1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về văn hóa với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở thành phố hồ chí minh hiện nay

221 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Với Sự Nghiệp Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Hiện Nay
Tác giả Hồ Ngọc Vinh
Người hướng dẫn TS. Hồ Anh Dũng, TS. Trần Chí Mỹ
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành CNDVBC & CNDVLS
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA (24)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ (24)
      • 1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (24)
      • 1.1.2. Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (28)
    • 1.2. TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 33 1. Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí (40)
      • 1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (0)
      • 1.2.3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (0)
      • 1.2.4. Truyền thống quê hương, gia đình và phẩm chất, năng lực cá nhân Hồ Chí Minh với sự hình thành tư tưởng của Người về văn hóa (0)
  • Chương 2. NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (76)
    • 2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA (76)
      • 2.1.1. Khái niệm văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh (76)
      • 2.1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển nền văn hóa mới và sự kế thừa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan điểm về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (97)
    • 2.2. Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (113)
      • 2.2.1. Ý nghĩa lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (0)
      • 2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (117)
  • Chương 3. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (125)
    • 3.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (125)
      • 3.1.1. Lĩnh vực văn hóa vật thể của Thành phố Hồ Chí Minh (0)
      • 3.1.2. Lĩnh vực văn hóa phi vật thể của Thành phố Hồ Chí Minh (0)
    • 3.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (134)
      • 3.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện địa lý - tự nhiên, điều kiện lịch sử - xã hội và (0)
      • 3.2.3. Vai trò định hướng trong quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt (152)
    • 3.3. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (155)
      • 3.3.1. Sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua (155)
      • 3.3.2. Thành tựu và nguyên nhân trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt (160)
      • 3.3.3. Hạn chế và nguyên nhân trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt (0)
    • 3.4. PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG (177)
      • 3.4.1. Phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (178)
      • 3.4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (182)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ

KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân loại Các nước đế quốc theo đuổi tham vọng bành trướng, không chỉ bóc lột nhân dân lao động trong nước mà còn tiến hành chiến tranh xâm lược để thâu tóm tài nguyên và khai thác thị trường Bên cạnh việc sử dụng vũ lực, các nước đế quốc còn mang đến phương Đông nhiều yếu tố văn hóa phương Tây, mặc dù có tính chất mị dân và cưỡng bức, nhưng đã tạo ra sự giao lưu văn hóa Đông - Tây Những yếu tố văn hóa này bao gồm Ki tô giáo, ngôn ngữ, giáo dục, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, trang phục và ẩm thực, được giới thiệu dưới danh nghĩa "khai hóa văn minh".

Chủ nghĩa thực dân không chỉ áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa về chính trị và kinh tế, mà còn nô dịch văn hóa của họ Trần Dân Tiên đã chỉ rõ rằng tính mạng của người thuộc địa không được coi trọng bởi thực dân Hồ Chí Minh, với trải nghiệm phong phú, đã thấu hiểu nỗi khổ của dân tộc Việt Nam và chứng kiến sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Người nhận thức rằng chủ nghĩa tư bản giống như một con đỉa bám vào cả giai cấp vô sản ở chính quốc và thuộc địa, và để tiêu diệt nó, cần phải cắt đứt cả hai vòi Do đó, Hồ Chí Minh kêu gọi sự đoàn kết giữa các dân tộc và lực lượng để đấu tranh chống lại kẻ thù chung – chủ nghĩa đế quốc.

Vào đầu thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã dẫn đến Thế chiến thứ nhất (1914 - 1918), gây ra cái chết và thương tật cho hàng chục triệu người chỉ để giải quyết lợi ích giữa các đế quốc Cuộc chiến này còn để lại hậu quả nghiêm trọng cho các nước thuộc địa, nơi mà người bản xứ phải gánh chịu thiệt hại nặng nề Họ không chỉ bị ép buộc ra trận mà còn trở thành những nạn nhân oan uổng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa Tại An Nam, Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân” đã thể hiện nỗi xót thương cho thanh niên bị bắt lính, nhấn mạnh rằng có tới 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp, trong đó 80.000 người không bao giờ trở về quê hương.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của Nguyễn Ái Quốc, khi Người nhận thấy đây là cuộc cách mạng dùng bạo lực để lật đổ giai cấp tư sản và phong kiến, lập nên chính quyền của người lao động, xây dựng xã hội mới Thành công của cách mạng này không chỉ tạo ra nhà nước vô sản đầu tiên mà còn khuyến khích các dân tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh giành độc lập Điều này đã khai sáng con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và định hình nhận thức của Người về mục tiêu văn hóa là giải phóng con người, mang lại tự do và hạnh phúc thực sự Người khẳng định rằng chỉ có cách mạng Nga là thành công thực sự, mang lại hạnh phúc tự do, bình đẳng cho dân chúng Từ đó, Người xác định con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc Việt Nam theo hướng của Cách mạng Tháng Mười Nga, đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản Đầu thế kỷ XX, khi phong trào cộng sản quốc tế bị phân hóa, V.I Lênin đã thành lập Quốc tế Cộng sản vào tháng 3 năm 1919, sự kiện này có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cao vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh sự cần thiết của bộ phận chuyên nghiên cứu và hỗ trợ cho cách mạng ở Á – Đông.

Cuối thế kỷ XIX, các nước phương Đông, đặc biệt là Việt Nam, đối mặt với sự xâm lược của các đế quốc phương Tây do sự lạc hậu và trì trệ của chế độ phong kiến Nhật Bản, với cuộc Duy Tân năm 1868, đã trở thành một đế quốc hùng mạnh và là nơi thu hút các nhân sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, người chủ trương cầu viện Nhật Bản để chống thực dân Pháp Tuy nhiên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc phải dựa vào nỗ lực của chính dân tộc mình, không thể trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài Ông nhận thức rõ bản chất của đế quốc Nhật cũng tương tự như các đế quốc phương Tây và đã hình thành quan điểm tự chủ, tự lực trong hành trình giải phóng dân tộc Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX chứng kiến những chuyển biến quan trọng trong bối cảnh lịch sử - xã hội, với sự nổi dậy của các dân tộc thuộc địa chống lại ách cai trị, ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc và tinh thần độc lập tự cường Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã tạo điều kiện cho các dân tộc thuộc địa đấu tranh khôi phục độc lập, ảnh hưởng sâu sắc đến con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia thường liên quan chặt chẽ đến những nhân vật vĩ đại, những người có cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng gắn liền với những biến động của dân tộc Những cá nhân như C Mác đã để lại dấu ấn sâu sắc trong quá trình hình thành và phát triển của quốc gia.

Ph Ăng ghen, V.I Lênin, Phi đen cát xtơ rô và Hồ Chí Minh đều phản ánh ý chí và khát vọng của các dân tộc, mở đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thực hiện mục tiêu chung của nhân loại Cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh gắn liền với bối cảnh Việt Nam và thế giới vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động Bối cảnh lịch sử này đã ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tư tưởng của Người, đặc biệt là tư tưởng về văn hóa Ngược lại, tư tưởng của Hồ Chí Minh đã dẫn dắt con đường phát triển của dân tộc và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại.

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa điều kiện lịch sử - xã hội và ý thức xã hội luôn có sự tác động qua lại Tư tưởng triết học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, luôn phản ánh và chịu ảnh hưởng từ những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Tư tưởng không tồn tại độc lập bên ngoài xã hội, mà luôn nảy sinh và phát triển trong bối cảnh xã hội, phản ánh và bị chi phối bởi các yếu tố xã hội nhất định Do đó, việc nghiên cứu bất kỳ tư tưởng nào cũng cần xem xét trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử - xã hội của nó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời từ bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của đất nước, phản ánh những vấn đề cấp bách mà xã hội đối mặt Để hiểu rõ và sâu sắc về nội dung và ý nghĩa của tư tưởng này, cần phân tích kỹ lưỡng các điều kiện lịch sử - xã hội đã ảnh hưởng đến sự hình thành của nó.

Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam rơi vào giai đoạn thoái trào của chế độ phong kiến, thể hiện sự bảo thủ và trì trệ Triều Nguyễn suy yếu, đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng, không chấp nhận các đề xuất canh tân đất nước do tính độc đoán và tham lam của mình Hệ quả là đất nước càng lâm vào khủng hoảng sâu sắc, yếu thế trước sự đe dọa từ các thế lực bên ngoài.

Nhà Nguyễn đã tập trung vào việc củng cố trật tự xã hội thay vì cải cách đất nước, thực hiện chính sách áp bức và bóc lột Nhân dân, đồng thời duy trì chính sách đóng cửa với bên ngoài Bộ máy triều đình độc đoán và chuyên quyền đã khiến chế độ phong kiến mất đi sự ủng hộ của Nhân dân, dẫn đến tình trạng khốn cùng và cơ cực Sự lầm than của dân tộc đã tác động sâu sắc đến những nhà nho yêu nước, đặt ra câu hỏi cấp bách về việc thoát khỏi sự bảo thủ của chế độ để phát triển đất nước Hồ Chí Minh, với trải nghiệm và thấu hiểu nỗi khổ của dân tộc, đã quyết tâm hành động để cứu nước Từ sớm, Nguyễn Tất Thành đã hấp thụ những giá trị nhân văn từ khẩu hiệu Cách mạng Pháp về "Tự do - Bình đẳng - Bác ái", điều mà không chỉ Nhân dân Pháp mà còn Nhân dân Việt Nam và các dân tộc khác trên thế giới đều khao khát.

Thực trạng đất nước lúc bấy giờ đã khiến các sĩ phu yêu nước trăn trở và mạnh dạn đề xuất những tư tưởng canh tân tích cực, như tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, và Đặng Huy Trứ Những đề xuất này nhằm giải quyết những khó khăn và trì trệ của đất nước Tuy nhiên, các đề xuất canh tân này không được triều đình chấp nhận hoặc chỉ được chấp nhận một cách hình thức, dẫn đến việc nhiều ý tưởng tiến bộ không được thực hiện Hệ quả là đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ và lạc hậu.

Việt Nam đã trở thành mục tiêu của các thế lực bên ngoài, đặc biệt là đế quốc Pháp, khi tiếng súng xâm lược vang lên Triều đình phong kiến nhà Nguyễn rơi vào tình trạng hoảng loạn và bị động, không chỉ không dốc toàn lực chống lại kẻ thù mà còn thể hiện sự bạc nhược khi cầu hoà và cuối cùng đầu hàng thực dân Pháp Đáng chú ý, nhà Nguyễn còn hợp tác với thực dân Pháp để đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, làm suy yếu tinh thần độc lập dân tộc.

Thực dân Pháp đã xâm lược và áp đặt ách cai trị lên Việt Nam, gây ra cảnh khốn cùng cho Nhân dân và buộc họ phải đứng lên chống lại đế quốc xâm lược để giành lại độc lập Nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra, nhưng đều thất bại trước thách thức lịch sử Tình hình này đòi hỏi một nhân tố mới và con đường cứu nước khác để hoàn thành sứ mệnh lịch sử Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh đã hình thành ý chí và khát vọng giải phóng dân tộc, mưu cầu tự do và hạnh phúc cho Nhân dân.

Sự xâm lược của thực dân Pháp đã mang đến cho Việt Nam một nền văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp, với tính chất cưỡng bức dưới danh nghĩa "khai hóa văn minh" Tuy nhiên, lịch sử cũng mở ra cơ hội giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa dân tộc Việt Nam và văn hóa phương Tây, cụ thể là giao lưu văn hóa Việt - Pháp Dù quá trình này có tính chất cưỡng bức, nó vẫn ảnh hưởng đến tư tưởng của Nguyễn Tất Thành, người đã kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu văn hóa phương Đông Nguyễn Tất Thành không xem văn hóa phương Tây như một sự loại trừ hay mâu thuẫn, mà bằng nhận thức mở, Người đã cảm nhận được sự phong phú của các nền văn hóa và hướng ra một thế giới đa dạng Nghiên cứu của nhiều học giả cho thấy, trong thời gian ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tiếp xúc với văn hóa phương Tây, học hỏi tri thức mới và mở ra những chân trời mới cho tư duy của mình.

Thông qua hệ thống giáo dục mang tính thực dân của người Pháp, lần đầu Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với cụm từ của văn hóa phương Tây:

TIỀN ĐỀ CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 33 1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí

1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về văn hóa

Lịch sử mỗi dân tộc đều ghi dấu ấn của những danh nhân và anh hùng, những người này cũng phản ánh văn hóa dân tộc của họ Tư tưởng và hoạt động của những nhân vật này luôn bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa nơi họ sinh ra Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa cũng không nằm ngoài quy luật này; nó tồn tại và phát triển mạnh mẽ nhờ kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Đồng thời, tư tưởng của Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng lớn từ quan niệm về văn hóa của các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử Những tư tưởng và quan niệm văn hóa từ các thế hệ trước là yếu tố quan trọng trong việc hình thành tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh.

Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu dài trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, gắn liền với sự hình thành nền văn hóa độc đáo Văn hóa này không chỉ tạo nên bản sắc riêng mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần, giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách và giành độc lập Truyền thống văn hóa đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn, trí tuệ và khí phách của Hồ Chí Minh, người lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt một thời gian dài.

Truyền thống là sự kết hợp của các yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán, tư tưởng và đạo đức, được hình thành qua lịch sử và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc qua lối sống tốt đẹp và cách ứng xử tinh tế Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), truyền thống văn hóa dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển bản sắc văn hóa.

Bản sắc dân tộc Việt Nam, được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử, bao gồm những giá trị bền vững như lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng Những giá trị này gắn kết cá nhân với gia đình, làng xã và Tổ quốc, thể hiện qua lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, cùng với đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Bản sắc văn hóa dân tộc còn được thể hiện rõ nét qua các hình thức biểu hiện độc đáo, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cộng đồng.

Chủ nghĩa y u nước- giá trị truyền thống hàng đầu của dân tộc Việt Nam

Chủ nghĩa yêu nước và ý thức chủ quyền quốc gia là những giá trị cốt lõi trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Từ thế kỷ III trước Công nguyên, với cuộc kháng chiến chống quân Tần, đến thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 20 cuộc chiến tranh lớn nhằm bảo vệ độc lập Những cuộc chiến này để lại hậu quả nặng nề, không chỉ về vật chất mà còn về nhân mạng Tuy nhiên, qua những thử thách khắc nghiệt, sức sống và sự kiên cường của dân tộc Việt Nam đã được khẳng định Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành dòng chảy chủ đạo trong lịch sử, giữ vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hóa và là tài sản quý báu trong hành trình tìm đường cứu nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã hình thành từ những ngày đầu của quốc gia dân tộc, bắt đầu từ thời đại Hùng Vương khi người Lạc Việt xây dựng nền móng vững chắc cho đất nước Khi đối mặt với cuộc xâm lăng của 50 vạn quân Tần từ phương Bắc, các bộ lạc đã liên minh và cùng nhau kháng chiến, thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ Lòng yêu nước đã trở thành sức mạnh kiên cường, bất khuất của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Thục Phán An Dương Vương đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu và Ngô Quyền.

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám là những nhân vật lịch sử tiêu biểu, đại diện cho tinh thần gan góc và bất diệt của dân tộc Tinh thần này vẫn được truyền lại và khơi dậy trong các thế hệ tiếp theo.

Trước tình hình đất nước bị xâm lược và nhân dân sống trong cảnh nô lệ, Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm hành động để cứu nước và giúp dân Với lòng yêu nước mãnh liệt, Người dấn thân vào những thử thách khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước Hành trình này đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, một lựa chọn tất yếu trong bối cảnh lịch sử Hồ Chí Minh khẳng định rằng chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa ông đến với Lênin và Quốc tế thứ ba, cho thấy sự kết hợp giữa lòng yêu nước truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước không chỉ là tinh thần, mà còn là hành động dũng cảm và kiên cường Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam thể hiện qua việc đặt lợi ích Tổ quốc và Nhân dân lên hàng đầu, bảo vệ và xây dựng đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc Tinh thần yêu nước bắt đầu từ những tình cảm giản dị như yêu thương gia đình, làng xóm, và phát triển thành tình yêu Tổ quốc Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”, và mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần yêu nước lại trỗi dậy mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn để chống lại kẻ thù.

Chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện trí tuệ và sức mạnh nội tại của dân tộc Việt Nam, giúp vượt qua thiên nhiên khắc nghiệt và các thế lực ngoại xâm Những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn đã được đúc kết thành lý luận, trở thành vũ khí tinh thần và động lực mạnh mẽ cho Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do.

Việt Nam đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn khi khơi dậy và phát huy tiềm năng tinh thần của dân tộc Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng để phát huy tối đa lòng yêu nước của Nhân dân Việt Nam, yêu nước cần gắn liền với tình yêu thương đối với người dân lao động và phải kết hợp với chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nền tảng văn hóa quan trọng xuyên suốt lịch sử dân tộc, giúp Hồ Chí Minh gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống Điều này không chỉ hỗ trợ Người trong việc tìm kiếm con đường cứu nước mà còn trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh đã kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tinh thần quốc tế, nhấn mạnh mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp và con người.

Truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái

Từ những ngày đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với không chỉ các thế lực ngoại xâm mà còn với thiên tai khắc nghiệt Nền nông nghiệp lúa nước yêu cầu sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa người dân trong cộng đồng Chính vì vậy, tinh thần đoàn kết cộng đồng đã sớm hình thành, giúp người dân cùng nhau chống chọi với thiên tai, dịch bệnh và giặc ngoại xâm Truyền thống quý báu này được thể hiện rõ qua các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, trong đó có truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, nhắc nhở chúng ta về cội nguồn chung và nghĩa đồng bào, khẳng định rằng người Việt Nam dù ở đâu cũng coi nhau như ruột thịt, gắn bó và yêu thương nhau.

Trong ca dao và tục ngữ, nhân dân ta đã gìn giữ nhiều câu nói ngắn gọn nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Hay là: “Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Hoặc: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài

“Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” là lời dạy quý báu từ cha ông, nhắc nhở người dân Việt Nam về tầm quan trọng của tình làng nghĩa xóm, sự đoàn kết và yêu thương lẫn nhau Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng, dù có lúc đất nước mất độc lập, nhưng các làng vẫn tồn tại và giữ gìn bản sắc Làng chính là gốc rễ, là nền tảng để giành lại độc lập Dù trải qua nhiều thăng trầm, truyền thống gắn bó và sự đoàn kết trong cộng đồng dân tộc vẫn luôn vững bền.

NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Ngày đăng: 13/03/2022, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w