Phạm Thị Thu Hằng 2015: trong luận văn Tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thực tế ở Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ninh hiện nay, xây dựng khung lý thuyết về tổ chức sản xuấ
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐÀO THÙY LINH
TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
(Khảo sát trên dữ liệu năm 2019)
Chuyên ngành : Quản lý Báo chí truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 17 tháng 8 năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Nguyễn Văn Dững
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình do tự
nghiên cứu Luận văn được hoàn thành dưới sự giúp đỡ,
hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang (Học viện
Báo chí và Tuyên truyền); các số liệu trong luận văn là hoàn
toàn khoa học, có cơ sở rõ ràng và trung thực; kết luận của
luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Đào Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh” (Khảo sát trên dữ liệu 2019), tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô
giáo là giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là những thầy,
cô giáo trực tiếp giảng dạy trong quá trình tác giả luận văn theo học tại lớp cao học Quản lý Báo chí Truyền thông K24.1.B Các thầy, cô giáo đã truyền đạt tri thức, kinh nghiệm và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Trân trọng cảm ơn PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang đã nhiệt tình truyền dạy kinh nghiệm, định hướng và chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo các phòng liên quan, đặc biệt là Phòng Quốc
tế, Trung tâm Truyền thông tỉnh đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu khoa học đầu tiên của tác giả Mặc dù đã cố gắng, song do trình độ và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết
Tác giả mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, nhà khoa học, chuyên môn để luận văn này có thể hoàn chỉnh hơn và đó cũng là kinh nghiệm để tác giả có thể triển khai những công trình nghiên cứu sau này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Đào Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 9
1.1 Các khái niệm cơ bản của luận văn 9
1.2 Các yếu tố cấu thành sản xuất chương trình truyền hình thực tế 18
1.3 Quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế 25
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ NỤ CƯỜI HẠ LONG 45
2.1 Tổng quan về Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh và chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long 45
2.2 Khảo sát tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long 55
2.3 Đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân khi tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long 80
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ “NỤ CƯỜI HẠ LONG” 89
3.1 Những vấn đề đặt ra với việc tổ chức sản xuất chương trình “Nụ cười Hạ Long” của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh 89
3.2 Giải pháp 94
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 115
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình các phòng tại TTTT tỉnh 47 Hình 2.2: Logo chương trình Nụ cười Hạ Long 48 Hình 2.3: Chương trình Nụ cười Hạ Long có mục riêng trên baoquangninh.com.vn 71 Hình 2.4 Nụ cười Hạ Long được đăng tải trên trang page của chương trình 71 Hình 2.5: Video Trải nghiệm mùa thu Bình Liêu được đăng tải lại trên Page 72 Hình 2.6: Elena gặt lúa cùng bà con người Dao tại xã Sông Mooc, huyện
Bình Liêu 78
Hình 2.7 Elena chụp ảnh lưu niệm với các cô, các chị người Dao 79 Hình 2.8: Ivy Rose trả tiền cho người lái xe ôm tại TP Hạ Long 79
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xác định văn hóa ứng xử là sức mạnh mềm, góp phần quan trọng định
vị, tạo dựng hình ảnh của một điểm đến, Quảng Ninh xây dựng bộ quy tắc ứng xử “Nụ cười Hạ Long”, cụ thể hóa những hành vi “nên” và “không nên” của cán bộ, công chức; doanh nghiệp du lịch; người dân và cộng đồng địa phương và khách du lịch khi sinh sống và đến tham quan Quảng Ninh…nhằm xây dựng hình ảnh Quảng Ninh vùng đất du lịch văn minh, lịch sự; mảnh đất của những nụ cười
Để bộ quy tắc này được phổ biến rộng rãi tới người dân và du khách (bao gồm cả khách du lịch nước ngoài) Phòng Quốc tế (TTTT tỉnh) đề xuất xây dựng và sản xuất chương trình truyền hình thực tế “Nụ cười Hạ Long”, mục tiêu chính là tuyên truyền, phổ biến các nội dung của bộ quy tắc tới người dân và du khách; để bộ quy tắc ứng xử đi vào cuộc sống; quảng bá hình ảnh mảnh đất và con người Quảng Ninh
Ngay từ khi ra đời, chương trình đã được quan tâm, chỉ đạo sát sao, được hoàn thiện không ngừng để ngày càng hiệu quả hấp dẫn hơn Các chương trình đã được duy trì sản xuất trong 3 năm với tần suất đều đặn 02 số/tháng, phần nào tạo được dấu ấn riêng Tuy nhiên, sau một thời gian sản xuất chương trình dần bị chệch khỏi mục tiêu ban đầu, hàm lượng nội dung tuyên truyền về bộ quy tắc ứng xử ngày càng giảm mà thiên nhiều hơn về quảng bá giới thiệu hình ảnh du lịch Nguyên nhân chính do các nguyên tắc và quy trình Tổ chức sản xuất chương trình không được đảm bảo Tổ chức sản xuất còn mang tính kinh nghiệm, không được chuẩn hóa; bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục; thực sự cần gia cố bởi phương pháp khoa học căn cơ, bài bản
Ý thức được điều này TTTT tỉnh nói chung, và những người thực hiện chương trình nói riêng luôn xã định phải tự đổi mới, hiện đại hóa, tái cơ cấu
Trang 9để chương trình có thể theo kịp thực tiễn Và luận văn này được kỳ vọng sẽ là một trong những giải pháp về mặt khoa học để giúp cải tiến, phát huy hiệu quả TCSX chương trình
Trong luận văn này, tôi sẽ khảo sát về phương pháp TCSX tổng thể chương trình THTT của TTTT tỉnh Quảng Ninh mà cụ thể ở đây là chương trình “ Nụ cười Hạ Long” Trên cơ sở phân tích những thành công và hạn chế, nguyên nhân của những thành công và hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả TCSX chương trình Đây cũng chính là lý do để học
viên lựa chọn đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế
“Nụ cười Hạ Long” của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh”
(Khảo sát trên dữ liệu năm 2019)
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Báo chí truyền hình là môn học cơ sở trong chương trình đào tạo về lý luận và nghiệp vụ báo chí Đây là một lĩnh vực đã được nhiều tác giả nghiên cứu với nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên hiện nay tình hình nghiên cứu về các chương trình THTT, nhất là chương trình THTTcó sự tham gia của người nước ngoài còn khá hạn chế
Trong hệ thống lý luận hiện tại, cuốn Giáo trình Báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn là một tài liệu đã có, tương đối hoàn thiện và đầy đủ các lý thuyết căn bản về truyền hình Cuốn sách trình bày khá chi tiết các vấn đề của báo chí truyền hình như vị trí, vai trò, lịch sử ra đời và phát triển của truyền hình; khái niệm, đặc trưng; nguyên lý của truyền hình; chức năng xã hội của truyền hình; kịch bản và kịch bản truyền hình; các thuật ngữ truyền hình…
Cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của TS Trần Bảo Khánh cũng
đề cập đến nhiều vấn đề của báo chí truyền hình Trong đó, tác giả cũng bước
đầu nhận diện đặc điểm chính của các chương trình truyền hình hiện đại: “Đó
là các chương trình mà người xem được thấy rõ con người thật, tình huống thật và sự kết hợp khéo léo giữa tình hình thực tế đang diễn ra và với cách
Trang 10giải quyết, ứng xử của người dẫn chương trình…”[22, tr.25] Tác giả cũng
nêu bật được các thế mạnh của các chương trình này, đó là tính trực tiếp, tính bất ngờ và khả năng lôi cuốn khán giả truyền hình cùng tham gia…Đây là những kiến thức vô cùng quan trọng giúp tác giả có thể nghiên cứu đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long của Trung
tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh” (Khảo sát trên dữ liệu 2019)
Th.s Đinh Ngọc Sơn (2016), trong cuốn Truyền hình thực tế (Giáo trình nội bộ) cung cấp hiểu biết cơ bản về: các quan niệm, khái niệm về truyền hình
thực tế; Lịch sử hình thành và phát triển của truyền hình thực tế trên thế giới
và ở Việt Nam; Đặc điểm của truyền hình thực tế; Các dạng chương trình truyền hình thực tế; Tâm lý tiếp nhận của khán giả; Quy trình sản xuất chương trình truyền hình thực tế; Yêu cầu về ekip sản xuất chương trình truyền hình thực tế Cuốn sách là tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả thực hiện đề tài
Ths Nguyễn Thị Thu Hương (2014), trong luận văn Truyền hình thực
tế ở Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa Việt đưa ra những khái niệm liên quan
đến đề tài Phân tích thực trạng của các chương trình truyền hình thực tế hiện nay Chỉ ra nguyên nhân của những cái được, hạn chế chưa phù hợp với văn hóa Việt Nam của các chương trình truyền hình thực tế Từ đó thấy được bất cập trong quá trình "Việt hóa" các chương trình truyền hình mua bản quyền từ nước ngoài vào Việt Nam
Ths Hoàng Quốc Lê (2014), trong luận văn Thực trạng sản xuất chương trình truyền hình thực tế Tại Kênh VTV6- Đài Truyền hình Việt Nam, phân
tích những ưu nhược điểm của các chương trình truyền hình thực tế được phát trên kênh VTV6 và tác động, ảnh hưởng của các chương trình đó tới công chúng Nêu rõ những khó khăn, thuận lợi trong điều kiện sản xuất của những người làm truyền hình thực tế tại VTV6; Trên cơ sở phân tích những
ưu, nhược điểm của truyền hình thực tế và cách làm truyền hình thực tế hiện
Trang 11tại ở VTV6, tác giả đề xuất một số giải pháp thay đổi, xây dựng quy trình sản xuất theo xu hướng mới nhằm nâng cao chất lượng chương trình
Th.s Trương Thị Thanh Thảo (2015) trong luận văn Cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế tại các Đài phát thanh truyền hình ở miền Tây Nam Bộ (Khảo sát Đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp) trình
bày cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền hình thực tế Thực tế sản xuất chương trình truyền hình thực tế của các đài truyền hình ở miền Tây Nam Bộ Những giải pháp cho chương trình truyền hình thực tế của các đài truyền hình
ở miền Tây Nam Bộ
Th.s Nguyễn Xuân Bằng (2018): Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí của các Đài PT-TH khu vực Đông Đông Bắc hiện nay (
Khảo sát các Đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh năm 2015) Luận văn
đã xuất dựng các khái niệm liên quan; đặc điểm, tính chất tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí; yêu cầu về vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí; Phân tích thực trạng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí các tỉnh Đông Đông Bắc trong đó có Quảng Ninh; đồng thời đưa ra những giải pháp và khuyến nghị về vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại những Đài này
Th.s Phạm Thị Thu Hằng (2015): trong luận văn Tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thực tế ở Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ninh hiện nay, xây dựng khung lý thuyết về tổ chức sản xuất các chương trình
truyền hình thực tế thông qua việc khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quy trình sản xuất và chất lượng các chương trình THTT tại QTV; đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng
Th.s Nguyễn Huyền Trang (2018): Lựa chọn và sử dụng nhân vật trải nghiệm trong các chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV6 - Đài Truyền hình Việt Nam Luận văn trình bày một số lý luận trong việc lựa chọn
và sử dụng nhân vật trải nghiệm trong các chương trình truyền hình thực tế;
Trang 12Khảo sát thực trạng lựa chọn và sử dụng nhân vật trải nghiệm trong các chương trình truyền hình thực tế trên kênh VTV6; Một số đề xuất trong việc lựa chọn và sử dụng nhân vật trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình thực tế
Trên thế giới đã có nhiều đề tài, luận án, tài liệu nghiên cứu của các nhà báo, các đài truyền hình, các công ty truyền thông Dưới góc độ tâm lý công chúng, các khảo sát xã hội học đều được thực hiện nhưng dựa trên cơ sở công chúng Mỹ, công chúng các nước phát triển với các đặc điểm về văn hóa, tập quán hoàn toàn khác biệt với Việt Nam
Ví dụ như:
The sociological & Psychological impact of Reality – Based Television
on the American Culture (Tác động xã hội học và tâm lý của truyền hình thực
tế lên văn hóa Mỹ) – Tiffany J.Ruocco, 2004
An Exploratory Study of Reality Appeal: Uses and Gratification of Reality TV Shows ( Lý giải sức hấp dẫn thực tế: Sử dụng và sự thỏa mãn khán giả của các chương trình Truyền hình thực tế) – Sizi Papacharissi & Andrew L.Mendelson,2007
Reality TV and interpersonal relationship perceptions (Truyền hình thực tế và một số vấn đề về mối quan hệ cá nhân) – Kristin L.Cherry,2008
Reality TV: Audiences and Factual Television (Truyền hình thực tế: Khán giả và Thực tế) - Annette Hill
Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên cứu các đề tài được thực hiện trước đây,
tác giả nghiên cứu cam đoan đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh”
(Khảo sát trên dữ liệu năm 2019) là hoàn toàn mới, không trùng lặp với các công trình đã được công bố
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn lien quan đến đề tài, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng chương trình này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận – thực tiễn cơ bản về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, những kết quả và hạn chế trong quá trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ Cười Hạ Long
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ
Long của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Trang 14lý luận báo chí; Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở các lý thuyết truyền thông, lý thuyết về công chúng truyền thông, lý thuyết về quản lý thông điệp;
Luận văn vận dụng, kế thừa và phát triển các công trình khoa học của các tác giả đi trước đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để khảo cứu các công trình nghiên cứu lý thuyết, lý luận, tiếp cận các giáo trình, tài liệu để đúc kết ra những vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn báo chí – truyền thông
- Phương pháp phân tích nội dung và nghiên cứu mô hình: khảo sát nội dung và cách thức tổ chức chương trình Nụ cười Hạ Long từ tháng 1/2019 đến tháng 12/2019
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn 1 đồng chí lãnh đạo Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh phụ trách chương trình và xây dựng nhuận bút chấm cho chương trình; Ban biên tập chương trình gồm 3 phóng viên viết, biên tập và 2 đạo diễn hình, quay phim tham gia nhiều nhất vào quá trình sản xuất chương trình trong năm 2019
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến tổ chức sản xuất chương trình truyền hình và chương trình truyền hình thực tế
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá, giải pháp cụ thể để lãnh đạo Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh có chủ trương phát triển chương trình vừa đảm bảo đạt mục đích truyền thông đề ra, vừa thu hút được
Trang 15công chúng; về phía ekip sản xuất chương trình, luận văn nhằm thống nhất phương pháp, nguyên tắc trong quá trình tổ chức sản xuất chương trình để chất lượng chương trình và hiệu quả sản xuất được nâng cao
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu báo chí, phục
vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí
- Luận văn sẽ giúp cho Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, cụ thể là ekip thực hiện chương trình Nụ cười Hạ Long nhận thức đầy đủ hơn và hiểu biết một cái toàn diện về chương trình truyền hình thực tế, tầm quan trọng, quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ cười Hạ Long; thống nhất các nguyên tắc và phương thức tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế có sự tham gia của người nước ngoài để đạt được mục tiêu truyền thông đề ra; để từ đó tận dụng hiệu quả các nguồn lực, năng cao chất lượng nội dung và hiệu quả truyền thông của chương trình
- Luận văn có tác dụng thiết thực trong hoạt động, nghiệp vụ tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế nói riêng và chương trình truyền hình nói chung tại Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh
7 Kết cấu của luận văn
Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính, luận văn bao gồm 3 chương; 8 tiết Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế
Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực
tế Nụ cười Hạ Long
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế Nụ Cười Hạ Long
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 1.1 Các khái niệm cơ bản của luận văn
1.1.1 Tổ chức sản xuất
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa tổ chức là “sắp xếp bố trí thành các
bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung” [36, tr.1662] Và “sản xuất là việc tạo ra của cải vật chất” [36, tr.1427]
“Tổ chức” theo từ gốc Hy Lạp “Organon” nghĩa là “hài hòa”, từ tổ chức nói lên một quan điểm rất tổng quát “đó là đem lại bản chất thích nghi với sự sống” Theo Chester I.Barnard trong cuốn Organization Theory (Lý thuyết tổ chức) thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức”1
Theo Harold Koontz, Cyrill Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn Managemnt (Sự quản lý, điều hành) năm 1984 thì công tác tổ chức là “việc nhóm gộp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quản lý với quyền hạn cần thiết để giám sát nó và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết ngang và dọc trong cơ cấu của doanh nghiệp” 2
Đề cập đến khái niệm sản xuất, giáo trình giảng dạy môn tổ chức lao động khoa học – Học viện công nghệ bưu chính viễn thông cho rằng: “Quá trình sản xuất là quá trình con người dùng sức lao động nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm có ích cho nhu cầu xã hội” [30, tr.13] Như vậy TCSX là những hoạt động của con người dùng tư liệu sản xuất tác động vào đối tượng lao động cần thiết để tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn cho xã hội
Trang 17Trong lĩnh vực truyền thông có thể hiểu việc TCSX là tạo ra, làm nên các sản phẩm truyền thông Ví dụ như: TCSX ra tờ báo in, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, chương trình Thời sự, chương trình Chuyên đề
Qua trao đổi ý kiến với các nhà TCSX chương trình và đúc rút từ hoạt động thực tiễn của bản thân tác giả đưa ra khái niệm: TCSX là hoạt động sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn nhân lực, trang thiết bị chuyên ngành một cách có kế hoạch và hợp lý, phát huy mọi khả năng sáng tạo của con người để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao
1.1.2 Khái niệm“Chương trình truyền hình” và „Chương trình truyền hình thực tế”
Truyền hình
Ra đời từ đầu thế kỷ XX, có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình Hai tác giả người Pháp Brigitte và Didier Deormeaux, trong cuốn “Phóng sự truyền hình”, quan niệm rằng truyền hình là “truyền thanh có minh họa”
“Làm thông tin trên truyền hình, cũng là nói Và nó là mô tả bằng cách trả lời những câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Tại sao?” [1, tr.121]
Tác giả Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001 cho rằng: “Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu bằng hai từ Tele có nghĩa là
“ở xa” và vision có nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [34, tr.143]
Trong Tập bài giảng môn Truyền hình của PGS, TS Dương Xuân Sơn, Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn: “Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có hình ảnh động và hình ảnh tĩnh” [30, tr.3]
Trang 18Cả hai định nghĩa trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh Đây chính là đặc trưng của truyền hình Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn có chung một cơ sở ngôn ngữ, cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin
Về kỹ thuật, truyền hình được hoạt động theo nguyên lý cơ bản sau: hình ảnh về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độ sáng tối, màu sắc Đó là tín hiệu hình (tín hiệu video) Sau khi được xử lý, khuyếch đại, tín hiệu hình được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình Phần âm thanh cũng được thực hiện theo một nguyên lý tương tự như thế để rồi đưa ra loa
Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, thông tin Đến ngày nay, truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, có vai trò quan trọng trong định hướng dư luận xã hội So với các loại hình truyền thông đại chúng khác, truyền hình là phương tiện ra đời muộn, song nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hình kết hợp với phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh Truyền hình tổng hợp được nhiều ưu điểm từ các loại hình báo chí khác như có sự khái quát triết lý của báo in, có tính chuẩn xác cụ thể bằng hình, âm thanh của điện ảnh, phát thanh…Có thể xem
“truyền hình” là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí [30, tr.12]
Trang 19Nhờ kết hợp các yếu tố kỹ thuật hiện đại, truyền hình có ưu điểm là cùng lúc cung cấp cả hình và tiếng cho người xem Do đó, truyền hình có khả năng hấp dẫn cao hơn so với các loại hình báo chí khác Tuy nhiên, vì phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật nên truyền hình phụ thuộc vào phát sóng và phải có máy thu hình để theo dõi thông tin Cũng vì đặc tính riêng biệt nên việc xây dựng một chương trình truyền hình khó khăn hơn so với các loại hình báo chí khác
Đội ngũ tham gia làm chương trình truyền hình mang tính tập thể cao, bao gồm sự tham gia của biên tập, phóng viên, đạo diễn, quay phim, họa sỹ,
kỹ thuật và các bộ phận hành chính phụ trợ khác dưới sự điều hành tổ chức chặt chẽ của một cơ chế thống nhất
Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của tác giả Trần Bảo Khánh, thì “với sự xuất hiện của phát thanh, sau đó là truyền hình thì cũng xuất hiện thuật ngữ chương trình Đây là thuật ngữ mang tính bản chất của chúng Có thể đưa ra khái niệm như sau về chương trình: Là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [21, tr.30] và “chương trình tạo thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi xích giao tiếp”[21, tr.30]
Thuật ngữ “Chương trình truyền hình” được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau GS.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng : “Thuật ngữ chương trình
Trang 20truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp.Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng
để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ” [34, tr.142]
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn: “ Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả: [31, tr.113]
Quan niệm của PGS.TS Dương Xuân Sơn là sự cụ thể hóa cách hiểu
thứ hai về thuật ngữ “ chương trình truyền hình” ở các khía cạnh khác nhau:
Từ gó độ kỹ thuật truyền tải thông tin, chương trình truyền hình được xem là một tổng thể logic csac chất liệu chứa thông tin trên cơ sở những nguyên tắc phối hợp nhất định để đạt được mục đích đưa ra được thông điệp
cụ thể, rõ ràng khi xây dựng chương trình Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền
hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [26, tr.30] Điều này có thể được lý giải là bởi chương trình truyền
hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể Những thông tinh
mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm
cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thể hiện, phù hợp với tâm lý
Trang 21tiếp nhận của con người Và chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình
Từ góc độ vài trò của “chương trình” trong sứ mệnh thông tin của
Kênh truyền hình, chương trình được hiểu là “hình thức thể hiện thực tế, là
sự vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội”[41, tr.13] Chương
trình là linh hồn của các đài truyền hình Không có chương trình thì cũng không có truyền hình
Khái niệm “thực tế” được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau Đối với báo chí thực tế mang giá trị khách quan, nó tồn tại trong cuộc sống Nhà báo đi thực tế có nghĩa là trực tiếp đến các cơ sở, chứng kiến sự kiện, nắm bắt thông tin, lấy tư liệu…Như vậy, thực tế là “đối tượng” để nhà báo phản ánh trong tác phẩm của mình
Thực tế phản ánh trong các sản phẩm truyền thông: các phương tiện truyền thông ngày càng phong phú với sự góp mặt của các loại hình truyền thông mới Mạng internet ra đời là nền tảng cho nhiều loại hình tham gia truyền thông mang tính toàn cầu trong đó có báo chí Sự cập nhật tin tức, hình ảnh video liên tục trên mạng đã mang đến cho công chúng những giá trị mới từ thực tế sinh động Các quan niệm, góc nhìn trái chiều về một sự kiện vấn đề thường xuyên xuất hiện trên các mạng xã hội
Ngày nay công chúng tìm kiếm “thực tế” trên các phương tiện truyền thông với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ Ở Việt Nam, công cụ Google đã trở thành phổ biến khi tìm kiếm thông tin trên internet Chỉ cần gõ từ khóa
Trang 22trên trang tìm kiếm là hàng loạt dữ liệu sẽ hiện ra Các dữ liệu đó được tập hợp từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhiều quốc gia khác nhau, do đó ngày nay nhận thức thực tế rất đa dạng và phong phú
Đối với hoạt động báo chí, “thực tế” như chủ thể để báo chí lựa chọn
và phản ánh trên phương tiện truyền thông Mỗi sự kiện diễn ra tùy vào mức
độ thông tin mà công chúng nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Hoạt động của con người trong xã hội cũng là một bộ phận của thực tế và các phương tiện truyền thông cũng thường xuyên phản ánh các hoạt động của con người
Truyền hình thực tế
Trên thế giới đang có hai cách gọi về truyền hình thực tế: reality show
và reality television Khi sử dụng 2 cách gọi này có thể chú ý tới một số vấn
đề Reality show thường đề cập đến những chương trình truyền hình thực tế trình chiếu trên các kênh truyền hình Truyền hình thực tế bùng nổ hàng loạt show lớn ra đời như Survivor, Big Brother, Top model, American idol… Những chương trình này có thể được sản xuất từ những công ty, tập đoàn truyền thông… và được giới thiệu trên truyền hình ở nhiều quốc gia
Reality television thường nói đến các kênh truyền hình thực tế với phương thức sản xuất và cách tổ chức đảm bảo chương trình mang tính thực
tế Khi mới xuất hiện truyền hình thưc tế, các kênh truyền hình tổ chức sản xuất và phát sóng chương trình Tuy nhiên, khi truyền hình thực tế phát triển mạnh thu hút khán giả mang lại lợi nhuận quảng cáo cao thì nó đã trở thành lĩnh vực mà các nhà đầu tư quan tâm Những show truyền hình thực tế bắt đầu nở rộ với các ngôi sao truyền hình thực tế…và bản quyền chương trình được bán cho nhiều quốc gia
Trên nguyên tắc để cho người xem được nhìn thấy những “sự thật” như vốn có nên các nhà sản xuất thường sử dụng cách thức ghi hình giấu máy quay hoặc tạo tình huống để nhân vật tham gia bộc lộ cảm xúc thật
Trang 23Theo tác giả Annette trong cuốn “Reality TV: Audiences and Factual
Television” của nhà xuất bản Routledgen Taylor&Francis Group: “Truyền hình thực tế (Reality TV) là một thể loại đặc biệt của truyền hình có cơ sở dựa trên các thể loại khác của Truyền hình như phim tài liệu…Reality TV là một thể loại của Truyền hình có nội dung câu chuyện bằng hình ảnh về những con người có thật, sự kiện có thật, mô tả, tường thuật về nhân vật chính, trong đó ghi lại toàn bộ quá trình họ tham gia chương trình và đem lại cho người xem những hình ảnh chân thật nhất.”3
Trong luận văn thạc sỹ: “ Thực trạng sản xuất chương trình truyền hình thực tế tại kênh VTV6 – Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Hoàng Quốc
Lê có đoạn: “ Tại Việt Nam, hiện tại chưa có một định nghĩa chính xác cho khái niệm này bằng tiếng Việt, tuy nhiên, trong khuôn khổ một chương trình đào tạo cho biên tập viên, quay phim và đạo diễn kết hợp giữa Ban Thanh thiếu niên – VTV6, Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình CFi –
Cộng hòa Pháp đã đưa ra một định nghĩa chung như sau: Truyền hình thực tế
là chương trình đưa con người thật vào một hoàn cảnh được dàn dựng, hiệu quả cuối cùng là cảm xúc thực” [7, tr.16]
Theo tạp chí Radio Film & TV (Trung Quốc), “Truyền hình thực (Real TV) thông qua những cảnh quay chân thực và hình ảnh tài liệu ghi lại của đương sự để tái hiện những cảnh quay khiến người xem phải thót tim”
“Truyền hình thực tế (Reality TV) là những chương trình truyền hình theo hình thức trò chơi, được ra đời vào những năm 90 của thế kỷ 20 Các chương trình truyền hình thực tế luôn là sự kết hợp hoàn hảo giữa luật chơi của các trò chơi và hành động, biểu hiện thực tế của mỗi người chơi Máy quay luôn bám sát người chơi, những sự việc của chương trình Thậm chí, người tham gia không cần quan tâm tới máy quay, hay đôi khi chính họ cũng không biết mình được ghi hình Đó có thể là những người trong một cuộc thi thể thao,
3
X.thêm Annette Hill (2015), Reality TV: Audiences and Factual Television, Routledge, Printed in USA
Trang 24thi sắc đẹp, thi giọng hát; trong các trò chơi trí óc hay vận động; trong các cuộc phiêu lưu, khám phá thế giới hay trong những buổi phỏng vấn hoặc chỉ đơn thuần là trong một tình huống dở khóc dở cười”
Có thể nhận thấy điểm chung của các quan niệm về truyền hình thực tế
là một dạng chương trình truyền hình mang phong cách thực, có những nét khác biệt so với truyền hình truyền thống, mà yếu tố cơ bản nhất là máy quay ghi lại những hình ảnh, tình huống, sự kiện, những cảm xúc chân thật của người tham gia Nội dung của truyền hình thực tế là cách con người đối xử với nhau và ứng phó với các thử thách… càng sống động, càng căng thẳng thì càng hấp dẫn Các quan niệm đều nhấn mạnh Truyền hình thực tế là những chương trình có nội dung ít phụ thuộc vào các kịch bản viết sẵn, sự sắp đặt và diễn xuất được hạn chế tối đa, trong khi những cảm tưởng tâm sự của người tham gia chương trình được khắc họa, làm nổi bật và đó là điều làm lên sự khác biệt, thể hiện rõ nét đặc trưng của Truyền hình thực tế Sự đặc biệt của các chương trình Truyền hình thực tế là tính thật của sự việc, con người thật – cảm xúc thật - ấn tượng thật Sự tự nhiên, sinh động, bất ngờ là yếu tố làm nên sức hút cho truyền hình thực tế Đây thực sự là một cơn gió lạ, là món ăn mới mà giới truyền thông dành cho khán giả
Từ những khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm “Chương trình truyền hình thực tế” sử dụng trong luận văn này là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật, dịch vụ, là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội
và là cầu nối giữa công chúng và những người làm truyền hình; dựa trên nguyên tắc tôn trọng giá trị khách quan, bối cảnh, nhân vật, hành động, cảm xúc thật đang diễn ra, hạn chế những can thiệp mang tính chủ quan
của người sản xuất
Trang 251.1.2 Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế (THTT)
TCSX là khâu quan trọng trong quá trình hình thành tác phẩm báo chí Đối với chương trình truyền hình, tính tập thể được thể hiện rõ ở khâu TCSX Sản phẩm truyền hình là kết quả của quá trình lao động nhiều thành phần tham gia như: Đạo diễn, kịch bản, phóng viên viết, phóng viên quay… Với những chương trình truyền hình thực tế, đội ngũ những người tham gia sản xuất chương trình còn đông đảo hơn và ở nhiều vị trí khác nhau như đạo diễn, phóng viên viết, phóng viên quay, nhân vật trải nghiệm, kỹ thuật viên…
Để tạo ra sản phẩm báo chí THTT trước tiên người chịu trách nhiệm TCSX phải đề ra mô hình sản xuất, cách thức sản xuất, dựa trên nền tảng tri thức chuyên ngành truyền hình và những công cụ sản xuất Sau đó tập hợp một lực lượng lao động có những tiêu chuẩn năng lực nhất định thường xuyên tham gia sáng tạo; sản phẩm tạo ra là sản phẩm tập thể, được phổ biến rộng rãi bằng phương tiện truyền hình
Vậy theo tác giả luận văn, TCSX chương trình THTT được hiểu là:
Quá trình lực lượng lao động có nghiệp vụ làm truyền hình liên kết nhau bởi những quy chế tổ chức lao động chặt chẽ để xây dựng kế hoạch, kịch bản chương trình, điều hành đội ngũ sản xuất chương trình; nhằm tạo ra một loại sản phẩm báo chí được công chúng đặc biệt quan tâm là chương trình THTT,
có khả năng đáp ứng các nhu cầu thông tin, giải trí
1.2 Các yếu tố cấu thành tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế
Hoạt động tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế bao gồm các yếu tố sau:
- Tổ chức nhân sự
- Tổ chức hệ thống máy móc trang thiết bị
- Tổ chức sản xuất nội dung thông tin
Trang 26Cũng như mọi quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm khác, việc tạo ra một chương trình truyền hình đòi hỏi phải có yếu tố đầu vào, đầu ra, các trang thiết bị, khoa học công nghệ và nhân sự được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm
1.2.1 Tổ chức nhân sự
Nhân sự được hiểu là người làm công việc nào đó ở cơ quan hoặc một nơi có tổ chức Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều gắn liền với một phương thức sản xuất nhất định Nhưng dù ở bất cứ xã hội nào vấn đề mấu chốt của quá trình sản xuất là tổ chức nhân sự Một doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc sử dụng kém nguồn tài nguyên nhân sự
Việc tổ chức nhân sự bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Phân tích công việc
- Tuyển dụng nhân sự
- Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân sự
- Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất tinh thần đối với nhân sự
Tổ chức nhân sự gắn liền với việc tổ chức, bất kỳ cơ quan, doanh nghiệp nào hình thành và hoạt động đều phải có kế hoạch tổ chức nhân sự, mức độ phức tạp tùy thuộc vào loại hình công việc
Nhân sự của một ekip thực hiện chương trình truyền hình thực tế có nhiều bộ phận: bộ phận kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng, thiết kế,…), bộ phận sản xuất (Nhà sản xuất, đạo diễn, phóng viên viết, phóng viên quay, kỹ thuật dựng…)
Một chương trình truyền hình thực tế không phải là sản phẩm của một
cá nhân nào mà là sản phẩm của tập thể Đây là điểm khác biệt của truyền hình so với tác phẩm báo in, báo mạng điện tử Người làm báo in, báo mạng
Trang 27điện tử có thể tự thân độc lập đi viết bài, chụp ảnh, biên tập nộp cho người duyệt bài và đăng bài Còn để sáng tạo một chương trình truyền hình thì có nhiều khâu, mỗi khâu cần sự tham gia của một bộ phận nhân sự như: biên tập, quay phim, kỹ thuật… Đặc biệt, đối với chương trình truyền hình truyền hình thực tế, vai trò của các bộ phận nhân sự là ngang nhau, nếu thiếu bộ phận nào thì không thể đảm bảo phát sóng chương trình Với tính chất như vậy, việc tổ chức sản xuất cho nhân sự trong quá trình sản xuất chương trình hết sức quan trọng Mỗi nhân sự trong quy trình sản xuất có chuyên môn riêng, nhưng đều phải hướng tới chương trình chung Nhân sự trong một kênh truyền hình bao giờ cũng phức tạp, cồng kềnh hơn so với các tòa soạn báo thuộc những loại hình báo chí khác Chi phí cho nhân sự cũng tốn kém hơn
Việc tổ chức nhân sự hết sức quan trọng trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế nói riêng và trong hoạt động của các cơ quan báo chí nói chung Người làm báo được xem là “nhân vật trung tâm của các
cơ quan báo chí” [39, tr.216] và việc “tổ chức và quản lý để đào tạo và sử dụng tài năng thật sự là chuyện đáng bàn Đã làm nghề thì phải được đào tạo” [39, tr.218]
Mỗi cơ quan sản xuất chương trình truyền hình có tổ chức nhân sự khác nhau, có thể phân theo phòng: Phòng Thời sự, Phòng Văn nghệ - Thể thao – Giải trí, Phòng Chuyên đề… hoặc phân theo tính chất nội dung thông tin: Phòng kinh tế, Phòng văn hóa, Phòng thể thao… Việc tổ chức nhân sự vào các phòng ban phải tùy thuộc và năng lực, nguyên vọng của từng người Thực
tế, có những người làm thời sự rất tốt nhưng không phù hợp làm chương trình chuyên đề và ngược lại Người làm quản lý phải làm thế nào để khai thác tối
đa năng lực của từng nhân sự
Chất lượng nhân sự làm truyền hình rất quan trọng, việc tổ chức lực lượng nhân sự đó như thế nào cho hợp lý còn quan trọng hơn Không giống các ngành nghề khác, nghề báo đòi hỏi tính sáng tạo cao và vai trò của cái tôi
Trang 28cá nhân Tờ báo nào cũng có phong cách riêng, nhưng mỗi bài báo lại cũng có
sự khác nhau, có màu sắc Việc quản lý tổ chức nhân sự trong một cơ quan báo chí nói chung và truyền hình nói riêng vừa phải đảm bảo tính thống nhất
về tư tưởng, hành động nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích ý kiến cá nhân của người làm báo, phát huy tinh thần sáng tạo
Bên cạnh nhân sự sản xuất chương trình truyền hình, các kênh hiện nay còn có thêm đội ngũ cộng tác viên, “để cho cơ quan báo chí thu hút được trí tuệ toàn xã hội vào việc nâng cao chất lượng tờ báo” [39, tr.220] Cộng tác viên có thể là người giúp nhân sự chính ở một khâu sản xuất nào đó của chương trình truyền hình hoặc là những người tuy không làm nghề báo nhưng
có hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực mà chương trình truyền hình đề cập đến Ở nhiều lĩnh vực, tuy phóng viên, biên tập viên là những người giỏi nghiệp vụ nhưng sự hiểu biết sâu về nội dung còn hạn chế Người viết dù giỏi đến đâu cũng không thể thay thế được trí tuệ toàn xã hội Những cộng tác viên am hiểu và có uy tín sẽ giúp người thực hiện chương trình khỏa lấp điểm yếu này Những nhân sự chính của kênh có thể dần dần học tập thêm về chuyên môn từ những cộng tác viên này Nhiều cơ quan báo chí đã tổ chức các Tổ Tư vấn, Hội đồng biên tập để giúp đỡ ban biên tập và các nhân sự chính thực hiện tốt phương hướng đề ra của chương trình, tham gia góp ý về đề tài, nội dung của chương trình
1.2.2 Tổ chức hệ thống máy móc trang thiết bị
Truyền hình ra đời nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật Nhờ yếu tố này, truyền hình ngày càng có những bước tiến mới về thực hiện chương trình và hệ thống thu phát sóng Tổ chức sản xuất hệ thống máy móc trang thiết bị là công việc không thể thiếu trong việc sản xuất chương trình truyền hình
Có thể nói, trong các thể loại báo chí, truyền hình có độ phụ thuộc và máy móc trang thiết bị lớn nhất Ngay từ khâu chuẩn bị sản xuất, người tổ
Trang 29chức phải có kế hoạch cụ thể về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức thực hiện, nguồn kinh tế, tính khả thi trong việc sử dụng các máy móc trang thiết bị Việc tổ chức sản xuất hệ thống máy móc trang thiết bị một cách hiệu quả còn có tác dụng trong việc tối ưu hóa lợi ích kinh tế, tiết kiệm thời gian và tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, hiệu suất cao Đối với một kênh truyền hình, bên cạnh bộ phận nội dung, bộ phận kỹ thuật chiếm tỷ lệ đông đảo, bao gồm cả kỹ thuật dựng, kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật phát sóng…
Thực chất của việc sử dụng máy móc trang thiết bị là sự áp dụng kỹ thuật và công nghệ trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình Sản xuất chương trình truyền hình có đặc thù là vừa mang tính nội dung nghệ thuật, vừa mang tính kỹ thuật Sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa hai yếu tố này
sẽ mang lại thành công cho chương trình
So với giai đoạn đầu phát triển của truyền hình, kỹ thuật phục vụ lĩnh vực này hiện đã phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thành tựu lớn, luôn mang đến cho phóng viên, đạo diễn, người làm chương trình những tính năng mới mẻ Điều này đòi hỏi phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn, thường xuyên giữa
bộ phận kỹ thuật và biên tập để tiếp thu, học tập những đổi mới về công nghệ
Hệ thống truyền hình gồm rất nhiều trang thiết bị máy móc có chức năng khác nhau như: tạo tín hiệu hình, gia công xử lý tín hiệu, tạo các dạng kỹ xảo truyền hình, phát sóng, ghi, thu tín hiệu hình Ngoài ra còn có cả các thiết
bị âm thanh, ánh sáng, trường quay
Hiện nay, các khả năng của thiết bị thu phát tín hiệu như vệ tinh, internet giúp việc truyền tải thông tin được nhanh chóng, dễ dàng hơn Hay đơn giản từ bàn dựng analog đến bàn dựng phi tuyến cũng giúp người làm chương trình lựa chọn được những kỹ xảo đẹp, quy trình dựng cũng đơn giản hơn nhiều
Hệ thống máy móc trang thiết bị kỹ thuật mang lại nhiều tiện ích cho quá trình sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho hệ
Trang 30thống hiện đại rất đắt đỏ Cho nên việc thường xuyên đổi mới những máy móc hiện đại còn tùy thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi kênh truyền hình Không phải cứ khi khoa học kỹ thuật phát minh ra máy móc, công nghệ mới
về truyền hình là bất cứ một kênh truyền hình nào cũng có thể tiếp cận được Ngoài ra, mỗi khi có công nghệ mới, các kênh truyền hình phải tập trung đào tạo kỹ thuật cho nhân sự
1.2.3 Tổ chức sản xuất nội dung thông tin
Việc xây dựng nội dung chương trình truyền hình rất quan trọng, quyết định chất lượng tác phẩm Để xây dựng nội dung một chương trình truyền hình, cần trải qua các bước sau:
- Xác định mục tiêu, chủ đề, tư tưởng của chương trình
- Lên kế hoạch về bố cục chương trình Đây là sự sắp xếp và phân bổ nội dung, chi tiết vào các vị trí xác định, trình bày như thế nào để khán giả theo dõi một cách thuận lợi, nhanh nhất và rõ nét trong việc tiếp cận thông tin
- Thực hiện các bước sản xuất chương trình truyền hình
Một chương trình truyền hình bắt đầu được sản xuất sau khi kịch bản được duyệt Việc tổ chức sản xuất nội dung thông tin cho chương trình truyền hình được thực hiện theo các bước sau:
Lên ý tưởng Duyệt kịch bản Điều phối sản xuất Sản xuất Sản xuất hậu kỳ Kiểm duyệt Phát sóng
Mỗi bước sẽ có nhân sự làm nội dung và kỹ thuật phù hợp để thực hiện các phần việc nội dung kịch bản yêu cầu Nhiệm vụ của việc tổ chức sản xuất chương trình là tổ chức, sắp xếp, đôn đốc, kiểm tra hiệu quả các nhân sự thuộc bộ phận nội dung và kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ của mình
Lên ý tưởng: Bao gồm các phóng viên, biên tập viên, quay phim là
những người lên ý tưởng về nội dung chương trình truyền hình thực tế Họ xây dựng kịch bản, chịu trách nhiệm chính cho toàn bộ quá trình sản xuất
Trang 31Duyệt kịch bản: Ý tưởng chương trình được trình cho lãnh đạo phòng
góp ý, điều chỉnh và thông qua để tiến hành sản xuất
Điều phối sản xuất: Bước này được thực hiện sau khi kịch bản do biên
tập lên ý tưởng được duyệt Công việc điều phối bao gồm lên kế hoạch bố trí, phân công các phương tiện kỹ thuật là máy quay, ánh sáng, thiết bị, chọn loại
xe nào, mic- cài, flycam, gopro, kỹ thuật video, audio… để thực hiện sản xuất chương trình Đây là công đoạn cần tổ chức huy động nhiều nhân sự như: quay phim, nhân vật trải nghiệm, kỹ thuật viên, lái xe…
Sản xuất: Là công đoạn mà các nhân sự trong khâu biên tập, điều phối
sản xuất bắt đầu phối hợp với nhau để ghi hình chương trình theo kịch bản đề
ra Đây là khâu thu nạp những nguyên liệu đầu vào: hình ảnh, âm thanh… để chuẩn bị sản xuất chương trình truyền hình
Sản xuất hậu kỳ: Sau khi đã thu thập đầy đủ nguyên liệu đầu vào trong
khâu tiền kỳ, quá trình sản xuất chương trình truyền hình thực tế sẽ thực hiện sản xuất hậu kỳ, gồm các phần việc như: xem lại hình quay, dựng chương trình, viết lời, đọc tiếng, khớp tiếng, thêm các kỹ xảo cần thiết… Lúc này, nhân sự thực hiện quan trọng nhất là phóng viên, biên tập (Người lên ý tưởng kịch bản) và kỹ thuật dựng Hiện nay tại nhiều kênh, phóng viên, biên tập là người làm luôn công việc dựng, kỹ thuật chỉ là người chốt lại sản phẩm sau cùng Khâu này sẽ cho sản phẩm là một chương trình với nội dung và thời lượng nhất định
Kiểm duyệt: Đây là khâu bao gồm những người có trách nhiệm kiểm
duyệt sẽ tiến hành kiểm tra lại về nội dung, hình thức thể hiện chương trình đã hoàn thành trong phần hậu kỳ Nếu có vấn đề thì bộ phận kiểm duyệt sẽ yêu cầu sửa lại, nếu không có vấn đề gì chương trình được ký duyệt phát sóng Nhân sự thực hiện khâu này là những người có kinh nghiệm có chuyên môn cao, chịu trách nhiệm về chất lượng của chương trình trước lãnh đạo kênh
Trang 32Phát sóng: Là bộ phận gồm những nhân sự có nhiệm vụ phát sóng các file
thành phẩm đã qua kiểm tra theo một khung phát sóng được lên kế hoạch trước
1.3 Quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế
Để cho ra đời một tác phẩm truyền hình phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau để sản xuất, dựa theo nhiều thể loại phương tiện kỹ thuật khác nhau với nhiều quy trình khác nhau Tuy nhiên có thể chia ra làm 4 công đoạn chính: (1) Tiền kỳ; (2) Ghi hình; (3) Hậu kỳ; (4) Tương tác phản hồi sau phát sóng:
1.3.1 Giai đoạn tiền kỳ sản xuất (Pre-Production)
1.3.1.1 Lên kế hoạch sản xuất
Đây là khâu cơ bản, là giai đoạn chuẩn bị trước khi sản xuất Trong khâu này thì bao gồm có các công việc cụ thể: Chuẩn bị nội dung (Lên ý tưởng, câu chuyện, đề tài…); Họp và hội thảo giữa các biên tập, đạo diễn để chọn ra những ý tưởng sản xuất tốt Có thể chọn người tổ chức sản xuất hoặc chỉ định tổ chức sản xuất Đạo diễn sẽ cùng với biên tập phối kết hợp để lên
đề cương ý tưởng cho kịch bản Khi đưa format chương trình truyền hình thực tế vào sản xuất, công tác chuẩn bị cần được triển khai sớm Đối với các chương trình ghi hình ngoài trời thường đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong sản xuất để đảm bảo chất lượng về hình ảnh và âm thanh tiêu chuẩn Chuẩn bị là một khâu quan trọng trong sản xuất chương trình truyền hình thực tế Ê kíp sản xuất đông đòi hỏi mọi yếu tố phải được tính toán trước khi bấm máy sản xuất Chương trình sản xuất liên tục nhiều ngày và phải di chuyển đến nhiều địa điểm khác nhau nên mỗi bộ phận cần phối hợp ăn ý để tiết kiệm thời gian
và chi phí sản xuất
Trang 33Đầu mối Chuẩn bị
Ê kíp sản xuất
Đạo diễn
Họp Ê kíp sản xuất phân công các chức danh sản xuất
rõ ràng tất cả cùng thảo luận và phản biện các tình huống có thể xảy ra Các bộ phận trong ê kíp sản xuất phải được chỉ đạo dưới sự kiểm soát của đạo diễn chương trình cùng các trợ lý
Phân công các quay phim phụ trách bắt hình các nhân vật tại hiện trường
Truyền thông cho chương trình để tuyển chọn nhân vật (người chơi) cho mỗi số hoặc cả chương trình
Biên tập Lên kịch bản phối hợp với quay phim dự kiến các
không gian chi tiết để tiết kiệm thời gian khi đến hiện trường
Kiểm tra các chỉ dẫn nội dung để người tham gia nắm bắt được các luật, quy định chung trong quá trình sản xuất Liên hệ với các nhân vật tham gia, đảm bảo họ đã sẵn sàng cho việc ghi hình, lường trước những khó khăn tâm lý của những người tham gia để có giải pháp thích hợp
Dự kiến kịch bản và những tình huống cần phải tính toán và được phản biện Lường trước những tình huống tại hiện trường sẽ giúp đoàn làm phim không bị động hoặc bỏ mất những chi tiết hay của nhân vật Quay phim Chuẩn bị và kiểm tra các thiết bị ghi hình tại hiện
trường bao gồm các thiết bị ghi hình ảnh các thiết bị ghi âm thanh và các thiết bị phụ trợ ánh sáng, micro…Việc chuẩn bị thêm pin dữ trữ cho máy quay
Trang 34phim là cần thiết bởi vì những cảnh quay có những nơi
sẽ gặp tình huống không có điện hoặc mất điện khi đó đoàn làm phim khó có thể sạc được pin máy quay như
dự kiến
Âm thanh Kỹ thuật viên âm thanh cần chuẩn bị thiết bị phù hợp
với từng tình huống khi ghi hình Các micro gài ve mà nhân vật mang theo có khi bị rơi, hết pin hay trục trặc bất cứ lúc nào Việc ghi hình khi di chuyển ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình ghi âm thanh đồng bộ Trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng thiết bị ghi âm thanh đồng bộ Trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng thiết bị, ghi âm thanh riêng để xử lý hậu kỳ
Ánh sáng Các loại đèn, tấm phản quang, ắc quy…là những thiết
bị cần chuẩn bị để đảm bảo ánh sáng cho các cảnh quay
Kỹ thuật Kiểm tra các thiết bị và các thông số kỹ thuật đảm bảo
cho các thiết bị hoạt động tốt tại hiện trường Các tình huống kỹ thuật kỹ thuật gặp sự cố sẽ phải lường trước
để không ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất
Tổ chức sản xuất
Hậu cần
Khảo sát địa điểm liên hệ với địa phương nơi mà sẽ tổ chức ghi hình là công việc quan trọng cần chuẩn bị từ trước Lường trước những tình huống bất ngờ như thời tiết, ốm đau, tai nạn…khi sản xuất chương trình
Nếu có thể mua bảo hiểm cho các thành viên khi tham gia như một giải pháp tổng thể khi sản xuất chương trình truyền hình thực tế
Việc liên hệ với các địa điểm quay phim như chính
Trang 35quyền địa phương, chủ nhà hàng, khách sạn, khu du lịch…cần được cụ thể bằng văn bản đảm bảo tính pháp
lý của chương trình
1.3.1.2 Tuyển chọn người chơi
Với mỗi dạng chương trình truyền hình thực tế cần tiêu chí lựa chọn người tham gia khác nhau Một số yếu tố cần quan tâm:
Tuân thủ pháp luật: Người chơi phải là người có đủ quyền công dân, tự
nguyện tham gia chương trình, tuân thủ luật chơi và các quy định chung
Độ tuổi và sức khỏe: ghi hình chương trình truyền hình thực tế thường
trong một thời gian dài đòi hỏi những người tham gia phải đảm bảo sức khỏe
và các điều kiện liên quan Với trẻ em tham gia phải có sự giám sát của cha
mẹ và người lớn Những chương trình đòi hỏi phải có sức khỏe thì những người tham gia cần phải được khám và đưa ra lời khuyên từ bác sỹ
Tâm lý và khả năng giao tiếp: đây là một tiêu chí cần thiết đảm bảo cho
người chơi/nhân vật tham gia được toàn bộ quá trình sản xuất Những ức chế tâm lý hay khả năng giao tiếp ảnh hưởng tới chất lượng chương trình Ngày nay nhờ có mạng xã hội nên việc tuyển chọn người chơi thuận tiện hơn Mỗi chương trình khi quảng bá sẽ thu hút khán giả không chỉ xem mà còn có thể đăng ký tham gia
Tố chất và khả năng: để biết được tố chất người chơi có thể tổ chức
tuyển chọn trực tiếp bằng các bài tập từ đơn giản đến phức tạp Người chơi sẽ bộc lộ cá tính những điểm mạnh yếu của bản thân từ đó tổ chức lựa chọn người phù hợp Mỗi chương trình sẽ có tiêu chí chọn người chơi khác nhau, một số chương trình chọn người chơi nổi tiếng như ca sỹ, người mẫu, diễn viên…tham gia Sự có mặt của những người nổi tiếng cũng thu hút một số đông khán giả xem chương trình Tuy nhiên với truyền hình thực tế những con người bình thường có thể tham gia và sau nhiều chương trình phát sóng họ
Trang 36cũng thành những ngôi sao truyền hình thực tế Chẳng hạn chương trình Vua đầu bếp tuyển chọn những người bình thường mà đam mê nấu ăn tham gia, sau khi giành giải thưởng họ trở thành những đầu bếp nổi tiếng trên thế giới
Mỗi chương trình sẽ có mẫu hồ sơ đăng ký tham gia,các tiêu chí tuyển chọn sẽ được đưa ra để các ứng cử viên biết và tham gia Ví dụ, chương trình truyền hình thực tế: Ấn tượng Việt Nam là chương trình truyền hình thực tế
du lịch xuyên suốt chiều dài đất nước với những điểm đến ấn tượng, những phong cách văn hóa đặc sắc, con ngươì đặc trưng và sản vật của từng địa danh Đây là những hành trình du lịch đúng nghĩa dành cho người chơi trẻ trung, sôi nổi, đam mê du lịch, muốn tìm hiểu khám phá du lịch Việt Nam
Người chơi trong gameshow này sẽ là những sứ giả điểm đến, được trải nghiệm thực tế, trải nghiệm các loại hình dịch vụ du lịch, khám phá các giá trị văn hóa, lịch sử, địa lý, vẻ đẹp…của các điểm du lịch Qua đó, họ chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm mỗi chuyến đi Ghi dấu và tôn vinh ấn tượng điểm đến, giúp khán giả truyền hình cảm nhận được sự hấp dẫn, thú vị của chuyến
đi và những điều mới mẻ của điểm đến Để tham gia chương trinh này người chơi cần điển vào mẫu thông tin và gửi về cho ban tổ chức
Việc tuyển chọn người chơi, người tham gia chương trình truyền hình thực tế có thể qua nhiều vòng: sàng lọc hồ sơ, phỏng vấn trực tiếp, thử khả năng, thử ghi hình…để cuối cùng tìm ra được người tham gia có đủ tố chất và bộc lộ tính cách khả năng trong chương trình
1.3.1.3 Chọn bối cảnh, địa điểm để thực hiện sản xuất chương trình
Định ghi hình ở đâu, đi khảo sát bối cảnh, vẽ sơ đồ bối cảnh hoặc đạo diễn phải trực tiếp ra hiện trường để dàn dựng, thảo luận về bối cảnh Chọn bối cảnh, địa điểm ghi hình là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình thực tế Địa điểm ghi hình thường là tự nhiên ngoài trời, địa điểm trong nhà, địa điểm trường quay Khi chọn bối cảnh cần chú ý tới ý nghĩa không gian cho nhân vật trải nghiệm
Trang 37Bối cảnh, địa điểm Ý nghĩa
Địa điểm du lịch HÌnh ảnh đẹp, sinh động, nhiều người muốn được
nhìn thấy phong cảnh
Thuận tiện nơi ăn ở, có thể liên hệ các công ty du lịch, khách sạn, nhà hàng…tài trợ nơi ăn nghỉ cho đoàn làm phim
Địa điểm hiểm trở khắc
Địa điểm công cộng Những nơi đông người qua lại như bến tàu, nhà ga,
Bối cảnh trường quay Các thiết bị: ghi hình, âm thanh, ánh
sáng…chuyên nghiệp Bối cảnh có thể thiết kế theo market Tiết kiệm chi phí hiện trường, có thể sản xuất liên tục không phụ thuộc vào thời tiết Bối cảnh không gian
tĩnh
Người ta có thể lựa chọn không gian nào đó: quán café, căn nhà, phòng khách…để đặt các thiết bị ghi hình, âm thanh và có thể sản xuất nhiều tình huống theo kịch bản chương trình
Trang 381.3.1.4 Lên phương án thiết bị
Cần có những loại thiết bị gì, và phải mang theo những thiết bị nào để
dự phòng Tất cả các công việc trên đều do đội tổ chức sản xuất thực hiện, sau đó lên lịch với đạo diễn thời gian sản xuất và đưa ra bản kế hoạch di chuyển Đạo diễn sẽ là người đi khảo sát bối cảnh Đồng thời từ đó lên phương án chuẩn bị các tình huống, lên phương án thay thế khi cần Những công việc này phải chủ động, tức thời
Phương án thiết bị bao gồm: các thiết bị sản xuất tiền kỳ tùy vào kịch bản, tình huống, số lượng nhân vật để quyết định số máy quay Đi kèm thiết
bị ghi hình là thiết bị làm âm thanh, ánh sáng
Bảng kê một số thiết bị sản xuất tiền kỳ cho đoàn làm phim
1 Máy ghi hình chuyên nghiệp
(Các thiết bị đi cùng: chân máy, pin dự phòng…)
2 Máy ghi hình chuyên dụng
(Quay dưới nước, di chuyển nhanh)
1.3.1.5 Lên kịch bản, dự kiến tình huống
Kịch bản của truyền hình thực tế không phải là sự sắp đặt cho các nhân vật làm theo mà là những trình tự để e kíp sản xuất chương trình tuân thủ đảm bảo luật lệ cuộc chơi, đảm bảo tính công bằng cho những người tham gia
Trang 39Kịch bản như những chỉ dẫn rõ ràng để những người tham gia cùng tuân thủ, những người sản xuất có căn cứ rõ ràng để phối hợp sản xuất
Kịch bản thường dự kiến những chi tiết trong mỗi phần, đảm bảo cho ê kíp sản xuất và những nhân vật tham gia đi đúng lộ trình Mỗi tập phim sẽ được thực hiện với các phần chỉ rõ trong kịch bản
Kịch bản của truyền hình thực tế có vai trò quan trọng với ekip sản xuất, nó như sợi dây kết nối các thành viên trong ê kip để phối hợp các khâu sản xuất Tuy nhiên đối với các nhân vật tham gia, họ ít bị ảnh hưởng bởi kịch bản, họ luôn phải đối mặt với những nhiệm vụ và thử thách để bộc lộ tố chất, khả năng của bản thân
1.3.2 Giai đoạn ghi hình, tiến hành sản xuất (Production)
1.3.2.1 Ghi hình diễn biến tình huống, câu chuyện, sự kiện thực tế
Đây là khâu đòi hỏi sự phối hợp hết sức chặt chẽ giữa quay phim, biên tập viên và đạo diễn chương trình Trong khâu này, quay phim vừa phải thể hiện sự nhạy bén của mình trong khâu xử lý máy quay sao cho mọi người xung quanh không phát hiện ra là có máy quay, vừa phải lựa chọn góc quay thể hiện được tư duy thẩm mỹ nhằm khắc họa những đặc trưng văn hóa, những nét đẹp thuần Việt, những phẩm chất tốt đẹp hay những cách xử lý tình huống hợp lý Một trong những yếu tố mang lại thành công cho chương trình chính là những góc máy cảm xúc, những bố cục hình chặt chẽ…
Việc ghi hình trong các chương trình truyền hình thực tế áp dụng 2 phương pháp cơ bản: ghi hình công khai và ghi hình giấu máy Việc ghi hình công khai thì các nhân vật tham gia sẽ biết máy quay đang bắt hình, họ chủ động tham gia dưới các góc máy của người quay phim Trong trường hợp này, quay phim luôn giữ góc độ khách quan không can thiệp vào các hành động, cảm xúc của nhân vật Trong thực tế cũng có trường hợp ngoại lệ, những tình huống thật xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng nhân vật và lúc đó quay phim có thể xử lý như người trong cuộc Ví dụ, đoàn làm phim truyền
Trang 40hình thực tế của Mỹ trong một lần ghi hình phần 11 (Chương trình truyền hình thực tế COPS) diễn ra vào năm 1998 tại Atlanta, Georgia, người quay phim Si Davis đã phải bỏ máy quay hỗ trợ một sỹ quan cảnh sát Atlanta đang vật lộn với một nghi can bị bắt
Ghi hình giấu máy: với nguyên tắc để nhân vật không biết đang ghi hình, với loại chương trình này cần chú ý kỹ năng che và “ngụy trang máy quay phim” Nếu ghi hình nhân vật chuyển động thì người quay phim cần chọn vị trí thích hợp để ghi hình mà đối tượng không để ý Với không gian cố định như trong phòng, quán cà phê, quán ăn…thì máy ghi hình có thể cố định
ở các vị trí mà nhân vật biết tình huống vừa được ghi hình và xin phép phát sóng cảnh quay Những thỏa thuận như vậy đảm bảo yếu tố pháp lý và tôn trọng nhân vật, thỏa thuận có thể viết bằng văn bản để tránh những vướng mắc cho các nhà sản xuất sau này Với những cảnh quay giấu máy mà có trẻ
em trước khi phát sóng cần có sự cho phép của người lớn (cha, mẹ, người có quyền…) Khi sản xuất những chương trình giấu máy, ê kíp sản xuất luôn phải dự phòng những tình huống bất ngờ Nhiều nhân vật không biết đây là chương trình truyền hình nên họ có thể phản ứng mạnh ngoài sự chuẩn bị của đạo diễn
Sản xuất chương trình truyền hình thực tế cần đội ngũ quay phim cùng thiết bị kỹ thuật và máy quay phim để bám theo nhân vật Vai trò của quay phim rất quan trọng và họ phải làm việc liên tục Việc đào tạo quay phim theo phong cách chương trình là cần thiết trước khi bắt đầu sản xuất Nếu khâu quay phim bị trục trặc thì ảnh hưởng đến cả ê kip sản xuất
Sản xuất chương trình truyền hình thực tế cần đội ngũ quay phim cùng nhiều thiết bị kỹ thuật và máy quay phim để bám theo nhân vật Vai trò của quay phim rất quan trọng và họ phải làm việc liên tục Việc đào tạo quay phim theo phong cách chương trình là cần thiết trước khi bắt đầu sản xuất Nếu khâu quay phim bị trục trặc thì ảnh hưởng đến cả ê kip sản xuất