng Vương Thừa Vũ

chỉ rõ: Làm tốt HLQS là tích cực góp phần nâng cao chất lượng bộ đội

Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ

Trang 20

dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên” Thư gửi Tập san Quân sự tháng 4 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay mù quáng Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho

nó đầy đủ, dồi dào thêm ” (Hồ Chí Minh về vấn đề quân sự, NXB ST 1975) Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về chiến tranh và quân đội (NXBQĐND

1976) đã khẳng định: Ngay cả những bộ đội được trang bị kỹ thuật rất tốt vẫn

có thể chưa được coi là mạnh được nếu huấn luyện tồi và không có trình độ SSCĐ cao, tức là không có khả năng thực hiện nhanh chóng và với nghệ thuật quân sự cao các nhiệm vụ chiến đấu được giao cho Khả năng chiến đấu của quân đội được hình thành từ sự kết hợp của trang bị kỹ thuật cao, HLQS tốt

và SSCĐ cao

Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên

Thường vụ QUTW, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng BQP: “Nâng cao trình độ, khả năng SSCĐ và chiến đấu của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng

6/2018) Trong đó chỉ rõ: HL, SSCĐ là nội dung quan trọng, quyết định tới chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội ta Bởi vậy, tiếp tục nâng cao chất lượng HL, SSCĐ là nhiệm vụ thường xuyên, xuyên suốt của toàn quân

Thượng tướng Phạm Hồng Hương, Phó tổng Tham mưu trưởng

QĐND Việt Nam trong bài Toàn quân tiếp tục nâng cao chất lượng HLSSCĐ (Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 4/2018) tháng chỉ rõ:

HLSSCĐ là nội dung quan trọng, quyết định tới chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta Bởi vậy, tiếp tục nâng cao chất lượng HLQS là nhiệm vụ thường xuyên, xuyên suốt của toàn quân Đồng thời khẳng định phải giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan

Trang 21

trọng của nhiệm vụ HLQS đối với việc nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, khả năng SSCĐ chiến đấu của từng đơn vị và toàn quân

Đại tá, TS Nguyễn Thanh Tình, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn

2, Công tác tư tưởng trong HL, SSCĐ ở Quân đoàn 2, báo cáo tóm tắt kết quả thực tiễn và kinh nghiệm (Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 6/2018)

Bài báo chỉ ra thực trạng trong công tác tư tưởng trong HL,SSCĐ và chỉ ra giải pháp trong công tác huấn luyện, trong đó có yêu cầu đẩy mạnh truyền thông về HL, SSCĐ

Ngoài ra có một số luận văn thạc sĩ khác liên quan đến lĩnh vực này

như: Nguyễn Thị Tâm Bắc với Tuyên truyền nhiệm vụ quốc phòng toàn dân trên hệ thống báo chí quân đội trong giai đoạn hiện nay (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2004); Nguyễn Trần Thuỳ Vinh vớiBáo chí quân đội với vấn

đề giáo dục chiến sĩ trẻ hiện nay (Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

2014);.v.v

2.3 Những nghiên cứu vềtruyền thông trên Báo Quân đội nhân dân

và quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân

Trong bài “Báo QĐND vũ khí sắc bén của Đảng trên mặt trận tư

tưởng-văn hóa” đăng trong cuốn sách Xây dựng QĐND Việt Nam về chính trị (2004), Thượng tướng Lê Văn Dũng khẳng định: “ Báo QĐND đã tuyên truyền có hiệu quả đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, nhất

là trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh; đi sâu phổ biến, giáo dục tư tưởng quân

sự, đường lối quân sự- quốc phòng của Đảng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, LLVT nhân dân, xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, nâng cao trình độ SSCĐ, Báo đã tuyên truyền mạnh mẽ việc thực hiện những nhiệm vụ phát triển mới của quân đội ” Đồng thời chỉ rõ: Báo QĐND phấn đấu đúng và

hay, không ngừng nâng cao tính hấp dẫn về nội dung và hình thức

Trang 22

Tác giả Nguyễn Huy Ngọc (2013) trong luận văn “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí trong QĐND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

nghiên cứu về những vấn đề lý luận liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí quân đội Luận văn đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí quân đội, xác định rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm Từ

đó, đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí quân đội trong giai đoạn hiện nay: Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên đối với việc lãnh đạo, quản lý báo chí quân đội trong đó có Báo QĐND; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí quân đội; nâng cao năng lực và phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với Báo QĐND; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với Báo QĐND và cơ quan chủ quản Báo QĐND

Trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý báo chí truyền thông

“Vấn đề quản lý hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trên Báo QĐND”tác giả Hoàng

Liên Việt cũng đãkhảo sát thực trạng công tác tuyên truyền về Bộ đội cụ Hồ

trên các chuyên mục “Điển hình làm theo lời Bác”, “Theo dấu chân chiến sĩ”,

“Câu chuyện kỷ luật năm 2016-2017” của Báo QĐND, từ đó đưa ra một số

giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về gìn

giữ, phát huy hình ảnh “Bộ đội cụ Hồ” trên các chuyên mục này trong giai

đoạn hiện nay

Ngoài ra, có một số luận văn thạc sĩ khác liên quan đến đề tài như:

Hoàng Thị Bắc có Báo QĐND với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2014);Nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên báo chí quân đội trong giai đoạn hiện nay của Đại tá Nguyễn Văn

Định (Học viện chính trị, năm 2005),…

2.4 Nhận định về các công trình nghiên cứu trên và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 23

Các công trình, tài liệu trên đều có liên quan một phần, hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp đến công tác quản lý báo chí và truyền thông, quản lý thông điệp truyền thông về HLQS, nhưng không có công trình nào trùng lặp đến vấn

đề tác giả nghiên cứu: “Quản lýthông điệp truyền thông vềhuấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân”

Việc quản lý thông điệp truyền thông về HLQS là nội dung quan trọng, cần thiết trên Báo QĐND, nghiên cứu này còn là cơ sở quản lý hiệu quả truyền thông trên các lĩnh vực khác của Báo QĐND trong thời gian tới

Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên Báo Quân đội nhân dân” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý báo chí và truyền thông (mã số 8 32 01 01)

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên báo chí,trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tăng cường quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên báo chí

- Làm rõ thực trạng quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên trang QP-ANBáo QĐND trong năm 2018

- Khái quát những vấn đề đặt ra và đề xuất, luận giải cơ sở khoa học của các giải pháp tăng cường quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND trong những năm tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND

Trang 24

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nội dung thông điệp truyền thông về HLQS có nhiều cách tiếp cận Luận văn tiếp cận vấn đề này theo quá trình sản xuất thiết kế thông điệp truyền thông, đồng thời quá trình đó được phân tích, đánh giá các yêu cầu và nguyên tắc của truyền thông về HLQS trên báo chí

- Về thời gian: Thực trạng được nghiên cứutại Báo QĐND, trang QP-AN trong năm 2018 (từ 01/01/2018 đến 31/12/2018) Các giải pháp đề xuất có giá trị

Luận văn còn thừa kế kết quả của các công trình khoa học nghiên cứu

về truyền thông, truyền thông về HLQS, truyền thông về HLQS trên báo chí cũng như các công trình nghiên cứu xã hội học truyền thông

5.2.Phương pháp nghiên cứu

Đây là một luận văn thuộc chuyên ngành Quản lý Báo chí - Truyền thông nên luận văn sử dụng các phương pháp luận chung của chuyên ngành, với toàn bộ cơ sở lý thuyết của chuyên ngành đã kế thừa và đang được thừa nhận Đồng thời có sử dụng một số phương pháp của chuyên ngành xã hội học và sử dụng các thuật ngữ của báo chí học hoặckhoa học pháp lý, khoa học quân sự

Luận văn được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh; phương pháp phân tích nội dung văn bản; phương pháp nghiên cứu mẫu; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu

5.2.1 Phương pháp luận

Trang 25

Luận văn sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí Được sử dụng xuyên suốt trong luận văn

5.2.2 Phương pháp phân tích nội dung văn bản

Phương pháp phân tích nội dung là một phương pháp nhằm lượng hóa nội dung một cách có hệ thống, có thể nhân rộng dựa trên các tiêu chuẩn đã được xác định Phân tích nội dung được đề cập ở luận văn là phân tích nội dung định lượng (phân tích thông tin trên cơ sở các số liệu thông điệp/tin, bài tuyên truyền về HLQS trên Báo QĐND)

Về mẫu nghiên cứu: Bao gồm các tin, bài, ảnh về HLQSđược lựa chọn

để phân tích hình thức đăng tải, chuyên mục, nguồn, thời gian đăng tải Thông tin này giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể về mẫu nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê được sử dụng trong luận văn với mục đích thống

kê số lượng tác phẩm tin, bài đã được sự dụng trong thời gian khảo sát ngoài

ra còn được sử dụng trong việc thống kê CB, CS trong Báo QĐND từ đó có thể chỉ ra được một số khía cạnh trong quá trình làm luận văn

5.2.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Với sự tư vấn, hỗ trợ của môn Xã hội học báo chí, tác giả luận văn sử dụng phương pháp điều tra bằng hỏi/phiếu phỏng vấn thông tin, nhằm đưa ra những chỉ số đánh giá về mức độ tiếp cận thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND của CB, CSQĐND Việt Nam và các chỉ số về mức độ tác động đến nhận thức; mức độ tác động và thay đổi thái độ, hành vi của QĐND Việt Nam sau khi đọc thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND Sau khi xác định được các tiêu chí chọn mẫu nêu trên, tác giả tiến hành phát 480 phiếu trắc nghiệm/phỏng vấn, trong đó thông tin đối với học viên tại Trường Sĩ quan Lục quân 2(miền Nam)100 phiếu, Quân đoàn 3 (Tây Nguyên)100 phiếu; Quân chủng PK-KQ (miền Bắc)100 phiếu; Quân khu 4

Trang 26

(miền Trung) 100 phiếu; 80 phiếu cho các nhà báo trong Báo QĐND trực tiếp, gián tiếp thực hiện truyền thông về HLQS

5.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

Cùng với các phương pháp nêu trên, tác giả còn chú trọng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, với thành phần được phỏng vấn là các nhà báo, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chíquân đội, cán

bộ lãnh đạo, quản lý HLQS Tập trung vào việc thực hiện quy trình truyền thông, quản lýthông điệp truyền thông và quản lý truyền thông về HLQS

6 Đóng góp mới của đề tài

- Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận quản lý truyền thông về HLQS trên báo chí Trong đó, tập trung phân tích quy trình quản lý truyền thông trên lĩnh vực HLQS;thực trạng tiếp cận thông điệp truyền thông

về HLQS trên Báo QĐND của CB, CSQĐND Việt Nam

- Khảo sát, trắc nghiệm và phân tích về mức độ tác động đến nhận thức; mức độ tác động và thay đổi thái độ, hành vi của CB, CSQĐND Việt Namvới

tư cách là đối tượng truyền thông

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thông điệp truyền thông

về HLQS trên Báo QĐND Việt Nam và đề xuất, kiến nghị cũng như phân tích, lý giải cơ sở khoa học củacác giải pháp tăng cường quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 27

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho cá nhân, tổ chức quan tâm, trong đó có các nhà quản lý cơ quan báo chí quân đội và trực tiếp làBáo QĐND, cơ quan chủ quản báo chí, các nhà báo chuyên viết về đề tài HLQS

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu 3 chương, 9 tiết

Trang 28

Chương 1 QUẢN LÝTHÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ TRÊN BÁO CHÍ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm quản lý và quản lý truyền thông

1.1.1 Quản lý

- Một số quan niệm về quản lý

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Cho đến nay, về cơ bản mọi người đều cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn

Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm

một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[10, tr 480]

Theo Từ điển tiếng Việt giải nghĩa “quản lý” là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Quản lý hồ sơ Quản lý vật tư Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định Quản lý lao động, người quản lý” [60, tr 1013]

Tác giả Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa trong cuốn Quản trị kinh doanh đã

nêu quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường[68]

Trang 29

Harold Koontz tác giả cuốn sách Những vấn đề cốt lõi của quản lý khi đề cập đến bản chất của quản lý, ông viết: “Mọi nhà quản lý ở mọi cấp

độ đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong

đó các cá nhân, làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thànhnhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.[33]

Các định nghĩa trên đều cho thấy các nội dung sau:

1 Trong quản lý tồn tại hai thành tố chủ yếu là: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Chủ thể quản lý là nhân tố quyết định hoạt động quản

lý, là người thực hiện các tác động đến đối tượng quản lý Chủ thể quản lý

có thể là một cá nhân cũng có thể là một nhóm người (tập thể, êkíp lãnh đạo, quản lý)

2 Đối tượng quản lý có thể là:

-Tự nhiên vô sinh:Nhà xưởng, ruộng đất, máy móc thiết bị, sản phẩm… -Tự nhiên hữu sinh: Vật nuôi, cây trồng…

-Con người: Gia đình, tổ chức, đơn vị, tập thể…

3 Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu, mục đích thống nhất cho cả chủ thể và đối tượng quản lý

4 Quản lý bao giờ cũng liên quan đến trao đổi thông tin

5 Quản lý có khả năng thích nghi với sự thay đổi của đối tượng quản

lý, của môi trường, chủ thể quản lý cần quản lý có hiệu quả qua việc điều chỉnh, đổi mới phương pháp, cơ cấu hoạt động của bản thân

Từ những quan niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý như

sau:Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo bằng quyền lực của một cá nhân hay

tổ chức được giao quyền nhằm định hướng hành động thống nhất của cá nhân khác hay tập thể để đạt được mục tiêu đã đề ra

1.1.2 Truyền thông và thông điệp truyền thông

- Truyền thông

Trang 30

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông Vào năm

1970 Frank Dance đã thống kê được 15 định nghĩa về truyền thông từ nhiều góc độ khác nhau của các tác giả trên thế giới [33, tr 7-8]

Gần đây, các tác giả của cuốn giáo trình Cơ sở lý luận báo chí của tác

giả Nguyễn Văn Dững có nêu một số quan niệm khác về truyền thông như: (1) Truyền thông là quá trình truyền thông tin có nghĩa giữa các cá nhân với nhau; (2) Là quá trình trong đó một cá nhân (người truyền tin) truyền những thông điệp với tư cách là những tác nhân kích thích (thường là những ký hiệu ngôn ngữ) để sửa đổi hành vi của những cá nhân khác (người nhận tin); (3) Truyền thông xảy ra khi thông tin được truyền từ nơi này đến nơi khác; (4) Truyền thông không đơn thuần là sự chuyển tải các thông điệp bằng ngôn ngữ xác định

và có ý định trước mà nó bao gồm tất cả các quá trình trong đó con người gây ảnh hưởng, tác động đến người khác; (5) Truyền thông xảy ra khi người A truyền thông điệp B qua kênh C đến người D với hiệu quả E Mỗi chữ cái ở vài phạm vi là chưa được biết, và quá trình truyền thông có thể được giải thích với bất cứ chữ cái nào trong số này hay bất cứ một sự kết hợp nào; (6) Truyền thông (communication) là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau v.v [18]

Như vậy, tổng hợp sự phân tích, khái quát trên tác giả luận văn nêu khái

niệm truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình giao tiếp, tương tác, chia

sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người Truyền thông bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản như: Nguồn phát, thông điệp, kênh, người tiếp nhận, hiệu quả

- Một số quan niệm về thông điệp

Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, “Thông điệp là những nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận”[67,tr.8] Tác giả Lương

Khắc Hiếu cho rằng “Thông điệp là những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, ý

Trang 31

kiến, tình cảm được trao đổi, chia sẻ từ nguồn phát đến đối tượng”[33, tr.20]; Trong cuốn sách Truyền thông - Lý thuyết và những kỹ năng cơ bản, tác giả

Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng định nghĩa “Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào

đó Hệ thống này được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã”[16, tr.15].Thông điệp là một hệ thống

ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác, hệ thống ký hiệu ấy phải được giải

mã bởi đầu nhận Hệ thống ký hiệu ấy có thể là lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, mầu sắc, cử chỉ, thái độ… [16, tr.209] Như vậy, hầu hết các tác giả đều thống nhất: Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể được trao đổi từ nguồn phát và đầu nhận, nói cách khác được cả hai bên phát và bên nhận cùng cấp nhận, đều hiểu được và

có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã Tính chất đặc thù của thông điệp báo chí đó là nó được cấu thành từ các sự kiện và vấn đề thời sự và đang diễn ra Có thông điệp, tài liệu thông điệp bộ phận và thông điệp chung, thông điệp đích, thông điệp ẩn và thông điệp trực tiếp, thông điệp sự kiện và thông điệp

- Thông điệp truyền thông

Từ khái niệm về thông điệp và truyền thông tác giả luận văn đưa ra

khái niệm thông điệp truyền thông như sau: Thông điệp truyền thông là nội dung thông tin mà người thực hiện chiến lược truyền thông muốn truyền tải đến công chúng có mục đích nhất định Thông điệp truyền thông phải rõ ràng, một nghĩa, phải quan tâm tới việc kích thích lợi ích Nội dung thông

Trang 32

điệp truyền thông là tất cả những gì xuất hiện trên một phương tiện truyền thông đại chúng, từ các bài báo, tin tức hay hình ảnh in ấn trên báo chí cho tới hình ảnh, âm thanh được phát sóng trên truyền hình hay phát thanh

Trong luận văn, nội dung thông điệp truyền thông được phân tích là tất

cả những gì xuất hiện trong bài viết trên trang QP - AN báo QĐND được đăng tải trong thời gian khảo sát

1.1.3 Quản lý thông điệp truyền thông

- Khái niệm quản lý thông điệp truyền thông

Theo tác giả Đỗ QuýDoãn trong cuốn Một số xu hướng mới của báo chí

truyền thông hiện đại.Tác giả đề cập “Quản lý thông điệp truyền thông là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh một số bộ phận công chúng nhận thức về một vấn đề cụ thể nào đó trong một sự kiện, hiện tượng.” [13, tr.31]

Theo tác giả Phạm Ngọc Anh “Quản lý thông điệp truyền thông phải đảm bảo để thông điệp phản ánh một cách chân thật khách quan, phong phú

đa chiều những sự việc, những vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp, sự vật, sự việc; Quản lý thông điệp phải đảm bảo phải thể hiện rõ quan điểm tư tưởng của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá các sự kiện, vấn đề một cách cụ thể ở những sự kiện, vấn đề phức tạp, có những đánh giá khác nhau; Quản lý thông điệp còn phải đảm bảo phù hợp với tôn chỉ mục đích và đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng”[1, tr 26]

Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu đi trước tác giả luận

văn đưa ra khái niệm về quản lý thông điệp truyền thông như sau: “Quản lý thông điệp truyền thông là sự tác động của chủ thể truyền thông đến việc thiết

kế, xây dựng, phổ biến, truyền tải, đánh giá tác động của thông điệp truyền thông đến đối tượng nhằm đạt mục tiêu truyền thông đặt ra”

- Yêu cầu quản lý thông điệp truyền thông hiệu quả

Trang 33

Muốn cho hoạt động quản lý thông điệp truyền thông đạt hiệu quả cao, cần phải thực hiện đầy đủ, chặt chẽquy trình sản xuất thông điệp, từ việc xây dựng kế hoạch truyền thông, sáng tạo tác phẩm, tổ chức biên tập xuất bản, kiểm tra, giám sát, đánh giá, tiếp nhận thông tin phản hồi khi thông điệp đến với công chúng

Bên cạnh đó quản lý thông điệp truyền thông hiệu quả phải chú ý đến những yêu cầu cơ bản cốt lõi của thông điệp truyền thông đó là: (1) Thu hútsự chú ý; (2) Rõ ràng, dễ hiểu; (3) Tác động vào tình cảm và lý trí; (4) Nêu rõ lợi ích; (5) Nội dung nhất quán; (6) Củng cố niềm tin; (7) Kêu gọi hành động Quản lý thông điệp truyền thông đóng vai trò quan trọng với cả chủ thể quản lý và khách thể quản lý

Đối với chủ thể quản lý:Thông điệp truyền thông đóng vai trò là công

cụ, là phương thức để chủ thể quản lý định hướng, tổ chức thực hiện, xác định mục tiêu, cách thức, chiến lược truyền thông, tổ chức phối hợp các nguồn lực (như đội ngũ nhà báo, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, phản hồi công chúng)

để tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp chủ thể quản lý đạt được những mục tiêu

đã đề ra trong thông điệp truyền thông Hoạt động quản lý giúp cho chủ thể quản lý nắm bắt được hoạt động truyền thông liên quan đến các hoạt động, trên cơ sở đó nhận thức vấn đề, xác định được cơ hội cũng như thách thách đối với tổ chức; từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn liên quan đến việc xây dựng kế hoạch, bố trí phân công nhân lực, vật lực và tài lực; lực chọn phương thức tổ chức thực hiện phù hợp, hiệu quả đồng thời kiểm tra, đánh giá, tổng kết và điều chỉnh các quyết định quản lý Quản lý cũng là phương thức đảm bảo chủ thể quản lý và khách thể quản lý hoạt động trọng phạm vị quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên

Khách thể quản lý:Thông điệp truyền thông là toàn bộ các yếu tố tham

gia vào hoạt động sản xuất thông điệp truyền thông bao gồm từ Tổng biên tập, Ban biên tập, PV, biên tập viên; sản phẩm báo chí với các yếu tố nội dung và

Trang 34

hình thức thông điệp truyền thông; quy chế hoạt động, hình thức thông tin, đối tượng phục vụ công chúng

Hoạt động quản lý thông điệp truyền thông đóng vai trò vai trò định hướng, duy trì, thúc đẩy và điều chỉnh thông điệp truyền thông Thông qua chức năng lập kế hoạch sẽ xác định mục tiêu hoạt động cũng như nội dung và phương thức xây dựng và truyền tải thông điệp truyền thông và hướng mọi hoạt động của cá nhân, bộ phận trong tòa soạn đến việc thực hiện nội dung và phương thức đó nhằm đạt được mục tiêu thông tin truyền thông đề ra, phù hợp với nhu cầu và lợi ích của công chúng, của xã hội Thông qua hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) để có thể bắt buộc các nhà lãnh đạo, quản lý báo chí và bản thân các tòa soạn, các cá nhân, bộ phận liên quan tự giác nghiêm chỉnh chấp hành những nhiệm vụ hoạt động trong giới hạn quyền lực và nhiệm vụ của họ, góp phần tạo nên kỷ cương và tính bên vững của một tòa soạn

Đối với thông điệp truyền thông: Việc quản lý sẽ định hướng nội dung

và hình thức của thông điệp Nội dung thuộc chủ đề, đề tài nào, nội dung có đảm bảo thực hiện hiệu quả các chức năng cơ bản của báo chí không; hình thức thể hiện như thế nào để phát huy những ưu thế, thuận lợi; tần suất xuất hiện, vị trí của thông điệp góp phần làm tăng khả năng công chúng tiếp cận thông điệp, từ đó thông điệp sẽ có cơ hội tác động vào nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng, góp phần đạt được mục tiêu của quá trình thông tin báo chí

Đối với nhà báo: Quản lý thông điệp truyền thông sẽ giúp nhà báo định hướng được nội dung, chủ đề, đề tài cần thực hiện, cũng như nội dung thông điệp xây dựng sao cho đảm bảo các nguyên tắc hoạt động, đảm bảo không vi phạm tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí Quản lý cũng giúp cho nhà báo có điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi nhất, phát huy sự sáng tạo cũng như tạo động lực cho sự cống hiến của nhà báo Đồng thời ngăn chặn việc nhà báo đi

Trang 35

lệch hướng, vi phạm đạo đức nhà báo, vi phạm quy định pháp luật, sa đà việc chạy theo những thông tin giật gân, câu khách để thu hút sự chú ý của công chúng

Đối với cơ quan báo chí: Việc quản lý chặt chẽ thông điệp truyền thông đăng trong mỗi tác phẩm, sản phẩm báo chí sẽ góp phần hạn chế thông tin sai

sự thật, tiêu cực, phản cảm và cung cấp thông tin tích cực có lợi cho cộng đồng, hỗ trợ việc thực thi nhiệm vụ được giao phó

Đối với công chúng báo chí: Công chúng là đối tượng tiếp nhận và tác động, gây ảnh hưởng chính yếu của thông điệp Thông điệp được ví như chiếc cầu kết nối công chúng với nhà báo và cơ quan báo chí Công chúng đóng vai trò là người đánh giá hiệu lực và hiệu quả của thông điệp, quyết định sức mạnh xã hội của thông điệp Việc quản lý thông điệp truyền thông đối với công chúng là đảm bảo công chúng được tiếp cận với những thông tin khách quan, có chọn lọc, có mục đích Thông điệp sẽ phản ánh đúng điều công chúng cần, xuất phát từ chính nhu cầu, mong đợi và lợi ích của công chúng, rộng hơn là của xã hội, không được áp đặt chủ quan hoặc duy ý chí, giúp công chúng nhìn nhận đúng đắn về sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn và thái độ tôn trọng, hợp tác

1.2 Quan niện về huấn luyện quân sự và quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên báo chí

1.2.1 Huấn luyện, huấn luyện quân sự

- Nhận thức chung huấn luyện quân sự

Huấn luyện quân sự là việc truyền thụ tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng,

kỹ xảo về quân sự cho CB, CS nhằm nâng cao bản lĩnh chiến đấu của bộ đội Làm tốt HLQS là tích cực góp phần nâng cao chất lượng bộ đội, là thể hiện cụ thể và trực tiếp trách nhiệm chính trị của CB, CS trước nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình cũng như thời chiến HLQS nhằm nâng cao hơn nữa bản

Trang 36

lĩnh chiến đấu, thực sự làm cho Quân đội ta trở thành một Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

- Nhận thức HLQS với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, tập trung theo nội dung, hình thức và đối tượng huấn luyện, cụ thể:

+ Theo nội dung bao gồm: Huấn luyện chiến thuật, huấn luyện kỹ

thuật, huấn luyện điều lệnh, huấn luyện chuyên ngành, binh chủng

Trong những năm tháng chiến tranh trước đây, nhiệm vụ chiến đấu như thế nào thì huấn luyện thế ấy có nghĩa là từng đơn vị phải xuất phát từ nhiệm

vụ chiến đấu cụ thể trước mắt, đối tượng tác chiến, khu vực dự kiến tác chiến,

ý định chiến thuật, chiến dịch và phải căn cứ vào tình hình thực tế của bộ đội và thời gián huấn luyện của đơn vị để xác định yêu cầu huấn luyện và vấn đề huấn luyện, thực hiện đúng tinh thần “ngày mai” đánh như thế nào thì hôm nay huấn luyện như thế, cần gì học nấy, yếu cái gì học cái ấy; luôn luôn huấn luyện có trọng tâm, trọng điểm, cái chiến đấu cần thì khó khăn đến đâu cũng huấn luyện cho kỳ được, cái không cần hay chưa cần thì kiên quyết không học hay chưa học, bảo đảm mọi vấn đề huấn luyện đều phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu trước mắt đểhuấn luyện, chiến đấu, đánh xong lại huấn luyện theo nhiệm vụ chiến đấu mới, rồi lại đánh, lại huấn luyện theo nhiệm vụ chiến đấu mới khác, bước huấn luyện luyện xong rồi chiến đấu trước đặt cơ sở cho bước huấn luyện sau, yêu cầu huấn luyện của bước sau cao hơn bước trước, qua đó

mà không ngừng nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội, phù hợp với yêu cầu phát triển của nhiệm vụ chiến đấu

Sau ngày đất nước thống nhất, chiến tranh bảo vệ biên giới kết thúc, đặc biệt sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nội dung HLQS đã thay đổi cơ bản và ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi cao do yêu cầu nhiệm vụ bảo

vệ Tổ quốc trong tình hình mới ngày càng đòi hỏi cao với đối trọng, đối tác đan

Trang 37

xen nội dung huấn luyện có sự đổi mới, thay đổi với từng nội dunghuấn luyện chiến thuật, kỹ thuật, điều lệnh, chuyên ngành, binh chủng

Trong HLQS để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, ngoài việc nắm vững nội dung huấn luyện còn phải nắm vững phương trâm, nguyên tắc,

tổ chức và phương pháp huấn luyện.Việc nắm vững nội dung về HLQS giúp các cơ quan, đơn vị quân, binh chủng trong quân đội có tổ chức huấn luyện đạt kết quả cao từ đó nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật của bộ đội, khả năng SSCĐ của đơn vị

+ Theo hình thức: Huấn luyện lý thuyết và huấn luyện thực hành

Huấn luyện lý thuyết và huấn luyện thực hànhlà hai hình thức cơ bản được tiến hành đan xen, đồng thời trong quá trình huấn luyện bộ đội nhằm bồi dưỡng cho CB, CS có nhận thức đúng đắn, tri thức khoa học, kỹ năng thực hành với các nội dung HLQS HLQS về hình thức lý thuyết và huấn luyện thực hành trong thời chiến là chiến đấu và kinh nghiệm chiến đấu trong thực tiễn chiến tranh HLQS trong thời bình có nội dung theo một phương hướng đúng đắn, phương pháp thích hợp, có chỉ đạo chặt chẽ để bảo đảm nâng caotoàn diện khả năng chiến đấu của bộ đội.Trong khi thực hiện nguyên tắc huấn luyện trên, cần xoay quanh giải quyết các khâu chủ yếu sau đây:

Một là, cần hết sức coi trọng việc nâng cao trình độ quán triệt và vận

dụng một cách sáng tạo các tư tưởng chỉ đạo tác chiến cho CB, CS Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là kim chỉ nam cho mọi hoạt động chiến đấu Nó là cơ sở để xây dựng sự nhất trí về cách đánh trong từng đơn vị, là cơ sở cho mọi hành động sáng tạo của CB, CS trong chiến đấu, cho nên cần coi đây là một vấn đề quan trọng hàng đầu trong HLQS Đối với tư tưởng chỉ đạo tác chiến thì không thể chỉ xem quán triệt đến một trình độ nào là đủ, mà phải thường xuyên thông qua thực tiễn chiến đấu, giáo dục đi lại liên tục cho CB, CS ngày càng quán triệt và vận dụng nhuần nhuyễn Học tập và vận dụng tư tưởng chỉ đạo tác chiến phải hoàn chỉnh, nhưng trước hết cần làm cho bộ đội trong mọi

Trang 38

hành động chiến đấu luôn luôn quán triệt tư tưởng tích cực tiêu diệt lực lượng địch, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh càng mạnh; nắm vững tư tưởng tiến công, tiến công kiên quyết, liên tục và toàn diện, phòng ngự tích cực, kiên cường, vững chắc, phát huy ưu thế chính trị tinh thần.Chiến đấu anh dũng để chiến đấu và SSCĐ thắng lợi trong mọi tình huống

Hai là, tiếp tục nâng cao trình độ kỹ thuật tinh thông toàn diện Phải làm

cho mọi CB, CS nắm chắc kiến thức, kỹ năng cơ bản và biết vận dụng một cách mưu trí, linh hoạt các kỹ thuật vào thực tiễn chiến đấu, SSCĐ bảo đảm kỹ thuật, phục vụ tốt cho các cách đánh của ta trong mọi điều kiện phức tạp

Ba là, tích cực nâng cao trình độ chiến thuật, coi chiến thuật là khoa mục

trung tâm của HLQS Phải từng bước tiến tới làm cho bộ đội trở nên điêu luyện trong mọi hình thức chiến thuật: đánh vận động và đánh địch trong công sự vững chắc đều giỏi, tiến công và chốt giữ đều giỏi, đánh độc lập và đánh hợp đồng đều giỏi, có khả năng liên tục chiến đấu dài ngày, biết phối kết hợp giữa các lực lượng với nhau Tư tưởng chính trị, nề nếp, tác phong, binh pháp cũng

là một trong những vấn đề quan trọng trong HLQS nhằm phát huy được toàn

bộ sức mạnh của cấp mình để đánh thắng địch Tiêu chuẩn để đánh giá kết quả HLQS là kết quả tiêu diệt địch, làm chủ chiến trường, thu vũ khí, bắt tù binh

mà ta tổn thất ít nhất, SSCĐ và chiến thắng trong mọi tình huống

Bốn là, tiếp tục rèn luyện và bồi dưỡng thể lực cho bộ đội đủ sức chịu

đựng bền bỉ, dẻo dai với mọi thử thách trong thời bình cũng như trong điều kiện cần chiến đấu, tác chiến khẩn trương, gian khổ, liên tục, ác liệt và có khả năng hành quân xa, mang vác nặng, cơ động giỏi ở bất cứ địa hình, thời tiết

và điều kiện chiến đấu phức tạp nào

Năm là, không ngừng mở rộng dân chủ và đề cao kỷ luật làm cho đơn

vị có dân chủ tốt, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bảo đảm phát huy sức mạnh

to lớn của đơn vị trong huấn luyện cũng như trong chiến đấu…

Trang 39

+Theo đối tượng: Huấn luyện CB, CS, bộ đội chủ lực, bộ đội địa

phương,dân quân tự vệ

Một quân đội cách mạng chính quy và hiện đại muốn có sức mạnh chiến đấu cao, thì từ người chỉ huy đến chiến sĩ các đơn vị đều phải thống nhất về quan điểm, tư tưởng, nội dung huấn luyện, sinh hoạt và công tác.Ngày nay, chúng ta có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh việc huấn luyện, xây dựng quân đội theo hướng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, khả năng tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng, quân chủng với quy mô lớn Việc huấn luyện được quan tâm toàn diện với các đối tượng: CB, CS, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương,dân quân tự vệ Trong đó, huấn luyện cán bộ là quan trọng nhất Bởi cán bộ chính là lực lượng nòng cốt trong quản lý, chỉ huy, đồng thời cũng chính là người thầy trực tiếp huấn luyện bộ đội ở đơn vị

và chỉ huy chiến đấu khi có tình huống tác chiến xảy ra

Huấn luyện cán bộ là huấn luyện cho đội ngũ chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên có khả năng chiến đấu cao, luôn sẵn sàng chỉ huy chiến đấu, ý chí chiến đấu, tình trạng tinh thần - chính trị cao, tất cả những điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố phẩm chất cá nhân của lãnh đạo, chỉ huy và cá nhân từng cán

bộ, phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ từng đơn vị

Trong mọi thời đại và trong tất cả các quân đội, người cán bộ chỉ huy là nòng cốt tổ chức của quân đội Vì vậy, trong huấn luyện cán bộ ngoài các kiến thức chuyên môn, tác phong, phương pháp công tác, nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy, phải nắm chắc nội dung, phương pháp huấn luyện và sửa tập cho bộ đội, bảo đảm chất lượng huấn luyện của đơn vị

Quan trọng hơn nữa trong quá trình huấn luyện cán bộ chỉ huy, người chỉ huy ở bất kỳ cấp nào không những phải là người chấp hành đúng đắn, nghiêm chỉnh ý chí của cấp trên mà còn phải là người lãnh đạo và giáo dục khéo léo và sáng tạo cấp dưới của mình Họ phải động viên cổ vũ cấp dưới

Trang 40

mình lập chiến công, thành tích bằng quyết tâm vượt nắng, thắng mưa, học tập, rèn luyện đạt kết quả cao

Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu đã xác định luận văn tập trung nghiên cứu HLQS theo nội dung từ đó làm rõ thông điệp truyền thông về HLQS cũng như đề xuất giải pháp đồng bộ, cụ thể, thiết thực để quản lý thông điệp truyền thông về HLQS có hiệu quả trong thực tiễn

1.2.2 Quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện quân sự trên báo chí

1.2.2.1 Quan niệm về quản lý thông điệp truyền thông huấn luyện quân

sự trên báo chí

- Báo chí

Theo Wikipedia: “Báo”, hay gọi đầy đủ là báo chí xuất phát từ 2 từ

“báo”-thông báo, và “chí”-ghi lại Hiểu một cách khái quát là những xuất bản định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật mà xã hội cần quan tâm

Điều 3 Luật Báo chí 2016: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng qua các loại hình báo in, báo nói, báo viết hay báo điện tử

Mở rộng ra, khái niệm báo chí cũng được sử dụng cho các phương pháp tìm kiếm tin tức, lối viết văn trên báo chú và các hoạt động ( có thể là chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp) của báo chí Quan niệm trên đây về báo chí là một trong những cơ sở để xây dựng khái niệm quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên báo chí

- Khái niệm quản lý thông điệp truyền thông về về HLQS trên báo chí Quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên báo chí là sự tác động của chủ thể truyền thông đến việc thiết kế, xây dựng, phổ biến, truyền tải, đánh giá tác động của thông điệp truyền thông về HLQS được đăng tải, phổ biến trên báo chí Nó bao gồm việc lập kế hoạch quản lý thông điệp truyền thông về

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương-Hội Nhà báo Việt Nam (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, NxB CTQG, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng
Tác giả: Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương-Hội Nhà báo Việt Nam
Năm: 2004
5. Báo QĐND (2000), Lịch sử Báo QĐND (1950-2000),NxB QĐND, Hà Nội, 2000, tr. 462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Báo QĐND (1950-2000)
Tác giả: Báo QĐND
Năm: 2000
6. Bộ Chính trị (1997), Về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo quản lý công tác Báo chí, Truyền thông trong thời kỳ mới, Chỉ thị số 22- CT/TW ngày 17/10/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo quản lý công tác Báo chí, Truyền thông trong thời kỳ mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1997
7. Bộ Quốc phòng (2004), Thông tư hướng dẫn chi trả chế độ nhuận bút, trích lập và sử dụng quỹ nhuận bút trong các cơ quan Báo QĐND, Số:121/2004/TT-BQP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn chi trả chế độ nhuận bút, trích lập và sử dụng quỹ nhuận bút trong các cơ quan Báo QĐND
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2004
8. Bộ Tổng tham mưu (1996), Quy định về biểu tổ chức biên chế hệ thống báo chí chuyên ngành QĐND Việt Nam, Số 896/QĐ-TM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về biểu tổ chức biên chế hệ thống báo chí chuyên ngành QĐND Việt Nam
Tác giả: Bộ Tổng tham mưu
Năm: 1996
9. Hoàng Đình Cúc - Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nhà xuất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc - Đức Dũng
Năm: 2007
10. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.480 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Chính phủ (2002), Nghị định về chế độ nhuận bút, Số: 61/2002/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về chế độ nhuận bút
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
12. Chủ nghĩa Mác - Lê nin bàn về chiến tranh và quân đội (1976) Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác - Lê nin bàn về chiến tranh và quân đội (1976)
Nhà XB: Nhà xuất bản QĐND
13. Đỗ Quý Doãn (2014), Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quý Doãn
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
14. Lê Văn Dũng (2004), Xây dựng QĐND Việt Nam về chính trị, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng QĐND Việt Nam về chính trị
Tác giả: Lê Văn Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản QĐND
Năm: 2004
15. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
16. Nguyễn Văn Dững (2017), Lý thuyết truyền thông, Đề tài cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: ý thuyết truyền thông
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2017
17. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2012), Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản CTQG
Năm: 2012
18. Nguyễn Văn Dững, (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2012
19. Văn Tiến Dũng (1979), Chiến tranh nhân dân địa phương trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh nhân dân địa phương trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Tác giả: Văn Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản QĐND
Năm: 1979
20. Phạm Văn Đồng (1991), Trách nhiệm cao cả của người làm báo, Bài nói chuyện với PV báo chí tại báo Nhân dân ngày 05/3/1001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm cao cả của người làm báo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w