HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN THỊ MAI HƯƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH Khả
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
(Khảo sát từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
(Khảo sát từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.Trương Thị Kiên
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn cao học
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Trương Thị Kiên Tài liệu và số liệu trích dẫn trong đề tài là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy Kết quả nêu trong luận văn không trùng lặp với những công trình đã được nghiên cứu trước đây
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Mai Hương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS,TS Trương Thị Kiên- Phó Trưởng Khoa Báo chí- Học viện Báo chí và Tuyên truyền, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Trong quá trình làm việc, tôi rất may mắn học hỏi được phong cách làm việc khoa học, nghiêm túc, sự nghiên cứu cẩn thận và tỉ mỉ của PGS,TS Trương Thị Kiên
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, lãnh đạo các phòng, đồng nghiệp trong cơ quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ, góp ý trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện đề tài
Những thông tin thu thập được, những ý kiến đóng góp của các thầy
cô giáo, của các bạn đồng nghiệp là những tư liệu hết sức hữu ích, thiết thực
và là cơ sở quan trọng để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Trần Thị Mai Hương
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP 17
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 17
1.2 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp 26
1.3 Chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp 31
1.4 Một số yêu cầu để đảm bảo chất lượng quản lý hoạt động tương tác 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH 52
2.1 Khái quát về 3 chương trình phát thanh trực tiếp thuộc diện khảo sát tại Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh 52
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp 59
2.3 Thành công, hạn chế của quản lý hoạt động tương tác với thính giả và nguyên nhân 93
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP TẠI TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH 103
3.1 Tính tất yếu khách quan phải nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác với thính giả hiện nay 103
3.2 Một số Giải pháp 105
3.3 Một số kiến nghị 116
KẾT LUẬN 120 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phản hồi của thính giả trong các chương trình PTTT
Đơn vị: % 86
Biểu đồ 2.2: Đánh giá hiệu quả hoạt động tương tác của các chương trình
PTTT Đơn vị: % 94
Biểu đồ 2.3: Thống kê số lượng cuộc gọi điện tương tác thính giả thông qua
đường dây nóng năm 2019 Đơn vị: 1.000 cuộc gọi 95
Biểu đồ 2.4 Tình hình tiếp cận và tương tác chương trình Bác sỹ của bạn
thông qua faceboook năm 2019 Đơn vị: lượt 96
Sơ đồ 2.1: Mô hình tương tác trong chương trình Bác sỹ của bạn 69
Sơ đồ 2.2: Mô hình tương tác trong chương trình Radio QN- Giờ cao điểm 70
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTV Biên tập viên KTV Kỹ thuật viên PTTH Phát thanh truyền hình PTTT Phát thanh trực tiếp
MC Người dẫn chương trình CTV Cộng tác viên
PGS.TS Phó giáo sư, Tiến sĩ ATGT An toàn giao thông TBT Tổng biên tập PTBT Phó tổng biên tập TGĐ Tổng giám đốc PTGĐ Phó tổng giám đốc
PGĐ Phó giám đốc
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với loại hình báo phát thanh, ở tất cả các dạng chương trình, từ chương trình không phát sóng trực tiếp, chương trình trực tiếp, đến chương trình phát thanh trên mạng Internet, đều xuất hiện yếu tố tương tác
Với các chương trình phát thanh trực tiếp, sự tham gia của thính giả sẽ tạo nên bầu không khí giao lưu cởi mở, giúp chương trình sống động hơn Từ
đó, chương trình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu sẽ thu hút nhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế hơn hẳn của phát thanh trực tiếp có tính tương tác so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của phóng viên, biên tập viên và phát thanh viên
Tương tác là một trong những đặc điểm của báo chí truyền thông hiện đại Sự tác động qua lại liên tục, trực tiếp giữa báo chí và công chúng giúp cho các ý kiến phản ánh, nhu cầu thông tin được phản ánh khách quan, chân thực, đầy đủ và đa chiều Thông qua hoạt động tương tác, các cơ quan báo chí nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của công chúng, đề xuất với các cơ quan quản lý có những điều chỉnh về các quy định, chính sách, đưa ra những giải pháp kịp thời, giải quyết những vấn đề nổi cộm trong xã hội
Chính vì vậy, có thể nói,tương tác là một trong những chìa khóa làm gia tăng giá trị của các chương trình phát thanh trực tiếp khi hướng tới đối tượng đích là thính giả Thông qua chương trình phát thanh trực tiếp, đã tạo ra
sự bình đẳng trong hoạt động truyền thông, khi thính giả cũng có thể trở thành chủ thể của chương trình Tương tác làm cho chương trình phát thanh trực tiếp thành phi biên giới và không còn bị giới hạn về đối tượng
Tại Đài PTTH Quảng Ninh (nay là Trung tâm truyền thông Tỉnh QN)
đã thực hiện chương trình phát thanh trực tiếp từ năm 2009 với chương trình đầu tiên là “60 phút Bạn và tôi” Đây là chương trình dành cho giới trẻ, là sân
Trang 10chơi bổ ích để các bạn trẻ chia sẻ cảm xúc và bày tỏ quan điểm sống của mình Chương trình đã thực sự thu hút lượng thính giả rất lớn tham gia và không có giới hạn về khoảng cách địa lý Tiếp nối sự thành công của chương trình, cùng với việc bắt kịp xu hướng phát triển của phát thanh hiện đại, các chương trình “Radio Quảng Ninh- Giờ cao điểm”; “Bác sỹ của bạn” và chương trình “Music+” phát sóng trên tần số 97,8Mhz lần lượt ra đời Đây cũng chính là các chương trình phát thanh trực tiếp và là chương trình “đinh” của thể loại báo phát thanh tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh đến thời điểm hiện nay
Chương trình “Radio Quảng Ninh- Giờ cao điểm” ra đời vào tháng 5 năm 2011, đây là chương trình nhằm tăng cường phổ biến kiến thức về ATGT, phản ánh và thông tin về tình hình giao thông trên địa bàn Tỉnh Thời lượng phát sóng vào 6h30 - 70h30 và 16h00- 18h00 hàng ngày
Chương trình “Bác sỹ của bạn” ra đời 10/03/2018 Thời lượng phát sóng 60 phút, từ 10h15” – 11h15” vào các ngày thứ 7, chủ nhật hàng tuần Thông qua chương trình, chuyên gia sẽ thông tin, tư vấn sức khỏe trực tiếp trên sóng phát thanh, mạng xã hội, tổng đài điện thoại… Chương trình được xem là “cánh tay nối dài” của các y, bác sĩ, chứa đựng nhiều thông tin hữu ích, đáng tin cậy về sức khỏe của con người
Chương trình “Music+” ra đời từ năm 2017, đây là chương trình quà tặng
âm nhạc dành cho mọi lứa tuổi Chương trình được phát vào 19h00 đến 20h00 thứ
6 hàng tuần Thính giả khi tham gia chương trình có thể được thưởng thức hoặc tặng cho người thân, bạn bè những ca khúc mà mình yêu thích
Việc quản lý hoạt động tương tác ở cả 3 chương trình đã thực sự mang lại thành công trong mỗi chương trình lên sóng Với việc xây dựng nội dung fomat chương trình và hình thức tương tác với thính giả thể hiện một cách phù hợp đã tạo được sự quan tâm, tham gia của đông đảo công chúng
Trang 11Tuy nhiên, bởi là chương trình trực tiếp, nên có độ rủi ro cao do những tình huống bất ngờ có thể xảy ra Vì vậy, việc quản lý hoạt động tương tác là đặc biệt cần thiết, đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát, kiểm chứng thông tin của người lên sóng, đảm bảo an toàn, tránh các yếu tố rủi ro, cũng như việc xử lý các tình huống cũng luôn đảm bảo các yếu tố tránh tình trạng bị cháy sóng
Thực tế hiện nay, việc quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp còn nhiều hạn chế nhất định Do đó, việc phân tích, khảo sát, đánh giá hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếpcủa Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh là hoạt động cần thiết, từ trước đến nay chưa có ai nghiên cứu Trên cơ sở đó tôi đã
quyết định chọn đề tài “Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các
chương trình phát thanh trực tiếp của Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh”(Khảo sát cả 3 chương trình từ 1.2019 đến 12.2019) làm đề tài cho luận
văn Thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học Những kết quả của luận văn có thể làm phong phú hơn nguồn tài liệu về hoạt động quản lý trong các chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, có khá nhiều cuốn sách, đề tài khóa luận, luận văn nghiên cứu về các chương trình phát thanh trực tiếp nói chung và tính tương tác trong chương trình phát thanh nói riêng Trong phạm vi liên quan gần với
đề tài này, có thể kể một số nghiên cứu như sau:
2.1 Đề tài về quản lý báo chí
Sách “Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý” do Nhà xuất
bản Thông tấn, phát hành 2017 Nhóm biên soạn cuốn sách gồm 56 nhà khoa học, nhà báo, nhà giáo của Thông tấn xã Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo trung ương… Các tác giả đã phân tích, làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thông tin báo chí với công tác lãnh đạo,
Trang 12quản lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Phổ biến kinh nghiệm về việc phát huy vai trò của thông tin báo chí đối với công tác lãnh đạo, quản lý một số nước trên thế giới
Trong cuốn sách “Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm
tiến hành sự nghiệp đổi mới”, PGS TS Nguyễn Thế Kỷ (chủ biên) đề cập đến
nội dung, phương thức, sự đổi mới tư duy, phong cách lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước đối với báo chí; chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới [26]
Nói về vai trò của cơ quan báo chí trong lĩnh vực quản lý báo chí, theo
TS Đặng Quốc Bảo: “Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, tổ chức
chính trị- xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải đảm bảo tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí Báo chí
là cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, triệt để của Đảng và sự quản lý của Nhà nước” [4, tr.26]
Cũng nói về vấn đề quản lý báo chí, TS Nguyễn Trí Nhiệm nêu rõ vai
trò của nhà báo: “Trong lĩnh vực tham gia công tác lãnh đạo, quản lý và phản
biện xã hội, nhà báo phải có “tầm” nhưng cũng phải có “tâm” trong sáng Bởi một thông tin không chính xác, không khách quan cũng có thể gây hậu quả cho xã hội, làm phức tạp vấn đề, tiêu tốn tiền của nhân dân; có thể xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người tốt” [30, tr.12]
PGS TS Trương Thị Kiên cũng có nêu: “Quản trị tòa soạn báo chí là
hoạt động họach định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá công việc của tòa soạn căn
cư trên những nội quy, quy chế nhất định mà tòa soạn đặt ra, nhằm đảm bảo mọi hoạt động ổn định, có hiệu quả, với mục đích cao nhất là đem lại sản phẩm báo chí (tờ báo, chương trình phát thanh, truyền hình) có chất lượng,
Trang 13đáp ứng nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền của cơ quan báo chí, yêu cầu của công chúng và đem lại lợi nhuận, thúc đẩy phát triển của tòa soạn báo chí đó” Bên cạnh đó, PGS TS Trương Thị Kiên còn nói rõ hơn về việc quản trị
tòa soạn dưới góc độ vĩ mô và vi mô: “Ngoài hoạt động quản trị tòa soạn-
được hiểu là quản lý báo chí ở cấp độ vi mô, còn có hoạt động quản lý ở cấp
độ vĩ mô Đây là hoạt động của các cơ quan được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý đối với cơ quan báo chí” [24, tr.155]
Trong cuốn sách “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam”
nhà báo Đỗ Quý Doãn đã tập trung làm rõ thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí hiện nay và đưa ra những giải pháp cơ bản cho công tác quản lý thông tin báo chí Việt Nam
Đề cập đến vai trò quan trọng của công tác quản lý báo chí, theo tác giả
Đỗ Quý Doãn: “Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều
diễn biến phức tạp, làm tốt công tác chỉ đạo, quản lý báo chí chính là tạo lập
cơ sở, điều kiện cho báo chí phát triển theo xu hướng tích cực, bảo đảm tính khoa học về số lượng, hình thức, hình thức, chất lượng, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10, tr.66]
Sách “Cẩm nang quản lý phát thanh truyền hình” của Keith Jacson, Phil Charlay Tom Hogan do Đài Tiếng nói Việt Nam dịch và xuất bản (2010) là công trình phổ biến những kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực phát thanh truyền hình [51]
Bài báo khoa học “Đổi mới tư duy về quản lý báo chí trong tình hình
mới”, tạp chí Quản lý nhà nước số 233, tháng 6/2015 của tác giả Nguyễn Thị
Mai Anh [1] Trong điều kiện hội nhập, trong bối cảnh công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện phát triển vượt bậc, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về báo chí phù hợp, hiệu quả hơn nhằm tiếp tục tạo điều kiện cho báo chí phát triển đúng hướng là cần thiết
Trang 14Luận án Tiến sĩ báo chí học “Quản lý báo chí điện tử ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay” của tác giả Doãn Thi Thuận [40] trên cơ sở hệ thống hóa
những vấn đề lý luận, bước đầu đã xây dựng khung lý thuyết cho đề tài, luận
án khảo sát, phân tích thực trạng quản lý báo điện tử, chỉ ra những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý báo điện tử, từ đó luận án đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý báo điện tử, giúp báo điện tử phát triển đúng hướng, phục vụ tốt nhu cầu công chúng và lợi ích quốc gia
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên sẽ cơ sở lý luận quan trọng để tác giả hiểu rõ hơn về vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý báo chí, nhất là trong giai đoạn hiện nay
2.2 Đề tài về báo phát thanh
Liên quan đến phát thanh, chương trình phát thanh, phát thanh trực tiếp, những đặc điểm của phát thanh, có một số sách, giáo trình đề cập đến vấn đề này:
Cuốn sách “Báo phát thanh”, Phân viện Báo chí & Tuyên truyền- Đài
Tiếng nói Việt Nam, Nxb Văn hóa- Thông tin cung cấp thông tin căn bản nhất
về phát thanh và đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí- tác giả Nguyễn Văn Dững đã khái
quát lịch sử phát triển của phát thanh và những thế mạnh, hạn chế của loại hình phương tiện truyền thông này Tác giả nêu rõ: “Chất liệu chính của phát thanh là sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực” [tr.113]
Trong cuốn “Lý luận phát thanh” (Nxb Văn hóa- thông tin, H 2003), ở
chương 1, tác giả Đức Dũng đã dành 21 trang để đề cập đến phát thanh trực tiếp Tác giả khẳng định “Có thể nói phát thanh trực tiếp là hình thức thể hiện mới của phát thanh hiện đại, tạo ra sự hấp dẫn mới cho làn sóng phát thanh Tính thời sự và sự gần gũi, thân mật là hai yếu tố đảm bảo sức mạnh của phát
Trang 15thanh trong bối cảnh của đời sống hiện đại và phát thanh trực tiếp đã có cả hai
ưu thế quan trọng này”
Trong bài viết “Phương thức sản xuất chương trình phát thanh hiện đại
ở Việt Nam”, tác giả Đức Dũng đã chỉ ra rằng, xu hướng chuyển sang phương
thức sản xuất mới như phát thanh trực tiếp, phát thanh nhìn, phát thanh trên internet là sự tất yếu Tác giả khẳng định: “Phát thanh hiện đại là sự kế thừa
và phát triển của phát thanh truyền thống với những thay đổi trong phương thức sản xuất các chương trình phát thanh dựa trên nền tảng của công nghệ,
kỹ thuật mới để tạo ra được chất lượng nội dung và hình thức mới, từ đó đem lại hiệu quả tác động mới cho những lớp công chúng mới” [tr.77]
“Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp” do Đài Tiếng nói Việt
Nam- Bộ Văn hóa thông tin- Tổ chức SiDa (Thụy Điển) phối hợp sản xuất năm 2005 Nội dung sách được biên soạn từ kinh nghiệm của các giảng viên nước ngoài về cách thực hiện các chương trình phát thanh trực tiếp dành cho những người làm phát thanh Việt Nam
Cuốn sách “Báo phát thanh lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Đinh
Thị Thu Hằng đề cập đến những lý luận cơ bản về báo phát thanh Tác giả giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của báo phát thanh; đặc trưng, công chúng và phương tiện hoạt động, viết và biên tập cho báo phát thanh, các thể loại của báo phát thanh và tổ chức sản xuất chương trình phát thanh [17]
Trong cuốn sách “Các thể loại báo phát thanh” do PGS.TS Đinh Thị
Thu Hằng làm chủ biên [18] nêu vai trò và đặc điểm của từng thể loại phát thanh: tin, phóng sự, diễn đàn, tọa đàm… Đồng thời, cung cấp những kiến thức và kỹ năng cho phóng viên trong quá trình tác nghiệp
“Phát thanh trực tiếp” của tác giả GS TS Vũ Văn Hiền và TS Đức
Dũng (chủ biên) [19] đã phân tích vai trò quan trọng của chương trình phát thanh trực tiếp (PTTT) đối với báo phát thanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các loại hình truyền thông hiện đại Cuốn sách cung cấp những lý
Trang 16thuyết cơ bản về phát thanh tương tác trực tiếp, những đặc điểm và các dạng của chương trình PTTT, cũng như quy trình thực hiện các chương trình này
Từ đó rút ra những kết luận khoa học để định hướng thực tiễn và đáp ứng được những yêu cầu đối với việc sản xuất các chương trình PTTT Cuốn sách cũng khẳng định, hoạt động tương tác là một phần không thể thiếu của các chương trình PTTT, phát thanh mở
Một số cuốn sách chuyên khảo về phát thanh như cuốn “Dựng nghiệp
phát thanh” (2005) và cuốn “70 năm Đài Tiếng nói Việt Nam” (2015) có nội
dung chung đề cập đến sự hình thành và phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1945 đến nay [tr.11]
Ngoài ra, trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận
và thực tiễn của phát thanh:
Trong cuốn sách “Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh” của
Lois Baird, Trường phát thanh- Truyền hình và Điện Ảnh Australia [53] và
cuốn “Nghề phát thanh” của tác giả Michel Keye và Andrew Popperwel [50]
cũng có nội dung đề cập đến PTTT
Tác giả Clas Thor đề cập đến công việc của biên tập viên trong cuốn
“Use Media to teach media” [50] giúp người đọc hình dung và có thêm kiến
thức để làm chủ truyền thông và tăng cường chất lượng công tác quản lý tổ chức sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả truyền thông
Các nghiên cứu này đã giúp tác giả có được cái nhìn tổng quát về bức tranh báo phát thanh hiện đại, cung cấp những kiến thức về đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh Qua đó giúp người viết có những so sánh, đánh giá phù hợp khi phân tích các chương trình phát thanh trực tiếp hiện nay
2.3 Đề tài về quản lý hoạt động tương tác trong báo chí và trong chương trình phát thanh
Như đã đề cập ở phần trên, tương tác là một trong những đặc điểm của phát thanh hiện đại Nhiều công trình khoa học đã bàn về hoạt động tương tác trong báo chí nói chung và phát thanh nói riêng Cụ thể:
Trang 17Trong cuốn “Báo chí và Dư luận xã hội”, tác giả Nguyễn Văn Dững đã
chỉ ra tương tác là một trong nhiều đặc điểm phương thức thông tin báo chí
hiện đại “Mục đích của tương tác và đối thoại xã hội trên báo chí là nâng
cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí, tạo sự đồng thuận, khơi dậy
và tập trung, phát huy tối đa nguồn lực quốc gia vì mục tiêu phát triển bền vững” [5, tr 163]
Bài báo “Tính tương tác trên báo phát thanh truyền thống và phát
thanh hiện đại” của TS Phạm Thị Thanh Tịnh [36] đưa ra khái niệm về
tương tác, biểu hiện của tính tương tác trong một số chương trình phát thanh
và vai trò của tính tương tác đối với phát thanh…
Luận văn “Tính tương tác trên kênh VOVGT quốc gia” năm 2014 [47],
tác giả Mai Kiều Tuyết đã phân tích một số chương trình tương tác đặc biệt
của kênh VOVGT như chương trình Giờ cao điểm, 365 ngày hạnh phúc, Phía
sau tội ác Tác giả cơ bản làm rõ cách thức tương tác của từng chương trình,
làm rõ thực trạng tương tác của kênh VOVGT, những vấn đề gặp phải và từ
đó đề xuất những giải pháp phù hợp Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra những giải pháp tổ chức và quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình này
Luận văn “Tổ chức sản xuất và quản lý chương trình phát thanh “Giờ
cao điểm” trên kênh VOVGT- Đài Tiếng nói Việt Nam năm 2018 [48] của
tác giả Nguyễn Xuân Tú mới đề cập đến thực trạng tổ chức sản xuất nội dung
của chương trình Giờ cao điểm, chưa đề cập đến hoạt động quản lý, chỉ đạo
nội dung chương trình cũng như các hoạt động tương tác trong các chương trình PTTT khác
Tương tác trên phát thanh là vấn đề nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Đài TNVN và lãnh đạo các Ban, cùng toàn bộ các nhà báo, phóng viên Những năm gần đây, nhiều hệ, kênh phát thanh của Đài đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả tương tác trong các chương trình phát thanh Một số công trình nghiên cứu đã được nghiệm thu và có đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn Chẳng hạn:
Trang 18Đề tài khoa học “Nâng cao chất lượng và hiệu quả các chương trình
phát thanh có giao lưu, tương tác với thính giả trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam” của Thạc sĩ Đặng Thị Huệ, thực hiện năm 2008 [22] Tác giả đã chỉ ra
phát thanh tương tác là xu thế tất yếu của phát thanh hiện đại, đồng thời khái quát bức tranh tương tác trên sóng phát thanh của Đài TNVN Tuy nhiên, 3 chương trình thuộc diễn khảo sát đại diện của các hệ phát thanh Hệ Thời sự, Chính trị Tổng hợp, Hệ Văn hóa Đời sống Khoa giáo, Hệ Âm nhạc- Thông tin
và giải trí nên chưa đề cập đến nên chưa đề cập đến các chương trình mang tính đặc thù trên Kênh VOVGT
Công trình nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao
hiệu quả tiếp nhận và xử lý tin giao thông trên kênh VOVGT FM 91 MHz”
năm 2010, của Ths Kim Ngọc Anh- Phó Giám đốc Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ phát thanh- Đài TNVN [2] Trong đề tài này, vấn đề tương tác cũng được đặt ra như một trong các công cụ để phục vụ cho việc thu thập thông tin,
xử lý thông tin của VOVGT Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của tác giả
là “quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin trên Kênh VOVGT” nên tập trung chủ yếu quá trình tiếp nhận thông tin của Giờ cao điểm mà chưa đề cập đến nội dung và cách thức tương tác của thính giả với chương trình
Đề tài nghiên cứu khoa học “Truyền thông tương tác tại Đài TNVN-
thực trạng và giải pháp” năm 2011 của Ths Tạ Đức Toàn [35] đã nghiên cứu
về tương tác trong các loại hình truyền thông của Đài TNVN, bao gồm phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Dựa trên kết quả khảo sát trên 2 kênh phát thanh VOVGT, VOV1, tác giả đã chỉ ra đặc trưng tương tác của từng kênh, đánh giá những mặt thành công và hạn chế của hoạt động tương tác trên từng kênh đó Tuy nhiên, sự khảo sát đánh giá về hoạt động tương tác trên Kênh VOVGT mới được tiến hành một cách khái quát, chưa sâu và chưa chỉ
ra được những đặc tính tương tác riêng của Kênh phát thanh chuyên biệt
Khóa luận “Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp
60 phút Bạn và tôi của Đài PTTH Hà Nội 2” của tác giả Nguyễn Thị Huyền
Trang 19(Học viện Báo chí và tuyên truyền, 2009) Trong khóa luận, tác giả Nguyễn Thị Huyền tập trung nghiên cứu vào những kỹ năng của người dẫn chương trình trong chương trình “60 phút Bạn và tôi” của Đài PTTH Hà Nội 2
Khóa luận “Các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình phát
thanh của tác giả Ngô Thái Hà” (Học viên Báo chí và tuyên truyền, 2009).Trong
khóa luận này, tác giả chỉ dừng lại ở việc chỉ ra yếu tố tương tác giữa thính giả với một số chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam
Khóa luận “Vấn đề tương tác trên kênh phát thanh giao thông- Đài
Tiếng nói Việt Nam FM 91 MHz” của tác giả Kim Văn Hiền (Bảo vệ năm
2009, tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Khóa luận chỉ ra việc thực hiện tính tương tác trên kênh phát thanh giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam trong chương trình “Giờ cao điểm”, đồng thời cũng chỉ ra điểm mạnh, hạn chế của việc thực hiện tương tác trên kênh phát thanh này
Khóa luận “Tính tương tác của chương trình phát thanh trong hai
chương trình “Hành trình cùng bạn” của Đài PTTH Hà Nội và “Cửa sổ tình yêu” của Đài Tiếng nói Việt Nam”của tác giả Vũ Đức Huỳnh (Bảo vệ năm
2011, tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Trong khóa luận tác giả chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả tính tương tác của hai chương trình
từ phía thính giả
Luận văn “Chương trình phát thanh trực tiếp trên Đài Tiếng nói nhân
dân TP Hồ Chí Minh” của tác giả Dương Thị Anh Đào (Bảo vệ năm 2011, tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Trong đó, tác giả đã dành chương 1 để đưa ra những lý luận chung về phát thanh trực tiếp Theo tác giả, phát thanh trực tiếp có ưu thế trong việc cung cấp thông tin nhanh, tức thời Đồng thời phát thanh trực tiếp còn hấp dẫn thính giả bởi tính tương tác cao
Như vậy có thể thấy, đến nay đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý báo chí, phát thanh trực tiếp, tương tác báo chí, tương tác phát thanh cũng như nghiên cứu về các chương trình phát thanh trực tiếp tại Trung tâm
Trang 20truyền thông Tỉnh Quảng Ninh ở các khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có đề tài quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp tại Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh Do vậy, vấn đề mà tác giả quan tâm nghiên
cứu là “Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh
trực tiếp tại Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh”
Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu phân tích và chỉ ra thế mạnh và hạn chế riêng của việc quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp, cụ thể tại 3 chương trình “Radio QN- Giờ cao điểm”;
“Bác sỹ của bạn và “Music+”.Vì vậy, vấn đề, phạm vi khảo sát, nghiên cứu của luậnvăn không trùng lặp với những công trình nghiên cứu trước đó
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thông qua tư liệu của 3 chương trình gồm: + Chương trình “Radio Quảng Ninh- Giờ cao điểm” phát sóng trực tiếp hàng ngày vào 2 khung giờ sáng và chiều
+ Chương trình “Bác sỹ của bạn” phát sóng trực tiếp vào sáng thứ 7 và chủ nhật hàng tuần
+ Chương trình “Music+” phát sóng vào tối thứ 6 hàng tuần
Việc lựa chọn 3 chương trình cho việc khảo sát luận văn là bởi đây chính là các chương trình phát thanh trực tiếp, hình thức tương tác được sử dụng phổ biến và đều được lãnh đạo Đài xem là chương trình phát thanh
“đinh” của báo phát thanh tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh đến thời điểm hiện nay.Quản lý tốt hoạt động tương tác của 3 chương trình sẽ góp
Trang 21phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của phát thanh Quảng Ninh và là bài học chung cho quản lý các chương trình phát thanh tương tác khác tại Đài
Thời gian khảo sát trong vòng một năm, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2019
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết về tương tác và quản lý hoạt động tương tác trên báo phát thanh, luận văn khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tương tác tại 3 chương trình “Radio Quảng Ninh- Giờ cao điểm; “Bác sỹ của bạn và “Music+” rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân, từ đó
đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác của các chương trình phát thanh trực tiếp
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa Mác- Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng Luận văn bám sát lý luận báo chí truyền thông hiện đại, lý luận phát thanh hiện đại,
lý luận về tương tác báo chí, truyền thông xã hội, các dạng thức thông tin mới trên sóng phát thanh trong các tài liệu trong và ngoài nước…
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng để thiết lập cơ sở lý
luận quản lý tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp Phương pháp này được sử dụng để phân tích những số liệu của kết quả khảo sát, các tư liệu, thông tin, các bài báo, khóa luận, ý kiến, lời phát biểu… liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm: Bản thân tác giả là một trong những phóng
viên, biên tập viên làm việc tại Phòng Biên tập phát thanh từ những ngày đầu sản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp và tham gia vào một số công đoạn của hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình PTTT Tác giả cũng có
Trang 22cơ sở để nhìn nhận và đánh giá được sự thay đổi về nội dung và phương thức quản lý các chương trình PTTT qua những giai đoạn khác nhau, cũng như hiệu quả của hoạt động tương tác trong các chương trình này
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành 04 phỏng vấn lãnh
đạo cấp Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh và cấp phòng Biên tập phát thanh nhằm lấy ý kiến đánh giá về quy trình tổ chức tương tác hiện nay, định hướng về nội dung, kế hoạch thực hiện quản lý tương tác các chương trình PTTT trong thời gian tới Ngoài ra tác giả thực hiện 02 phỏng vấn bộ phận thư ký- những người trực tiếp tham gia điều tiết hoạt động tương tác trong các chương trình PTTT, 06 phỏng vấn người phụ trách chương trình, PV, BTV,
MC, phóng viên dẫn hiện trường để ghi nhận những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện tương tác Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 03 khách mời phòng thu- những người trực tiếp tham gia vào quá trình tương tác để họ chia sẻ những cảm nhận, đánh giá hiệu quả công tác quản lý tương tác của các chương trình PTTT hiện nay, đề xuất, kiến nghị cho thời gian tới
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả đã thực hiện khảo sát
công chúng thuộc nhiều nhóm đối tượng và độ tuổi khác nhau đánh giá về nội dung, cách thức tương tác hiện nay của 3 chương trình PTTT thuộc diễn khảo sát Từ đó đánh giá chính xác hơn những bất cập trong công tác quản lý tương tác hiện nay, đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong tương lai Tổng số lượng bảng hỏi phát ra trực tiếp và gửi qua mạng là 150 phiếu, thu về 140 phiếu
- Phương pháp phân tích nội dung: Thông qua việc phân tích các hoạt
động tương tác trong các chương trình PTTT trên sóng phát thanh của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, xem xét đây là kết quả của quá trình quản lý, tác giả sẽ tổng hợp, đánh giá những ưu, nhược điểm của quản lý hoạt đông tương tác trong các chương trình PTTT của phòng Biên tập phát thanh
Trang 236 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Trình bàynhững vấn đề lý thuyết về quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tương tác trongcác chương trình phát thanh trực tiếp tại Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh, rút ra thành công, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong 3 chương trình được khảo sát
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa và xây dựng mới những vấn đề lý thuyết
cơ bản về quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp, như: làm rõ vai trò, nội dung, phương pháp, yêu cầu đối với quản lý hoạt động tương tác của các cơ quan báo chí nói chung và trong các chương trình phát thanh trực tiếp nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá khách quan, khoa học về những thành công, hạn chế công tác quản lý hoạt động tương tác các chương trình PTTT hiện nay để các cấp lãnh đạo quản lý có cái nhìn tổng quan và đưa
ra những chủ trương, chính sách phù hợp Đồng thời, xây dựng chiến lược phát triển nội dung và lập kế hoạch quản lý tương tác để đổi mới và phát triển kênh phát thanh của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho Ban lãnh đạo Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, những người phụ trách kênh phát thanh nhìn nhận những hạn chế liên quan đến nội dung và phương pháp quản lý tương tác hiện nay để có những giải pháp kiểm tra, đôn đốc và điều chỉnh một cách kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tương tác trong chương trình PTTT
Trang 24Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các chương trình phát thanh trực tiếp của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, các đài bạn trong trong công tác quản lý hoạt động tương tác các chương trình phát thanh Đồng thời, là tài liệu tham khảo có ích trong các cơ sở đào tạo báo chí, giúp sinh viên, học viên, những người đang trực tiếp làm báo phát thanh nắm bắt và hình dung rõ hơn về quy trình tổ chức và quản lý tương tác trong các chương trình PTTT, xu hướng tương tác của phát thanh hiện đại, từ đó tham khảo cho hoạt động nghiệp vụ của mình
Điểm mới của luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu đến hoạt động quản lý tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp của Trung tâm truyền thông Tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Trang 25Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH
TRỰC TIẾP
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Tương tác, tương tác trong hoạt động báo chí
1.1.1.1 Khái niệm tương tác
Thuật ngữ tương tác (interactivity) được du nhập từ nước ngoài vàoViệt Nam trước hết xuất phát từ ngành công nghệ thông tin Ý nghĩa nguyên gốc của khái niệm tương tác là tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau (reciprocally active; acting upon or influencing each other) [21] giữa con người với con người, giữa con người với máy tính… thông qua một môi trường cụ thể nào
đó Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ở nhiều vùng miền khác nhau còn có thể giao tiếp trực tiếp với nhau qua sóng truyền hình, qua điện thoại, mạng internet… một cách dễ dàng và nhanh chóng Từ yếu tố này, tương tác còn được hiểu theo nghĩa là dòng chảy hai chiều giữa thông tin và người sử dụng, đáp ứng nhu cầu của người sửdụng (allowing a two-way flow of information between it and a user,respondingto the user’s input) [21]
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” của Giáo sư Nguyễn Như Ý (Chủ biên) xuất bản năm 1999,“Tương tác” là từ có nguồn gốc Hán Việt “Tương tác” có nghĩa là tác động qua lại lẫn nhau [20, tr.1769]
Còn theo “Từ điển Từ và ngữ Việt Nam” của giáo sư Nguyễn Lân, xuất bản năm 2000, “Tương” được hiểu là cùng nhau, đối với nhau, “tác” được hiểu là làm ra Từ đó, Giáo sư Nguyễn Lân đưa ra khái niệm “Tương tác” là
có ảnh hưởng lẫn nhau [10, tr.1769]
Theo hai cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên và “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, “tương tác” được hiểu dưới hai hình thức
Trang 26động từ và tính từ Trong đó động từ tương tác được giải nghĩa là sự “Tác động qua lại lẫn nhau Lực tương tác giữa các vật Quan hệ tương tác” Còn nghĩa tính từ được dùng cho thiết bị hoặc chương trình máy tính - “Là sự trao đổi thông tin qua lại liên tục giữa máy với người sử dụng” [5, tr.1336]
Trong cuốn“From new media to communication”, Refaeli nêu ra khái niệm: Tính tương tác là một khái niệm được sử dụng rộng rãi với sự biểu
lộ bằng trực giác, được định nghĩa theo cách nghĩ về khả năng giao tiếp Nó
có giá trị cao về bề mặt, không chỉ đơn thuần dựa vào sự động thuận, sự giảng giải về ngữ nghĩa mà còn dựa vào sự xác định theo những kinh nghiệm nổi trội trong cuộc sống thực [16,Tr.110]
Đối chiếu ý nghĩa của từ “Tương tác” trong hoạt động truyền thông, tác
giả khóa luận cho rằng: Tương tác là sự tác động, ảnh hưởng qua lại hai
chiều giữa 2 hay nhiều sự vật;là sự tác động, ảnh hưởng qua lại hai chiềugiữa chủ thể (người truyền thông điệp) và khách thể (người nhận thông điệp) (đối với hoạt động giao tiếp)
1.1.1.2 Tương tác trong hoạt động báo chí
Báo chí cũng là một loại hình truyền thông Tương tác trong báo chí diễn ra thường xuyên
Đối với tương tác trong hoạt động báo chí truyền thông, theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Trong truyền thông, tương tác có nghĩa là sự tác động giao tiếp hai chiều qua lại giữa chủ thể và khách thể truyền thông, giữa nhà truyền thông với công chúng trong những điều kiện và vấn đề cụ thể nào đó Một trong những nguyên lý quan trọng của truyền thông là tương tác càng nhiều, tần suất càng cao, tương tác càng bình đẳng bao nhiêu thì năng lực truyền thông và hiệu quả càng cao bấy nhiêu” [tr.86]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Tương tác càng không phải là thông tin áp đặt một chiều, mà là sự trao đổi, chia sẻ một cách bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở tăng dần những tương đồng, giảm dần sự khác biệt
Trang 27giữa chủ thể truyền thông và công chúng, trong đó vai trò của công chúng ngày càng được coi trọng, được nâng lên cao đến mức bình đẳng trong việc bàn thảo và tìm ra cách giải quyết vấn đề trên cơ sở lợi ích chung.”[tr.163]
Theo tác giả Phạm Thị Thanh Tịnh: “Tương tác” đồng nghĩa với việc thu hút người đọc, người nghe, người xem đến với các phương tiện truyền thông, “tương tác” là tăng cường mối quan hệ giữa báo chí với công chúng và
“tương tác” còn thể hiện đời sống dân chủ trong báo chí Trong báo chí sự trao đổi giữa người truyền đạt và công chúng tiếp nhận càng nhiều thì quá trình truyền đạt hiệu quả càng cao [36]
Trong mô hình truyền thông tương tác, công chúng được đặt vào vị trí trung tâm, công chúng vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là đối tượng tham gia quá trình truyền thông Trong mô hình này, công chúng không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn được bày tỏ mong muốn, yêu cầu thông tin và tham gia trực tiếp vào quá trình truyền thông Quá trình tương tác sẽ làm cho sự vật, hiện tượng, thông điệp trở nên khách quan, khoa học và tạo được niềm tin đối với người tiếp nhận, đồng thời nâng cao năng lực và giúp cho quá trình truyền thông hiệu quả hơn
Vì vậy, từ các quan niệm nói trên, có thể hiểu, tương tác trong báo chí
làsự trao đổi, chia sẻthông tin, tình cảm, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm, kỹ năng… giữa công chúng tiếp nhận với cơ quan bao chí Sự chia sẻ, trao đổi, phản hồi đó có thể thông qua nhiều phương tiện khác nhau như: điện thoại, thư tay, thư điện tử…, qua kênh trực tiếp hay gián tiếp
1.1.2 Khái niệm về phát thanh, chương trình phát thanh trực tiếp
1.1.2.1.Phát thanh
Trong cuốn sách “Báo phát thanh”(2002) do Học viện Báo chí và
tuyên truyền, phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam đưa ra khái niệm về báo
phát thanh: “Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại
hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm
Trang 28thanh phong phú sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng Nhờ sử dụng lời nói, tiếng động và
âm nhạc tác động vào tai người nghe cho nên báo phát thanh có những ưu thế đặc biệt và những hạn chế cố hữu” [17]
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Phát thanh là kênh truyền thông đại
chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn, truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là sử dụng lời nói tiếng động và âm nhạc trong việc phản ánh cuộc sống Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp”[tr.188]
Có thể nói “Phát thanh là một loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm
thanh tổng hợp, bao gồm: lời nói, tiếng động và âm nhạc với sự hỗ trợ của kỹ thuật, công nghệ số tác động trực tiếp vào thính giác của đối tượng tiếp nhận.”
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phát thanh đã và đang chuyển sang phát sóng kỹ thuật số mặt đất và phát trên nền tảng internet băng thông rộng
1.1.2.2 Chương trình phát thanh
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, theo tác giả Tạ Ngọc Tấn:
“Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể”, “Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau lời hiệu là nhạc xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình” [tr.117- 118]
Trong cuốn “Lý luận báo phát thanh”, tác giả Nguyễn Đức Dũng định nghĩa: “Chương trình phát thanh là sự sắp xếp một cách hợp lý các thành
phần tin, bài, băng, âm thanh trong một chỉnh thể trong khoảng thời gian xác
Trang 29định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [tr.103]
Theo PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng, tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý
thuyết và kỹ năng cơ bản”, chương trình phát thanh được hiểu như sau:
“Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó có các thành phần tin, bài, âm nhạc, lời dẫn… được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông
và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [tr.153]
Có thể thấy trong những định nghĩa được đưa ra, có một số đặc điểm chung: chương trình phát thanh là một tập hợp những tin, bài được sắp xếp hợp lý, trong khoảng thời gian nhất định; chương trình được xây dựng có mục đích cung cấp thông tin và đối tượng thính giả đích khác nhau; phần đầu chương trình phát thanh có nhạc hiệu, xen kẽ giữa các nội dung khác nhau có nhạc cắt và kết thúc chương trình là lời chào tạm biệt
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ chương trình phát thanh với nét nghĩa như sau:
Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, âm nhạc, băng tư liệu trong một thời lượng nhất định,mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí và nhu cầu thông tin của một nhóm đối tượng thính giả đích
1.1.2.3 Chương trình phát thanh trực tiếp
Cho đến nay, khái niệm Phát thanh trực tiếp chưa có sự thống nhất, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về Phát thanh trực tiếp
Trong cuốn “Cẩm nang hướng dẫn Phát thanh trực tiếp”, các chuyên
gia Thụy Điển cho rằng: Phát thanh trực tiếp là một phương pháp làm phát thanh mới, tiên tiến với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ hiện đại, cho phép phát huy thế mạnh của loại hình báo nói [tr 12]
Trang 30Trong cuốn “Phát thanh trực tiếp” GS, TS Vũ Văn Hiền- TS Đức Dũng cho rằng: “Phát thanh trực tiếp có thể được hiểu là công nghệ sản xuất
chương trình phát thanh được thực hiện đồng thời với quá trình phát sóng nhằm chuyển đến người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy
ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình” [19, tr 23]
Trong chương viết về Phát thanh trực tiếp trong cuốn sách Báo phát
thanh, tác giả cho rằng: Phát thanh trực tiếp có thể được hiểu là phương thức
mà quá trình “sản xuất chương trình phát thanh được thực hiện đồng thời với quá trình phát sóng nhằm chuyển đến người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình” và “Điều quan trọng nhất, cốt lõi nhất của Phát thanh trực tiếp chính là phóng viên hoặc người đưa tin, cộng tác viên phải đang ở chỗ xảy ra sự kiện hoặc là người trong cuộc đang trực tiếp nói trước máy phát sóng” [tr.35]
Từ những sự phân tích định nghĩa và đặc điểm của chương trình phát thanh và phát thanh trực tiếp, tác giả đưa ra khái niệm Chương trình phát thanh trực tiếp:
Ngoài các đặc điểm của chương trình phát thanh nói chung, chương trình phát thanh trực tiếp là chương trình phát thanh có quá trình sản xuấtchương trình diễn ra đồng thời với thời điểm phát sóng và thời điểm tiếp nhận của thính giả, có khả năng, thu hút người nghe tương tác trực tiếp, tức thì
1.1.2.4 Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
Tương tác trong phát thanh là sự giao lưu, tác động qua lại giữa những người thực hiện chương trình phát thanh và thính giả về các nội dung mà chương trình đề cập, nhằm mục đích trao đổi thông tin, thỏa mãn nhu cầu thông tin và mong muốn tham gia chương trình của thính giả, những người làm chương trình có thể điều chỉnh nội dung và hình thức cho phù hợp
Trang 31Thính giả, bạn nghe đài có thể tham gia bình luận, trao đổi, nêu yêu cầu trong một chương trình phát thanh trực tiếp và được đáp ứng ngay tại thời điểm chương trình phát sóng Những chương trình như vậy thường hấp dẫn, tạo hiệu quả cao và thu hút được số lượng lớn thính giả tham gia vào chương trình Xu thể mở của phát thanh cũng như sự tham gia của thính giả vào chương trình đôi khi còn là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của chương trình
Một chương trình phát thanh được gọi là phát thanh tương tác khi có:
- Sự giao lưu, tác động qua lại giữa người làm chương trình với thính giả Điều này có nghĩa là thính giả tham gia vào nội dung, làm nên một phần của nội dung chương trình
- Có tính linh hoạt theo diễn tiến của nhu cầu thính giả đang tham gia vào chương trình Ở một số chương trình tương tác đặc thù, nếu thính giảkhông tham gia tương tác, chương trình không thể tồn tại (Chẳng hạn như các chương trình mang tính chất tư vấn, giải đáp thắc mắc của công chúng…)
- Thông tin có tính chất hai chiều và mang tính đối tượng cao Nếu như trong chương trình phát thanh không tương tác, thông tin tác động một chiều (chỉ cung cấp thông tin cho thính giả), thì trong các chương trình phát thanh tương tác, hệ thống liên kết hai chiều đã được thiết lập rõ ràng Đặc trưng chủ yếu của phát thanh tương tác chính là ở chỗ thính giả có khả năng tác động trực tiếp vào nội dung chương trình Mỗi chương trình thường hướng đến một nhóm đối tượng nhất định
- Sự giao lưu với thính giả khiến chương trình sinh động, hấp dẫn, linh hoạt, cuốn hút người nghe
Qua những quan niệm và các yếu tố vừa nêu trên, có thể rút ra một khái niệmvề tương tác trong chương trình phát thanh như sau:
Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp là sự trao đổi, chia
sẻ qua lại giữa chủ thể (những người làm chương trình) và khách thể (thính
Trang 32giả, nhân vật, khách mời, cơ quan chức năng…) về một chủ đề/vấn đề nào đó được phát trong chương trình, thông qua hình thức trao đổi trực tiếp, phản hồi liên tục… và được truyền ngay lập tức đến người nghe nhằm mục đích
đem lại cho cả hai bên những nhận thức mới, thỏa mãn nhu cầu thông tin đa chiều và nhu cầu được tham gia vào các chương trình phát thanh của thính giả Từ những thông tin phản hồi của thính giả, người làm chương trình có thể điều chỉnh nội dung, cách thức thể hiện để đáp ứng nhu cầu thông tin của
công chúng thời hiện đại
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi
và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.” [45, tr.303]
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau nên có nhiều cách giải thích khác nhau về quản lý Theo giáo trình về quản lý học, các trường phái quản lý học đã đưa ra các định nghĩa về quản lý:
Theo nhà khoa học người Mỹ Friderick Winslow Taylor: “Quản lý là
khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”… “Quản lý
là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.” [57, tr.19]
Ở cách tiếp cận khác, Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp (1841-
1925) cho rằng: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách
vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [57, tr.19]
Trang 33Một số học giả Việt Nam đưa ra khái niệm về quản lý:
- Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [4]
- “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” [39]
Từ nhưng định nghĩa được đề cập ở trên, có thể thấy, hoạt động quản lý là một quá trình thực hiện một chuỗi các hoạt động khác nhau và phải trả lời được các câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý) Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể/Đối tượng quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý)
Quá trình quản lý được thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản
lý (đưa ra quyết định quản lý) và đối tượng quản lý (chiu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý)
Chính vì vậy, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm: Quản lý là sự
tác động có tổ chức, có định hướng, có mục đích và có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra
Quản lý là một quá trình gồm nhiều hoạt động: xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch (chỉ đạo các thành viên huy động mọi nguồn lực: nhân lực, trí lực, kỹ thuật, tài chính) và đánh giá, điều chỉnh kế hoạch để cùng nhau đạt được mục tiêu đã đề ra một cách có hiệu quả nhất
1.1.3 Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
Tổng hợp những quan điểm về chương trình phát thanh trực tiếp, tương
tác, quản lý… đã nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lý hoạt động tương
Trang 34tác là toàn bộ hoạt động của chủ thể quản lý tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức lên hoạt động tương tác thông qua những nội dung, công cụ
và phương thức quản lý cụ thể nhằm điều khiển, điều chỉnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp
Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp là một quá trình từ khi xây dựng chiến lược, kế hoạch, định hướng thông tin cho một cho một chương trình phát thanh, đến việc quản lý các quy trình, cách thức tổ chức thực hiện, huy động các nguồn lực sẵn có trong cơ quan báo chí nhằm đạt được mục tiêu của chương trình đã đề ra Đây
là quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục và kịp thời trong suốt quá trình diễn ra chương trình PTTT, cũng như trước và sau chương trình phát sóng
1.2 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp
1.2.1 Đặc điểm các chương trình phát thanh trực tiếp
Đặc điểm cơ bản của chương trình phát thanh trực tiếp, đó chính là quá trình hình thành chương trình phát thanh diễn ra đồng thời với thời gian mà chương trình đó được phát sóng, đồng thời với thời gian tiếp nhận của thính giả
Một chương trình PTTT chỉ được coi là hoàn thành khi quá trình sản xuất chương trình đó kết thúc Như vậy, việc chương trình đó hoàn thành đến đâu, được phát sóng ngay đến đấy chính là đặc điểm quan trọng nhất của phương thức sản xuất các chương trình PTTT
Trong PTTT, ngoài các yếu tố được thực hiện trực tiếp (như: đọc thẳng, gọi điện tới phòng thu; tường thuật trực tiếp; phỏng vấn trực tiếp; khách mời tại phòng thu; tọa đàm trực tiếp; phóng sự trực tiếp; phát thanh lưu động…), người
ta vẫn phải sử dụng những chất liệu không trực tiếp để xây dựng chương trình (như: các ca khúc, bài phỏng vấn, phóng sự đã được thu thanh hoàn chỉnh với những tiếng động nền, phát biểu của các nhân chứng hoặc đã được dựng sẵn
Trang 35thành những chuyên mục, tiết mục của chương trình Ngoài ra còn có các loại nhạc xen, nhạc cắt, nhạc nền….đã được chuẩn bị sẵn sàng từ trước)
Phát thanh trực tiếp có sự phát triển song hành với sự phát triển của khoa học công nghệ Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, phát thanh trực tiếp được trang bị thêm những thiết bị mới, phát huy được các thế mạnh của báo nói, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của phát thanh hiện đại PTTT nhờ có khoa học công nghệ, cũng ngày càng được sản xuất với thời gian ngắn và tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều (kể cả là khi so sánh với phát thanh truyền thống hay các phương tiện truyền thông khác như truyền hình; có lẽ chỉ có báo mạng là nhanh và rẻ hơn nhưng chắc chắn mức độ hấp dẫn không bằng phát thanh)
Có 2 dạng chương trình phát thanh trực tiếp:
+ Chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện đồng thời với thời gian diễn ra sự kiện Chương trình hình thành đến đâu, được phát sóng ngay đến đấy nhằm chuyển đến người nghe những thông tin mà sự kiện đang diễn
ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình
(Ví dụ: Chương trình tường thuật bóng đá trực tiếp)…
+ Chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện bằng cách sắp xếp,
bố trí thời gian tổ chức sản xuất phù hợp Chương trình hình thành đến đâu, được phát sóng ngay đến đấy nhằm chuyển đến người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá
trình sản xuất chương trình (Ví dụ Chương trình thời sự 17h hàng ngày) Các
chương trình phát thanh trực tiếp “Radio Quảng Ninh- Giờ cao điểm”, “Bác sỹ của bạn” và chương trình “Music+” đang được thực hiện theo dạng này
Trong chương trình phát thanh trực tiếp vẫn có thể chứa một số nội dung được dựng sẵn giống như truyền hình Chương trình phát thanh trực tiếp nào cũng cần có sự ổn định về nội dung với một chủ đề có tính thống nhất cao Tất nhiên chúng ta cũng cần tính toán tới những yếu tố ngẫu nhiên, đột
Trang 36xuất ngoài dự kiến Những yếu tố này có tính hai mặt- vừa làm phong phú cho chương trình, đồng thời cũng có thể phá vỡ tính thống nhất của chương trình
Do đó, sự linh hoạt trong quá trình thực hiện cũng là một đặc điểm của PTTT
Phát thanh trực tiếp rất đề cao tính tương tác (có thể là giữa các BTV, giữa BTV và khách mời, giữa BTV và thính giả, giữa thính giả với nhau…) Đặc biệt, cũng như phát thanh truyền thống, PTTT mang tính thân mật, gần gũi rất lớn, thậm chí còn đẩy nó lên một tầm cao mới
1.2.2 Các hình thức tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
Các hình thức tương tác trong chương trình PTTT:
- Phân theo quy trình sản xuất chương trình PTTT, hoạt động tương tác được chia thành:
+ Tương tác trước khi phát sóng: gồm các hoạt động ghi nhận, tổng hợp
ý kiến của thính giả từ các nguồn qua đường dây nóng, email, fanfage… chọn lọc những ý kiến hay thành đề tài của chương trình tiếp theo Ngoài ra, hoạt động tương tác trong giai đoạn này còn bao gồm hoạt động quảng bá chương trình, xây dựng kịch bản, lựa chọn khách mời và mời khách
+ Tương tác trong khi phát sóng:là khâu diễn ra đồng thời nhiều hình thức
tương tác khác nhau như tương tác giữa MC- MC, MC- thính giả, MC- khách mời… và hoạt động tương tác này diễn ra trực tiếp trên sóng phát thanh
Tương tác giữa MC với khách mời: là sự trao đổi, bàn luận về một chủ
đề nào đó giữa người dẫn và khách mời Hoạt động tương tác này tạo nên sự mới lạ, hấp dẫn cho chương trình và có ảnh hưởng, tác động đối với dư luận
xã hội
Tương tác giữa hai người dẫn chương trình: là hình thức tương tác quan trọng nhất của chương trình PTTT, thính giả chia sẻ suy nghĩ, đóng góp ý kiến, bày tỏ quan điểm và tham gia vào chương trình Trong chương trình
“Radio QN- Giờ cao điểm”, “Bác sỹ của bạn” và “Music+”, thính giả là yếu
tố xây dựng lên nội dung chương trình
Trang 371.2.3 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
1.2.2.1 Quản lý hoạt động tương tác giúp đảm bảo tính định hướng, thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền
Từ nhiệm vụ được Ban lãnh đạo giao cho, Ban lãnh đạo các phòng biên tập phát thanh, các đạo diễn sẽ xây dựng kế hoạch, thực hiện các chương trình PTTT Thông qua hoạt động quản lý tương tác, các chủ thể quản lý xác định các nhóm đối tượng thính giả, nhu cầu thông tin của công chúng để xây dựng những format chương trình PTTT vừa đáp ứng được nhiệm vụ thông tin tuyên truyền của ban biên tập/ban lãnh đạo, vừa phù hợp với mong muốn của thính giả Đồng thời, chủ thể quản lý cũng xây dựng được kế hoạch tương tác, nội dung và hình thức tương tác phù hợp với từng nhóm đối tượng thính giả Trên
cơ sở kế hoạch, mục tiêu thông tin tuyên truyền, trên cơ sở nội dung và hình thức tương tác đã được vạch sẵn, hoạt động tương tác trong chương trình phát thanh sẽ diễn ra theo đúng định hướng, tập trung mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó
1.2.2.2.Quản lý hoạt động tương tác giúp các nhà quản lý điều hòa hoạt động của các bộ phận, phòng ban cùng tham gia vào quá trình sản xuất các chương trình PTTT, giảm độ bất định
Hoạt động sản xuất chương trình PTTT đa dạng, phức tạp với sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban khác nhau cùng đội ngũ PV, BTV, MC, kỹ thuật, CTV hiện trường Trong đó, hoạt động tương tác với thính giả diễn ra xuyên suốt cả trước, trong và sau khi chương trình phát sóng
Vai trò của người quản lý là phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng
cá nhân, bộ phận rõ ràng và điều hòa, hướng dẫn hoạt động của các bộ phận, các thành viên tham gia phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng nhằm đem lại hiệu quả tương tác đạt cao nhất, hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra (trống sóng hay lọt những âm thanh lạ trên sóng) Trong những trường hợp phát sinh những sự
Trang 38kiện mới, người quản lý có thể dễ dàng điều phối PV, BTV ở các bộ phận khác nhau cùng thực hiện tin, bài để đảm bảo tiến độ phát sóng và thông tin được phản ánh đa dạng, sinh động, nhiều chiều
1.2.2.3.Quản lý hoạt động tương tác giúp các nhà quản lý nhanh chóng nắm bắt được nguy cơ xảy ra sai sót và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời
Chương trình PTTT là chương trình có thời điểm sản xuất chương trình diễn ra đồng thời với thời điểm phát sóng nên độ rủi ro rất cao Những rủi ro xảy ra có thể là nội dung thông tin thính giả cung cấp không chính xác, chất lượng thính giả tương tác không đảm bảo, sự cố máy móc kỹ thuật hay rủi ro khách mời Quản lý hoạt động tương tác giúp các nhà quản lý xây dựng những phương án dự phòng rủi ro, có những phương án xử lý kịp thời
Có thể khẳng định, quản lý hoạt động tương tác giữ vai trò quan trọng đối với các chương trình PTTT bởi giúp cho quá trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin đối với thính giả được thực hiện nhanh chóng, kịp thời đạt được mục đích thông tin của chương trình Đồng thời, khuyến khích sự tham gia tương tác của thính giả người dân, các nhà quản lý, các khách mời…làm cho nội dung các chương trình trở nên chân thực, khách quan và làm tăng sự sinh động, hấp dẫn Chương trình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu thu hút nhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế hơn hẳn của PTTT so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của biên tập viên và phát thanh viên
1.2.2.4 Quản lý hoạt động tương tác giúp ê kíp lựa chọn trúng đối tượng tương tác, nội dung tương tác và hình thức tương tác, từ đó, góp phần gia tăng chất lượng, hiệu quả của chương trình
Thông qua định hướng của chủ thể quản lý, nhà báo thực hiện chương trình PTTT biết cách lựa chọn chính xác đối tượng thính giả cần xuất hiện để tương tác trực tiếp (là khách mời của chương trình) hoặc đối tượng thính giả
Trang 39nên xuất hiện gián tiếp (qua gọi điện, gửi email…) Định hướng của chủ thể quản lý cũng giúp các biên tập viên chương trình lựa chọn nội dung câu hỏi, câu trả lời trong quá trình tương tác một cách phù hợp, kết nối giao lưu giữa nhà báo – khách mời – thính giả một cách linh hoạt, sinh động, ấn tượng……
1.3 Chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
1.3.1 Chủ thể quản lý
Ở cấp vĩ mô, chủ thể quản lý là các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí
Theo quy định tại Luật Báo chí 2016, cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí bao gồm: Chính phủ, Bộ Thông tin và truyền thông, các Bộ, cơ quan ngang
bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với
Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
Theo cổng thông tin điện tử của Bộ thông tin và truyền thông (Bộ TT & TT) có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quản lý báo chí và thông tin báo chí, thực hiện việc đo kiểm và công bố số liệu liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật, thực hiện lưu chiểu điện tử báo nói, hướng dẫn việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước; Quản lý nội dung, chất lượng và giá dịch vụ phát thanh, truyền hình theo quy định của pháp luật [58]
Ngoài ra còn có chủ thể quản lý gián tiếp, đó là các cơ quan quản lý của các Bộ, ngành liên quan đến các chương trình Chẳng hạn, như: Bộ Thông tin
và truyền thông, Bộ Y tế, Bộ GTVT, Ủy ban ATGT Quốc gia, Tổng cục đường bộ Việt Nam, Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Quảng Ninh, Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh, Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh, Ban ATGT Tỉnh Quảng Ninh… Đây là những cơ quan đơn vị thường xuyên cung cấp thông tin
và phối hợp với Phòng Biên tập phát thanh thực hiện tuyên truyền về các chính sách, quy định mới, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật âm nhạc… liên quan đến lĩnh vực Y tế, giao thông, âm nhạc
Trang 40Trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến nội dung quản lý tương tác ở
cấp vi mô
- Ở cấp vi mô, chủ thể quản lý trực tiếp về báo chí là những người được
giao nhiệm vụ quản lý tại các cơ quan báo chí Có nhiều cấp quản lý khác nhau:
+ Quản lý cấp cao: bao gồm (Tổng biên tập, Phó TBT; Tổng GĐ, Phó TGĐ; Giám đốc, Phó GĐ đài hoặc Giám đốc Trung tâm báo chí) Ví dụ, tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh gồm có TBT và Phó 7 TBT
TBT Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh là người có trách nhiệm
và quyền hạn cao nhất trong quản lý cơ quan báo chí Theo Luật BC năm
2016, TBT có nhiệm vụ: Chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản báo chí và trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ
và quyền hạn của mình; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động của cơ quan báo chí; Phê duyệt kết cấu nội dung ấn phẩm; kênh, chương trình phát thanh, truyền hình; báo, chuyêntrang của báo điện tử; chỉ đạo thực hiện đúng tôn chỉ, Mục đích và các quy định ghi trong giấy phép; Quản lý nhân sự,
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà báo, phóng viên, nhân viên; quản lý tài sản,cơ
sở vật chất của cơ quan báo chí; không được đảm nhiệm chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan báochí khác
Phó TBT có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng biên tập và thừa lệnh của Tổng biên tập chỉ đạo cấp dưới triển khai thực hiện các quyết định của Tổng biên tập Đồng thời phân công nhiệm vụ cho giám đốc phụ trách các kênh, giám sát chặt chẽ hoạt động của các kênh, báo cáo Tổng biên tập kết quả thực hiện để có biện pháp điều chỉnh kịp thời cho phù hợp, hiệu quả
Tại các đài phát thanh truyền hình, khi thực hiện các chương trình trực tiếp, TBT, Phó TBT có trách nhiệm quản lý gồm: định hướng, chỉ đạo xây dựng chương trình v.v Đối với hoạt động tương tác trong chương trình PTTT, vai trò của TBT được thể hiện ở việc định hướng nội dung chương