CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀ 4 NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG THỰC TIỄN CỦA HỒ CHÍ MINH 4 1.1. Những nhân tố hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. 4 1.1.1. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 4 1.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản 5 1.2. Đoàn kết quốc tế trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh 7 1.2.1. Hoạt động đoàn kết của Hồ Chí Minh trên đất Pháp 7 1.2.2. Hoạt động đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong quốc tế cộng sản 9 1.2.3. Hoạt động đoàn kết quốc tế cho việc thành lập Đảng và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 12 CHƯƠNG 2 16 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 16 VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ 16 2.1 Độc lập, tự do là mục tiêu, động lực và cơ sở của tư tưởng đoàn kết quốc tế 16 2.2 Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới 19 2.3 Độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế 21 2.4. Đoàn kết quốc tế theo tinh thần: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước". 23 2.5. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại 25
Trang 1LOI CAM ON
Chuẩn bị kết thúc 4 năm được học tập và làm sinh viên với bao niềm
vui, nỗi buồn.Đê hoàn thành được báo cáo thực tập này, em xin trân trọng gửi
lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Khoa Quan Hệ Quốc Tế - trường Đại học dân
lập Đông Đô cùng các thầy, cô giáo Viện Quan Hệ Quốc Tế,Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất, tận tình
truyền thụ kiến thức về chuyên nghành Quan Hệ Quốc Tế và hướng dẫn em hoàn thành được báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Mặc dù nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thay cô giáo và bạn bè
xong do kiến thức có hạn,đây là lần đầu tiên em được hướng dẫn nghiên cứu
một đề tài khoa học xã hội nên khó tránh khỏi những hạn chế vướng mắc Em kính mong các thầy, cô xem xét và tạo điều kiện cho em duoc hoan thành nhiệm vụ học tập
Em xin tran trong cam on !
Hà nội, ngày 10 tháng 04 năm 2010
Sinh viên
Trang 2LOI MO DAU
1- Ly do chon dé tai
Thực tiễn ngày càng chứng minh, cùng với chủ nghĩa Mác- Lê Nin Tu tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam trong hơn 77 năm qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII của Đảng (6/1991) khăng định: " Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng" Các đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, X, X của Dang chi rõ: " tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tạo điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hóa của dân tộc" trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết toàn quốc có vị trí đặc biệt quan trọng
Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế biến đôi nhanh chóng và xu thế toàn cầu hóa đang gia tăng, nhất là lĩnh vực kinh tế, không một quốc gia nào có
thé phat triển mà lại không mở rộng quan hệ, đoàn kết, hợp tác với các nước
khác Nước ta đang trong thời kỳ đây mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để phát triển và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc
tế, một trong những vấn đề quan trọng là phải mở rộng đoàn kết hợp tác theo tinh thần " Việt Nam sẵn sàng làm bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế" Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc trế có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước ta
Chính vì vậy em lựa chọn đề tài : " Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay"
làm chủ đề của báo cáo thực tập tốt nghiệp năm học 2009 - 2010
2- Mục đích nghiên cứu
Đề tài bước đầu khái quát lại những nội dung chủ yếu trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, làm nổi bật những quan điểm chiến lược
về đoàn kết quốc tế của chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như quá trình vận dụng
Trang 3tư tưởng đó trong quan hệ đối ngoại của Đảng và nhà nước ta từ khi đôi mới
đến nay Từ đò phục vụ cho việc triển khai và thực hiện thang loi chinh sach
đối ngoại của Dang va nhà nước ta trong giai đoạn mới
3- Phương pháp nghiên cứu
Ở mức độ bước đầu của sinh viên nghiên cứu khoa học xã hội, em sử
dụng phương pháp tông hợp tài liệu, nghiên cứu theo phương pháp lịch sử là chính dựa trên nền tảng quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam
4- Ý nghĩa và lý luận thực tiễn của báo cáo
Đề bài bước đầu khái quát tư tưởng Hỗ Chí Minh về đoàn kết quốc tế,
về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng dân chủ, văn minh
Kết quả nghiên cứu của báo cáo thực tập sẽ là tài liệu tham khảo cho
sinh viên Khoa Quan Hệ Quốc Tế và một số khoa khác có nội dung học tập
liên quan ở trường ĐH dân lập Đông Đô - Hà Nội
5- Kết cầu của đề tài
- Chương I: cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế và những hoạt động đoàn kết quốc tế trong thực tiễn của Hồ Chí Minh
- Chương II: Một số vận dụng cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết quốc tế
- Chương IHII : Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc
tế trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay
Trang 4CHUONGT
CO SO HINH THANH TU TUONG DOAN KET QUOC TE VA_ NHUNG HOAT DONG DOAN KET QUOC TE TRONG THUC TIEN
CUA HO CHI MINH
1.1 Những nhân tố hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh
1.1.1 Truyền thông tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Ý thức quốc gia, dân tộc, làm chủ đất nước của cộng đồng người Việt
có từ ngàn xưa Cuộc chiến đấu với thiên nhiên, với giặc ngoại xâm trong lịch
sử ngàn năm đã hun đúc nên truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: Yêu
nước nồng nàn, độc lập tự chủ, kiên cường bất khuất, đoàn kết thống nhất,
nhân ái khoan dung
Trước hết, là chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt qúa trình lịch sử của dân tộc Việt Nam Những nội dung chủ yếu
của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã từng bước được đúc kết, hình thành một
hệ thống các nguyên lý với tư tưởng của các anh hùng hào kiệt như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục người thanh niên Nguyễn Tat Thanh ra di tim đường cứu nước Đó cũng là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của
Người trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
viết: Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo quốc tế thứ II Truyền thống yêu nước của dan tộc được Nguyễn Tất Thành tiếp thu từ những ngày ở quê hương và trên con đường bôn ba khắp năm châu bốn bể Người đã đến với những người lao động trên thế giới, đến với tình hữu ái vô sản và đến với chủ nghĩa Mác- Lênm, đó là con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Thứ hai, đó là tỉnh thần đoàn kết, tương ái của dân tộc Truyền thống
này hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và yêu
cầu đấu tranh chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm Người Việt Nam quen gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp,
Trang 5truyền thống này vẫn bền vững Vì vậy Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa và phát
huy sức mạnh truyền thông đoàn kết của dân tộc đề hình thành tư tưởng đoàn
kết quốc tế, phân đấu vì một thế giới hòa bình, ỗn định và phát triển
Thứ ba, ngoại giao truyền thống Việt Nam cuãng là một nhân tố quan trọng hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh Ngoại giao truyền thống Việt Nam xem trọng việc giữ hòa khí, đoàn kết hữu nghị với các
nước, phan đấu cho sự thái hòa, yêu chuộng hòa bình là bản chất của ngoại
giao Việt Nam Trong khi lập trường nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược của các ngoại bang, Đại Việt luôn
kiên trì đường lối hòa bình trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giêng
Hòa hiếu là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt đúng như nhà sử học
Phan Huy Chú đã đúc kết lịch sử ngoại bang của đất nước chúng ta: “Trong
việc trị nước, hòa hiếu với lắng giếng là việc lớn”
1.1.2 Chú nghĩa Mác - Lênin và Quốc tẾ Cộng sản
Sau nhiều năm bôn ba ở các nước, cuối năm 1917 Nguyễn Ái Quốc trở lại nước Pháp, tham gia phong trào công nhân Pháp và gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc muốn nhanh chóng tìm ra con đường cứu nước đúng đăn và tìm lực lượng đoàn kết tin cậy Điều quan trọng hơn hết của Nguyễn
Ái Quốc là “sự đoàn kết”, “đoàn kết với các dân tộc thuộc địa” Hầu hết trong
các buổi mít tỉnh, thảo luận, Nguyễn Ái Quốc đều phát hiện và khéo lái những
vẫn đề đang thảo luận sang vẫn đề đoàn kết với các vẫn đề thuộc địa Nguyễn
Ái Quốc đã từng nói: Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn
kết với các dân tộc thuộc địa, nhưng đó lại là van đề mà tôi quan tâm hơn hết
Sau khi được biết Quốc tế thứ III do Lênin sáng lập có chủ trương đoàn
kết các dân tộc thuộc địa và nhất là được đọc “Bản sơ thảo lẫn thứ nhất luận Cương về vẫn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, lần dầu tiên Nguyễn Ái
Quốc biết có một tô chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc bị áp bức Luận cương của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là van đề dân tộc và thuộc địa đặt
ra trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc
địa Luận cương tạo ra một bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư
tưởng vê vân đê đông minh về xác định kẻ thù Luận cương là lời giải đấp
Trang 6hợp lý nhât, đúng đăn nhât mà Nguyên A1 Quôc tìm thây được vê con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc, đó là “Muôn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, găn chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lénin
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua (tháng 12/1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ qua phiếu tán thành Đảng ra nhập Quốc tế II, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Băng việc làm đó, Nguyễn Ái Quốc đã nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế Từ đoàn kết các dân tộc thuộc địa, mở thành đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc và giai cấp vô sản thế giới Nguyễn Ái Quốc viết những bài tham luận, phát biểu trong các
kỳ sinh hoạt đảng và các cuộc họp của các tô chức xã hội khác, tham gia lãnh đạo Ban Nghiên cứu về thuộc địa, ra báo Người cùng khé Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân, dé quốc, tranh thủ sự ủng hộ
của dư luận tiến bộ Pháp và thế giới, hình thành mặt trận đoàn kết quốc tế đối
với sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức Những việc làm đó đã “Đánh dẫu một bước chuyên biến quyết định trong nhận thức tư tưởng và lập trường
chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu sâu sắc và
sảng tạo những hấu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin, “Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại”, “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn
kết lại” Nguyễn Ái Quốc đã gọi Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể” Nguyễn Ái Quốc đã nhắn mạnh: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại” (1)
và người khăng định, chính Lênin và Quốc té Cộng sản đã chỉ ra cho dân tộc
và giai cấp vô sản thế gới sự cần thiết và con đường tập hợp đoàn kết các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước và thế giới vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đề quốc Hồ Chí Minh tiếp thu và đi theo
chủ nghĩa Mác - Lên trên tính thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, trên cơ sở đó
Người xây dựng và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của mình
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản là nhân tố quan trọng có ý nghĩa định hình rõ rệt tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh Trải qua gần 10 năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản, từ
một nhà yêu nước trở thành một chiên sĩ quôc tê chân chính.
Trang 71.2 Đoàn kết quốc tế trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
1.2.1 Hoạt động đoàn kết của Hồ Chí Minh trên đất Pháp
Những năm tháng sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng lại ở
việc quan sát mà còn thực sự đi vào hoạt động Tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, khoa học, nghệ thuật Qua đó tiếp xúc và quen biết rất nhiều nhà
hoạt động nỗi tiếng trong phong trào công nhân và công đoàn Pháp Đầu năm
1919, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, được hỏi về quyết định
này, Nguyễn Ái Quốc trả lời duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức
tôi luôn theo đuôi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đăng, Bác ái” (2) Đối với Nguyễn Ái Quốc, việc vào Đảng Xã hội Pháp đã
mở đầu cho hoạt động đoàn kết quốc tế Tháng 1/1919, Hội nghị “Hòa bình”
ở Vécxây, Nguyễn Ái Quốc theo dõi diễn biến của hội nghị, đồng thời liên
lạc, trao đôi ý kiến và thống nhất hành động với các đoàn đại biểu Trung Quốc, Triều Tiên, Aixơlen Tháng 6/1919 Nguyễn Ái Quốc thay mặt “Hội những người Việt Nam yêu nước” gửi “Bản yêu sách” của người dân An Nam
gồm 3 điểm đến Hội nghị đòi hỏi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam
Đầu năm 1921 đến tháng 6/1923 Nguyễn Ái Quốc tiếp tục sống ở Pháp hoạt
động rất sôi nỗi, đa dạng và sáng tạo trên cả 2 bình diện lý luận và thực tiễn
Người đã lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân (CNTD) kết tội CNTD là kẻ
“ăn cướp”, “giết người” cướp bóc tài sản, ruộng đất sức lao động ở các nước
thuộc địa một cách tinh vi và xảo quyệt Qua đó, nhân dân các nước thuộc địa
và chính quốc nhận rõ hơn bộ mặt thật của CNTD đặc biệt làm cho giai cấp
vô sản chính quốc hiểu rõ hơn về thuộc địa thấy sự cần thiết phải đoàn kết lại với nhau và đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc trong cuộc đấu tranh chống CNTD, giải phóng dân tộc Sinh hoạt trong Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy trách nhiệm là góp phần vào việc Bônxêvich hóa
Đảng, nhất là vấn đề dân tộc và thuộc địa Tháng 6/1921 theo dé nghị của
Nguyễn Ái Quốc, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp thành lập “Ban nghiên cứu thuộc địa” Trong “Ban nghiên cứu thuộc địa” về Đông Dương, Người đã
có rất nhiều đóng góp cho tình đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước với dân
tộc thuộc địa bị áp bức Được sự đồng tình và ủng hộ của Đảng Cộng sản
Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiến hành vận động, trao đổi với những người Angiêri, Tuynidi, Marốc Ngày 26/6/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng họ họp bàn thành
Trang 8lập “Hội liên hiệp thuộc địa”, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Điều lệ, Tuyên
ngôn của Hội, trong Điều lệ ghi rõ mục đích của Hội là tuyên truyền, giáo
dục, tổ chức lực lượng cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hội kêu
gọi nhân dân các nước thuộc địa sống trên đất Pháp phải đoàn kết giúp đỡ nhau Trong Tuyên ngôn của Hội đã đề cấp đến mối quan hệ, giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa “Hỡi các bạn bị áp bức ở chính quốc, giai
cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ
đi xâm lược chúng tôi Ngày nay, vẫn cái chính sách quý quyệt ấy, giai cấp tư sản các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cô găng tự giải phóng của các bạn Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất” (3) Theo Tuyên ngôn và Điều lệ của Hội thì: "Hội
liên hiệp thuộc địa” là một tô chức đoàn kết mặt trận đầu tiên của dân tộc
thuộc địa liên minh với giai cấp vô sản chính quốc cùng đẫu tranh và tô chức Hoạt động tiêu biểu của Hội là cho ra đời tờ báo Le Paria đo Nguyễn Ái Quốc
là Người sáng lập, chủ biên kiêm chủ bút, tờ báo vừa ngang nhiên tắn công kẻ
thù ngay tại hang ô của nó, vừa tỏa rộng sức mạnh cỗ vũ, đoàn kết các dân tộc thuộc địa, đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc tiến theo con đường cách
mạng vô sản
Tháng 12/1921 tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Mácxây, trong bản tham luận lên án CNTD Người kết luận “Chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản người ta mới thấy tình hữu ái mới thực sự là quyền bình đắng, và chỉ có nó chúng ta mới có thể thực hiện sự hòa hợp và hạnh phúc ở chính quốc và các nước thuộc địa” (4) Trong bài “Mấy suy nghĩ về vẫn đề thuộc địa” đăng trên báo L' Humanité ngày 25/5/1922, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu Đảng cần thực hiện lời chỉ dẫn quan trọng của Lênin: Nhiệm vụ của giai cấp công nhân các nước đi chiếm thuộc địa là phải giúp đỡ một cách tích cực nhất phong trào giải phóng ở các nước thuộc địa, phải tăng cường đoàn kết để phá tan thủ đoạn chia rẽ của tư bản, dé quốc Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu soạn thảo nhiều văn bản quan trọng như: Lời kêu gọi, Truyền đơn của Đảng gửi đến
thuộc địa Trong “Truyền đơn” Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: Vì nên hòa bình
thế giới, vì tự do, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại
và chông áp bức
Có thể nói, hoạt động tích cực và đa dạng của Nguyễn Ái Quốc trên đất
Trang 9Pháp có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn Đó là thời kỳ đầu quan trọng tạo nên
sự đoàn kết nhất trí trong nhận thức cũng như trong hành động đối với giai cấp vo sản ở chính quốc và nhân dân bị áp bức ở các nước thuộc địa Đó cũng chính là bước khởi đầu trong tư tưởng Hỗ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 1.2.2 Hoạt động đoàn kết quốc tế của Hỗ Chí Minh trong quốc tế cộng sản
Sau gần 10 năm đi khắp các nước trên thế giới, quan sát và đắm mình
trong hoạt động thực tiễn đời sống va cuộc sống đấu tranh của nhân dân lao động các nước thuộc địa, các nước tư bản đề quốc Tại Đại hội lần thứ XVIII
của Đảng Cộng sản Pháp họp tại Tua (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Băng việc làm đó Người đã nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, từ đoàn kết các
dân tộc thuộc địa mở rộng thành đoàn kết với giai cAp vô sản ở chính quốc và
giai cấp vô sản thế giới Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một chiến sĩ
quốc tế, Người đặt nền móng cho tình đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam, cách mạng Pháp và cách mạng thế giới, tích cực tham gia hoạt động và có nhiều đóng góp quan trọng đối với tổ chức này
Từ năm 1921 đến 1923, hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp - một bộ
phận trong Quốc tế Cộng sản - Nguyễn Ái Quốc say mê nghiên cứu lý luận
của Mác - Lénin, đường lỗi của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt là van đề dân tộc
và thuộc địa Những hoạt động của Người trên đất Pháp là những đóng góp cho Quốc tế Cộng sản Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài đề cập trên bình diện quốc tế rộng lớn hơn gửi cho các báo cánh tả ở Pháp, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô, các tập san của Quốc tế Cộng sản nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin trong các nước thuộc địa, cung cấp cho Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản chính quốc hiểu rõ hơn về “Phương Đông thức tỉnh” từ đó có sự hiểu biết nhau, xây dựng mối quan hệ giữa các dân tộc thuộc địa và giai cấp vô sản phương Tây
Trong một bức thư gửi cho Pêtơrốp - Tổng thư ký ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ngày 24/5/1924, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ “Nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc Phương Đông đó là sự biệt lập” Họ hoàn toàn không biêt đên những việc xảy ra ở nước láng giêng gân gũi nhât
Trang 10của họ Do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cỗ
vũ lẫn nhau” Từ đó Người kiến nghị với Quốc tế Cộng sản trong khi chỉ đạo chiến lược, cần chú ý đến tính đặc thù của các dân tộc Phương Đông, phải cử cán bộ hiểu tình hình thuộc địa đến các nước gây dựng phong trào, cử nhiều
cán bộ cách mạng người thuộc địa đến học tại trường Đại học Phương Đông
Tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản ngày 17/6/1924 Nguyễn Ái Quốc
đã trình bày bản tham luận làm sôi nổi Đại hội, Người nhắn mạnh: “Thuộc địa
vẫn đang tổn tại, và nêu lên để quốc tế thấy rằng: Cách mạng ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn cả nguy cơ của các thuộc địa Song, tôi thấy hình như các đồng chí vẫn chưa hoàn toàn thấm nhuẳn tư tưởng rằng, vận
mệnh của giai cấp vô sản các nước đi xâm lược thuộc địa pắn chặt với vận
mệnh giai cấp vô sản cấp bị áp bức ở các nước thuộc địa” Cũng tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc cũng đã phê bình một số đảng cộng sản châu Âu chưa quan
tâm đến vẫn đề thuộc địa,đồng thời đề nghị Quốc té Cộng sản chỉ đạo các đảng cộng sản nhận được van dé mang tinh thoi dai: Vấn đề dân tộc, vẫn đề thuộc địa không tách rời nhau Sau đại hội lần V của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc còn tham dự Đại hội IH Quốc té Công đoàn, đại hội I Quốc
tế Cứu tế đỏ, Đại hội IX Quốc tế Thanh niên, Hội nghi Quéc té phụ nữ
Trên các diễn đàn, Người đều nêu cao và bảo vệ quan điểm của Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa, kêu øọ1 sự quan tâm đoàn kết của các tổ chức quốc té đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa Đặc biệt tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản năm 1925 đã lên án mạnh mẽ
CNTD, thức tính giai cấp vô sản ở chính quốc, thức tỉnh các dân tộc thuộc
địa, tạo nên sự quan tâm đoàn kết giữa phong trào cách mạng phương Đông
và phương Tây Trong tác phẩm Nguyễn Ái Quốc viết “làm cho các dân tộc
thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau,
hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng
vô sản” Công tác tại Quốc tế Cộng sản, trên đất nước Liên Xô một thời gian ngăn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục đẫu tranh và bảo vệ, phát triển những nguyên tắc cách mạng, góp phần xây dựng lập trường giai cấp vô sản cấp đúng dan
cho các đảng cộng sản và các chiên sĩ cách mạng về vân đê dân tộc thuộc địa,
Trang 11nhăm xây dựng mối quan hệ Doan kết quốc tế giữa cách mạng phương Đông với Quôc tê Cộng sản và phong trào cách mạng thê giới
Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu - Trung Quốc, ở đây
Nguyễn Ái Quốc tranh thủ tìm hiểu qua tài liệu và tìm hiểu tình hình các nước phương Đông, tìm hiểu nguyên nhân các nước này gặp khó khăn trong việc tô
chức xây dựng lực lượng của bản thân, trong việc đoàn kết quốc tế là do sự ít
hiểu biết về vẫn đề chính trị, sự đóng kín trong quan hệ quốc tế (QHQT)
Trong thời gian này, từ những kinh nghiệm tô chức Hội liên hiệp thuộc địa ở Pháp trước đây, Nguyễn Ái Quốc tiến hành vận động Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức để tăng cường các dân tộc bị áp bức ở châu Á Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 9/7/1925 tại Quảng Châu, Đại hội thành lập Hội được tô chức Đây là tổ chức quốc tế của những người yêu nước Việt Nam, Trung Quốc, Ấn
Độ, Miến Điện, Triều Tiên, Indonesia Đại hội thông qua tôn chỉ của Hội và
nêu rõ: “Liên lạc với các dân tộc bị áp bức cùng làm cách mạng đánh đỗ đề quốc” Tuyên ngôn của Hội nhắn mạnh: “Con đường thoát duy nhất để xóa bỏ
sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới” Việc thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức là sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc góp phan đoàn kết các dân tộc bị áp bức ở châu Á nhằm đấu tranh chống CNĐQ Đến đây cho thấy, tư tưởng đoàn kết các dân
tộc thuộc địa thành mặt trận là nhất quán trong đường lỗi chiến lược của
Nguyễn Ái Quốc Hoạt động rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng
Châu là những hoạt động thực tiễn góp phần nhất định vào phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước thuộc địa phương Đông Với tư cách là hội
viên Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, Người sát cánh cùng giai cấp công
nhân Trung Quốc tích cực tuyên truyền cô động cho phong trào Nhiều lần Người đến khu công nghiệp diễn thuyết về môi quan hệ giữa công nhân Trung
Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại để đánh đồ CNĐQ Tháng 1/1926, tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Cộng sản Trung Hoa, Nguyễn Ái Quốc với bút danh Vương Đạt Nhân đã phát
biểu, trong đó Người kêu gọi “Chúng ta nên biết rằng, nhiều nước trên thế
giới như: A1 Cập, Marốc, Xiri, An Nam, Trung Quốc Dân tộc của họ còn bị
áp bức Vì vậy, chúng ta liên hiệp lại, thống nhất chống lại bọn Đề quốc”
Có thê nói, dâu chân của Nguyên AI Quôc đặt chân đên hâu hêt các
Trang 12nước châu Á, Người coi sự nghiệp giải phóng của các đân tộc châu Á như
chính sự nghiệp của dân tộc Việt Nam Hoạt động ở châu A, Nguyễn Ái Quốc
gop phan tích cực vào việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, xây dựng phong trảo
cách mạng và sự liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở châu A Người được nhân dân châu Á tôn vinh là “Lãnh tụ vĩ đại”
1.2.3 Hoạt động đoàn kết quốc tế cho việc thành lập Đảng và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Những năm tháng hoạt động ở châu Á, ngoài nhiệm vụ quốc tế Nguyễn
Ai Quéc còn có nhiệm vụ là chuẩn bị về tổ chức và tiếp tục chuẩn bị về tư
tưởng, chính trị cho việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam để đưa phong trào cách mạng Việt Nam thành phong trào cách mạng thế giới Việc thành lập “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” , mở đường huấn luyện chính trị, ra báo Thanh Niên, xuất bản tác phẩm Đường cách mệnh là bước
chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, chính trị và tô chức, là việc sang tao cua
Nguyễn Ái Quốc cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới Cuối năm 1929, Nguyễn
Ái Quốc qua tin của Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản được biết tình hình không thống nhất giữa các tô chức cách mạng của Việt Nam, nên Quốc tế Cộng sản gửi thư cho các tô chức cộng sản và yêu cầu: “Nhiệm vụ quan trọng hơn hết và tuyệt đối cần thiết của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng cách mạng của giai cấp vô sản” Vào thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm và biết được tình hình trên, Người
lập tức đến Hồng Kông Với tư cách đại diện Quốc tế Cộng sản, Người triệu
tập Hội nghị Đại biểu các tô chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 ở Cửu Long - Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tô chức cộng sản ở Việt Nam Các văn kiện do Người soạn thảo đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
thấm đượm sâu sắc quan điểm dân tộc và giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn
kết quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH Chứng tỏ răng Nguyễn Ái Quốc nắm vững khoa học cách mạng của thời đại trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác -
Lênin vào thực tiễn Việt Nam, ở mức độ nhất định, còn phù hợp với yêu cầu,
nhiệm vụ của cách mạng các nước thuộc địa Nó có ý nghĩa quốc tế lớn lao và đóng góp quan trọng đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới
Trang 13Từ giữa năm 1940, Nguyễn Ái Quốc triển khai những hoạt động quốc tế
dồn dập nhằm tranh thủ mọi lực lượng có thê có thể đoàn kết, tạo hậu thuẫn
cho cách mạng Việt Nam Người cử Trần Văn Hinh đi Diên An để thiết lập
quan hệ quốc tế, đón nhận thông tin mới về Quốc té Cong san gui vé, thuc
hiện một bản hiệp ước có tính chất hợp tác đầu tiên giữa hai Đáng Cộng sản
trong chiến tranh, trong đó xác nhận: “Lập mặt trận thống nhất nhân dân
Trung - Việt chống Nhật” Cuối 6/1940 Người đáp máy bay gặp Chu An Lai
- đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh để trao đổi thời cuộc và bàn phối hợp hoạt động giữa cách mạng hai nước Để tranh thủ
sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và nhân dân Trung Quốc đối với
cách mạng Việt Nam, trong thời gian này, với bí danh “Bình Sơn” , Nguyễn
Ái Quốc viết nhiều bài cho báo Cứu vong nhật báo - tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc nói về sự đoàn kết ủng hộ Việt Nam - Trung Quốc trong cuộc đầu tranh chống kẻ thù chung Mùa xuân 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định
về nước, cùng Đáng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Từ ngày 10 đến
19/5/1941, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị
Trung ương Đảng lần thứ VIII xác định tình hình thế giới và trong nước, thành lập “Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là Việt Minh và chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Hội nghị có những nhận định ding dan vé van dé quốc tế,
đã hoàn chỉnh đường lối, chiến lược của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam
Trong khi chưa liên lạc được với Liên Xô, thì việc liên hệ đoàn kết với
đồng minh chống phát xít là cần thiết Người khắng định cách mạng Việt Nam muốn tiếp nhận được sự giúp đỡ của Quốc tế, phải có thực lực Trong
"Thông cáo gửi các cấp bộ Đảng" tháng 12/1941, Người viết “Ta có mạnh thì
họ (Anh, Mỹ, Trung Quốc) mới chịu đếm xỉa tới” Người lưu ý đến sự cần
thiết giúp đỡ từ bên ngoài để tăng cường sự đoàn kết sức mạnh bên trong của cách mạng Việt Nam Trong Thông cáo, Người vừa khéo léo đề cao “Quốc sách” đối ngoại của Tưởng, vừa tranh thủ Quốc dân Đảng Trung Hoa, tạo điều kiện chuẩn bị thực lực bên trong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam khi thời cơ đến
Sang năm 1945, Hồ Chí Minh phát hiện sự căng thăng trong quan hệ
Mỹ - Anh, Pháp về vẫn đề thuộc địa nói chung, vấn đề Đông Dương nói
Trang 14riêng Với nhãn quan chính trị sâu sắc và thực tiễn hoạt động quốc té phong
phú, Người quyết định phải gặp Mỹ, tranh thủ Đồng Minh, thêm bạn cho cách mạng Việt Nam, tiến tới giành độc lập dân tộc khi thời cơ cho phép Bằng việc cứu thoát viên phi công Mỹ Uyliam Sao và trao trả cho Mỹ đề thể hiện thiện chí của Việt Minh, đồng thời đặt mối quan hệ với Mỹ, tranh thủ sự giúp
đỡ của Mỹ đối với cách mạng Việt Nam Sau khi quan hệ Việt Minh - Mỹ được xác lập, phía Mỹ nhận cung cấp các thông tin liên lạc, nhân viên sử dụng các công cụ ấy và huấn luyện cho người Việt Nam cách sử dụng, hứa cung cấp thuốc men, vũ khí và những sĩ quan huấn luyện kỹ thuật quân sự, kỹ
thuật vô tuyến điện cho Việt Minh Mở đầu cho mối quan hệ, tướng Sênôn -
chỉ huy quân đoàn không quân 14 của Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc) - đã
tặng Việt Minh 6 khẩu súng ngắn, 2 vạn viên đạn, một số thuốc men, cử 2
người Mỹ là Ph.Tan và Mactin mang theo điện đài theo Hồ Chí Minh về Việt Nam Từ đó những người Mỹ huấn luyện cho lực lượng võ trang Việt Minh
cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài thông tin liên lạc và kỹ thuật trận địa
đồng thời cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, thuốc men và những trang thiết bị khác Phía Việt Minh cũng cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của quân Nhật, cứu giúp 17 phi công Mỹ rơi trên đất Việt Nam qua những cuộc tiếp xúc với Mỹ, Hồ Chí Minh đã làm tăng thêm vị trí
và ảnh hưởng của Việt Minh đối với lực lượng Đồng Minh làm cho phía Mỹ
hiểu được mục đích, tổ chức và phương thức hoạt động của Việt Minh và đã
có những quan hệ tốt, giúp đỡ có hiệu quả
Hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh trong việc giao thiệp, tiếp xúc với chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ trong những năm 1945 nhằm
khai thác mặt tích cực, mặt tiến bộ của lực lượng Đồng Minh, thêm bạn cho cách mạng Việt Nam, từ đó tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của họ để có được một bạn Đồng Minh mạnh về số lượng, dù đó là Đồng Minh tạm thời, bap
bênh, ít chắc chắn, ít tin cậy Mặt khác, Hỗ Chí Minh cũng làm cho họ thấy được vị trí và khả năng của cách mạng Việt Nam Đó là minh chứng trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh là đoàn kết mọi lực lượng có thê
tranh thủ, nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam
Tháng 8/1945, chiến tranh thế giới thứ II đi vào giai đoạn kết thúc, ở Đông Dương quân đội Nhật đang lao nhanh đến thất bại, phong trào cách
Trang 15mạng các nước đang dâng cao, những điều kiện chín muôi của cuộc Tổng
khởi nghĩa đã đến Trước tình hình đó Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Ban Chấp
hành Trung ương chuẩn bị gấp Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội đại biểu quốc dân Từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng
được triệu tập Hội nghị nhận định thời cơ rất tốt cho ta giành độc lập đã tới,
quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa đã đến trước khi quân Đồng
Minh vào nước ta, thực hiện chính sách “thêm bạn bớt thù”, lợi dụng mâu
thuẫn giữa hai tập đoàn Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, tránh trường hợp đối phó với nhiều kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của Liên Xô và nhân dân các nước Người nhấn mạnh “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được
độc lập” Đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh và Đảng, dưới ngọn cờ của Việt Minh nhân dan cả nước nhất tê nồi day voi tinh than “Dem strc ta ma tu
giải phóng cho ta” tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự kết hợp chặt chẽ những điều kiện khách quan với điều kiện chủ quan, kết hợp những cố gắng phi thường
của nhân dân ta với chiến thang oanh liệt của Liên Xô với các lực lượng tiễn
bộ trên thế giới chống phát xít Đó là thắng lợi của tư tưởng cách mạng kết hợp với đoàn kết quốc tế, tự lực, tự cường và ủng hộ quốc tế của Hồ Chí Minh
Trang 16MOT SO NOI DUNG CO BAN CUA TU TUONG HO CHi MINH
VE DOAN KET QUOC TE
2.1 Độc lập tự do là mục tiêu, động lực và cơ sở của tư tưởng đoàn kết quốc tế
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Người theo đuổi mục tiêu làm cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Không chỉ phan đấu cho độc lập tự do của
dân ta mà Hồ Chí Minh còn đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do và
tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới
Từ mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân đến tình hữu ái vô
sản, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa quốc tế vô sản, Hồ Chí Minh đã tìm
ra con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam trên cơ sở sức mạnh mới, sức mạnh của thời đại được mở ra từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại
Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, người chiến sĩ
quốc tế chân chính, người đặt nền móng đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam
và cách mạng thê giới
Độc lập, tự do là quan điểm nhất quán, xuyên suốt cốt lõi, là cơ sở tạo dựng chiến lược đoàn kết quốc tế của Hỗ Chí Minh Chủ nghĩa Mác - Lênin coi đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản là vẫn đề chiến lược cách mạng Mac
và Ănghen đã chỉ rõ: "Trong cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thê giai cấp vô sản" , đồng thời hai ông cũng nêu: "Không khôi phục lại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc thì về
phương diện quốc tẾ, không thể thực hiện được sự đoàn kết của gial cấp vô sản và sự hợp tác hòa bình và tự giác giữa các dân tộc đó để đạt tới mục đích chung” Lênin cũng chỉ rõ là chỉ có một chủ nghĩa quốc tế thực sự và làm
việc quên mình là nhằm phát triển phong trào cách mạng ở trong nước mình, ủng hộ bằng sự tuyên truyền, sự đồng tình, bằng sự giúp đỡ về vật chất, chính cuộc đấu tranh ấy, chính đường lối ấy và chỉ đường lối ấy thôi, trong tất cá các nước không trừ một nước nào Như vậy cả Mac, Anghen, Lénin trong khi
Trang 17coI trọng đoàn kêt quôc tê đêu tôn trọng nên độc lập của môi dân tộc dé tao
điêu kiện cho sự liên minh và đoàn kêt quôc tê tự nguyện
Quán triệt quan điểm trên, Hồ Chí Minh đã làm việc quên mình cho sự đoàn kết quốc té rộng lớn nhằm mục tiêu giành độc lập, tự do của dân tộc
Việt Nam và các dân tộc bị áp bức Người sớm hiểu rõ, trong giai đoạn để
quốc chủ nghĩa, cách mạng ở các nước thuộc địa tuy mang nội dung dân tộc,
dân chủ nhưng không còn thuộc phạm trù cách mạng tư sản nữa, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể tách rời của cách mạng vô sản Vì thế ngay những năm 20 của thế kỷ XX, Người ra sức xây dựng mối liên minh
đoàn kết giữa các dân tộc thuộc địa với nhau, giữa các dân tộc thuộc địa với
giai cấp vô sản ở chính quốc Hồ Chí Minh chỉ 16, van dé co bản, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng là sự kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, gắn lợi ích cách mạng một nước với lợi ích cách mạng thế giới Và chính Người là hiện thân của sự kết hợp đó
Hoạt động trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân
quốc tế, thực hiện chiến lược đoàn kết quốc tế vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa, trước hết Hồ Chí Minh thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam và các dân tộc thuộc địa Các tham luận trên các diễn đàn quốc tế, các bài viết trên các báo, tạp chí, Người lên án
mạnh mẽ tội ác của CNTD Người muốn chỉ cho giai cấp vô sản ở chính quốc
thấy rõ trách nhiệm phải đoàn kết các dân tộc thuộc địa, ủng hộ cuộc dau
tranh vì độc lập, tự do của họ như là điều kiện cho sự nghiệp giải phóng của mình Đồng thời nhắc nhở những người bị áp bức thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống áp bức, giành độc lập, tự do
Độc lập, tự do được Hồ Chí Minh đặt thành nhiệm vụ hàng đầu nhưng lại là nhiệm vụ khó khăn nhất Người phải kiên trì tư tưởng này, đấu tranh với
những quan điểm tả khuynh - chỉ nhẫn mạnh mọt chiều đấu tranh giai cấp khong muốn tập hợp những lực lượng yêu nước và dân chủ khác, ngoài công nông coi thường, đánh giá thấp cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân
tộc thuộc địa, coi cuộc đấu tranh này hoàn toàn lệ thuộc vào cách mạng ở chính quốc Quan điểm giải quyết các vẫn đề dân tộc, đặt mục tiêu độc lập, tự
do là nhiệm vụ hàng đầu không những thể hiện trí tuệ sáng suốt, tầm cao, nhìn
Trang 18xa trông rộng của nhà chiến lược thiên tài, mà còn là một quyết định dũng
cảm của Hồ Chí Minh trước vận mệnh dân tộc và trước phong trào cách mạng
thế giới Điều đó còn thê hiện trình độ hiểu biết sâu sắc, sự vận dụng linh hoạt
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và khả năng nắm bắt thực tiễn phong phú cuộc đấu tranh của các dân tộc giành độc lập, tự do của Hồ
Chí Minh Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh
đạo đã gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người
khỏi áp bức, bóc lột thực hiện các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người,
gan duoc quyền lợi của giai cấp trong mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng
giải phóng dân tộc vì độc lập tự do và cuộc đấu tranh giai cấp
Với sự nhạy cảm của một nhà chiến lược, Hồ Chí Minh luôn nắm vững
thời cơ và tạo thời cơ cách mạng Khi chiến tranh thế giới thứ II nỗ ra, Người khang dinh thoi cơ lớn chưa tới Khi Đức tấn công Liên Xô, Người chỉ rõ:
“Liên Xô và các lực lượng dân chủ nhất định thắng lợi, đó là thời cơ cho dân
tộc Việt Nam Nhưng điều quan trọng là phải chuẩn bị thực lực bên trong dé
đón thời cơ” Khi lực lượng Đồng Minh chiến thắng chủ nghĩa phát xít, Hồ
Chí Minh đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa với tỉnh thần “Dù phải đốt
A AI?
cháy cả đãy Trường Sơn cũng phải dành cho được độc lập dân tộc” Thắng lợi của Cách mạng Tháng tám là thắng lợi của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh và cũng là thắng lợi của chủ nghĩa quốc tế
độc lập tự do là tư tưởng cách mạng, là mục tiêu lẽ sống của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam và của nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế
giới Đây cũng chính là nội dung cốt lõi trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của
Hồ Chí Minh
2.2 Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới
Trang 19Vào đầu những năm 20 của thé ky XX, tir thực tiễn đấu tranh giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã thấy sự cần thiết phải liên minh, đoàn kết chặt chẽ không những giữa các dân tộc thuộc địa mà còn giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính quốc hay cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc Người ví CNĐQ như con đỉa 2 vòi, nếu chỉ cắt 1 vòi, cái
vol kia tiép tục hút máu va cái vòi bị cắt sẽ tiếp tục mọc ra Cho nên, muốn tiêu diệt CNĐQ thì nhân dân bị áp bức ở thuộc địa và giai cấp công nhân,
nhân dân lao động ở chính quốc phải đoàn kết, phối hợp hành động, cắt đứt cả
2 cai voi của “con đỉa” Người còn ví cách mạng thuộc địa và cách mạng ở
chính quốc như hai cái cánh của một con chim phải phối hợp nhịp nhàng Do
đó theo Người phải: “Làm cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay, vẫn
cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên
minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái
cánh của cách mạng vô sản” Sau khi năm được đặc điểm của thời đại mới,
Hồ Chí Minh đã làm tất cả để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thé giới Người đã viết: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận của cách mạng thế giới, ai làm cách mạng trong thế giới đều là đồng chí của An Nam cả” Người còn vạch rõ: “Chúng ta làm cách mạng thì cũng phải liên lạc với tất cả các Đảng cách mạng trên thế giới để chống lại Tư bản và Đề quốc chủ nghĩa” Trong khi đặt cách mạng thuộc địa trong mối quan hệ mật thiết với cách mạng
chính quốc, Hồ Chí Minh đặc biệt nhắn mạnh tính chủ động và khả năng
thăng lợi trước của cách mạng thuộc địa, trở thành sự cô vũ, ủng hộ to lớn đối với cách mạng chính quôc
Với tầm nhìn chiến lược, Người cho răng thuộc địa là khâu yếu nhất của chủ nghĩa để quốc, nơi tập trung những mâu thuẫn của thời đại Vì thế, cách mạng vô sản không phải bắt đầu ở chính quốc mà phải bắt đầu từ các nước thuộc địa Người phân tích “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới tùy thuộc phần lớn vào các nước thuộc địa”, “Tất cả các sinh lực của chủ nghĩa đề quốc đếu lấy ở các xứ thuộc địa” Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người chỉ rõ “Việt Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu,
tư bán Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”
Từ nhận thức tính chất thời đại của mỗi quan hệ giữa cách mạng thuộc
Trang 20dia va cach mang chinh quốc, Hồ Chí Minh khang dinh tinh tat yéu cua cach mạng thuộc địa và vai trò của nó đối với cách mạng ở chính quốc Đây là luận
điểm đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh, bởi lúc này Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản ở châu Âu cho rằng, thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc Thực tiễn lịch sử Việt Nam và các nước thuộc địa giành độc lập trong thế kỷ XX đã chứng minh luận điểm của Người được nêu ra từ năm 1921 là rất đúng đắn và sáng tạo
Xác định cách mạng thuộc địa là một bộ phận của cách mạng thế ĐIỚI,
Hồ Chí Minh nêu rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới thắng lợi hoàn toàn”, vì chỉ có CNXH mới đảm bảo cho
các dân tộc được độc lập, tự do thực sự Vận dụng những dự báo khoa học
của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học vào những điều kiện riêng,
đặc thù của các dân tộc phương Đông, Hỗ Chí Minh khăng định rằng: CNXH
không phải chỉ phù hợp với những nước châu Âu đã trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) mà là học thuyết đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển
xã hội loài người nói chung Bằng lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã làm
cho các dân tộc thuộc địa nhận thức rố CNXH là phương hướng, là mục tiêu
của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là con đường tiến lên của các dân tộc thuộc địa sau khi giành độc lập Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới thoát khỏi ách nô lệ” Tiên đoán về thắng lợi sớm của cách mạng thuộc địa so với cách mạng chính quốc được tiến trình lich str cua thoi dai khang định Nhiều dân tộc thuộc địa đánh đồ chủ nghĩa thực dân giành độc lập và tiến lên con đường XHCN, trong khi ở các nước tư bản giai cấp vô sản đang phải tìm con đường phù hop để tiến đến con đường
mục tiêu đặt ra
Cách mạng Việt Nam, trong toàn bộ lịch sử của mình, luôn được đặt trong trào lưu tiến bộ của thời đại và gan kết cuộc đấu tranh của nhân loại Đó
là một trong những bài học thành công quan trọng nhất, mang tính thời đại
sâu sắc Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên phá thế đơn độc của cuộc
đầu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho đường
lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Đó là dựa trên thực lực của dân tộc
Trang 21mình để tranh thủ hợp tác quốc tế và đoàn kết quốc tế Kết hợp hài hòa giữa
cách mạng Việt Nam với cách mạng thế ĐIỚI, kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp, đóng góp vào sự nghiệp
chung của cách mạng nhân loại
Như vậy, quan điểm của Hồ Chí Minh không xem cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, mà đặt 2 cuộc cách mạng này trong mối
lien hệ bô sung, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, đều có vị trí quyết định trong quá trình cách mạng của thời đại Thậm chí Người cho răng cách mạng thuộc địa có khả năng và điều kiện nỗ ra thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi Quan điểm
đó kết hợp nhuan nhuyễn và sang tạo các nhân tố dân tộc và quốc tế, độc lập
dân tộc và CNXH trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh Đây là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh 2.3 Độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế
Trong khi hoạt động không mệt mỏi cho sự đoàn kết quốc tế và khăng
định sự cần thiết của đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh đã xác định vai trò quyết
định nhất vẫn là sự nỗ lực chủ quan của cách mạng mỗi nước, phải nêu cao ý
chí độc lập, tự chủ, tự cường của cách mạng nước mình Quan điểm này của Người xuất hiện rất sớm,thê hiện trong chiến lược: cách mạng thuộc địa phải giành thăng lợi trước, không chờ thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước
tư bản Sau khi gửi bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị “hòa bình” ở Vécxây
năm 1919 đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam nhưng không được trả lời, Người rút ra kết luận: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bán thân mình” Người nhắn mạnh: “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp
đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, mà phai: “Dem suc ta ma tu giải phóng cho ta” là phương thức, là động lực chủ yếu để phát triển cách mạng
nước ta Người col tự lực tự cường là “Cái gốc”, là “Cái điểm mẫu chốt” của mọi chính sách và sách lược Trong tuyên ngôn của Hội lien hiệp thuộc địa,
Người viết: Anh em phải làm thế nào để giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác chúng tôi xin nói với anh em rằng: Công cuộc giải phóng anh em chỉ
có thê thực hiện được bằng sự nỗ lực của chính bản thân anh em.
Trang 22Độc lập, tự chủ nhằm đảm bào lợi ích dân tộc, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản Nhưng độc lập, tự chủ và tự lực tự cường hoàn toàn xa lạ với sự
biệt lập và chủ nghĩa biệt phái Đề chiến thăng những kẻ thù mạnh hơn mình
gấp nhiều lần, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ
sự hợp tác quốc tế, Người coi đây là vẫn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lỗi cách mạng Việt Nam Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc
tẾ, tăng thêm khả năng tự lực tự cường, tạo điều kiện chuyển biến tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng Vì vậy, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường phải
gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, đồng thời kết hợp với đấu tranh kiên
quyết và khôn khéo để thực hiện mục tiêu cách mạng và bảo vệ quyền lợi
quốc gia Mặt khác đoàn kết quốc tế không phải là lệ thuộc vào con đường
một chiều Trong mỗi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, cách mạng Việt Nam
không những cần thiết mà còn có thể tranh thủ hợp tác quốc tế, tăng cường
nội lực và sức mạnh tong hop để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của mình
Đồng thời nhân dân Việt Nam phải có nghĩa vụ đóng góp trong quan hệ quốc
tế đã được Hồ Chí Minh đề cập ngay từ năm 1946 trong Đề cương Văn hóa:
“Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng Minh đừng chịu vay mà không trả”
Hồ Chí Minh nhân mạnh sự hợp tác toàn diện trong phe CNXH và tăng cường sức mạnh vật chất của các nước XHCN là yếu tố quyết định để ngăn
chặn nguy cơ chiến tranh, thúc đây sự tiễn bộ và củng cỗ độc lập dân tộc ở
các nước vừa thoát khỏi CNTD Đồng thời Hồ Chí Minh cũng chủ trương mở
rộng hợp tác với các nước có chế độ chính trị khác nhau Người khang dinh,
Việt Nam sẵn sàng thúc đây quan hệ kinh tế, buôn bán, văn hóa với các nước
như: Pháp, Nhật Bản Trong khi coI “cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của cách mạng thế giới”, Người căn dặn đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại: “Phải làm cho đúng đường lỗi và chính sách Đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước XHCN, với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân thế giới Vì lợi ích của hòa bình, độc lập
dân tộc và tiến bộ xã hội”
Vào thời điểm đương đầu với đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra quyết định: “Dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ
Trang 23và giúp đỡ tích cực của các nước XHCN anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kế cá nhân dân tiến bộ Mỹ Người chủ trương thúc đây sự thức tỉnh lương tri của nhân dân các nước chống đề quốc
Mỹ Trên cơ sở tự lực, tự cường của dân tộc, Hồ Chí Minh có biệt tài trong
việc khởi động và tranh thủ tập hợp các tầng lớp xã hội, đạo giáo, các nhà
khoa học, các tầng lớp lao động, các nhân sĩ yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới đứng về phía Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống thực dân
Pháp và đề quốc Mỹ Quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường luôn đi đôi với mở
rộng quan hệ quốc tế và đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta vận dụng thành công không những góp phần tích cực chuyên hóa cục diện quốc tế và tương quan lực lượng ngày càng có lợi hơn cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân ta mà đưa đến hệ quả hiếm có, đó là:
chưa bao giờ cuộc đẫu tranh vì độc lập, tự do của một dân tộc nhỏ, yếu chống lại các nước đề quốc lại nhận được sự quan tâm theo dõi, ủng hộ mạnh mẽ và
bên bỉ của loài người tiến bộ như thế Đặc biệt trong 2 thời kỳ đấu tranh quyết
liệt của mình, nhân dân ta lại nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân ở chính hai nước đã đưa quân đên xâm lược Việt Nam
Cách mạng Tháng Tám và thăng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và dé quốc Mỹ đã chứng minh thăng lợi của quan điểm độc lập, tự
chủ, tự lực, tự cường tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi mà đem sức ta giải
phóng cho ta của Hỗ Chí Minh, đồng thời đóng góp vào sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới Đây là nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
2.4 Đoàn kết quốc tế theo tỉnh thần: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước"
Tháng 9 năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh trong địp trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài đã khái quát nhiệm vụ và phương hướng đối ngoại chủ yếu của Việt Nam là: "làm bạn với tất cả các nước dân chủ không gây thù oán với một ai"(5) Điều này thê hiện mục tiêu chính nghĩa hợp thời đại của cuộc
chiến đấu của dân tộc Việt Nam và thiện chí của Việt Nam muốn mở rộng quan hệ quốc tế với các lực lượng tiến bộ xã hội khác bên ngoài đặc biệt là
nước Pháp và nhân đân Pháp lúc đó.Mặt khác, quan điểm của Hồ Chí Minh
Trang 24cũng phù hợp với bối cảnh cuộc kháng chiến đang ở trong vòng vay hãm của
thế lực thù địch, không có mối liện hệ nào giữa cuộc kháng chiến với các lực
lượng cách mạng thời đại Đồng thời đây cũng là mục tiêu của chính sách đối
ngoại thể hiện mong muốn hòa hiếu thêm bạn bớt thù, xóa bỏ mọi hiểm khích
dân tộc, tranh thủ những lực lượng còn mơ hồ với những diễn biến chính trị
phức tạp ở Đông Dương và Việt Nam, tìm mẫu s6 chung voi moi luc luong
hòa bình, công lý, yêu chuộng tự do, dân chủ trong quan hệ quốc tế Năm
1949, trả lời phỏng vẫn một nhà báo người Mỹ hỏi: Sau khi đã độc lập, Việt
Nam có hoan nghênh tư bản ngoại quốc không? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả
lời: Bất kỳ nước nào thật thà muỗn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam, với mục đích làm lợi cho cả hai bên thì Việt Nam sẽ rất hoan nghênh, còn nếu mong đưa tư bản đến để ràng buộc, áp chế Việt Nam thì Việt Nam sẽ Cương
quyết cự tuyệt Ngay đối với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn
sang hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt
Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn”
Sau năm 1945 nhiều lần Người đã tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của chính phủ thì chỉ có một điều tức là than thiện với tất cả các nước dân chủ
trên thế giới để giữ gìn hòa bình” “Thái độ của Việt Nam đối với những nước
Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè” Có thé xem những tuyên bố trên đây là tư tướng đặt nền móng cho phương châm
da dạng hóa, đã phương hóa, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Trong quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Hồ Chí Minh đã ưu tiên cho mỗi quan hệ giữa các nước láng giềng trong khu vực, nhất là các nước có chung đường biên giới với Việt Nam nhằm hình thành liên minh chiến đầu chống kè thù chung Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định “Đông Dương là một chiến
trường”, Hồ Chí Minh nêu rõ “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào
cũng kháng chiến Vì vậy chúng ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp kháng chiến Miên, Lào và tiến đến thành lập mặt trận thống nhất các dân
tộc Việt - Miên - Lào” Đôi với Trung Quôc - một nước có quan hệ lịch sử,
Trang 25văn hóa lâu đời với Việt Nam, phát huy truyền thống hòa hiếu của cha ông Hồ Chi Minh đã bằng những hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế ký xây đắp nên môi quan hệ “Vừa là đông chí, vừa là anh em”
2.5 Két hop sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại
Xuất phát từ nhận thức cách mạng Việt Nam và thế giới có mối quan hệ thống nhất biện chứng, Hồ Chí Minh cho răng việc kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại là một tất yếu, một cơ sở tạo ra sức mạnh lớn nhất cho
cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và cũng tạo cho Việt Nam góp phần xứng đáng vào tiến trình phát triển của nhân loại Sinh thời, trong mọi hoàn cảnh, Người đều tìm ra phương thức, biện pháp để gắn cách mạng Việt Nam
và phong trào tiến bộ trên thế giới
Sức mạnh dân tộc là sự tông hợp các yếu tố vật chất va tinh thần, truyền thống và hiện đại, là sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân đưới sự lãnh đạo của Đảng, là sức mạnh của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, làm cho Việt Nam sánh vai với các nước trên thế giới Yếu tố quyết định để phát huy sức mạnh dân tộc là giữ
vững tỉnh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường
Sức mạnh của thời đại là sức mạnh đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân, là sức mạnh của sự kết hợp hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, là tình đoàn kết chiến đấu giữa các đảng cộng sản, các phong trào và các lực lượng cách mạng trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa tư bản, chủ nghĩa đề quốc vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội Sức mạnh thời đại còn là sự thực hiện quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn
nhau, áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật và công nghệ, học tập, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quản lý của các nước trên thế giới
Sức mạnh của thời đại luôn mang nội dung mới, phản ánh sự phát triển của
lịch sử và quá trình vận động của chính trị thê giới
Thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, Hồ Chí
Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng mỗi nước trong tình hình nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới và tác động qua lại giữa chúng
Mặt khác, Người xác định rõ vị trí, nhiệm vụ của cách mạng dân tộc với cách
mạng thế giới: cách mạng dân tộc không chỉ để giành thăng lợi cho riêng