Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hề thống lý luận toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.. Nghiên cứu một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN XUÂN TRUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN XUÂN TRUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO 6
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở
Việt Nam
6
1.2 Nội dung đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh 13
1.3 Nguyên tắc, phương pháp đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT
TÔN GIÁO TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
53
2.1 Tình hình đoàn kết tôn giáo ở nước ta và những vấn đề đặt ra 53
2.2 Phương hướng và một số giải pháp cơ bản để xây dựng, củng cố,
phát triển khối đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong
thời kỳ hiện nay
63
Trang 4
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Có một thời gian dài, nhiều người đã đánh giá thấp vai trò, vị trí của tôn giáo Họ cho rằng cùng với sự phat triển chín muồi của chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo sẽ nhanh chóng mất đi Nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại: Tôn giáo không những không mất đi mà trong những năm tháng cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, tôn giáo ở nhiều nơi đã hồi sinh trở lại và phát triển mạnh mẽ, kèm theo đó là những vấn đề phức tạp cần được giải quyết
Tình hình phát triển tôn giáo ở Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, đặc biệt là những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới dân chủ hóa, sinh hoạt tôn giáo bắt đầu hồi sinh và có xu hướng phát triển mạnh hơn trước với nhiều màu sắc mới Sự phát triển mạnh mẽ của tôn giáo tất yếu sẽ nảy sinh những vấn đề phức tạp về văn hóa - xã hội, an ninh quốc gia đòi hỏi chúng ta phải có đường lối, chủ trương, chính sách giải quyết thỏa đáng Hơn nữa, trong
sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hiện nay, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặt ra là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân,
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và toàn dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hề thống lý luận toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh
đã có những quan điểm độc đáo, đặc sắc, những cách làm hiệu quả, thiết thực để
Trang 5xây dựng khối đại đoàn kết dan tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam Những quan điểm và cách làm sáng tạo này tạo nên di sản quý báu mà Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, cần phải biết kế thừa, phát huy qua các giai đoạn cách mạng, nhất là ở những giai đoạn có nhiều thay đổi có tính chất bước ngoặt, nhiều vấn đề xuất hiện đòi hỏi phải giải quyết theo một tinh thần, nhận thức mới
Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng, quán triệt sâu sắc
tư tưởng này vào các chủ chương chính sách và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới là vấn đề có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn
cấp bách Xuất phát từ những lý do cấp thiết trên, tôi đã chọn đề tài “Tư tưởng
Hồ Chính Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ triết học của mình để góp phần thực hiện nhiệm vụ trên
Bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đã rất tâm đắc với đề tài này và dành nhiều công sức cho nó Song, do trình độ năng lực còn nhiều hạn chế, cộng với sự chật hẹp về quỹ thời gian.vv do đó những nội dung đề cập trong luận văn còn có khiếm khuyết là điều khó tránh khỏi Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để lần sau nếu có dịp trở lại tôi sẽ cố gắng hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt hơn
đề tôn giáo, tín ngưỡng” của Viện nghiên cứu tôn giáo thuộc trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn Quốc gia, do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản, năm
Trang 61998 Đây là công trình đầu tiên của một tập thể tác giả đã sưu tầm và tuyển chọn những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về tôn giáo tín ngưỡng Công trình này còn có phần biên niên sự kiện Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng (tr.359 - 442) và bảng tra cứu Công trình đã cung cấp nguồn tư liệu quý, đáng tin cậy đối với bạn đọc và các nhà khoa học khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng
Một công trình quan trọng khác là kỷ yếu đề tài “Chủ nghĩa Mác - Lênin
về vấn đề tôn giáo” của Trung tâm khoa học về tín ngưỡng tôn giáo, thuộc Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998 Đây là tài liệu tham khảo tốt cho những người đang nghiên cứu đề tài này Các tác giả của công trình đã giới thiệu tổng quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Trong cuốn “Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 1999, tác giả Đỗ Quang Hưng đã đề cập đến “Vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh” Hoăc cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003 do Lê Hữu
Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên đã đề cập tới rất nhiều khía cạnh, góc
độ khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo
Ngoài ra, có thể kể đến các bài nghiên cứu đăng trên các báo và tạp chí
sau đây: Đỗ Quang Hưng (1999), “Vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/1999; Nguyễn Đức Lữ (3/1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đoàn kết lương - giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng; Nguyễn Ngọc Hà (1/1996) “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng; Lê Đại Nghĩa (2001), “Về tư tưởng đoàn kết lương giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số
1/2001
Trang 7Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá giúp tôi kế thừa được những thành quả cả về nội dung và phương pháp Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những ý kiến đơn lẻ trong các bài viết ngắn và phân tán; hoặc là những ý kiến đánh giá, nhìn nhận vấn đề dưới góc độ hẹp riêng của từng tác giả mà thôi
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này vẫn cần phải tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn nữa Đặc biệt là sự vận dụng tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay vẫn còn là một vấn đề đòi hỏi phải được quan tâm và làm sáng tỏ
toàn diện Vì thế, tôi tiếp tục nghiên cứu”Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới hiện nay”, đề tài luận
văn không trùng lặp với các công trình đã công bố trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp, nội dung nhằm quán triệt và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam
Trang 8Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề tôn giáo tín ngưỡng là một lĩnh vực rộng, đề cập tới nhiều nội dung Ở đây, luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo (chủ yếu là giai đoạn 1945-1969), các giá trị tích cực của tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh và rút ra các giải pháp nhằm quán triệt và phát huy tư tưởng này trong sư nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu - so sánh phương pháp văn bản học và phân tích tình huống để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận văn
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã trình bày một cách tương đối có hệ thống và toàn diện những nội dung cơ bản về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái quát những sáng tạo lý luận đó của Người trong lĩnh vực này
- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 9Luận văn góp phần khẳng định tính cách mạng và khoa học của tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và ý nghĩa chỉ đạo của tư tưởng này trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo của các trường Chính trị và các
cơ quan chuyên ngành tôn giáo hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02 chương, 07 tiết
Trang 10Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam
1.1.1.Cơ sở lý luận
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử Truyền thống đó là kinh nghiệm, là tư tưởng để người Việt Nam tổ chức, tập hợp lực lượng nhằm dựng nước và giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước hết sức vẻ vang, có đặc trưng vị trí địa lý là một dải đất hẹp, chạy dài theo bờ biển, khí hậu, tài nguyên nhiệt đới có ý nghĩa chiến lược cả về kinh
tế và an ninh quốc phòng Bên cạnh nhiều mặt thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi, người Việt cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách, đó là sự khắc nghiệt
do tự nhiên mang lại như hạn hán, bão lụt và các cuộc xâm lược của các thế lực ngoại bang lớn mạnh Cuộc đấu tranh chinh phục cải tạo tự nhiên như đắp đê, trị thủy và đấu tranh chống ngoại xâm đã tạo nên những giá trị tinh thần cao quý
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tính cố kết cộng đồng chặt chẽ, ý chí độc lập tự chủ, lòng dũng cảm, đức tính cần cù, sáng tạo, năng động và lạc quan
Trong các giá trị truyền thống đó, truyền thống đoàn kết gắn bó của dân tộc được thể hiện một cách tập trung và nổi bật nhất, nó trở thành giá trị bền
Trang 11vững nhất của dân tộc, luôn luôn được gìn giữ và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó ăn sâu vào tiềm thức và trở thành tình cảm tự nhiên
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng”
Đã trở thành triết lý nhân sinh:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc Người đã khái quát: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 39,171 Bên cạnh việc tiếp thu truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trên con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu nhiều giá trị tinh hoa của các nền văn hóa Đông - Tây Người đã tiếp thu những giá trị tích cực của đạo đức Nho giáo Người đã nhắc đến tư tưởng “thế giới đại đồng” của Khổng
Tử và gọi ông là “Ông Khổng Tử vĩ đại” Bên cạnh những giá trị nhân văn tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh còn kế thừa những tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã
vị tha và tư tưởng “ lục hòa” của nhà Phật Người tiếp thu tư tưởng về tập hợp lực lượng cách mạng nổi tiếng đương thời như Mahatma Gandhi, Tôn Trung Sơn
và nhất là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết tập hợp lực lượng cách mạng với những khẩu hiệu nổi tiếng, có tính chất chiến lược như:
“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại” (C Mác) “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” (Lênin)
Đặc điểm khoan dung trong tôn giáo Việt Nam cũng là cơ sở quan trọng
để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm khoan dung Song, về bản chất khoan dung là thái độ tôn
Trang 12trọng, cách nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác biệt giữa các quốc gia, dân tộc (về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, các quan điểm chính trị, triết học ) Nói cách khác, khoan dung là thái độ hài hòa trong khác biệt để cùng nhau tồn tại và phát triển trong hòa bình
Do hoàn cảnh địa lý, lịch sử, văn hóa cũng như phương thức sản xuát khác nhau đã quy định tâm thức tôn giáo của người Việt Nam khác tâm thức của người phương Tây “Người An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu” Ở đấy không có ranh giới rõ rệt như Đạo và Đời, trái lại có sự khoan dung hòa quện giữa các tôn giáo theo phương châm hòa nhi bất đồng Người cũng đã chỉ ra rất chính xác: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội những người già trong gia đình hay các già làng là những người thực hiện nghi lễ tưởng niệm” 38,479
Người Việt Nam có khả năng tiếp biến rất cao văn hóa ngoại sinh Từ Nho giao, Phật giáo đến Thiên chúa giáo khi vào Việt Nam đều bị bản địa hóa thông qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Sự khoan dung tôn giáo đã quy định cách tiếp cận tôn giáo ở Việt nam không theo con đường cạnh tranh hoặc đối kháng Giữa các tôn giáo, tín ngưỡng
có tính đan xen, hòa đồng và thường diễn ra thông qua sự tồn tại để thích ứng, tích lũy và đào thải dần dần những cái không phù hợp Đó là sự khoan dung giữa tôn giáo dân tộc với tôn giáo ngoại nhập Đặc điểm đó đã phản ánh đúng tâm thức tôn giáo của người Việt Nam, đồng thời là cơ sở để nước ta tồn tại nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau Trong bối cảnh ấy, việc thắt chặt mối quan hệ, đoàn kết các tôn giáo lại với nhau để cùng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cực kỳ quan trọng và cần thiết, trở thành nhu cầu tồn tại và chấn hưng đất nước
Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam đã có “Tam giáo đồng nguyên” (đó là Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo) Ba tôn giáo này không mâu thuẫn, đối chọi mà bổ
Trang 13sung, hỗ trợ cho nhau Nho giáo lo tổ chức trật tự xã hội; Đạo giáo chăm lo thể xác con người thư thái, khỏe mạnh; Phật giáo lo cứu khổ và những chiêm nghiệm tâm linh Ba tôn giáo này đều được người Việt Nam tôn trọng vì giáo lý không đi ngược lại đạo đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không trái với lợi ích của cộng đồng, của đất nước Có thể nói, tính bao dung tín ngưỡng, tư tưởng tự do tín ngưỡng thuộc nếp nghĩ, nếp sống bình thường của người Việt Nam là cơ sở của sự đoàn kết lương - giáo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Như vậy truyền thống khoan dung trong tôn giáo Việt nam là một trong những cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người đã tiếp thu sâu sắc tư tưởng khoan dung tôn giáo của dân tộc trên một tầm cao mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời Người xử lý một cách sáng tạo và linh hoạt vấn đề tôn giáo để đảm bảo đoàn kết tôn giáo, thực hiện mục tiêu cao
cả của cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, kiên quyết chống lại mọi âm mưu của các thế lực thù địch chia rẽ tôn giáo hòng phá hoại cách mạng
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Các giai cấp thống trị phản động không chỉ ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới đều lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng Chức năng của tôn giáo là đền bù hư ảo, khỏa lấp sự thiếu hụt về nhận thức và là nhu cầu về tinh thần của một bộ phận đông đảo nhân dân trong xã hội Giai cấp thống trị đã lợi dụng các
tổ chức tôn giáo để “ru ngủ” phong trào đấu tranh của quần chúng hoặc mê hoặc quần chúng để dễ bề cai trị Theo C Mác và Ph Ăngghen: tôn giáo “ngày càng trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị, chúng dùng nó làm phương tiện cai trị đơn giản nhằm đàn áp các giai cấp lớp dưới Hơn nữa, mỗi giai cấp thống trị đều sử dụng tôn giáo phù hợp với mình” 78, 448
Trang 14Ở Việt Nam, tôn giáo tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh đất nước trải qua những chặng đường dài phải chiến đấu chống lại các thế lực đế quốc xâm lược cực kỳ hung bạo Do đó, tôn giáo không thể tách rời chính trị, càng không thể đứng ngoài chính trị Tín đồ các tôn giáo là một bộ phận trong quần chúng nhân dân, đã cùng với cộng đồng dân tộc đấu tranh để dựng nước và giữ nước Những kẻ thù xâm lược đã cấu kết chặt chẽ với bè lũ tay sai trong nước, dùng mọi thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phục vụ cho mục đích chính trị của chúng
Khi xâm lược Việt Nam, các thế lực đế quốc đều tìm mọi thủ đoạn lợi dụng các tôn giáo, hòng biến các tôn giáo Việt Nam thành lực lượng đối lập với dân tộc, chống lại cách mạng Đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Cao đài, đạo Hòa hảo, đạo Tin lành ít nhiều ở mức độ khác nhau đều có một bộ phận bị lôi kéo mua chuộc
Đạo Phật được du nhập rất sớm vào Việt Nam và từng có một vai trò nhất định trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhưng từ khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, chúng tìm mọi cách để thực hiện âm mưu chia rẽ, lôi kéo Phật giáo vào cuộc chiến tranh chống lại dân tộc, phản lại cách mạng
Thực dân Pháp đã điều chỉnh chính sách kỳ thị tôn giáo, cổ xúy phong trào
“chấn hưng Phật giáo” với ý đồ khai thác và phát triển các khuynh hướng tiêu cực lẫn lộn trong tư tưởng, giáo lý Phật như hữu thần, định mệnh để ru ngủ nhân dân
Thực dân Pháp đã thực hiện mưu đồ chia rẽ Phật giáo và lôi kéo phật tử bằng thủ đoạn tinh vi, sử dụng những tên tay sai trung thành đứng ra thành lập nhiều tổ chức Phật giáo Ngay từ năm 1922, chúng đưa Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Năng Quốc ra lập “Hội chấn hưng Phật giáo” ở Bắc kỳ, đăt trụ sở ở chùa Quán sứ Ở Trung bộ, năm 1933, chúng đưa anh em Quang Thiệt, Lê Quang
Trang 15Phước ở Sở mật tham Trung kỳ ra lập “Hội chấn hưng Phật giáo Trung kỳ”, đặt trụ sở ở chùa Từ Đàm Thực dân Pháp muốn thông qua các tổ chức Phật giáo do chúng lập ra để vừa xoa dịu các phong trào đấu tranh của quần chúng, vừa lợi dụng tổ chức này để chống phá lực lượng cách mạng
Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ đã tìm cách đưa hàng triệu tín đồ đồng bào công giáo di cư do Thích Tâm Chân đứng đầu
Trong các tôn giáo ở Việt Nam, đạo công giáo là một trong những tôn giáo có nhiều vấn đề phức tạp nhất Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của quá trình truyền bá, phát triển và tồn tại, đạo Công giáo ở Việt Nam bao giờ cũng hàm chứa những yếu tố chính trị, xã hội rất quan trọng đòi hỏi phải tập trung giải quyết Có thể nói rằng, giải quyết vấn đề kẻ thù lợi dụng đạo Công giáo nhằm phá hoại lưc lượng cách mạng của nhân dân là nhiệm vụ khó khăn nhất trong toàn bộ qúa trình giải quyết vấn dề tôn giáo ở nước ta
Điều này đã được chứng minh qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc trước đây:
Ngay từ giữa thế kỷ XVII, để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã cấu kết với hội Thiên chúa giáo ở Pháp, cử nhiều giáo sỹ đến Việt Nam để truyền giáo Các giáo sỹ này là “đội quân tiên phong” của các binh đoàn viễn chinh đã sẵn sàng hiến thân vì lợi ích của nhà nước thực dân, hòng phục vụ đắc lực cho âm mưu và hoạt động xâm lược nước ta của thực dân Pháp Athomai
đã dẫn lời của giáo sỹ AlexangĐrot kêu gọi rằng: “Đây là vị trí cần phải chiếm lấy và chiếm được vị trí này, thương gia Châu Âu sẽ tìm được một nguồn tài nguyên và lợi nhuận dồi dào” 79, 13 “Sự gắn bó giữa truyền giáo và thực dân
ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XVII trở đi cho đến hết thế kỷ XIX, tuy có lúc chặt chẽ, có lúc lỏng lẻo, song xét đến cùng chỉ là hai động thái thể hiện một xu thế duy nhất, xu thế bành trướng của chủ nghĩa tư bản đến Việt Nam, trong đó
Trang 16truyền giáo đóng vai trò đắc lực để thực dân Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa” 56,59
Như vậy, rõ ràng trong từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thời kỳ chống Pháp
và chống Mỹ, các thế lực thực dân đế quốc luôn lợi dụng tôn giáo dưới mọi hình thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và tôn giáo; gây hiềm khích kỳ thị, chia rẽ giữa các tôn giáo để tiến tới mục tiêu chống phá
sự nghiệp cach mạng của nhân dân ta
Bên cạnh đó, thực tiễn các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam do các sỹ phu, văn thân yêu nước và các phong trào đấu tranh do các trí thức mới tổ chức lãnh đạo nổi lên nhưng cuối cùng đều thất bại Trong rất nhiều nguyên nhân thất bại, có một nguyên nhân cực kỳ quan trọng là do chưa đoàn kết được đông đảo mọi lực lượng trong xã hội (trong đó có đồng bào theo tôn giáo) tham gia ủng hộ các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn giang sơn, gấm vóc của tổ tiên
Trước thực trạng đó, việc đoàn kết đồng bào các tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và không theo đạo vì sự nghiệp giải phóng dân tộc là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng Đó cũng chính là cơ sở thực tiễn để hình thành tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kế thừa một cách sáng tạo quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh có hiểu biết sâu sắc về vấn đề tôn giáo cùng với tính phức tạp và nhạy cảm của nó Người cho rằng hoạt động lợi dung tôn giáo của giai cấp thống trị để áp bức nhân dân để bảo vệ lợi ích của chúng là vấn đề mang tính phổ biến trong xã hội có giai cấp ở những thời kỳ lịch sử khác nhau Người đã khẳng định: “Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải vì ông không tôn sùng cách mạng, mà còn vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền
Trang 17mạnh mẽ có lợi cho họ Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc khai thác Kitô giáo” 37, 425
Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ vấn đề kẻ địch lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng nước ta Trên cở sở vạch ra những hành vi lợi dụng tôn giáo của thực dân, đế quốc và các thế lực phản động dưới nhiều hình thức rất tinh vi khác nhau, Người đã lý giải những nguyên nhân cơ bản của tình hình đó Đồng thời,
đề ra đường lối chính sách và phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Người đã thực hiện một cách sáng tạo tư tưởng sau đây của Lênin: “Đấu tranh chống các hành vi tôn giáo phải cực kỳ thận trọng, trong cuộc đấu tranh này, ai làm tổn hại đến tình cảm tôn giáo, người đó
sẽ bị thiệt hại lớn Cần phải đấu tranh bằng tuyên truyền, bằng giáo dục Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động như vậy
sẽ gây thêm chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của chúng ta là sức mạnh đoàn kết” 77, 521
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc và bọn tay sai phản động trong việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng
ở nước ta, Hồ Chí Minh đã đề ra một chiến lược cách mạng đúng đắn - chiến lược đại đoàn kết toàn dân trong đó đoàn kết tôn giáo giữ một vị trí đặc biệt quan trọng
Qua sự trình bày trên ta thấy: tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
ở Việt Nam được hình thành từ những nhân tố cơ bản: Truyền thống đoàn kết, khoan dung tôn giáo của dân tộc; thực tiễn lịch sử đấu tranh của nhân dân chống lai âm mưu lợi dụng tôn giáo, chia rẽ tôn giáo để chống phá cách mạng của các lực lượng bè lũ tay sai Đồng thời trên nền tảng tư tưởng chủ nghia Mác - Lênin, căn cứ vào tình hình thực tiễn quốc tế và cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã
đề ra tư tưởng đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình
Trang 18Đây là một tư tưởng sâu sắc, khoa học, giàu tính cách mạng và thực tiễn của Người trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống lại mọi sự kỳ thị tôn giáo, củng cố khối đoàn kết toàn dân, tăng cường nguồn lực nội sinh của dân tộc trong cuộc cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc Vì thế, đoàn kết tôn giáo làm thành một nội dung không thể thiếu được của chủ nghĩa nhân văn và tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh - những giá trị làm nên sức hấp dẫn, sức sống và năng lực phát sáng trong tư tưởng của Người
1.2 Nội dung đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo
Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo khac nhau về quan niệm tâm linh, đức tin và hoạt động theo những thể chế và thiết chế văn hóa - xã hội khác nhau Nhưng dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, họ đều bị bóc lột và chia rẽ sâu sắc Chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã để lại hậu quả nghiêm trọng, làm suy yếu khối đoàn kết cộng đồng, trong đó có vấn đề đoàn kết tôn giáo Trong vấn đề đoàn kết tôn giáo thì vấn đề đoàn kết lương giáo là vấn đề trọng tâm được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và kiên trì thực hiện
Theo quan niệm quen thuộc của nhân dân, lương nghĩa là lương thiện, nhằm chỉ bộ phận theo “đạo nhà” như Nguyễn Đình Chiểu đã viết, để phân biệt với bộ phận Công giáo Theo các sách xuất bản của Viện nghiên cứu tôn giáo, gần đây, lương được thay bằng bộ phận không công giáo hay Kitô giáo, bao hàm
cả những người theo đạo Phật, đạo tổ tiên Như vậy, đoàn kết lương giáo là đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với đồng bào công giáo
Trong lịch sử cận hiện đại của dân tộc, thời kỳ cuối thế kỷ XIX, vấn đề đoàn kết lương giáo đã được các sỹ phu yêu nước đề cập đến Tiêu biểu trong số
đó là Phan Bội Châu Khác với các phong trào chống Pháp thời kỳ Văn Thân,
Trang 19Cần Vương trước kia, Phan Bội Châu đã đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc Ông cho rằng: “Đồng bào công giáo đều anh em ta cả” Vì vậy, giáo cũng như lương, ai cũng có lòng yêu nước Ngay từ thời đó, ông đã nhận thức được
“yêu nước và kính Chúa” gắn liền với nhau Phan Bội Châu đã kêu gọi lương giáo đoàn kết và tin tưởng ở khối đoàn kết đó
“Bởi vì ta lại với ta
Lẽ đâu lương giáo toan là hại nhau Suy một bụng đồng bào tương ái Người cùng người ai dại gì đâu
Đã là đồng chủng đồng cừu Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này” 64, 57 - 58 Tuy nhiên, do hạn chế tầm nhìn của thời đại và nhãn quan chính trị, tư tưởng đoàn kết của Phan Bội Châu không tránh khỏi những điều bất cập Ông không đặt ra vấn đề phải phân biệt rõ ràng giữa người dân Công giáo yêu nước chân chính với kẻ đội lốt thiên chúa giáo cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp
Trong vấn đề đoàn kết lương giáo có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dầu tiên thực hiện thành công chủ trương, chính sách đoàn kết lương giáo Người kêu gọi đoàn kết lương giáo không chỉ nhằm xóa đi nhiều thành kiến vốn
có trong quá khứ mà còn nhằm chống lại chính sách chia rẽ lương giáo nguy hiểm của bọn thực dân, phong kiến; nhằm tăng cường lực luợng đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, không chỉ kháng chiến mà cả kiến quốc, không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Để phát huy sức mạnh của đoàn kết lương giáo chống lại âm mưu chia rẽ phá hoại cách mạng của kẻ thù, ngay tại cuộc họp đầu tiên của hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ngày 3/ 9/1945, khi đề cập đến nhiệm vụ cấp bách của
Trang 20Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quyết tâm và lập trường của Chính phủ đối với vấn đề tôn giáo Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào công giáo và đồng bào lương để
dễ bề thống trị Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” 39, 9
Xuất phát từ nhiệm vụ bức xúc của cách mạng dân tộc dân chủ, Hồ Chí Minh đã đưa ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào các dân tộc Việt Nam, trong đó có đồng bào các tôn giáo hãy đoàn kết lại để cùng nhau thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Ngày 19/12/1946, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Hỡi đồng bào Chúng ta phải đứng lên Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp
để cứu Tổ quốc ” 39, 480
Đối xử bình đẳng, dân chủ về các quyền và nghĩa vụ của người theo tôn giáo và không theo tôn giáo cũng là một biểu hiện quan trọng của đoàn kết lương giáo Trong cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống” 39, 8
Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện Việt Nam, để cách mạng thắng lợi, phải đoàn kết tất cả những người Việt Nam yêu nước, phải đoàn kết lương giáo trong một mặt trận dân tộc thống nhất để giành cho được độc lập của dân tộc Theo Người, những người Việt Nam yêu nước, mặc dù có thế giới quan khác nhau, có lợi ích cơ bản khác nhau, thậm chí đối lập nhau vẫn phải tiến hành
Trang 21chiến lược đoàn kết và có thể đoàn kết được Có thể thực hiện thắng lợi chiến lược đó bởi mọi người Việt Nam đều yêu nước, mọi tín đồ tôn giáo chân chính đều có chung mong muốn mình được tự do, hạnh phúc, đều muốn nước nhà được độc lập
Ưu tiên giải quyết lợi ích dân tộc, kết hợp hài hòa với việc giải quyết lợi ích giai cấp bằng cách tăng cường sức mạnh dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cả trong kinh tế, chính trị và xã hội - có thể nói là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh Đối với vấn đề tôn giáo, tình hình cũng tương tự Hồ Chí Minh luôn tôn trong quyền tự do tín ngưỡng của bà con giáo dân, tạo điều kiện
để đồng bào giáo dân được sinh hoạt tôn giáo theo giáo lý của mình Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh đến nghĩa vụ công dân của đồng bào giáo dân đối với Tổ quốc Theo Người, thế giới quan của những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo là khác nhau nhưng tất cả đều phải yêu nước, có trách nhiệm đối với đất nước Vì thế mà việc thực hiện đoànn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc nhằm mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cực kỳ quan trong
Như vậy, so với tư tưởng của C Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin, về nguyên tắc, Hồ Chí Minh không có gì khác biệt nhưng mục tiêu cũng như chiến lược đoàn kết đã được cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình và hoàn cảnh Việt Nam Nếu ở C Mác, Ph Ăng ghen, V.I Lênin, mục đích là chủ nghĩa xã hội thì ở Hồ Chí Minh là nước độc lập, dân tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc và học hành Đối tượng đoàn kết của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin là công - nông thì ở Hồ Chí Minh là mọi người Việt Nam yêu nước, là đồng bào giáo và đồng bào lương
Do đối tượng của chiến lược đoàn kết được mở rộng nên nội dung và hình thức của nó cũng được mở rộng Có thể nói, ở Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc được khái quát trong 6 chữ: “Rộng rãi -Toàn diện - Lâu dài”
Trang 22Đoàn kết được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội Đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị mà là một chiến lược nhất quán Người nói:
“Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc” 39, 606
Trung thành với nguyên tắc mác xít là muốn thay đổi ý thức xã hội thì phải thay đổi tồn tại xã hội, Hồ Chí Minh đã khéo vận dụng nguyên tắc ấy vào thực tế Việt nam Người chủ trương “ý dân là ý chúa”, vì vậy “dân muốn gì ta phải làm ấy” Người nói: “Nguyện vọng của đồng bào giáo dân là: phần xác ấm
no, phần hồn thong dong Muốn đuợc như thế thì phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho xã viên” 44, 606
Nhờ am tường đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, am tường đặc điểm của đức tin tôn giáo mà Hồ Chí Minh đã có cách giải quyết đúng đắn, cũng nhờ đó xung đột tư tưởng giữa người có đạo và người không có đạo không những không bị khơi dậy, ngược lại có thể hòa hợp với nhau trong một mục tiêu thống nhất - vì Tổ quốc, vì đồng bào Theo Người, đồng bào có đạo cơ bản cũng
là người lao động, yêu nước Họ cũng cần sung sướng và hạnh phúc, cũng cần có cơm ăn, áo mặc và được học hành Đó là điểm chung giữa tôn giáo và cách mạng, giữa con người tín đồ với con người công dân trong một tín đồ Trong lời phát biểu nhân phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III, Người nói “ có đồng bào theo đạo Thiên chúa đã nói: sống theo Đảng, chết theo Chúa Câu nói ấy là tổng kết một nhận thức rất đúng tâm trạng của những người đồng bào theo đạo có tinh thần yêu nước, họ theo Đảng nhưng vẫn tin chúa Chúng ta cần phải biến câu nói ấy thành khẩu hiệu để giáo dục và động viên đồng bào có đạo hăng hái tham gia sản xuất và chiến đấu” 45, 575
Theo Hồ Chí Minh, trong tín ngưỡng tôn giáo có nội dung mang tính nhân nghĩa, nhân văn Những nội dung đó phù hợp với chế độ ta, bởi vậy theo Người:
Trang 23“Nếu các Giáo chủ sinh ra trong hoàn cảnh hiện nay thì chắc các ngài cũng sẽ đấu tranh vì người nghèo như người Cộng sản” 59, 79
Đặt tư tưởng tôn trọng, khoan dung, mềm dẻo, linh hoạt, thoáng rộng, không định kiến với tôn giáo tín ngưỡng của Người vào bối cảnh lúc đó, khi còn nhiều người cộng sản chống tôn giáo, hoặc không chấp nhận tôn giáo; ở các nước chủ nghĩa xã hội, tư tưởng vô thần cực đoan đang khá thịnh hành: chỉ thấy tôn giáo tín ngưỡng là “duy tâm”, “lạc hậu”, “phản khoa học”, “phản động” , chúng ta mới thấy tầm trí tuệ cao, tính độc lập, sáng tạo chiều sâu nhân văn trong ứng xử khoan dung của Người
C Mác, Ph Ăngghen phải trực tiếp đấu tranh vạch rõ thế giới quan sai lầm của tôn giáo và sự lợi dụng tôn giáo của các giai cấp thống trị nhằm xác lập
ý thức hệ, thế giới quan mới dẫn đường giai cấp vô sản Còn ở Việt Nam, trước nguy cơ mất còn của dân tộc, quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, cuộc đấu tranh
về mặt thần học, giáo lý chưa phải là vấn đề bức thiết mà vấn đề nổi lên là vấn
đề đấu tranh giữa tôn giáo và dân tộc, giữa các cộng đồng tôn giáo với toàn thể cộng động dân tộc để tạo lực lượng cách mạng, đem sức ta giải phóng cho ta
Cho nên, ở tư tưởng Hồ Chí Minh không có sự đấu tranh trực diện với thần học, giáo lý các tôn giáo mà chủ yếu là cố gắng chỉ ra sự thống nhất giữa mục tiêu của cách mạng với lý tưởng của các tin ngưỡng tôn giáo, bỏ qua “tiểu dị” tìm ra điểm “đại đồng” giữa tín ngưỡng tôn giáo với sự nghiệp cách mạng Như vậy,
do hoàn cảnh lịch sử khác nhau mà C Mác, Ph Ăngghen và Hồ Chí Minh có sự ứng xử khác nhau, và trong hai trường hợp đó đều đúng Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác của Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Và thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh sự vận dụng đó là đúng đắn và sáng tạo Hồ Chí Minh, trong giải quyết vấn đề tôn giáo, học ở chủ nghĩa Mác - Lênin tinh thần đổi mới và sáng tạo, chứ không câu nệ vào câu chữ
Trang 24Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc bản chất niềm tin tôn giáo của tín
đồ Đó là niềm tin thiêng liêng cao cả, giữ vị trí trung tâm trong đới sống tinh thần của các tín đồ các tôn giáo, chi phối tâm tư, tình cảm, hành vi của họ Xúc phạm niềm tin tôn giáo là xúc phạm tín đồ, là làm tổn thất, chia rẽ khối đoàn kết,
là mắc mưu thâm độc của kẻ thù Bởi vậy, tôn trọng bảo đảm tự do tín ngưỡng, đoàn kết Lương - Giáo là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Người Hồ chí Minh
đã kết hợp khéo léo niềm tin tôn giáo vào cách mạng, vào tương lai của dân tộc Kính chúa và yêu nước phải kết hợp với nhau; Tốt đời đẹp đạo phải đi liền với nhau, không thể phân chia Bản thân Người, trong mỗi cử chỉ, lời nói, việc làm đều thể hiện sự thông hiểu, thái độ tôn trọng, tình cảm chân thành, sự thông cảm sâu sắc đối với đồng bào các tôn giáo Đúng như lời nhận xét của một linh mục khi phân tích các sự kiện liên quan đến giám mục Lê Hữu Từ: “Các lời lẽ của cụ phê phán giáo hội không bao giờ phạm đến khía cạnh đức tin, mà chỉ nằm ở phạm vi các vấn đề cơ chế và chính trị” 59, 76 Với những người lầm đường lạc lối, Người kiên trì thuyết phục, cảm hóa với thái độ khoan dung, độ lượng bằng những lời lẽ chân tình Theo Người, họ đều là “ruột thịt”, đều là “con Lạc cháu Hồng”, đều có lòng yêu nước nhưng do mắc mưu kẻ địch nên chưa nhận ra
lẽ phải mà thôi Vì thế, Người luôn “mong những đồng bào đó mau giác ngộ và quay về với kháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc” Chính phủ luôn
“hoan nghênh rộng rãi những con người đi lạc mới về” 41, 215 Khi nhận xét thái độ Hồ Chí Minh với tôn giáo, Xanhtơni - một quan chức cấp cao ở Đông Dương đã từng gặp, làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cơ sở để nhận thấy trong các chương trình của cụ
Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ của sự công kích đa nghi, hoặc chế diễu đối với một tôn giáo bất kỳ nào” 59, 80
Trang 25Hồ Chí Minh luôn phân biệt tự do tín ngưỡng tôn giáo và việc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo của các thế lực thù địch Người ý thức sâu sắc thủ đoạn thâm độc của kẻ thù chia rẽ nhân dân ta bằng cách kích động mâu thuẫn Lương - Giáo Chúng nêu hai chủ đề lớn Quốc gia - Cộng sản, Cộng sản - Tôn giáo để hù dọa, kích động, chia rẽ giáo dân Chúng tuyên truyền: “Cộng sản là vô thần sẽ tiêu diệt tôn giáo”, “Thà mất nước còn hơn mất chúa” Trước âm mưu đó, Người vạch rõ sự lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo của kẻ thù để chức sắc, tin đồ tôn giáo
khỏi ngộ nhận Ngay từ “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã lên án mạnh
mẽ thực dân Pháp cấu kết với các giáo sỹ, chức sắc công giáo để xâm lược Việt Nam Người tố cáo giáo sỹ Pháp làm gián điệp, trực tiếp bắn giết đồng bào ta, cả giáo và lương Người vạch rõ, thực dân Pháp là bọn đốt nhà thờ, hiếp đàn bà, giết tín đồ chức sắc, giết dân ngoại đạo
Không chỉ giải tỏa về nhận thức, Hồ Chí Minh còn quan tâm sâu sắc đến đời sống đồng bào các tôn giáo, quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán trong các tôn giáo và cán bộ làm công tác tôn giáo Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ:
“Nước độc lập mà dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì, đồng bào các tôn giáo theo cách mạng mà Đảng, Nhà nước không quan tâm đến lợi ích thiết thân cho đồng bào thì không thể đoàn kết được Ta quan tâm quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta Ta được lòng dân thì không sợ
gì cả Nếu giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh sống theo Đảng, chết theo Chúa” 44, 385
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, cách mạng Việt Nam bước sang thời kỳ thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Hồ Chí Minh quan tâm ngay tới việc xây dựng lực lượng đoàn kết lương giáo Người tiếp tục kêu gọi: “Phải
Trang 26đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc kinh và thiểu số, đoàn kết quân dân”
43, 403 Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết lương giáo là một trong những nhân
tố tạo nên thắng lợi của sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà
Trong thư gửi Hội nghị đại biểu đồng bào theo đạo Thiên chúa toàn miền Bắc ngày 17-9-1964, Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ rõ: “Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” 45, 314
Như vậy, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm coi vấn đề đoàn kết lương giáo, đoàn kết toàn dân là một nhân tố hết sức quan trọng để thực hiện lý tưởng chính trị - xã hội, khát vọng hòa bình, dân chủ và giàu mạnh Có thể nói một cách khái quát, theo tư tưởng Hồ Chí Minh cả trong đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc kiến thiết đất nước, vấn đề đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc đều mang tính tất yếu và cấp thiết, trở thành nhu cầu nội tại của sự phát triển dân tộc theo xu hướng tiến bộ
Không chỉ chú trọng đoàn kết đồng bào lương giáo trong nước mà Hồ Chí Minh còn chú trọng đoàn kết với đồng bào công giáo là Việt kiều ở nước ngoài Giữa năm 1946, khi đi thăm Pháp Hồ Chí Minh đã gặp bà con Việt kiều trong đó
có nhiều đồng bào công giáo Người nói: Phái đoàn sang đây mang đến cho đồng bào một món quà, không phải bánh trái, không phải tiền bạc mà là tinh thần dân tộc: “Đoàn kết trên hết, Tổ quốc trên hết”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo còn hàm chứa khối đoàn kết giữa những người cộng sản với những người theo tôn giáo
Đây là vấn đề tế nhị và phức tạp Bởi lẽ giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản có sự đối lập nhau về thế giới quan và một số vấn đề khác, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 27Minh là người cộng sản theo chủ nghĩa duy vật và vô thần Người đã công khai thừa nhận quan điểm triết học của mình: “Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật ngược nhau, rõ ràng là thế” 59,73
Là nhà duy vật biện chứng lỗi lạc, là người rất nhạy cảm và sâu sắc, Người đã có thái độ biện chứng, mềm dẻo đối với các tôn giáo, vì thế Người đã phát hiện ra các giá trị tích cực của tôn giáo gần gũi với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa để kết hợp lại, nhằm đem lại lợi ích cho sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận thấy trong bản chất các tôn giáo đều là vì mục đích con người:
“Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người tự do, hạnh phúc” 39, 95 Và “suốt đời ngài chỉ hy sinh cho tự do dân chủ” 39, 121 Phật ra đời cũng chính là để “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” 45, 315
Nhiều kẻ thù lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền trong nhân dân, đặc biệt trong đồng bào công giáo: công giáo và cộng sản không đội trời chung Để giúp đồng bào hiểu rõ chính sách của Đảng, Chính phủ về tôn giáo và không bị kẻ xấu lừa bịp, Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: “Công việc mà Đảng , Chính phủ
và Mặt trận làm là phù hợp với ý nguyện của chúa, phù hợp với kinh phúc âm” Người cũng chỉ rõ cho đồng bào theo tôn giáo thấy lý tưởng chân chính của người theo tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh nói: “Mục đích của chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người, cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu Đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước lỗi khổ đau của người đương thời, chắc chắn ngài sẽ là một người
xã hội chủ nghĩa đi tìm đường cứu khổ loài người”59, 79 Người cố gắng lý giải cho đồng bào hiểu tôn giáo không đối lập với Tổ quốc, không đối lập với lý tưởng cộng sản Trong thư gửi giáo mục Lê Hữu Từ ngày 02/03/1947, Người đã viết:
Trang 28“Đường lối của Chính phủ gồm 3 mục tiêu sau:
1 Giải phóng nhân dân khỏi đói rét (khổ sở) và khỏi dốt
2 Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng
Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do Như thế là việc của Chính phủ và nhân dân ta làm đều phù hợp với tinh thần Phúc âm” 42, 197 Người luôn nêu cao tinh thần hướng thiện, phân biệt Chính là thiện, Tà là ác, Người cũng cho rằng, bất kỳ tôn giáo nào cũng đều hướng thiện Đó cũng là ước muốn của các tín đồ tôn giáo cũng như của tất cả mọi người trên trái đất này và của chính những người Cộng sản Bởi vậy, Hồ Chí Minh tin tưởng đồng bào các tôn giáo, tôn trọng họ, hướng họ vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc
Trang 29Một vấn đề được rất nhiều người cộng sản và đồng bào công giáo đặt ra là linh mục và đồng bào theo đạo có trở thành đảng viên của Đảng dân chủ hay xã hội được không? V.I Lênin đã viết rằng: “Không nên nhất luận và bất cứ trường hợp nào cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viên của Đảng Dân Chủ - xã hội nhưng lại càng không nên nhất luận tuyên bố ngược lại”
73, 519
Trường hợp nào thì có thể kết nạp, trường hợp nào thì không.Về điểm này V.I.Lênin nói thêm: “Chúng ta không những sẵn sàng kết nạp mà còn cố gắng để thu hút vào trong Đảng Dân chủ - xã hội tất cả những công dân còn tin ở thượng đế” 73, 520
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng của Lênin để giải quyết vấn đề tôn giáo phù hợp với điều kiện lịch sử văn hóa và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam Trong buổi nói chuyện ở lớp chỉnh huấn cán bộ trí thức, một số anh chị em hỏi: Một người công giáo có thể vào Đảng lao động được không? Hồ Chí Minh đã nói: “Có Người công giáo nào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lac hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được” 42, 115
Cũng như V.I Lênin, Hồ CHí Minh nêu nhiệm vụ rõ ràng, quan trọng và cần thiết của Đảng lao Động là “giáó dục, đoàn kết họ để kháng chiến và sau này kiến quốc” 42, 115
Không chỉ người cộng sản mới cần đến bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
mà theo Hồ Chí Minh các nhà chức sắc tôn giáo cũng cần đến những điều đó Trong điện gửi linh mục Lê Văn Yên (Bắc Ninh), Người viết: “Ngoài sự làm tròn nhiệm vụ của một ứng cử viên trong ủy ban kháng chiến tỉnh Bắc Ninh, Ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa đồng bào lương và
Trang 30giáo Ngài luôn tận tâm chăm sóc các anh em thương binh Ngài lại không nhận lương phụ cấp
Như thế là ngài đã nêu cao cái gương cần, kiệm, liêm, chính cho mọi người” 40, 408
Trong lời điếu cụ Phạm Bá Trực, Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội,
Hồ Chí Minh có viết: “ Trong mọi việc cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy theo tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam” 41, 317
Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ quan điểm nhất quán của Chính phủ và Đảng ta là: “Đảng cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người” 8
Tư tưởng đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo của Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động trên thực tế, đặc biệt rõ nét trong
cơ quan lập pháp và hành pháp cao nhất của Nhà nước dân chủ cộng hòa: Quốc hội và Chính phủ Quốc hội đầu tiên của nước ta do nhân dân lựa chọn bằng cuộc tổng tuyển cử ngày 6/10/1946 là Quốc hội thống nhất đất nước của khối đại đoàn kết toàn dân Quốc hội đã tụ họp các vị đại biểu ở cả ba miền đất nước của tất cả các thế hệ của người Việt Nam yêu nước, của các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái yêu nước và cách mạng cho đến cả những người vốn là quan lại cao cấp của chế độ cũ, kể cả cựu hoàng “Bảo Đại đã trở nên ông Vĩnh Thụy tối cao cố vấn của Chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam” 39, 75
Theo tư tưởng “thống nhất từ bên trong” và đoàn kết “từ trên xuống” của
Hồ Chí Minh, trung ương và thường vụ trung ương đã kịp thời ra các chỉ thị để lãnh đạo cách mạng Đặc biệt chỉ thị ngày 05/10/1947 chủ trương đoàn kết hơn nữa với tất cả các giới kể cả những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau Linh mục Lê Văn Yên được mời làm ủy viên ủy ban kháng chiến tỉnh Bắc
Trang 31Ninh Linh mục Phạm Bá Trực được cử vào phó trưởng ban thường trực cũng tự nguyện tham gia gánh vác nhiệm vụ làm cố vấn Chính phủ và đã “hứa sẽ cố gắng làm việc một lòng vì nước vì dân” 39, 430 Chỉ hai tháng sau ngày tuyên
bố độc lập, linh mục Lê Hữu Từ được phong làm Giám mục Phát Diệm Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến sự kiện này nên đã cử một phái đoàn gồm bốn bộ trưởng trong đó có những cán bộ cao cấp nhất của Việt Minh như đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Võ Nguyên Giáp về dự lễ tấn phong và thăm viếng giáo dân địa phương Đặc biệt ngày 22/2/1946, Hồ Chủ tịch đích thân đến Phát Diệm để trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân: Từ nay, giám mục Lê Hữu Từ là “cố vấn tối cao của Chính phủ”
Đồng bào theo tôn giáo thì cũng là công dân của đất nước, cho nên phải có trách nhiệm với Tổ quốc Hồ Chí Minh yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo như linh mục, giám mục khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của Việt Nam dân chủ cộng hòa”
Trong quá trình thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo nói chung và đoàn kết giữa những người cộng sản với những người có tín ngưỡng tôn giáo nói riêng, không phải bao giờ cũng thuận chiều Trên thực tế có một vài bộ phận đồng bào công giáo không hiểu rõ chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ; cũng có không ít cán bộ chưa nắm vững vấn đề này, do đó trong quá trình thực hiện còn mắc sai lầm, xúc phạm đến tình cảm của giáo dân nên đã có “những vụ đụng độ nhỏ giữa đồng bào với nhau” Hồ Chí Minh đã giải thích nguyên nhân tình trạng trên như sau:
“Một đàng có những người công giáo nhẹ dạ, dễ tin; đàng khác có những cán bộ cấp thấp của Chính phủ thiếu tế nhị Nhiều kẻ gây rối lợi dụng khai thác hai yếu tố trên nhằm tạo ra một bầu không khí không lành mạnh” 59, 73
Trang 32Nhờ có quan điểm và chính sách đúng đắn mà Hồ Chí Minh đã đoàn kết được những người cộng sản và những người theo tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Đây là đóng góp rất lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng, nó xóa đi được mặc cảm về khả năng giữa người cộng sản và những người có đức tin tôn giáo là không thể cùng chung sống Không những thế còn tập hợp thêm mọi lực lượng xã hội quan trọng tham gia cách mạng, hay ít ra cũng ngăn cản hoặc bớt đi thái độ hiềm khích chống lại cách mạng của nhiều kẻ cuồng tín Đó cũng chính là thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
1.2.2 Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau
Do điều kiện đặc thù về địa lý, lịch sử, văn hóa đất nước ta có nhiều tôn giáo cùng song song tồn tại Một số tôn giáo có nguồn gốc từ bên ngoài du nhập vào như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Tin lành và có những tôn giáo bản địa như Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo Các tôn giáo đó có sự ảnh hưởng đến đời sống xã hội ở mức độ khác nhau Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa của khối đoàn kết toàn dân không phân biệt tôn giáo đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc Không chỉ đoàn kết được tất cả các dân tộc, các đảng phái mà còn phải đoàn kết được tất cả đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, tập hợp họ lại thành một khối thống nhất Do vậy, một mặt Hồ Chí Minh kêu gọi
sự đoàn kết giữa các đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, mặt khác, Hồ Chí Minh nhắc nhở kêu gọi đồng bào các tôn giáo, hãy đoàn kết một lòng, bỏ qua dị biệt nhỏ về đức tin, lối sống, sự nghi kỵ, lấy mục tiêu cách mạng làm điểm tương đồng, để cùng nhau giải phóng giống nòi để giữ gìn Tổ quốc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau chính là để tập hợp một bộ phận đồng bào các tôn giáo khác nhau vào khối đại đoàn kết toàn dân, phục vụ cho mục tiêu giành độc lập, tự do cho đất nước, đem lại cuộc sống ấm no cho
Trang 33nhân dân Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Người đã nói:
“Hiện nay toàn quốc, đồng bào ta công giáo và ngoại công giáo đều đoàn kết chặt chẽ, nhất trí, đồng tâm như con một nhà, ra sức tranh đấu để giữ gìn nền dộc lập của Tổ quốc” 39, 490
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau là hết sức đúng đắn và phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết đồng bào các tôn giáo là đoàn kết trên cơ sở tương thân, tương ái, các bên cùng có lợi Lợi ích cao cả của đoàn kết tôn giáo là hướng tới phục vụ Tổ quốc, phục vụ tôn giáo Đoàn kết không làm suy giảm mà còn làm cho bản thân các tôn giáo mạnh lên, có đuợc vị trí xứng đáng trong khối đại đoàn kết chung của cộng đồng dân tộc Đoàn kết để tạo thành sức mạnh cố kết cộng đồng chứ không phải cấu kết một vài nhóm người theo tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Như vậy, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau vừa đoàn kết được lợi ích của mỗi tôn giáo, tạo cho nó những cơ hội và điều kiện phát triển tốt hơn, vừa đáp ứng được những mong muốn chung của cộng đồng dân tộc, đó là xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Ở đây, Hồ Chí Minh đã giải quyết được một cách thuần thục, vững vàng, có tính nguyên tắc vấn đề về phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích toàn bộ và lợi ích bộ phận
Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Chúng ta bên lương cũng như bên giáo, Phật cũng như Cao Đài, đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết kháng chiến để giải phóng giống nòi, gìn giữ Tổ quốc” 40, 214 - 215 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào “các tôn giáo hãy đoàn kết tôn giáo như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ cứu nước” 45, 471
Trang 34Cuộc kháng chiến chống các thế lực đế quốc xâm lược của nhân dân ta là cuộc kháng chiến thần thánh trường kỳ, gian khổ và ác liệt Biết bao nhiêu đồng bào và chiến sỹ đã hy sinh quả cảm cho nền độc lập của nước nhà Những năm kháng chiến của dân tộc, Hồ Chí Minh đẫ nhiều lần gửi thư cho đồng bào các tôn giáo hoặc thư từ trao đổi với chức sắc tôn giáo Trong thư, Người luôn thiết tha kêu gọi đồng bào, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo “ hãy thật thà cộng tác
vì nhân dân, vì nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nước Việt Nam yêu dấu của chúng ta” 42, 323
Trong thư gửi đồng bào công giáo trong dịp lễ Noel (1951), Hồ Chí Minh
đã viết: “Tôi mong đồng bào đoàn kết thêm chặt chẽ trong công cuộc kháng chiến để phụng sự Đức chúa, phụng sự Tổ quốc và để thực hiện lời chúa dạy:
“Hòa bình cho người lành dưới thế” 41, 359
Trong thư gửi hội Phật tử Việt Nam, ngày 30/8/1947, Hồ Chí Minh đã viết: “Từ ngày nước ta trở nên dân chủ cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện Thế là: nước có độc lập thì Phật mới dễ dàng mở mang Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của Đức phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ” 40,
197
Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào cộng đồng, góp phần vào sự nghiệp chung của cả dân tộc Có một sự kiện đáng lưu ý là ngày 5/11/1946 Hồ Chí Minh đến thăm chùa Bà Đá ở Hà Nội Vào ngày này, các Phật tử trong hội Phật giáo cứu quốc tổ chức Tuần lễ liên hiệp quốc gia để hoan nghênh sự đoàn kết
Trang 35giữa các đảng phái và Mặt trận Việt Minh và để cầu nguyện cho nền độc lập của nước Việt Nam Tại buổi lễ trang nghiêm này, trong mùi thơm của trầm hương nghi ngút trên bàn thờ Phật, Chủ tịch Hồ chí Minh đã nói về sự hòa hợp, sự đồng lòng của các tín đồ Phật giáo, Công giáo, của những người tin theo Khổng giáo và các đồng bào không theo tôn giáo trước vận mệnh của Tổ quốc Hồ Chí Minh cùng các thành viên trong Hội đồng Chính phủ (có cả phó Chủ tịch nước Nguyên Hải Thần, lãnh đạo Đảng Việt cách), các sư tăng, ni cô, các giáo hữu công giáo cầu nguyện cho nền độc lập của nước Việt Nam mới Tất cả các thành viên trong buổi lễ đã trân trọng thề: Chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc Nói như giáo sư Phạm Như Cương: Đây là “một cách làm công tác tôn giáo, làm chính trị đầy uyển chuyển, hòa mình một cách tự nhiên, chân tình, rất “Hồ Chí Minh” Đó là một phong cách làm chính trị ở một tầm văn hóa rất cao của một danh nhân văn hóa thế giới” 14, 89
Với các vị tăng ni và đồng bào tín đồ Phật giáo, Hồ Chí Minh viết: “Từ ngày hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn đời sống của nhân dân ta được dần dần cải thiện, cũng giống như tôn chỉ mục đích của Đạo phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và ấm no Trong dịp này, tôi mong các vị tăng ni và đồng bào tín đồ đã đoàn kết thì càng đoàn kết hơn để góp phần xây dựng hòa bình chóng thắng lợi” 43, 290
Với hàng giáo sĩ và đồng bào Công giáo, Hồ Chí Minh viết: “Từ nay với
sự cố gắng của đồng bào, sản xuất sẽ ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm
no thì phần hồn cũng được yên vui, việc đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc, giữ gìn hòa bình càng nhanh chóng thắng lợi như bài hát: “Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng giới, hòa bình cho mọi người lành dưới thế” 43, 285
Những hoạt động như vậy của Hồ Chí Minh đã thổi một luồng sinh khí mới vào lòng yêu nước, kính Chúa, tôn thờ đức Phật tổ của các tín đồ, khơi dậy
Trang 36lòng nhiệt tình cách mạng, xóa bỏ những mặc cảm nghi kỵ, hiềm khích giữa các tôn giáo để cùng cộng sinh, cộng hưởng, cộng đồng trách nhiệm trước vận mệnh chung của đất nước Hồ Chí Minh đẫ chủ trương giúp đỡ các tôn giáo lập ra các
tổ chức yêu nước để phát huy nội lực đoàn kết yêu nước của họ Ngày15/3/1946,
Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Việt Nam Phật giáo hội, trụ sở tại 73 phố Quán Sứ, Hà Nội Ngày 6/3/1946, Liên đoàn Công giáo Việt Nam ra đời có trụ sở tại số 3 ngõ Nhà Chung 49, 31
Giữa các tôn giáo, Hồ Chí Minh thấy có những điều giống nhau ở tư tưởng nhưng trên thực tế thì rất phức tạp và có những bất đồng gây chia rẽ làm cho kẻ địch lợi dụng Hồ Chí Minh đã lấy lịch sử sự chia rẽ không đoàn kết đã làm tổn hai đến lợi ích Tổ quốc, làm lòng người dân ly tán, hoang mang của lịch sử Phật giáo để nói về hậu quả do không đoàn kết làm ảnh hưởng đến đời riêng của nhân dân và Tổ quốc “Nước Phật ngày xưa có những bốn đảng phái làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc Nước Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở Đức chúa trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng Nhưng đối với dân ta đừng làm gì trái ý dân Dân muốn gì ta phải làm nấy” 39, 48
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết dân tộc, theo quan điểm của Hồ Chí Minh còn bao hàm cả sự phê phán những hành vi lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân, xâm phạm đến lợi ích chung của đất nước, của dân tộc Theo Người, xây dựng khối đoàn kết giữa các tôn giáo phải đi đôi với đấu tranh để giữ gìn và phát triển đoàn kết Tuy nhiên Hồ Chí Minh cũng phân định rõ ràng những mức độ và phương thức đấu tranh khác nhau Đấu tranh với các thế lực tôn giáo phản động cấu kết cùng chủ nghĩa thực dân thì phải cương quyết, không khoan nhượng Việc này
Trang 37giúp cho nhân dân không bị lừa phỉnh Còn đấu tranh phê phán đối với đồng bào các tôn giáo hoặc những cán bộ làm sai chính sách của Đảng, Nhà nước là đấu tranh nội bộ, nhằm để giải tỏa hiểu lầm và tăng cường đoàn kết, nên phải mềm mỏng, lấy thuyết phục làm chính Hồ Chí Minh đã phân định rất rõ tính chính trị
va tính quần chúng cùng những mâu thuân phát sinh trong vấn đề tôn giáo, từ đó
để có cách giải quyết đúng, hợp lòng dân
Để củng cố và tăng cường đoàn kết giữa đồng bào các tôn giáo khác nhau,
Hồ Chí Minh chú trọng giáo dục đồng bào nêu cao cảnh giác, phát huy kịp thời
và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại âm mưu hành động của kẻ thù lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ đoàn kết giữa các tôn giáo Cuộc đấu tranh chống mưu đồ chia cắt đất nước mà chúng rắp tâm thực hiện: “Nước ta phải thống nhất Nam Bắc là một nhà Không thể để ai chia cắt Tổ quốc ta, chia rẽ gia đình ta”
42, 369 - 370
Tại Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành trung ương Đảng, khóa II, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Phải ra sức tuyên truyền chính sách của ta và vạch rõ chính sách chia rẽ của kẻ thù “dùng người việt đánh người viêt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Người khẳng định: “ Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động yêu nước kháng chiến như Công giáo ở nhiều nơi, như Cao Đài kháng chiến,v.v Một phần bị địch lợi dụng như ngụy quân Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo ở Nam Bộ Một số đồng bào công giáo tuy bản chất tốt, nhưng bị bọn cầm đầu phản động lung lạc, nên họ hoài nghi chính sách của Đảng và Chính phủ” 41, 461
Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân phát sinh các mâu thuẫn rắc rối liên quan đến các tôn giáo, làm ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo, một phần do sự chia
rẽ của kẻ địch Mặt khác, vì ta chưa có phương pháp thích hợp để vận động đồng bào tôn giáo, chưa thực hiện đúng đường lối đại đoàn kết của Đảng Hồ Chí
Trang 38Minh đã thẳng thắn phê phán những yếu kém trong đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách tôn giáo “Có những cán bộ không biết tổ chức, không biết giải thích tuyên truyền, lại ưa tự tư, tự lợi, không cảnh giác để cho bọn phản động chui vào các đoàn thể rồi phá hoại” 42, 55 Trong khi thực hiện các công tác, nhất là ở vùng đồng bào Công giáo, cán bộ chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ; chưa gần gũi học hỏi quần chúng; chưa hiểu được phong tục tập quán của quần chúng nên đẫ dẫn tới hậu quả không tốt “Không những dân ghét cán bộ,
mà còn oán Chính phủ, oán Đảng” 40, 55 Hồ Chí Minh đã nêu cụ thể: Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích Nhiều cán bộ hễ cứ nói đến cha cố, không phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu” 42, 332
Để khắc phục những thiếu sót trong công tác vận động quần chúng có đạo nhằm tăng cường sự đoàn kết giữa các tôn giáo vì sự nghiệp chung của cách mạng, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói với cán bộ làm công tác mặt trận, phải kết hợp giữa công tác tuyên truyền vận động và việc đem lại kết quả thiết thực cho đồng bào Theo Hồ Chí Minh, giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu của địch đối với đồng bào theo các tôn giáo và giáo dục nâng cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh của những cán bộ làm công tác tôn giáo là một trong những vấn
đề then chốt góp phần tăng cường sự đoàn kết giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, giữa đồng bào các tôn giáo với toàn thể dân tộc
Tóm lại, Hồ chí Minh trên cơ sở nhận thức thực tiễn đời sống các tôn giáo Việt Nam và yêu cầu của cách mạng, đã xây dựng được tình cảm đoàn kết giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; chấp nhận tất cả mọi người không cùng tín ngưỡng tôn giáo Đó là nét độc đáo và thiên tài của Hồ Chí Minh Nó thể hiện lòng nhân ái bao dung, hòa hợp trong nhân cách của Người Nhờ đó mà
đã tránh được tình trạng các tôn giáo đấu tranh với nhau để tranh giành ảnh
Trang 39hưởng gây mất ổn định xã hội và gây khó khăn cho cách mạng, tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia vào mặt trận đoàn kết chung, chiến đấu giải phóng Tổ quốc
và xây dựng đời sống ấm no cho nhân dân mà vẫn đảm bảo được đức tin cho những người theo các tôn giáo Như vậy, với mục tiêu chính nghĩa đúng đắn và phương pháp mềm dẻo linh hoạt, Hồ Chí Minh đã đoàn kết được những người có tôn giáo khác nhau tạo thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và thông qua đó thì các tôn giáo cũng có điều kiện hiểu và xích lại gần nhau hơn, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại cách mạng của kẻ thù
1.3 Nguyên tắc, phương pháp đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.3.1 Lấy lợi ích quốc gia dân tộc và quyền lợi căn bản của con người làm mẫu số chung
Quan điểm về đại đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là rát đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh riêng của đất nước; đặc biệt là trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH của đất nước Nhưng để quan điểm, chủ trương đó thành hiện thực, có hiệu quả thì cần phải có phương pháp đoàn kết cho phù hợp Hồ Chí Minh đã lấy lợi ích quốc gia dân tộc và quyền lợi căn bản của con người làm mẫu số chung cho sự đoàn kết tôn giáo
Hạt nhân cốt lõi trong phương pháp này là giải quyết hàng loạt mối quan
hệ xã hội: cá nhân và tập thể, gia đình và xã hội, bộ phận và toàn thể, giai cấp và dân tộc, vô thần và hữu thần, quốc gia và quốc tế Giữa các cặp quan hệ đó đều
có hai mặt: thống nhất và mâu thuẫn
Nguyên tắc của Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo là tìm kiếm, tôn trọng phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để hạn chế, giải quyết dần những
Trang 40yếu tố khác biệt Việc giải quyết các cặp quan hệ trên theo phương châm “Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết” và “tất cả do con người, tất cả vì con người” Người mong muốn: “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” 39,161 Đây là mẫu số chung, điểm đại đồng để đoàn kết mọi người Việt Nam Chỉ trên
cơ sở đồng lợi ích đó mới có thể đoàn kết Lương - Giáo và các tôn giáo khác Không chỉ ra lợi ích chung, không quan tâm đến lợi ích chung đó một cách thiết thực thì không thể xây dựng khối đại đoàn kết được
Trước hết Hồ Chí Minh đã chỉ ra cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc là lợi ích chung của người Việt Nam, giáo cũng như lương đó là quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc Chỉ có cùng chung một lợi ích mới có được
cơ sở vững chắc và động lực mạnh mẽ cho đoàn kết Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”36, 466
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, phát triển, giáo lý, giáo luật cũng như vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, nhưng mỗi tôn giáo đều tồn tại trong lòng dân tộc Việt Nam Vì vậy, lợi ích của từng tôn giáo gắn chặt với cả lợi ích của cả cộng đồng dân tộc Và theo Hồ Chí Minh thì phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết Vì đây là lợi ích của cả cộng đồng, trong đó có lợi ích của các tôn giáo Một khi độc lập, chủ quyền quốc gia
bị xâm phạm thì lợi ích của các tôn giáo cũng bị ảnh hưởng Người đã nói rõ:
“Nước không độc lập thì tôn giáo cũng không dược tự do, nên chúng ta phải làm cho nước được tự do đã” Đối với đạo Phật, trong thư gửi Hội phật tử năm 1947 Người đã chỉ ra: “Nước có độc lập thì Đạo Phật mới dễ mở mang”
Để khẳng định vai trò, sức mạnh của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã nói: “Từ Nam tới Bắc, ai là người tán thành hòa