1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam trong xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

116 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đoàn Kết Quốc Tế Và Sự Vận Dụng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Xây Dựng Đường Lối Đối Ngoại Thời Kỳ Đổi Mới
Tác giả Mai Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Minh Tuyết
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn lúc nào hết, nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chính là cơ sở để chúng ta xây dựng được đường lối đối ngoại đúng đắn, để tăng cường hơn nữa sức mạnh của mình.Vì

Trang 1

MAI THỊ THU HIỀN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

HÀ NỘI -2015

Trang 2

MAI THỊ THU HIỀN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 14

1.3 Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 52

Chương 2 : ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 59

2.1 Các nhân tố tác động đến yêu cầu đổi mới đường lối đối ngoại và quá trình hình thành đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 59

2.2 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 67

2.3 Một số giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong xây dựng đường lối đối ngoại 85

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

TÓM TẮT LUẬN VĂN 108

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, là người

đã làm rạng rỡ cả dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta Với trách nhiệm là người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà tư tưởng, một nhà ―chiến lược hành động‖, nhà ―hoạt động quốc tế lỗi lạc‖ Người đã để lại cho Đảng, cho dân tộc ta một di sản vô cùng quý báu,

đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh – một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về cách mạng Việt Nam Vì vậy, Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản

Việt Nam đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ

Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” [19; tr.88]

Trong di sản tư tưởng vô cùng to lớn và quý giá của Hồ Chí Minh, nổi bật lên tư tưởng về đoàn kết quốc tế - một trong những nhân tố cơ bản tạo nên

thắng lợi của cách mạng Việt Nam Từ khi viết tác phẩm ―Đường Kách

mệnh” ở thời điểm trước khi Đảng ra đời Hồ Chí Minh đã luôn đặt cách mạng

Việt Nam trong bối cảnh chung của thế giới, kết hợp lợi ích của cách mạng Việt Nam với trào lưu cách mạng quốc tế và nhận thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng chung của loài người tiến bộ Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa dân tộc Việt Nam đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay Vì thế, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh đã trở thành chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc và nhanh chóng Xu thế toàn cầu hóa ngày càng thể hiện mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Muốn tồn tại và phát triển, các nước phải liên hệ, hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực, không một nước nào có thể phát triển mà không mở rộng quan hệ đoàn kết với các

Trang 5

nước khác Đó là một yêu cầu tất yếu khách quan Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó nên đang ở trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Cùng với những nỗ lực chủ quan, sự tăng cường, mở rộng quạn hệ đoàn kết, hợp tác với các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, các bên cùng có lợi đã tạo cho Việt Nam những nhân tố mới để tiếp tục đổi mới và phát triển Hơn lúc nào hết, nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chính là cơ sở để chúng ta xây dựng được đường lối đối ngoại đúng đắn, để tăng cường hơn nữa sức mạnh của mình.Vì vậy, tác giả

lựa chọn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng của

Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình với hi vọng góp phần nhỏ vào việc

làm rõ hơn nội dung quan trọng này trong di sản tư tưởng của Người và ý nghĩa của nó trong việc hoạch định đường lối đối ngoại của đất nước thời kỳ đổi mới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nói riêng là một vấn đề lớn, thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu khoa học trong nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể khái quát thành những nhóm chính sau đây:

* Các công trình nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó đoàn kết quốc tế là một nội dung quan trọng

- Về sách, bài báo khoa học:

+ Nguyễn Phúc Luân (1999), Chủ tịch Hồ Chí Minh trí tuệ lớn của nền

ngoại giao Việt Nam hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã

đề cập tới các giai đoạn lịch sử từ năm 1911 – 1975 với những tư cách khác nhau của Hồ Chí Minh khi tham gia quan hệ quốc tế Trong đó, có đề cập đến

Trang 6

nội dung đoàn kết quốc tế, các hoạt động đoàn kết quốc tế của Người, mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với quốc tế

+ Bộ ngoại giao (2000), Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí

Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách tập hợp các bài viết của

các nhà nghiên cứu lý luận, các nhà văn hóa, khoa học nổi tiếng trong nước Các bài viết đó đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và vấn đề đoàn kết quốc tế, tổng kết những thành tựu, đúc rút kinh nghiệm của công tác ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh

+ Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách giới thiệu khái quát nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao Cuốn sách cũng trình bày hệ thống các nguyên lý, luận điểm, quan điểm, quan niệm của Hồ Chí Minh về các vấn đề thế giới, thời đại và quan hệ quốc

tế, về đường lối quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam Đây là tài liệu cung cấp thông tin về nguồn gốc hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh và một số hoạt động đoàn kết quốc tế của Người trong tiến trình cách mạng Việt Nam

+ Đinh Xuân Lý (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận

dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn

sách trình bày những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, trong

đó có đề cập đến nguyên tắc về đoàn kết quốc tế Đồng thời nêu ra một số giải pháp thiết thực để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay

+ Đỗ Đức Hinh (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại một số nội

dung cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã hệ thống các

quan điểm về đấu tranh ngoại giao, hoạt động đối ngoại và hợp tác phát triển; trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, và phân tích một

Trang 7

số quan điểm cơ bản trong tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh, trong đó có

đề cập đến nguyên tắc về đoàn kết với quốc tế như nguyên tắc độc lập tự chủ, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong quan hệ quốc tế

+ Đặng Văn Thái (2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và

vận dụng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị gia, Hà

Nội Cuốn sách không chỉ phân tích, luận giải tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế mà còn làm rõ việc vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ hiện nay Đồng thời, nêu một số kiến nghị nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hợp tác quốc tế Cuốn sách cung cấp một số cứ liệu quan trọng để phân tích thực trạng của quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện nay và một số giải pháp để liên hệ với đề tài tác giả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới

+ Vũ Khoan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách xoay quanh những bài học, kinh nghiệm ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi về nước cho đến lúc qua đời Cuốn sách tiếp tục khẳng định những nguyên tắc bất biến của ngoại giao Việt Nam như kiên trì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống chiến tranh xâm lược, thúc đẩy hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa các quốc gia Đây là nguồn tài liệu quan trọng cung cấp cho tác giả các sự kiện liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng quan hệ với quốc tế, đồng thời những bài học về đấu tranh ngoại giao, những khó khăn khi tạo dựng mối quan hệ quốc tế đã được nhóm tác giả nghiên cứu và đưa ra làm bài học vận dụng trong thời đại mới

- Về luận văn, luận án:

+ Trần Minh Trưởng — Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(2001), Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1954 -

Trang 8

1969, Luận án tiến sĩ lịch sử Đảng, Hà Nội

+ Phạm Thanh Thủy – Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh (2009) với luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học ―Quan

điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”

+ Nguyễn Xuân Hương – Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh (2010) với luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh ―Quan

điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ với các nước láng giềng và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới”

+ Nguyễn Quốc Bảo (Chủ nhiệm) (2012), với đề tài khoa học trọng

điểm cấp cơ sở “Vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh vào việc đổi mới

đường lối đối ngoại của Đảng ta hiện nay”, Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh –

Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đề tài đã đề cập đến cơ sở hình thành, nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh

và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trong đó

đề cập tới sự cần thiết xây dựng đoàn kết quốc tế, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và những nguyên tắc khi tiến hành đoàn kết quốc tế

* Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

- Về sách, bài báo khoa học:

+ Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (1995) với cuốn sách ―Tìm hiểu tư tưởng

Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội Tác giả đã chứng minh những nhận thức cơ bản về vấn đề thời đại là yếu

tố quan trong quyết định tính đúng đắn, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về thế giới nói riêng Từ đó tác giả nhấn mạnh đến một số vấn đề trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về chiến lược đoàn kết quốc tế

+ Lê Văn Yên (1999) với cuốn ―Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về

đoàn kết quốc tế”, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Cuốn sách đã đề cập đến

Trang 9

nhiều nội dung về đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh như: Những nhân tố hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế; đối tượng đoàn kết quốc tế; mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Pháp; hợp tác Việt – Mỹ…và vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

+ Phan Ngọc Liên (2010) với cuốn sách ―Chiến sĩ quốc tế Hồ Chí Minh

hoạt động thực tiễn và lý luận cách mạng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội Cuốn sách đã khẳng định Hồ Chí Minh là một chiến sĩ quốc tế, đề cập tới những hoạt động quốc tế của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài (1911 – 1941) và những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh ở trong nước (1941 – 1969) Đồng thời trình bày những vấn đề quốc tế và giới thiệu những sự kiện hoạt động quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lúc Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến trước lúc Người đi xa

+ Lê Văn Yên (2010) với ― Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc

tế trong cách mạng giải phóng dân tộc” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội Cuốn sách đã phân tích và chứng minh quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế giữa phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới và việc tổ chức kết hợp đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự

do của nhân dân Việt Nam; khái quát những quan điểm cơ bản thuộc chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh; phân tích giá trị thực tiễn chiến lược đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; Đồng thời phân tích rõ tầm cao trí tuệ của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc kết hợp dân tộc và quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin trên những vấn đề cốt yếu

+ Trần Thị Minh Tuyết (2014), ―Minh triết trong tư tưởng về đoàn kết

quốc tế của Hồ Chí Minh – những suy ngẫm bước đầu‖, tạp chí Triết học, Số 12

Tác giả đã khẳng định những giá trị minh triết trong tư tưởng đoàn kết quốc tế

Trang 10

của Hồ Chí Minh: khi nhận ra điểm yếu của dân tộc mình là sự biệt lập và tìm ra biện pháp khắc phục; trong việc xác định đúng những lực lượng cách mạng cần đoàn kết; trong việc gắn lợi ích dân tộc với lợi ích nhân loại khi xác định mục tiêu của chiến lược đoàn kết quốc tế; trong việc đề ra phương cách liên kết đúng đắn; minh triết trong chủ trương giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ khi thực hiện đoàn kết quốc tế Qua đó tác giả đã khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

- Về luận văn, luận án:

+ Trần Công Theo (1993) với luận văn thạc sỹ ―Tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết quốc tế giai đoạn 1945 – 1969 và ý nghĩa của tư tưởng đó trong

sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay”, khoa học lịch sử, Học viện Chính trị

hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả đã hệ thống những tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử 1945 – 1969

và sự vận dụng và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới hiện nay

+ Lê Thị Hồng Điệp (2002) với luận văn tốt nghiệp lớp giảng viên tư

tưởng Hồ Chí Minh khóa III ―Một số nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về

đoàn kết quốc tế”, Hà Nội Tác giả đã hệ thống một số nội dung trong tư

tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, nêu lên sự kế thừa và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế trong đường lối chính sách đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới

+ Lê Thị Thanh Hà (2010) với luận văn thạc sỹ ―Tư tưởng Hồ Chí

Minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng của Đảng ta trong quan hệ với phong trào cộng sản quốc tế từ năm 1991 đến nay” Chuyên ngành Hồ Chí

Minh học, Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu về một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và nghiên cứu quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ với phong trào cộng sản quốc tế của Đảng Cộng sản

Trang 11

Việt Nam từ năm 1991 đến nay, từ đó đưa ra những nhận xét, kiến nghị

* Các công trình nghiên cứu về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn hiện nay

- Về sách, bài báo khoa học:

+ Phạm Bình Minh (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam

đến 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách tập trung

trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; lợi ích quốc gia, dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam Trong đó, đề cập đến sự vận dụng nguyên tắc của Hồ Chí Minh độc lập, tự chủ trong đoàn kết quốc tế giai đoạn hiện nay và định hướng chiến lược của Đảng ta trong quan hệ đối ngoại

- Về luận văn:

+ Hoàng Thị Thu Huyền, “Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản

Việt Nam (1975 – 1996), Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

sản Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2012 Luận văn đã nghiên cứu về đường lối đối ngoại của Việt Nam trước thời kỳ đổi mới và 10 năm đầu đổi mới

Các công tình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói chung, trong đó có đề cập đến một số nội dung về đoàn kết quốc tế như lực lượng đoàn kết, nguyên tắc đoàn kết Đây là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả bổ sung làm sáng tỏ đề tài

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên đã đi vào phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng tư tưởng này trong các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong quá trình đổi mới đất nước Tuy nhiên, chưa có công trình nào hệ thống đầy đủ các nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, đặc biệt là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới đất nước Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tác giả hy vọng đề tài luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm tư

Trang 12

tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh để vận dụng vào việc xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài trình bày và phân tích các nội dung, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào quá trình xây dựng đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới Từ đó đề xuất một

số giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả tư tưởng đó trong giai đoạn cách mạng mới của Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ làm rõ:

- Phân tích các nội dung tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh

- Làm rõ sự vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế của Người trong việc xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế: Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế; các lực lượng đoàn kết; hình thức đoàn kết; phương pháp đoàn kết; nguyên tắc đoàn kết và giá trị của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh vào xây dựng đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu những nội dung cơ bản của

tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế như một cơ sở lý luận cho việc vận dụng vào xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước

Trang 13

- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên những quan điểm lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế cũng như những nhận định, đánh giá của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất là từ Đại hội VI đến Đại hội XI về vấn

đề đoàn kết quốc tế và đường lối đối ngoại

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở hình thành phương pháp nghiên cứu của luận văn Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc, kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa để nghiên cứu và trình bày luận văn

6 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm và hệ thống hóa các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế với những nội dung:

Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế, các lực lượng cần tiến hành đoàn kết, các hình thức đoàn kết quốc tế, nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo tư tưởng

Hồ Chí Minh và giá trị của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh về mặt lý luận và thực tiễn

Đánh giá thành tựu của quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh vào xây dựng đường lối đối ngoại Từ

đó nêu ra một số giải pháp nhằm vận dụng và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới đất nước

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Về mặt lý luận

Thông qua sự phân tích những quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, luận văn khẳng định và chứng minh sự vận dụng sáng tạo tư tưởng

Trang 14

Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1986 đến nay

7.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử thế giới hiện đại và tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 6 tiết

Trang 15

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Đoàn kết

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ đoàn kết là hiện tượng nhiều

người kết hợp với nhau thành cộng đồng thống nhất cùng hoạt động vì một mục đích chung (trang 328) Khái niệm đoàn kết còn được hiểu là sự đồng tâm hiệp lực, tề tâm nhất trí, liên hợp, kết hợp…kết thành một khối thống nhất của những người có chung lý tưởng, giá trị, quyền lợi hay mục tiêu

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, nội hàm của khái niệm đoàn kết không chỉ phản ánh tính chất, vai trò, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý chí, nghị lực, đời sống tinh thần của toàn dân tộc trong công cuộc chống đế quốc và xây dựng

xã hội mới Thuật ngữ đoàn kết trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được hiểu theo nghĩa hạn hẹp là đoàn kết nội bộ cơ quan, làng xã, tổ chức

xã hội, đoàn thể, tôn giáo, tộc người… mà còn mang một ý nghĩa chung, rộng lớn của sự gắn kết giai cấp, dân tộc và quốc tế; tất cả vì lợi ích của nhân dân

và dân tộc Hồ Chí Minh cho rằng ―Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác‖ [53; tr.244] Rộng hơn nữa là đoàn kết giữa nhân dân ta với nhân dân các nước bạn yêu chuộng hòa bình thế giới Người khẳng định: ―Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công‖ [57; tr.119]

Mục tiêu tổng quát, phổ biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết

là ―Để giữ vững tự do dân chủ Đoàn kết để kiến thiết nước nhà Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới‖ [48; tr.251]

Trang 16

- Đoàn kết quốc tế

Đoàn kết quốc tế được hiểu là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự

đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế để xây dựng và phát triển đất nước

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách lược mà là vấn đề có tính nguyên tắc, một đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam Nó là ―một nội dung gắn kết chặt chẽ và hữu cơ trong toàn

bộ tư tưởng chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh

vì độc lập, tự do của Tổ quốc‖ [63; tr.86]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là một hệ thống các quan

điểm về lực lượng, hình thức, nguyên tắc để tiến hành đoàn kết quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng quốc tế đối với cách mạng Việt Nam

- Đường lối đối ngoại

Theo từ điển tiếng Việ của Viện Ngôn ngữ, Đối ngoại đối với nước

ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức, phân biệt với đối nội (trang 338)

Đường lối là mục tiêu, phương hướng cơ bản được định ra để chỉ đạo các hoạt động của tổ chức hay nhà nước

Như vậy đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là

mục tiêu, phương hướng cơ bản được định ra để chỉ đạo quan hệ của nước ta với các quốc gia khác

Đường lối đối ngoại của Đảng được cụ thể hóa thành các chính sách đối ngoại của Nhà nước Các chính sách đối ngoại của từng quốc gia là vấn đề trọng tâm của quan hệ chính trị quốc tế Chính sách đối ngoại gồm các mục tiêu, biện pháp mà một quốc gia theo đuổi để thực hiện quan hệ với quốc gia hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế, nhằm mục đích thực hiện những lợi ích quốc gia được xác định trong từng thời kỳ lịch sử Chính sách đối ngoại được hình thành và thực thi qua quá trình phát triển lâu dài và qua quan

Trang 17

hệ với các chủ thể bên ngoài trên mọi lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội…Chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại là quan hệ tất yếu khách quan vì ngày nay không có quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển nếu không có quan hệ với thế giới bên ngoài

- Thời kỳ đổi mới

Ở nước ta, đổi mới là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Đây chính là mốc thời gian cho việc mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện của đất nước để hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

1.2.1 Về mục tiêu của chiến lược đoàn kết quốc tế

1.2.1.1 Đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của sự đoàn kết quốc tế Theo Người, đây là nhiệm vụ chiến lược trong đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Ngay từ năm 1930 trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cách mạng Việt Nam là một

bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên cách mạng nước ta chỉ có thể giành thắng lợi nếu có sự đoàn kết, hợp tác và giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới

Một dân tộc nhỏ như Việt Nam muốn thắng đế quốc to, như lời Bác Hồ căn dặn, cần phải ―biết sức ta, biết sức địch trăm trận đều thắng‖, phải biết kết hợp chính trị, quân sự, ngoại giao để tạo sức mạnh nội lực, đồng thời phải gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta với xu thế phát triển thế giới để tạo sức mạnh cộng hưởng giữa dân tộc và thời đại, buộc đối phương chấp nhận thất bại đúng lúc Để có được điều đó, điều không thể thiếu đó là phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng trên thế giới

Trang 18

Hồ Chí Minh từng giải thích về sự cần thiết của đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của Việt Nam, rằng giành độc lập từ một cường quốc lớn như Pháp là một nhiệm vụ nặng nề không thể đạt được nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài Sự giúp đỡ từ bên ngoài không nhất thiết phải là trang bị súng đạn mà có thể bằng các cuộc tiếp xúc và bằng những lời

khuyên Tại buổi tiếp nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Grama, Cuba

(14/7/1969), khi trả lời câu hỏi ―Sức mạnh của nhân dân Việt Nam là ở chỗ nào?‖, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: ―Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới, ví dụ như sự ủng hộ của nhân dân Cuba anh em Đồng chí hỏi ý nghĩa của sự đoàn kết quốc tế? Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn đối với chúng tôi Đúng là trước hết chúng tôi phải dựa vào sức mình, song chúng tôi còn được sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của nhân dân các nước khác Và như vậy, chúng tôi vừa có cả sức mạnh của mình, vừa

có cả sức mạnh của sự đoàn kết quốc tế‖ [59; tr.675]

Đánh giá vai trò của đoàn kết quốc tế với cách mạng Việt Nam, trong buổi nói chuyện với cán bộ, nhân viên Đại sứ nước ta tại Liên Xô năm 1961

Hồ Chí Minh nói: Có sức mạnh cả nước một lòng…lại có sự ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp cộng với phương pháp cách mạng thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở cho việc thực

hiện đoàn kết quốc tế Đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế là để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam chiến thắng kẻ thù Nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất

Trang 19

nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.2.1.2 Đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại

Hồ Chí Minh đã đưa ra nhận định sâu sắc ―Chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi‖ hút máu của giai cấp vô sản ở cả thuộc địa và chính quốc, muốn giết con vật ấy phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt một vòi, cái vòi kia tiếp tục hút máu, và cái vòi bị cắt sẽ lại mọc ra Do đó muốn tiêu diệt triệt

để chủ nghĩa đế quốc, thực dân đòi hỏi các dân tộc thuộc địa và công nhân các nước tư bản phải đoàn kết nhau lại để chống kẻ thù chung Chỉ có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại chủ nghĩa đế quốc và chỉ có đoàn kết với nhân dân thế giới mới có thể thực hiện thành công các mục tiêu cách mạng của thời đại Đây được coi là mẫu số chung để tập hợp các lực lượng cách mạng thế giới, đoàn kết rộng rãi ủng hộ nhân dân Việt Nam

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, thực hiện đoàn kết quốc tế không chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của toàn nhân loại tiến bộ trong cuộc tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại Người nói ―Cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch‖ [45; tr.299] ―nếu không có nhân dân các nước thuộc địa tham gia thì không thể có cách mạng xã hội‖ [46; tr.234] Chính từ nhận định đó mà Người khẳng định nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam: Nhân dân ta chiến đấu

hi sinh chẳng những vì tự do độc lập của dân tộc mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc khác, không chỉ bảo vệ lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì mục tiêu chung của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng Việt Nam, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt chủ nghĩa yêu nước gắn kết với chủ nghĩa quốc tế

Trang 20

vô sản Người đã thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc với vấn

đề quốc tế, đặt lợi ích dân tộc trong lợi ích chung của cộng đồng quốc tế Nếu lợi ích của dân tộc đi ngược lại với lợi ích chung của cộng đồng thế giới thì dân tộc sẽ bị cô lập

Người chỉ ra rằng: chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II (2/1951), Người chỉ rõ: ―Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần ―vị quốc‖ của bọn đế quốc phản động Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế‖ [50; tr.39] Sau này, trong

tác phẩm ―Thường thức chính trị‖ (1954), Người nói rõ hơn: ―Đánh đuổi đế

quốc Pháp – Mỹ không những là lợi ích riêng cho nước ta, mà cũng làm yếu thế lực đế quốc góp phần vào giữ gìn hòa bình thế giới Mà giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích nước ta Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí Vì vậy cách mạng nước nào cũng phải có nhân dân lao động thế giới ủng hộ mới thắng lợi Và khi đã thắng lợi, ắt phải giúp đỡ cách mạng của nhân dân nước khác Đó là lập trường quốc tế cách mạng‖ [52; tr.273]

Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung, các Đảng Cộng sản phải kiên trì chống lại mọi khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sôvanh những khuynh hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất các lực lượng cách mạng thế giới Nói cách khác, các Đảng Cộng sản phải tiến hành có hiệu quả việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mấy thập kỷ qua là thắng lợi của tư tuởng Hồ Chí Minh: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Nhờ kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đã được bổ sung thêm nguồn lực mới, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nhờ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã tranh

Trang 21

thủ được sự đồng tình, ủng hộ quốc tế, huy động được sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại, làm cho sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội, chiến thắng được những kẻ thù có sức mạnh to lớn hơn mình về nhiều mặt

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc và thời đại, đó chính là có được hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Người đã giương cao ngọn cờ tiên phong để chiến đấu không chỉ vì độc lập, tự do của đất nước mình mà còn vì độc lập, tự do của các nước khác, không chỉ bảo vệ lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì những mục tiêu cao cả của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Đây cũng là biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh – một con người không chỉ quan tâm đến lợi ích của đồng bào, dân tộc mình

mà còn luôn hướng tới hạnh phúc của toàn nhân loại

1.2.2 Về lực lượng đoàn kết quốc tế

Hồ Chí Minh thường đề cập tới ba lực lượng trong đoàn kết quốc tế: Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế; phong trào giải phóng dân tộc; phong trào hoà bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới

1.2.2.1 Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Phong trào cộng sản và công nhân thế giới là lực lượng nòng cốt của đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản quốc tế

là một bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản Để đoàn kết với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn

cờ chủ nghĩa Mác – Lênin và tinh thần quốc tế vô sản

Khi tiếp nhận học thuyết Mác – Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy phương hướng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ―cái cẩm nang thần kỳ‖ của sự nghiệp cứu nước của các dân tộc bị nô dịch Đồng thời, Người cũng tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu tranh ở thuộc địa Đó là phong

Trang 22

trào cộng sản và công nhân thế giới, là Nhà nước Xô viết, là Quốc tế thứ ba Người xác định, xây dựng sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế ―trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình‖ Thêm vào đó để tăng cường đoàn kết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc như hai cái cánh của cách mạng thời đại, Hồ Chí Minh còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, bằng mọi cách phải ―làm cho đội quân tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một

sự hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành thắng lợi cuối cùng‖ [45; tr.134] Người nói, đứng trước chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của giai cấp vô sản chính quốc và của nhân dân các nước thuộc địa là thống nhất Trong năm 1945, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ra đời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa theo tinh thần ―bốn phương vô sản đều là anh em‖ Từ đó, Người đã dành nhiều thời gian và tâm lực, phấn đấu không mệt mỏi cho việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt là giữa các nước xã hội chủ nghĩa

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, đúng vào lúc cách mạng miền Nam Việt Nam chuyển sang hình thức đấu tranh vũ trang và ngày càng thu nhiều thắng lợi, thì giữa các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc xảy ra những bất đồng và mâu thuẫn ngày càng gay gắt Cả hai nước lớn đều yêu cầu ta phải tỏ thái độ ―nhất biên đảo‖, trong lúc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam của ta đang phụ thuộc vào sự viện trợ rất lớn của cả hai nước về kinh tế và quân sự Mỹ đã lợi dụng tình hình này để khai thác mâu thuẫn Xô – Trung để ép ta, đòi thương lượng với ta trên thế mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh

là nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc đã ý thức được tính chất nghiêm trọng của sự chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế Bằng trí tuệ, tình cảm quốc tế chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đường lối độc lập, tự

Trang 23

chủ, kiên trì khôi phục sự đoàn kết quốc tế trên cơ sở nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản Tại Hội nghị 81 Đảng cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva, Người đã nêu rõ ―Đoàn kết nhất trí trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lênin giữa các đảng anh em, nhất là giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong công cuộc đấu tranh vĩ đại cho tương lai tươi sáng của toàn thể loài người‖ [56, tr.732]

Đoàn kết và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa với

tư cách là những đồng minh chiến lược đối với cách mạng Việt Nam là vấn đề hết sức quan trọng trong tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh Trước khi từ biệt

thế giới, trong “Di chúc”, Người đã để lại lời di huấn về phong trào cộng sản

quốc tế ―Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em! Tôi mong rằng Đảng

ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản

có lý, có tình Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại‖ [59; tr.613]

Thực tế cho thấy thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Việt Nam không thể tách rời sự đồng tình, ủng hộ, sự chi viện lớn lao của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, của các Đảng Cộng sản và công nhân thế giới Lịch sử ngày nay đã có nhiều biến đổi, song sự đồng tình với sự nghiệp chống đế quốc, sự viện trợ về vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa và của các lực lượng cộng sản và công nhân với cách mạng Việt Nam là điều không thể phủ nhận Nó thực sự đã là một nhân tố rất quan trọng góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

1.2.2.2 Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

Do được đi đến nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác nhau, Người nhận

Trang 24

thấy rằng, sở dĩ các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bị đàn áp là do họ còn đơn độc, chưa nhận ra nội dung của thời đại mới, chưa liên kết với các phong trào ở nhiều nước khác Trong bài viết tuyên truyền về trường Đại học Phương Đông, Người đã đánh giá ―Miền Cận Đông và miền Viễn Đông, từ Xyri đến Triều Tiên – chúng tôi chỉ nói đến những nước thuộc địa và nửa thuộc địa có một diện tích rộng hơn 15 triệu km2, với số dân hơn 1.200 triệu người, tất cả những nước rộng lớn ấy ngày nay đều đang ở dưới ách của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc

Và mặc dù số lượng của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, các dân tộc bị

áp bức đó vẫn chưa thực sự mưu đồ tự giải phóng khỏi ách đó, và vì họ chưa hiểu giá trị của sự đoàn kết quốc tế, nên họ chưa biết đoàn kết nhau lại để đấu tranh Họ chưa có những sự liên hệ giữa các nước với nhau, như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ Họ có sẵn một sức mạnh to lớn mà họ chưa biết‖ [46; tr 323] Do đó để giành được thắng lợi, Hồ Chí Minh thấy rằng cách mạng ở các nước thuộc địa phải phối hợp với nhau để tạo ra sức mạnh tổng hợp chiến đấu chống kẻ thù chung

Đồng thời khi nghiên cứu chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh thấy rằng ―Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học

Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác Sau hết, nó dựa vào những người

vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng‖ [46; tr.266]

Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã kết thành hệ thống, chúng không hành động đơn độc mà kết hợp chặt chẽ với nhau trong việc đàn áp các cuộc nổi dậy ở các nước thuộc địa Mặt khác, chúng còn âm mưu nhằm tạo sự biệt lập, đối kháng và thù ghét dân tộc, chủng tộc, làm suy yếu phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Chính vì vậy, Người đã kiến nghị Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản về những biện pháp nhằm làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên

Trang 25

minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản

Hoạt động đa dạng và tích cực của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp có ý nghĩa lịch sử to lớn Đây là thời kỳ khởi đầu quan trọng nhằm tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong nhận thức cũng như trong hành động đối với giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, cùng nhau hợp sức đem lại sự giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc theo tinh thần luận cương của Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa Đó cũng chính là bước khởi đầu của chiến lược đoàn kết quốc tế của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

1.2.2.3 Phong trào hòa bình và dân chủ thế giới

Những người tham gia phong trào hòa bình và dân chủ thế giới là những người yêu chuộng hoà bình, dân chủ, tự do và công lý Đây là lực lượng tiến

bộ trên thế giới, vì vậy Hồ Chí Minh cũng tìm mọi cách để thực hiện đoàn kết với họ bằng việc giương cao ngọn cờ hòa bình trong công lý, gắn cuộc đấu tranh

vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng trên thế giới để tập hợp và tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng này đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam

Sau khi Việt Nam giành được độc lập, thay mặt Chính phủ, Hồ Chí Minh đã

nhiều lần tuyên bố: ―Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là

thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình‖ [49; tr.39] Bên cạnh ngoại giao nhà nước, Hồ Chí Minh đẩy mạnh ngoại giao nhân dân, cho đại diện các tổ chức của nhân dân Việt Nam tiếp xúc, hợp tác với các tổ chức chính trị - xã hội, văn hoá của nhân dân thế giới, của nhân dân Á - Phi xây dựng các quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các lực lượng tiến bộ thế giới

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tăng cường đoàn kết quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của loài người tiến bộ, trước hết là giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ Pháp đối với nền độc lập và thống nhất của Việt Nam Sau cách mạng tháng Tám, Người đã gửi nhiều thư và điện văn đến Liên hợp quốc, đến những

Trang 26

người đứng đầu Chính phủ Pháp, đến Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, đến Thống chế Tưởng Giới Thạch, đến nhân dân và chính phủ nhiều nước trên thế giới Trong bối cảnh phức tạp lúc bấy giờ, những văn kiện của

Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm đoàn kết quốc tế rộng lớn, nhằm kêu gọi thiện chí hòa bình và sự phản đối với âm mưu gây chiến của thực dân Pháp hòng chiếm nước ta một lần nữa

Một điều lưu ý là Hồ Chí Minh đặc biệt tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân các nước đang tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam Người

đã phân biệt tường minh nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ với Chính phủ Pháp và Chính phủ Mỹ là lực lượng hiếu chiến đang tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Cuộc đi thăm chính thức nước Pháp vào năm 1946 của Hồ Chí Minh cũng nhằm mục đích giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hòa bình, hữu nghị của dân tộc Việt Nam Khi đặt chân lên đất Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc rộng rãi và tỏ tình hữu nghị với nhân dân Pháp, với chính giới, với các nhà báo Pháp và nước ngoài, các hãng thông tấn, cùng với một số công – thương gia Pháp…Người tỏ thái độ kính trọng và đề cao tinh thần dân tộc, tinh thần kháng chiến của nhân dân Pháp và cố gắng làm cho nhân dân Pháp hiểu rõ tình hình Việt Nam, quyết tâm của nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước

Khi chiến tranh Việt – Pháp nổ ra, Hồ Chí Minh nhiều lần đề nghị chính phủ Pháp chấm dứt ngay cuộc xung đột kéo dài, vì chiến tranh càng kéo dài thì tang tóc, đổ nát càng chồng chất lên nhân dân hai nước Người nêu rõ

―Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau Chúng tôi tha thiết mong rằng dân tộc Pháp bao giờ cũng chiến đấu cho tự do trên thế giới, sẽ hết sức tìm mọi cách để tránh một tình trạng không phương cứu chữa‖ [50; tr.24]

Hồ Chí Minh đã vén bức màn giả dối của giới cầm quyền Pháp dựng lên để bưng bít dư luận Người làm cho các tầng lớp nhân dân, thanh niên,

Trang 27

sinh viên trí thức tiến bộ Pháp và nhân dân thế giới hiểu rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta và lên án cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

Trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương” năm 1945, Người viết

―Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do Lòng yêu nước thương nòi này làm

vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người… Chúng tôi không ghét không thù gì dân tộc Pháp Trái lại chúng tôi kính phục cái dân tộc lớn lao ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá lý tưởng rộng rãi về tự do, bình đẳng

và bác ái, và đã cống hiến rất nhiều cho văn hóa, cho khoa học và cho văn minh Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp‖ [48; tr.75]

Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh vẫn giữ vững quan điểm đúng đắn về bạn – thù, với thái độ thiện chí và tình cảm chân thành, Người đã làm cho nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Mỹ hiểu đúng về nhân dân và cuộc chiến đấu chính nghĩa ở Việt Nam Khi trả lời phỏng vấn một nhà báo người Mỹ tháng 2/1958, Hồ Chí Minh nói ―Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình; chúng tôi chống là chống lại chính sách can thiệp của đế quốc Mỹ‖ [55; tr.314] Năm 1964, trả lời một tạp chí của Mỹ,

Hồ Chí Minh nói ―Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng Nhân dân Việt Nam không bao giờ nhầm lẫn nhân dân Mỹ yêu chuộng công lý với Chính phủ Mỹ đã phạm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi từ mười năm nay Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập, tự do của dân tộc chúng tôi, cũng là những

kẻ đã phản bội bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ‖ [58; tr.328] Và Người kêu gọi ―Nhưng nhân dân Mỹ cũng là nạn nhân của đế quốc Mỹ, các bạn hãy

Trang 28

cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh quyết liệt chống bọn quân phiệt hiếu chiến và xâm lược ở nước các bạn‖ [58; tr.331]

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta, Người đã giáo dục toàn dân phân biệt rõ ràng thực dân cướp nước, bọn đế quốc hiếu chiến với nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý ở các nước đi xâm lược Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ Trong thư gửi nhân dân Mỹ tháng 1/1962, Chủ tịch

Hồ Chí Minh nhấn mạnh ―Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù không oán Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là một dân tộc đầu tiên phất cờ chống chủ nghĩa thực dân (1775 – 1783) và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn [57; tr.307]

Tiếng nói chính nghĩa của Hồ Chí Minh đã tác động sâu sắc không chỉ đối với nhân dân Mỹ mà còn tác động tới toàn thể lương tri của nhân loại Không chỉ kêu gọi sự đồng tình của nhân dân các nước tham chiến tại Việt Nam, Hồ Chí Minh còn hướng tới sự đoàn kết với các lực lượng tiến bộ khác Người đã gửi điện cho các vị lãnh đạo các nước châu Á kêu gọi ủng hộ và giúp đỡ cuộc kháng chiến của Việt Nam Người đã gửi điện mừng và cử đoàn đại biểu nước ta đi dự Hội nghị liên Á hợp tác Ấn Độ, cử đoàn đi dự lễ tuyên

bố độc lập của Mianma, dự hội nghị các nước châu Á ủng hộ Inđônêxia chống

sự xâm lược của Hà Lan…cuộc kháng chiến của Việt Nam đã trở thành một trong những điểm tập hơp và cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và được sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước này Khẳng định chủ trương đoàn kết quốc tế rộng mở, chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị, năm 1947, Người tuyên bố: Việt Nam muốn ―làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai‖, ―thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường (Liên Xô, Anh, Mỹ, Trung Quốc) là thái độ bạn bè‖ [49; tr.163]

Trang 29

Xuất phát từ tính chất chính nghĩa của cách mạng Việt Nam, từ đường lối quốc tế đúng đắn của Hồ Chí Minh và từ những tấm lòng nhân hậu của những con người có thiện chí trên khắp hành tinh, cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc của Việt Nam đã thu hút được sự chú ý và sự ủng hộ của đông đảo lực lượng tiến bộ trên thế giới Đây là một nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam

1.2.3 Về hình thức đoàn kết quốc tế

Các hình thức đoàn kết quốc tế do Người sáng lập hết sức phong phú,

đã trở thành sức mạnh vật chất, là nơi tập hợp lực lượng quốc tế đoàn kết với Việt Nam

1.2.3.1 Giai đoạn trước 1930

- Thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa ngày 26 tháng 6 năm 1921

Ngày 26/6/1921, sau nhiều lần gặp gỡ trao đổi với các chiến sĩ người Angiêri, Tuynidi, Marốc, Mađagátxca, Máctiních… Nguyễn Ái Quốc đã

cùng họ thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa Đây là hình thức mặt trận đầu tiên

của các dân tộc thuộc địa, liên minh, đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc cùng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân, làm cho cuộc đấu tranh đó

có sự kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền và tổ chức Người nằm trong Ban chấp hành và là Ủy viên thường trực của Hội Trong Điều lệ của Hội do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo nêu rõ mục đích của Hội là tuyên truyền, giáo dục, tổ chức lực lượng cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa Hội kêu gọi nhân dân thuộc địa sống trên đất Pháp đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Trong Tuyên ngôn của Hội cũng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đề cập đến mối quan

hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa ―Hỡi các bạn bị áp bức

ở chính quốc! giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược chúng tôi Ngày nay vẫn dùng cái chính sách quỷ quyệt ấy, giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ

Trang 30

nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất‖ [46; tr.139]

Hoạt động tiêu biểu của Hội Liên hiệp thuộc địa là cho ra đời tờ báo Le

Paria – cơ quan ngôn luận của Hội và là diễn đàn của nhân dân các nước

thuộc địa Tờ báo ra đời ngay tại Pari, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và ở các nước thuộc địa của Pháp, là một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức

Ngày l/4/1922, Báo Le Paria ra số đầu tiên Nguyễn Ái Quốc vừa là

Chủ nhiệm kiêm chủ bút, vừa là người tuyên truyền, cổ động, phát hành báo

Báo được viết bằng chữ Pháp, tên báo được viết bằng ba thứ chữ: Pháp (Le

Paria), Trung Quốc (Lao động báo) và Ảrập Trong 4 năm tồn tại, báo xuất

bản được 38 số (năm 1922 xuất bản được 9 số, năm 1923: 12 số, năm 1924:

10 số, năm 1925: 6 số, năm 1926: 1 số vào tháng 4-1926) Kỳ hạn của báo có

khi ra hằng tháng, có khi nửa tháng và có khi cách nhau 6 tháng Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng thời kỳ mà báo có những tiêu đề khác nhau Từ số 1

(4-1922) đến số 20 (11-1923) tiêu đề là Diễn đàn của các dân tộc thuộc

địa (Tribune des populations des colonies) Từ số 21 (12-1923) đến số 35

(8-1925), báo đổi tiêu đề là Diễn đàn của vô sản thuộc địa (Tribune du

prolétariat colonial) Đến số 36, 37 (9 và 10-1925), báo lại có tiêu đề mới

là Cơ quan của nhân dân bị áp bức thuộc địa (Organe des peuples opprimés des colonies) Trên số báo cuối cùng lại ghi Cơ quan của Hội Liên hiệp thuộc

địa (Organe de L‘Union Intercoloniale) Trụ sở của báo lúc đầu ở số nhà 16

phố Giắccơ Calô quận VI Pari sau chuyển đến số 3 phố Mácsê đê Patơriacsơ

quận V Pari Báo Le Paria phần lớn xuất bản mỗi số có hai trang nhưng cá

biệt có số in ba trang (số 11, 36, 37) hoặc 4 trang (10, 12)

Khi còn hoạt động ở Pháp, hầu như số nào Nguyễn Ái Quốc cũng có một bài, có khi tới 4 bài (số 5) Sau khi rời Pháp sang hoạt động ở Liên Xô và Trung Quốc, Người vẫn duy trì mối quan hệ với báo và vẫn gửi bài đăng báo

Việc xuất bản Báo Le Paria cùng với những bài viết đặc sắc của

Trang 31

Nguyễn Ái Quốc, góp phần quan trọng vào việc tố cáo chủ nghĩa thực dân, kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân các nước thuộc địa và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, thức tỉnh các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh

chống bọn thực dân, đế quốc Báo Le Paria hiên ngang tấn công kẻ thù ngay

chính tại hang ổ của nó, vừa tỏa rộng sức mạnh cổ vũ, đoàn kết các dân tộc thuộc địa, đoàn kết với giai cấp vô sản ở chính quốc tiến theo con đường cách mạng vô sản Trong hồi ký của mình, Blôngcua, ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp thuộc địa cùng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc đã xác nhận ―Anh Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp nhiều cho tờ báo Anh viết khỏe, có số viết tới hai, ba bài Toàn bộ những bài báo của anh là bản án chủ nghĩa thực dân và là nguyện vọng giành độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa Lời văn anh sắc bén, tư tưởng anh rõ ràng và mạnh mẽ: Đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân‖ [26; tr.42]

- Thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ngày 9 tháng 7 năm 1925

Để tăng cường đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở châu Á, từ những kinh nghiệm đúc rút trong quá trình tổ chức Hội Liên hiệp thuộc địa, Nguyễn

Ái Quốc (với biệt danh Lý Thụy) đã thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp

bức vào ngày 9/7/1925 tại Quảng Châu, Trung Quốc Đây là tổ chức đoàn kết

quốc tế những người yêu nước của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Mianma, Inđônêxia… Người là bí thư, phụ trách công tác tài chính, phiên dịch các loại văn thư, điện tín của Hội

Căn cứ vào Điều lệ được Đại hội thông qua, mục đích của Hội là liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng đặng đánh đổ đế quốc, và làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn

và đoàn kết lại, đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản Hiểu đơn giản là đoàn kết các nước bị áp bức ở châu Á trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc Mục tiêu cao nhất là giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột

Trang 32

của chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập, tự do cho các dân tộc

Từ mục đích trên, Tuyên ngôn của Hội đã tố cáo tội ác của các nước đế quốc: ―Chúng cướp đoạt toàn bộ của cải của đất nước chúng ta Chúng bắt chúng ta phải mua thuốc độc, thuốc phiện, rượu cồn Chúng nghiền nát chúng

ta bằng thuế khoá đủ loại Chúng biến chúng ta thành những phu phen đầy tớ Chúng không chỉ tước đoạt đi những quyền chính trị của chúng ta, mà chúng còn làm cho chúng ta khốn khổ bần cùng Tệ hơn, chúng còn tìm cách tận diệt nòi giống của chúng ta‖ [46; tr.498] Bên cạnh đó, Tuyên ngôn cũng đã phân tích sự cần thiết phải liên hợp đấu tranh giữa các dân tộc, chống kẻ thù chung

là chủ nghĩa đế quốc, và kêu gọi các dân tộc bị áp bức nên sớm đoàn kết lại

―Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy giống nòi của chúng ta‖ [46; tr.499] Đồng thời Tuyên ngôn cũng đã đánh giá

và thấy được tính cấp thiết cần phải mở rộng sự liên hợp vượt ra khỏi phạm vi các nước Á Đông, có nghĩa là phải kết hợp giữa đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân các nước đế quốc Từ đó, Tuyên ngôn kêu gọi giai cấp công nhân thế giới: ―Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy kết đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng‖ [46; tr.500]

Việc tham gia sáng lập, lãnh đạo và có nhiều hoạt động quan trọng tại Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức là một bước phát triển trong tư duy cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là tư duy và nhận thức rõ ràng của Người về vai trò và tầm quan trọng của việc đoàn kết các dân tộc bị áp bức đang cùng trên con đường tìm kiếm độc lập trong một mặt trận đấu tranh chung chống đế quốc, thực dân Đây cũng là một dấu mốc lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của nhân dân các nước châu Á trong thế kỷ XX, đó là dấu mốc ghi nhận đây là tổ chức liên hợp cách mạng quốc tế đầu tiên của khu vực Qua hoạt động của lãnh tụ Nguyễn

Ái Quốc trong Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, chứng minh một bước mới

Trang 33

trong việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh các mặt cơ bản sau: về vai trò và vị trí của việc đoàn kết quốc tế, về việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; về giá trị của thực tiễn đối với việc hình thành lý luận cách mạng; về vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cách mạng Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng; về hình thức trong đấu tranh; về vai trò

và vị trí của tổ chức hội quần chúng trong tiến trình cách mạng Việc thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức là một hoạt động quan trọng góp phần đoàn kết các dân tộc bị áp bức ở châu Á, thúc đẩy phong trào cách mạng đòi độc lập, tự

do ở các nước thuộc địa châu Á phát triển lên những bước tiến mới

1.2.3.2 Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1930 – 1954)

- Thành lập Đông Dương độc lập đồng minh 1941

Năm 1887, trên cơ sở thôn tính và áp đặt ách thống trị dân tộc, thực

dân Pháp lập ra cái gọi là “Liên bang Đông Dương” thuộc Pháp, gồm năm

xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên) do một viên toàn quyền người Pháp đứng đầu, thi hành chính sách chia để trị Bất chấp chính sách chia rẽ của kẻ thù, nhân dân ba nước cùng đoàn kết chống kẻ thù chung

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đông Dương bị chủ nghĩa thực dân xâm lược và thống trị, sự nghiệp đấu tranh giải phóng mỗi dân tộc có liên quan mật thiết với nhau và không tách rời nhau, nhưng Người không nhìn nhận Đông Dương như một liên bang, mà thấy rõ ở Đông Dương có ba quốc gia - dân tộc Người phân biệt hai loại vấn đề:

Thứ nhất, phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thực hiện đoàn kết mỗi dân tộc

Thứ hai, trên cơ sở tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, tôn trọng độc lập

tự do của mỗi dân tộc, thực hiện đoàn kết ba dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau chống

kẻ thù chung

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), tình đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia được củng cố và phát triển một cách có tổ chức,

Trang 34

nhất là trong Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (1939-1940)

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng 1939) nêu rõ các dân tộc ở Đông Dương ―đoàn kết thống nhất đánh đổ đế quốc Pháp đòi Đông Dương hoàn toàn độc lập và các dân tộc được quyền tự quyết‖ [16; tr 532] ―Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra‖ [16; tr.541-542]

(11-Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc sự cần thiết phải tăng cường quan

hệ với các nước láng giềng, khu vực, nhất là các quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương trên cơ sở quyền dân tộc tự quyết Chủ trương của Đảng ta về vấn đề dân tộc được khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (5/1941) do

Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị đã thành lập Đông Dương độc lập đồng minh

và xác định: ―Cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít…Vận mạng dân tộc Đông Dương lại chung vận mạng nước Tàu cách mạng và Liên bang Xô Viết Cuộc đấu tranh chống phát xít của Liên Xô và Tàu là cuộc đấu tranh chung vận mạng các dân tộc Đông Dương‖ [13; tr.114] Hội nghị nhấn mạnh rằng, các dân tộc trên bán đảo Đông Dương đều cùng chịu ách thống trị của đế quốc Pháp - Nhật, cho nên phải "tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương", làm cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đoàn kết, dựa vào nhau, thúc đẩy nhau giành thắng lợi Trong cuộc đấu tranh chống

kẻ thù chung, sự đoàn kết ba dân tộc là một yêu cầu khách quan Hội nghị phân tích: "Những dân tộc sống ở Đông Dương đều chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp - Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy

Trang 35

các dân tộc Đông Dương họp lại‖ [13; tr.114] Hội nghị quyết định thành lập

ở mỗi nước một mặt trận riêng: Việt Nam độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập

đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh Trên cơ sở sự ra đời mặt trận ở

mỗi nước, sẽ tiến tới thành lập mặt trận chung của ba nước Đảng và Việt Minh ―phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên độc

lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương độc

lập đồng minh" [13; tr.122]

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, đồng thời tiếp tục tăng cường đoàn kết ba dân tộc Đó là một chủ trương đúng đắn, nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình, đặt cơ sở

để xây dựng một chính sách mới, thiết lập một quan hệ mới giữa Việt Nam với hai nước láng giềng cùng chung một kẻ thù xâm lược

Ngày 30/10/1945, Hiệp định liên minh quân sự giữa Chính phủ Itsxala

và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hiệp định thành lập liên quân Lào – Việt được kí kết và triển khai thực hiện Cuối năm 1945, đại diện Chính phủ Việt Nam và Ủy ban Cao Miên độc lập ra tuyên bố chung về ―Đoàn kết Việt – Miên – Lào chống Pháp‖ Trong những năm kháng chiến, Hồ Chí Minh đã cử nhiều cán bộ, quân đội ta sang làm nghĩa vụ quốc tế ở hai nước bạn, giúp đỡ xây dựng cơ sở quần chúng, lực lượng vũ trang, tổ chức đảng và chính quyền, mặt trận ngày càng vững mạnh

Như vậy, đối với nhân dân ba nước Đông Dương, Hồ Chí Minh đã khai thác những điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá, có cùng chung kẻ thù và vì vậy có cùng chung vận mệnh Trên cơ sở nhận thức sâu sắc được mẫu số chung đó, Hồ Chí Minh thành lập Đông Dương độc lập đồng minh vào năm

1941 Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo

Trang 36

thành lập Mặt trận Thống nhất các dân tộc Việt – Miên – Lào giúp đỡ nhau cùng chiến đấu chống kẻ thù chung

- Thành lập Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào ngày 11 tháng 3 năm 1951

Để đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới, tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam) quyết định thành lập mỗi nước một Đảng cách mạng để lãnh đạo công cuộc kháng chiến ở mỗi nước và tình hình chung trên bán đảo Đông Dương Tuy nhiên, Đông Dương vẫn là một chiến trường

và Việt Nam tiếp tục phối hợp với Lào và Campuchia để đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ba nước đến thắng lợi Trước đó, tháng 9-1950, tại Việt Bắc, Hoàng thân - Chủ tịch Xuphanuvông cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Sơn Ngọc Minh - Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Miên (Campuchia) đã có cuộc hội bàn, chuẩn bị cho sự ra đời của Mặt trận liên minh đoàn kết Việt - Miên - Lào, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, lãnh thổ của mỗi nước Ngày 11-3-1951, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương khai mạc tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Các đại biểu đại diện Mặt trận Liên Việt của Việt Nam, của Mặt trận Lào Ítxalạ, của Mặt trận Khơme Ítxarắc đã thảo luận và nhất trí thành lập Mặt trận Việt – Miên – Lào theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp

và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủy ban Liên minh nhân dân ba nước gồm các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Minh Giám, Xunanuvông, Nuhắc, Sơn Ngọc Minh, Taxamút… Từ đây, sự nghiệp đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc ngày càng phát triển sâu rộng, gắn liền với thắng lợi về quân sự ngày càng to lớn Việc thành lập liên minh ba nước Đông Dương có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu ―chia để trị‖ của thực dân Pháp và đặt cơ sở cho một liên minh

Trang 37

lâu dài với tinh thần đoàn kết, hữu nghị đặc biệt của ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược

Sự giúp đỡ lẫn nhau và sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới Tháng 9-1952, Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương họp bàn triển khai chương trình hành động cụ thể của Mặt trận Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ―Việt Nam đoàn kết chặt chẽ, Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên đoàn kết chặt chẽ, cả ba nước đoàn kết chặt chẽ thì nhất định sẽ đánh tan bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, giành độc lập,

tự do cho mỗi nước‖ và ―nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Campuchia một cách vô điều kiện‖ [51; tr.46] Về tầm quan trọng của liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc Đông Dương, chủ tịch Hồ Chí Minh nói ―Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp

đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt – Miên – Lào Chúng ta kháng chiến thắng lợi, một phần là nhờ sự đồng tình của các nước bạn và nhân dân thế giới Vì vậy, chúng ta phải củng

cố tình thân thiện giữa nước ta và các nước bạn, giữa dân ta và nhân dân các nước trên thế giới‖ [51; tr.40]

Đầu tháng 4 năm 1953, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận Ítxala quyết định mở chiến dịch Thượng Lào Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn bộ đội Việt Nam ―giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình‖, phải nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, phong tục tập quán, kính yêu nhân dân nước bạn.Trong Đông Xuân 1953-1954, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào liên tiếp tiến công địch ở nhiều nơi, góp phần làm thất bại kế hoạch quân sự Nava

Trang 38

Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu (7-1954) Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định: ―Lào và Cao Miên là hai nước láng giềng anh em của ta Chính sách của

ta đối với nhân dân Lào và Cao Miên là đoàn kết và giúp đỡ‖ [17; tr.210] Ta cần ―đoàn kết với nhân dân Lào, Khơme, đấu tranh đòi lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ba dân tộc‖ [17; tr.212]

Hiệp định Giơnevơ cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào theo nguyên tắc giữ vững quyền dân tộc tự quyết, bình đẳng, tương trợ, hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ quyền, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhau trong quá trình đấu tranh vì độc lập dân tộc của mỗi nước Những thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là kết quả của việc thực hiện chính sách đoàn kết và giúp đỡ của Đảng đối với cách mạng Lào và Campuchia, với tinh thần giúp bạn là tự giúp mình

- Thành lập mặt trận nhân dân Việt Nam đoàn kết với nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân tiến bộ Pháp

Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhờ các hoạt động tích cực của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân Pháp và các nước thuộc địa đã bắt đầu biết đến cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc ta Trong thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền trước Cách mạng tháng Tám, ta đã thực hiện đoàn kết quốc tế, gắn cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Nhật của nhân dân ta với cuộc đấu tranh chống phát xít của nhân dân thế giới Thời gian này, chúng ta đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới, đặc biệt là Quốc tế cộng sản, và các tổ chức quần chúng của Quốc tế cộng sản, của Liên Xô, của Trung Quốc và nhân dân tiến bộ Pháp, tạo thêm thuận lợi để ta chuẩn bị lực lượng, nắm thời cơ làm nên cuộc cách

Trang 39

mạng tháng Tám năm 1945

Sau Cách mạng tháng Tám, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến được hình thành và tiếp tục phát triển, đặc biệt phải kể đến sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, phong trào giải phóng dân tộc, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế Hội Việt – Mỹ thân hữu và Việt – Trung thân hữu được thành lập để hỗ trợ thực hiện chính sách đối với Mỹ và Trung Quốc Các hội đoàn và các tổ chức nhân dân của chúng ta bắt đầu xây dựng quan hệ hợp tác quốc tế với đối tác các nước Hội Công nhân Cứu quốc Việt Nam

đã lập quan hệ với Tổng liên đoàn Lao động Pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tham gia Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế

Nhiều phong trào phản chiến diễn ra sôi nổi như hành động của công nhân ở bến cảng Angiêry không chịu bốc vũ khí lên tàu chở sang Việt Nam, nhân dân Pháp sôi nổi đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu của thực dân Pháp với những gương dũng cảm như chị Ray-mông Điêng nằm ngang đường xe lửa để cản đoàn tàu chở vũ khí tiếp tế cho quân Pháp ở Việt Nam anh Hăng-ri Mác-tanh phất cờ phản chiến trong hàng ngũ hải quân Pháp, đồng chí Léo Figuères, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội Pháp với những bài viết quyết liệt gửi đăng trên các báo của Pháp,

nữ nhà văn, nhà báo Pháp Ma-đơ-len Ri-phô với những thiên phóng sự nổi tiếng ngợi ca tinh thần anh dũng của các dân tộc bị áp bức quyết vùng lên giành độc lập, tự do, đòi quyền sống Ngày 19/3/1947, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Pháp đã ra Nghị quyết lên án chiến tranh xâm lược ở Đông Dương Năm 1950, Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Liên đoàn lao động Pháp phát động chiến dịch ―Chống chiến tranh xâm lược Đông Dương‖ Phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam diễn ra sôi nổi tại Mátđagátxca, Tuynidi, Marốc, Angiêri Mặt trận đoàn kết quốc tế cùng với mặt trận đoàn kết Việt Nam – Lào - Campuchia và mặt trận đoàn kết trong nước (ba tầng mặt trận) đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn góp phần giành

Trang 40

thắng lợi lịch sử ở Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954

Trong giai đoạn từ 1946 - 1954, hoạt động đối ngoại nhân dân đã góp phần chủ yếu để khai thông liên lạc với quốc tế khi nước ta bị cô lập với bên ngoài Các tổ chức nhân dân của Việt Nam (công đoàn, phụ nữ, thanh niên…)

cử nhiều đoàn đi vận động quốc tế nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè thế giới đối với cuộc kháng chiến của ta đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới chống chiến tranh bảo vệ hòa bình Các hội hữu nghị với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa được thành lập; ta cũng chủ trương đoàn kết với phong trào nhân dân Pháp đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, hoà bình và chống chiến tranh Đông Dương

1.2.3.3 Giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 – 1969)

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng Ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp dựng lên chế độ tay sai nhằm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, kéo dài chia cắt Việt Nam Đất nước ta đứng trước hai nhiệm vụ: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giành lại hòa bình thống nhất nước nhà Trong thời kỳ này, sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chống

Mỹ của ta được ghi nhận là ―hiếm có‖ trong lịch sử thế giới Nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam, coi Việt Nam là biểu tượng của chính nghĩa, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lương tri của thời đại

- Thành lập mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam

Phong trào ủng hộ Việt Nam cũng phát triển sôi nổi do tổ chức quốc tế phát động Tổ chức đoàn kết nhân dân Á-Phi và các Ủy ban đoàn kết Á-Phi của nhiều nước đã ủng hộ Việt Nam chống Mỹ Năm 1959, Hội đồng đoàn kết nhân dân Á –Phi đã chọn ngày 20/7 làm ngày ― Nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh đòi thống nhất Tổ quốc‖ Tại Hội nghị đoàn kết nhân dân ba châu: Á, Phi, Mỹ La tinh họp ở Cu ba, tháng 1/1966 đã nhất trí thông qua Nghị quyết, nêu rõ ―Việc bảo vệ sự nghiệp cách mạng của nhân

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lương Bích (1996) , Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngoại giao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
2. Lê Duẩn (1981), Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1981
3. Thanh Đạm (1994), Nguyễn Ái Quốc trên đường về nước, Nxb Chính trị quốc gia - Nxb Nghệ An, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ái Quốc trên đường về nước
Tác giả: Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Nxb Nghệ An
Năm: 1994
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1967), Nghị quyết Trung ương số 13 (Khóa III), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương số 13 (Khóa III)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức tiền thân của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1977
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1976
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2007
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2007
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 52, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2007
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Dự thảo các văn kiện trình đại hội XII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo các văn kiện trình đại hội XII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh Jan Rose Kasmir tham gia cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc - Tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam trong xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
nh ảnh Jan Rose Kasmir tham gia cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w