1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về dân chủ với việc thực hiện dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở quận phú nhuận thành phố hồ chí minh hiện nay

120 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng hồ chí minh về dân chủ với việc thực hiện dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở quận phú nhuận thành phố hồ chí minh hiện nay
Tác giả Huỳnh Anh Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Đào Tuấn Hậu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI (16)
    • 1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ (16)
      • 1.1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ (16)
      • 1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ (23)
      • 1.1.3. Phẩm chất, trí tuệ và nhân cách Hồ Chí Minh (30)
    • 1.2. CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ (33)
      • 1.2.1. Giai đoạn từ năm 1890 đến năm 1920 (33)
      • 1.2.2. Giai đoạn từ năm 1920 đến 1945 (34)
      • 1.2.3. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1969 (37)
    • 1.3. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ (38)
      • 1.3.1. Khái niệm dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh (38)
      • 1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và vai trò của dân chủ (42)
      • 1.3.3. Phương thức bảo đảm dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh (50)
  • CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ (68)
    • 2.1. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (68)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên quận Phú Nhuận (68)
      • 2.1.2. Đặc điểm về dân cư tại quận Phú Nhuận (0)
      • 2.1.3. Đặc điểm về kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận (72)
    • 2.2. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ (75)
      • 2.2.1. Thực trạng phát huy dân chủ trên lĩnh vực chính trị theo tư tưởng Hồ Chí (76)
      • 2.2.2. Thực trạng phát huy dân chủ trên lĩnh vực kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí (80)
      • 2.2.3. Thực trạng phát huy dân chủ trên các lĩnh vực xã hội theo tư tưởng Hồ Chí (85)
      • 2.2.4. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (93)
    • 2.3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (97)
      • 2.3.1. Phương hướng phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (97)
      • 2.3.2. Giải pháp phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (100)
  • KẾT LUẬN (66)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (114)

Nội dung

Trong những năm qua, quận Phú Nhuận đã tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương: kinh tế tiếp tục tăng trưởng, quốc phòng an ninh được giữ vững, hệ thống kết cấu h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HUỲNH ANH PHƯƠNG THẢO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ

TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HUỲNH ANH PHƯƠNG THẢO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ

TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

MÃ SỐ: 8.22.03.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Đào Tuấn Hậu

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của TS Đào Tuấn Hậu Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

TP HCM, ngày 26 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Huỳnh Anh Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ 11

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ 11

1.1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 11

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ 18

1.1.3 Phẩm chất, trí tuệ và nhân cách Hồ Chí Minh 25

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ 28

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1890 đến năm 1920 28

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1920 đến 1945 29

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1969 32

1.3 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ 33

1.3.1 Khái niệm dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh 33

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và vai trò của dân chủ 37

1.3.3 Phương thức bảo đảm dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 61

CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 63

2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 63

2.1.1 Điều kiện tự nhiên quận Phú Nhuận 63

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm về dân cư tại quận Phú Nhuận 65 2.1.3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận 67

2.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN PHÚ NHUẬN

2.2.1 Thực trạng phát huy dân chủ trên lĩnh vực chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở quận Phú Nhuận trong giai đoạn hiện nay 71 2.2.2 Thực trạng phát huy dân chủ trên lĩnh vực kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở quận Phú Nhuận trong giai đoạn hiện nay 75 2.2.3 Thực trạng phát huy dân chủ trên các lĩnh vực xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở quận Phú Nhuận trong giai đoạn hiện nay 80 2.2.4 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 88

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.3.1 Phương hướng phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 92 2.3.2 Giải pháp phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 95

KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam Trải qua gần 60 năm đấu tranh cách mạng bất khuất kiên cường, đầy gian khổ, hy sinh, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người;

sự nghiệp đấu tranh vì tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam Cuộc đời cao đẹp, phẩm chất đạo đức cách mạng của Người mãi mãi là tấm gương sáng, là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam trong mọi thời đại lịch sử Tuy Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng những tư tưởng của Người để lại vẫn luôn soi sáng cho mọi bước đường xây dựng và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc, của thời đại và đã trở thành một bộ phận của văn hoá dân tộc, có sức hấp dẫn, lâu bền và phổ biến,

là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc ta Tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hoá của nhân loại, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới, thể hiện tính sáng tạo của Hồ Chí Minh Khi nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã mạnh dạn loại bỏ những yếu tố không thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đất nước đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm qua lịch sử, qua thực tiễn và ngày nay tư tưởng

đó đang soi sáng con đường cách mạng Việt Nam

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng dân chủ có một vị trí đặc biệt nổi bật Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trang 7

là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” Dân chủ là động lực thúc đẩy con người trong hoạt động sáng tạo

và thực tiễn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…góp phần vào việc cải tạo thế giới loài người Bên cạnh đó, dân chủ còn là mục tiêu trong sự phát triển xã hội Mục tiêu dân chủ được thể hiện trước hết ở dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị Cùng với nó còn là dân chủ trong văn hóa, trong phát triển xã hội và quản lý xã hội, hướng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách xã hội và an sinh xã hội cho con người, vì con người Để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền phải nắm vững các mục tiêu, bản chất của dân chủ; phát huy sáng tạo để hiện thực hóa, dân chủ hóa trong hiện thực xã hội

Quận Phú Nhuận là đơn vị hành chính thuộc thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học và công nghệ của cả nước Trong những năm qua, quận Phú Nhuận đã tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương: kinh tế tiếp tục tăng trưởng, quốc phòng

an ninh được giữ vững, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật được đầu tư cải thiện, đảm bảo chính sách an sinh xã hội, phát huy quyền làm chủ của người dân cùng góp phần xây dựng và phát triển thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rất đáng trân trọng, hiện nay tại quận Phú Nhuận còn tồn tại một số vấn đề về thực hành dân chủ Trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ trong đời sống xã hội, việc phản biện xã hội của người dân chưa được thực hiện rộng rãi Không

ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, bệnh quan liêu, tư tưởng gia trưởng, phong kiến còn nặng nề

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân sâu xa

từ đời sống kinh tế, xã hội; mặt bằng dân trí còn chưa cao; cơ chế chế tài luật pháp còn chồng chéo, thiếu đồng bộ chưa thực sự đi vào đời sống, chưa trở

Trang 8

thành nhu cầu thiết yếu trong điều chỉnh quan hệ xã hội; việc thực hiện dân chủ chưa thực sự đầy đủ và có hiệu quả Vì vậy, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra cho quận Phú Nhuận trong giai đoạn hiện nay đó là “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhả nước góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận tăng trưởng bền vững theo hướng Dịch

vụ - Thương mại - Công nghiệp, phấn đấu xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh, nhằm ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân” (Quận ủy Phú Nhuận, 2015, 43)

Từ những vấn đề trên, học viên đã chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân chủ với việc thực hiện dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài

luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc

thực hiện dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú

Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” là một vấn đề mang ý nghĩa lý luận

và thực tiễn sâu sắc Liên quan đến vấn đề này của luận văn, có những công trình nghiên cứu được thực hiện theo năm hướng tiếp cận cơ bản sau đây:

Hướng tiếp cận thứ nhất, các công trình đề cập đến lịch sử lý luận về

dân chủ, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có các công trình sau:

- “Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và quản lý kinh tế xã

hội chủ nghĩa” của V.I.Lênin, I.V.Xtalin (Nxb Sự thật - Hà Nội, 1977): Nội

dung tác phẩm gồm 3 phần: giới thiệu những luận điểm cơ bản của V.I Lênin

về ý nghĩa và tiền đề kinh tế của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức

và quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa; giới thiệu những luận điểm của V.I

Trang 9

Lênin và I.V.Xtalin về việc tổ chức bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước và

lề lối làm việc của bộ máy ấy theo nguyên tắc tập trung dân chủ; nêu lên những luận điểm của V.I Lênin và I.V.Xtalin về phương thức quản lý, kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ Từ đó, đề ra phương thức lãnh đạo mới trong công cuộc xây dựng kinh tế

- “Về vai trò làm chủ của nhân dân lao động dưới chế độ xã hội chủ

nghĩa và cộng sản chủ nghĩa” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, I.V.Xtalin

(Nxb Sự thật - Hà Nội, 1979): bao gồm các bản trích các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, I.V.Xtalin nhằm khẳng định vai trò làm chủ của người dân lao động và khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản tạo điều kiện thuận lợi cho con người có đủ khả năng vươn lên làm chủ xã hội

- “Dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa” của Thái Ninh và Hoàng Chí Bảo (Nxb Sự thật - Hà Nội, năm 1990); “Xây dựng và phát triển nền dân

chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Nxb Hành chính - Hà Nội, 2009); “Tư tưởng của Lênin về dân chủ”

của PGS.TS Trịnh Doãnh Chính, TS Đinh Ngọc Thạch, TS Trần Chí Mỹ,

TS Trần Hùng (đồng chủ biên), (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2004);

“Trào lưu xã hội dân chủ ở một số nước phương Tây hiện nay” của Tống

Đức Thảo và Bùi Việt Hương (đồng chủ biên), (Nxb Chính trị quốc gia Hà

Nội, năm 2011); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ” của Tiến sĩ Phạm Hồng

Chương (Nxb Chính trị Hà Nội, năm 2004); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam” luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Hữu Tâm (2009): Trong các tác phẩm trên, tác giả đã phân tích

và luận giải nhiều trao lưu dân chủ khác nhau Đặc biệt tác giả trình bày khái quát và hệ thống quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Trong đó khẳng định, quan điểm Mác - Lênin là sự phát triển về chất của dân chủ Dân chủ theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là dân chủ xã hội

Trang 10

chủ nghĩa - dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân mà trước hết là nhân dân lao động Trong công trình của mình, các tác giả đều cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ là cơ sở, nền tảng để nghiên cứu và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Thông qua việc dẫn chứng, trích dẫn và luận giải, các tác giả như Phạm Hồng Chương, Nguyễn Hữu Tâm… đã làm minh chứng ngắn gọn nhưng đầy đủ, đầy tính nhân văn tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Các tác giả cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đã có sự kết hợp tinh hoa dân chủ thế giới với tinh thần dân tộc Đồng thời, đó là nền tảng

tư tưởng, lý luận, tấm gương thực hành dân chủ ở nước ta

- Tác phẩm “Dân chủ - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh” của Nguyễn Khắc Mai (Nxb.Lao động, 1997); “Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của

Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ”, Luận án Tiến sĩ Triết học

của Phan Văn Bính (2003); tác phẩm“Dân chủ với phát triển cộng đồng” của PGS.TS Trần Quang Nhiếp (Nxb Công an nhân dân, 2006); “Quan điểm

Mácxít về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong điều kiện hiện nay ở Tây Ninh” - Luận văn Tiến sĩ của Đoàn Nam Hương (2007), đã trình

bày cơ sở lý luận chung về phạm trù “dân chủ”, đồng thời nêu bật quan điểm Mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

- “Dân chủ, đa nguyên và thời đại” do Ban khoa học xã hội Thành ủy

thành phố Hồ Chí Minh biên tập năm 1990: trình bày các bài báo, các tham luận của tác giả Việt Nam và nước ngoài về vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa

và tài liệu về dân chủ, đa nguyên xã hội chủ nghĩa nhằm khẳng định nền dân chủ chân chính cần có thời gian để hình thành và phát triển; phải được bảo đảm bằng một hệ thống chính trị, chính sách và thể chế hóa bằng pháp luật Nhà nước trong điều kiện lịch sử nhất định

Hướng tiếp cận thứ hai, các công trình nghiên cứu từ lý thuyết đến thực

tiễn dân chủ ở Việt Nam hiện nay:

“Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay” của

Trang 11

TS Đỗ Trung Hiếu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009), “Phản biện xã

hội và phát huy dân chủ pháp quyền” của tác giả Hồ Bá Thâm và Tôn Thị

Tường Vân đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009); “Phát

huy dân chủ trong đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” của Luật

gia Phạm Thành Nam và TS Đỗ Thị Thạch (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005): Các tác phẩm đã phân tích được những khía cạnh cơ bản của vấn đề dân chủ theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng nền dân chủ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đồng thời trình bày phương hướng nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong quá trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam

“Dân chủ và thiết chế dân chủ ở Việt Nam” (Nxb Quân đội nhân dân

Hà Nội, năm 2006); “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

hiện nay” của Lê Minh Quân (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2011),

“Dân chủ và phát huy nội lực” của TS Hồ Bá Thâm (Nxb Phương Đông

thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007), “Dân chủ xã hội chủ nghĩa - mục tiêu và

động lực của công cuộc đổi mới” của Hoàng Chí Bảo (Tạp chí điện tử Quốc

phòng toàn dân, tháng 8/2011), “Bảo đảm và phát huy dân chủ trong chế độ một Đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay” của PGS.TS Mạch Quang Thắng

(Tạp chí điện tử Quốc phòng toàn dân, tháng 02/2011), “Quan điểm của Đại

hội XI về phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của Thiếu tướng - GS.TS Nguyễn Văn Tài (Báo Hải Phòng, Kỳ I,

ngày 7/5/2011), “Xây dựng và phát triển dân chủ thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” Luận án Tiến sĩ của Đàm Anh Tuấn (2012): Kết quả nghiên cứu của các công trình đã hệ thống hóa và thể hiện sinh động thực tiễn dân chủ ở Việt Nam trong những năm qua, nhất

là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới Vấn đề dân chủ ở Việt Nam được các tác giả luận giải, bàn bạc trên nhiều lĩnh vực Các tác giả đã khẳng định: dân chủ là xu thế khách quan trong quá trình vận động

Trang 12

lịch sử ở nước ta Từ đó, các tác giả nêu ra nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng dân chủ ở Việt Nam hiện nay Dưới góc độ lý luận và thực tiễn, các tác giả đã luận giải nhiều vấn đề cần quan tâm trong quá trình thực hiện dân chủ ở Việt Nam Tùy vào cách tiếp cận mỗi vấn đề khác nhau, các tác giả đưa

ra những giải pháp góp phần bổ sung lý luận và thực tiễn thực hành dân chủ ở nước ta Những công trình nghiên cứu theo hướng này đã cho chúng ta thấy một bức tranh tương đối toàn diện về dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam Song qua đó, vấn đề được đặt ra chính là từ lý thuyết đến thực tiễn còn

có nhiều khoảng cách và còn nhiều vấn đề cần giải quyết trong việc thực hành dân chủ trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước

Hướng tiếp cận thứ ba, một số công trình đề cập đến quá trình hình

thành phát triển, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Phú Nhuận nói riêng

“300 năm Phú Nhuận - mảnh đất - con người truyền thống” do Trần

Bạch Đằng (chủ biên) (Sách nghiên cứu sưu tầm lịch sử quận Phú Nhuận - 1989): nội dung giới thiệu sơ lược về quá trình mảnh đất Phú Nhuận được khai phá, vun bồi và phát triển trong vòng 300 năm Tác phẩm còn giới thiệu

về đặc điểm con người Phú Nhuận từ khi khai danh lập địa với những nét đặc sắc và phong cách riêng cùng những truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Phú Nhuận

“Lịch sử Đảng bộ quận Phú Nhuận (1975 - 2015)” (Nxb Tổng hợp thành

phố Hồ Chí Minh): Tác phẩm sơ lược về 3 nội dung trọng tâm: thứ nhất, quá trình quận Phú Nhuận khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước cải tạo và xây dựng chế độ mới, nền kinh tế, văn hóa mới (1975 - 1985); thứ hai, quá trình quận Phú Nhuận thực hiện đường lối đổi mới vượt qua thời kì khủng hoảng (1986 - 1996); thứ ba, quá trình quận Phú Nhuận chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với quản lý đô thị (1996 - 2015)

Trang 13

Tài liệu về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 9 nhiệm kỳ

2010 - 2015, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 10 nhiệm kỳ 2015

- 2020, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Phú Nhuận lần thứ 10 nhiệm kỳ 2010

- 2015, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Phú Nhuận lần thứ 11 nhiệm kỳ 2015

- 2020, báo cáo tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội - quốc phòng - an ninh quận Phú Nhuận từ năm 2010 đến năm 2019: Tài liệu đã cung cấp số liệu cụ thể đồng thời đánh giá được mặt thuận lợi và mặt còn hạn chế trong quá trình triển khai, thực hiện các nội dung trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Phú Nhuận nói riêng

Có thể nói, các công trình khoa học trên là những tài liệu để học viên cao học tiếp thu, kế thừa trong việc hoàn thiện luận văn chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc phát huy chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Luận văn thạc sĩ của học viên góp phần khẳng định lại tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Đồng thời xem xét những yếu tố tác động tới việc thực hiện dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh tại quận Phú Nhuận Qua đó, học viên nêu ra giải pháp phát huy dân chủ gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại quận Phú Nhuận hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn: Nâng cao việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về

dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

Một là, trình bày bối cảnh lịch sử, tiền đề hình thành, đặc điểm và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Hai là, phân tích và làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện dân chủ và tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ trong phát triển kinh tế -

xã hội ở quận Phú Nhuận

Trang 14

Ba là, trình bày thực trạng phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận trong những năm qua và những nguyên nhân của thực trạng đó

Bốn là, nêu ra phương hướng và giải pháp mang tính định hướng cho việc phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc thự hiện dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu việc phát huy dân chủ gắn với quá trình phát triển kinh tế -

xã hội tại quận Phú Nhuận

- Luận văn nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại quận Phú Nhuận giai đoạn 10 năm từ năm 2010 đến năm 2019 Tính từ Đại hội Đảng bộ quận Phú Nhuận nhiệm kỳ X (2010 - 2015)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện dựa trên nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật làm phương pháp chung nhất trong quá trình nghiên cứu, đồng thời vận dụng kết hợp các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử và phương pháp khái quát hóa trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ bối cảnh lịch sử, tiền đề hình thành,

quá trình hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Trang 15

Ý nghĩa thực tiễn: Nêu rõ thực trạng việc phát huy dân chủ theo tư tưởng

Hồ Chí Minh trên các mặt kinh tế - xã hội tại quận Phú Nhuận Từ đó, đưa ra phương hướng, giải pháp phù hợp trong thời gian tới

Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Phú Nhuận Luận văn cũng phân tích thực trạng thực hiện dân chủ Từ

đó, luận văn nêu ra phương hướng, giải pháp thực hiện dân chủ theo tư tưởng

Hồ Chí Minh tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn bao gồm 2 chương, 6 tiết và 2 tiểu kết

Trang 16

CHƯƠNG 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

1.1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử, được hình thành dưới tác động và ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam và thời đại mà Người đã sống và hoạt động Đó là sự tác động trực tiếp của hoàn cảnh xã hội Việt Nam và thế giới từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế

kỷ XX với cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta chống sự xâm lược của thực dân Pháp

a) Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ:

Từ tuổi thiếu niên, Hồ Chí Minh đã tiếp cận những yếu tố văn hóa phương Tây qua trường học Pháp - Việt Văn hóa phương Tây tác động đến

Hồ Chí Minh trước hết ở tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản dùng để tập hợp mọi lực lượng nhằm lật đổ chế độ phong kiến Người nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự

do, Bình đẳng, Bác ái… người Pháp đã nói thế Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau ấy” (Hồ Chí Minh, 2011a, 461) Như vậy, nhà nước tư sản dù ở Mỹ hay ở Pháp, mặc dù đã xác lập được một hệ thống giá trị theo các chuẩn mực dân chủ và nhân đạo, nhưng về thực chất vẫn là công cụ thống trị của một số người, đại bộ phận dân chúng vẫn bị bóc lột, nô dịch cả ở chính quốc lẫn ở các nước thuộc địa Ngay tại chính quốc, các nhà nước tư bản chiếm các tư liệu sản xuất (như nhà máy, nguyên liệu ) làm của riêng Nhà tư bản không

Trang 17

lao động mà thuê công nhân sản xuất để bóc lột công nhân Công nhân phải bán sức lao động mới có ăn Mác đã viết “Người ta nuôi dưỡng một cách rất

có hệ thống một đạo quân công nghiệp trù bị luôn luôn, sẵn sàng phục vụ, một đạo quân bị chết rất nhiều trong một phần thời gian trong năm do lao động khổ sai hết sức vô nhân đạo, còn trong phần kia thì bị dồn vào cảnh bần cùng do thiếu việc làm” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1993, 681) Mác còn phần tích: trong chế độ này thì tư bản mua cả những người chưa đến tuổi thành niên hoặc còn nhỏ tuổi Trước kia người lao động chỉ bán sức lao động của bản thân mà anh ta chi phối được với tư cách một người tự do về mặt hình thức Nhưng bây giờ, anh ta bán cả vợ, con, anh ta thành người lái buôn

nô lệ

Còn đối với các nước thuộc địa, với chiêu bài dân chủ, các nước đế quốc như con đĩa hút máu các nước thuộc địa, bốc lột nhân dân tại các nước thuộc địa Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã viết “Đế quốc Pháp đã cắm vào đất An Nam chế độ đáng nguyền rủa của thời trung cổ, người nông dân An Nam bị hành hình vừa bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của giáo hội sa đọa làm ô danh Chúa… Angiêri đau khổ vì nạn đói Tuynidi cũng bị tàn phá bởi nạn đói Để giải quyết tình trạng ấy, chính phủ bắt giam một số đông người đói Để cho bọn

“người đói” đừng coi nhà tù là nơi cứu tế, người ta không cho họ ăn gì hết Cho nên nhiều người đã chết đói trong lúc bị giam cầm Trong những hang động En Ghiria, nhiều người đói lả phải gặm xác một con lừa chết thối lâu ngày Ở Bêgia, người Cammê giành giật xác thú vật với quạ Ở Xúc en Acba,

ở Ghiđa, Úet Mơlidơ, mỗi ngày hàng chục người chết đói Đi đôi với nạn đói, nạn dịch tễ phát sinh ở nhiều nơi và có nguy cơ lan rộng.” (Hồ Chí Minh, 2011b, 92 - 93)

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển

từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chỉ 9 nước đế

Trang 18

quốc đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới1 Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa bị chủ nghĩa thực dân tước hết những giá trị văn hóa, tinh thần, quyền lợi về kinh tế và địa vị xã hội…Trên thế giới không có dân tộc chiến bại nào bị đàn áp và hành hạ như người dân thuộc địa” (Hồ Chí Minh, 2011b, 67)

Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây ra các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy khơi sâu và làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội Chủ nghĩa Tháng Mười Nga giành được thắng lợi Khác với tất cả các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra trong lịch sử, mục tiêu

mà Cách mạng tháng Mười Nga hướng đến là giải quyết vấn đề về dân chủ

trên 3 phương diện cơ bản: Một là, quyền con người trước hết phải xuất phát

từ sự tự giác lựa chọn con đường đấu tranh chống lại việc không tôn trọng con người, chà đạp lên phẩm chất, giá trị của con người Với đặc thù là một nước quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực chính trị thuộc về Nga hoàng, chế độ quân chủ ở Nga - nền chuyên chính của giai cấp địa chủ đã chiếm giữ mọi đặc quyền về chính trị, mọi đặc lợi về kinh tế, chính quyền Nga hoàng cấu kết chặt ch với giai cấp tư sản thẳng tay bóc lột và áp bức tàn bạo các tầng lớp nhân dân lao động, tước đoạt các quyền tự do dân chủ của nhân dân

Là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Cách mạng tháng Mười Nga phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, nghị lực cách mạng phi thường, tài năng sáng tạo của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính

(1)

9 nước đế quốc (Anh, pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đoàn Nha, Hà Lan) với số dân 320.657.000 người, diện tích 11.407.606km2, thống trị và bốc lột các nước thuộc địa gồm hàng chục dân tộc với số dân 560.193.000 người trên diện tích 55.637.000 km2

Trang 19

quyền cũng như trong xây dựng xã hội mới Lần đầu tiên trong lịch sử, những người lao động bị áp bức đứng lên thực hiện vai trò làm chủ xã hội, làm chủ

vận mệnh của mình Hai là, Cách mạng tháng Mười Nga cho thấy, quyền của

con người phải được xác lập từ sự làm chủ thực sự chế độ xã hội; đồng thời, tham gia một cách tự giác vào công cuộc xây dựng một chế độ xã hội hoàn toàn vì con người, phấn đấu vì hạnh phúc của tất cả mọi người Thắng lợi từ Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ đánh dấu sự ra đời một nhà nước của đa

số quần chúng lao động đầu tiên trên thế giới, mà còn đặt nền móng để hiện thực hóa cho một chế độ phù hợp với lợi ích căn bản của con người, đáp ứng đầy đủ và toàn diện quyền con người trong một thời kỳ lịch sử mới Trên cơ sở

đó, Cách mạng tháng Mười Nga thực hiện mục tiêu của một cuộc cách mạng

vô sản, đó là thực hiện khát vọng giải phóng con người, giải phóng giai cấp,

giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và tiến tới giải phóng toàn nhân loại a

là, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ giải phóng các dân tộc

bị áp bức, bóc lột dưới chế độ của Nga hoàng, mà còn góp phần giải phóng các dân tộc khác; đồng thời, định hướng lý tưởng cho mục tiêu đấu tranh của các dân tộc dưới ách thực dân, đế quốc trong thế kỷ XX Cách mạng tháng Mười Nga đã nêu một tấm gương giải quyết vấn đề dân tộc một cách thật sự tiến bộ Lần đầu tiên trong lịch sử, Cách mạng tháng Mười Nga và Nhà nước Xô-viết

đã xóa bỏ hình thức áp bức dân tộc, bất bình đẳng dân tộc và tạo mọi điều kiện phát triển tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc Cách mạng tháng Mười Nga

mở ra thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên tự giải phóng, tìm thấy con đường thật sự cho sự nghiệp giải phóng, một kiểu mẫu giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc; tìm thấy ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa một hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc

b) Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với

việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ:

Đêm 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Tháng

Trang 20

6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị về chính trị, kinh tế, văn hóa Nhân dân Việt Nam bị tước đoạt quyền dân chủ, trở thành nô lệ của thực dân Pháp Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương Thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế Nhân dân ta mất nước, không còn làm chủ ruộng vườn, trở thành nô lệ, bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực “Một cựu toàn quyền Đông Dương, một hôm

đã thú nhận rằng thuộc địa đầy rẫy những viên chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả Một người thực dân viết: quá nửa số viên chức ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác, đều không đủ tư cách cần thiết của những con người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm như thế Tất cả bọn chúng chỉ có một cái tài là phung phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi” (Hồ Chí Minh, 2011b, 78)

Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất (1897 - 1914), khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929), trong đó lấy Việt Nam là trọng điểm Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế Kết quả là nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp Các thứ thuế đặt ra nhằm tăng thu nhập cho nhà nước, người dân rơi vào cảnh cùng cực “Từ năm 1890 đến năm 1896, thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm 1896 đến năm 1898 tăng lên gấp rưỡi Làng nào bị tăng thuế cũng cắn răng mà chịu…tất cả người bản xứ, từ 18 đến 60 tuổi đều phải đóng một suất thuế thân đồng loạt là hai đồng rưỡi…Tỉnh Bắc Ninh (Bắc Kỳ) bị lũ lụt tàn phá, thế mà cũng phải nộp 500.000 đồng tiền thuế” (Hồ Chí Minh, 2011b, 82 - 83)

Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hoá; xoá bỏ

hệ thống giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế

Trang 21

Nhân dân ta bị tước bỏ quyền học tập, trao đổi thông tin, thậm chí bị đầu độc bởi rượu và các tệ nạn xã hội Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp,

Hồ Chí Minh đã viết “Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện Nhưng cũng trong số một nghìn làng

đó lại chỉ có vỏn vẹn mười trường học” (Hồ Chí Minh, 2011b, 40) Có thể nói, người An Nam ngay cả ăn không có, không có điều kiện đến trường học còn phải tiêu thụ một lượng rượu rất lớn, mặc dù loại rượu ấy lên đến 40 đến

45 độ với những mùi vị nồng nặc khó chịu Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp mà theo chúng là những nhà khai hóa nhưng hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài

Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta bị đàn áp về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi nhân dân phải đứng lên đấu tranh giành lại quyền dân chủ, tự quyết định vận mệnh của mình và toàn dân tộc Bên cạnh

đó, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Điểm nổi bật trong giai đoạn này là giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) và phát triển khá nhanh Giai cấp công nhân Việt Nam tuy số lượng ít, ra đời muộn so với công nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính kỷ luật và tính chất quốc tế Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa lớn lên đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, rất kiên quyết cách mạng và đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập

Trong xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông dân với địa chủ phong kiến Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết

Trang 22

Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ XX Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản nổi lên: Tiêu biểu nhất

là phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi phát động Phong trào Cần Vương diễn ra từ năm 1885 đến năm 1896 với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa vũ trang Nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885 - 1896); cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công Tráng tổ chức (1885 - 1886); cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu (1885 - 1892) Kéo dài và quyết liệt nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 -1913) v.v Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đó tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta và làm cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề Tuy nhiên, phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến nhanh chóng thất bại Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại do thiếu đường lối đúng đắn Giai cấp phong kiến đã không đủ sức lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đi đến thành công

Đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng các cuộc cách mạng tư sản bên ngoài, phong trào yêu nước Việt Nam diễn ra sôi nổi theo hai khuynh hướng chính: Khuynh hướng bạo động vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo và khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh tổ chức Các phong trào khác như phong trào dạy học theo lối mới ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội (1907); phong trào biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ (1908); phong trào đấu tranh của Đảng Lập Hiến (1923), Đảng Thanh Niên (1926) Mạnh m nhất là phong trào của Việt Nam quốc dân Đảng (1929 - 1930) Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản phản ánh tinh thần dân tộc của một bộ phận trí thức, tư sản Việt Nam nhưng tất cả đều thất bại Nguyên nhân thất bại chính là do thiếu đường lối đúng đắn, địa vị kinh tế, chính trị non yếu của giai cấp tư sản Việt Nam đã không đủ sức lãnh đạo cách mạng

Trang 23

Như vậy, những năm 1929 - 1930 cả nước có hàng chục cuộc bãi công lớn của công nhân Phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu cao, thuế nặng, chống cướp ruộng đất và phong trào bãi khoá của học sinh, bãi thị của tiểu thương tạo thành làn sóng đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ dâng cao khắp cả nước Điều kiện lịch sử đất nước lúc bấy giờ, với mong muốn giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn ý thức phải thực hiện nhiệm vụ dân tộc một cách đúng đắn làm sao để toàn thể nhân dân phải làm chủ đất nước Trước tình hình đó, ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm đường cứu nước

Từ sau ngày 17/7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” trên báo L’Humanite và hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế Cộng sản dần hình con đường chính trị, giải phóng dân tộc, giành dân chủ cho nhân dân

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Với bản chất là một hình thái ý thức - xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh tồn tại xã hội, vừa có sự kế thừa những thành tựu văn hóa, tư tưởng

mà dân tộc và nhân loại đạt được Do đó, để làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ cần phân tích các tiền đề lý luận sau:

Một là, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những yếu tố dân chủ trong văn hóa truyền thống Việt Nam:

Xã hội sơ khai ở Việt Nam là kiểu thiết chế làng xã Thiết chế làng xã trong lịch sử Việt Nam đã tạo điều kiện cho các triều đại phong kiến tiến

bộ thành lập bộ máy Nhà nước lấy dân làm gốc và lấy ruộng đất công làm chỗ dựa kinh tế chính quyền trung ương Cùng với việc tạo ra cơ chế bảo

vệ quyền lợi nhân dân, các nhà nước cũng thực hiện việc tuyển chọn nhân tài không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo cũng thể hiện phần nào yếu tố dân chủ Quá trình đấu tranh giữ gìn đất nước cũng giúp các triều đại phần nào thấy rõ phải gắn bó lợi ích vương triều với lợi ích dân tộc, hiểu rõ sức mạnh của nhân dân Dưới thời Lý, Lý Thường Kiệt nêu lên tư tưởng

Trang 24

“dưỡng dân” Vào thời nhà Trần, trước thế giặc hùng mạnh, Hội nghị Diên Hồng chính là biểu tượng cho hình thức dân chủ trong việc thể hiện quyết tâm cứu nước của nhân dân ta Thời kỳ nhà Lê, Nguyễn Trãi - nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XV là người đã góp phần tạo dựng nên chính sách thân dân thời kỳ nhà Lê sơ mà kết quả là giành được chủ quyền đất nước từ tay giặc Minh, đem lại xã hội Thái Bình, nhân dân no ấm và phát triển đến thịnh vượng với quan niệm phải “nuôi dân”, phải lấy việc yên dân làm mục tiêu chiến đấu, tránh sự phiền hà làm hại đến cuộc sống của dân Nguyễn Trãi đã ví dân như nước, có thể chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền Vì vậy, muốn được lòng dân, điều tất yếu phải thực hiện và phải biết chăm lo cho cuộc sống, tránh chính sự phiền hà làm hại đến cuộc sống nhân dân

Vào cuối thế kỷ XV, ở Việt Nam đã có bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) với 721 điều Trong đó, có rất nhiều điều nêu cao tinh thần dân chủ, bảo vệ quyền sống, phẩm giá của con người, giữ gìn cuộc sống yên bình của người dân, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và những người thấp hèn trong xã hội Ví dụ luật Hồng Đức quy định vợ có quyền kiện chồng và bỏ chồng ở điều 308 Đây là hiện tượng hiếm hoi, thậm chí khác thường so với

tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo

Ngoài ra, nổi bật ở Việt Nam, lễ hội, phong tục, tập quán cũng là hình thức dân chủ truyền thống Đây là những bộ luật không thành văn được cụ thể hóa theo đặc điểm từng vùng, từng địa phương, được cộng đồng thừa nhận Mỗi thành viên coi đó là của mình, tự giác chấp nhận Tính dân chủ trong hoạt động lễ hội là mọi người không chia đẳng cấp, không kể sang hèn, từ vua đến thứ dân, từ gia phú đến kẻ ăn xin đều có quyền và được phép đến lễ hội

để giải bày tâm tư, nguyện vọng thông qua những lời cầu nguyện, câu ca, tiếng hát Hoạt động lễ hội và phong tục tập quán tốt của địa phương là trường học dung dưỡng ý thức tập thể, ý thức dân chủ của con người

Trang 25

Có thể thấy, mặc dù các yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam còn thấp so với trình độ dân chủ của thời đại, song người Việt Nam cũng đã có tập quán dân chủ, không xa lạ với ý tưởng về một xã hội công bằng, bác ái, tự do Đến đầu thế kỷ XX đã mở ra trang sử mới về tư tưởng dân chủ Trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, có hai vị lãnh tụ lỗi lạc là Phan Bội Châu

và Phan Châu Trinh Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã nhìn thấy được vai trò của người dân trong phong trào chấn hưng đất nước Phan Bội Châu đề cao việc khai dân trí, chấn hưng dân khí, bồi dưỡng nhân tài Trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh vẫn còn thể hiện tư tưởng dao động, mơ hồ về chính trị, thậm chí có lúc đi đến thỏa hiệp với thực dân để thực hiện dân chủ Đây cũng là một trong những hạn chế lớn nhất của các nhà tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX nói chung, trong đó có Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh nói riêng Nhưng xét cho cùng, tư tưởng tiến bộ của hai vị lãnh tụ về yêu nước, thương dân vẫn là gợi ý cho việc xây dựng nền dân chủ cộng hòa ở Việt Nam sau này của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã hiểu được thực chất của nền dân chủ truyền thống Việt Nam, đã khắc phục những yếu kém, hạn chế trong dân chủ truyền thống, chọn lọc tiếp thu tinh hoa dân chủ để vận dụng và phát huy như một động lực trong tiến trình đấu tranh cho dân chủ, vì dân chủ cách mạng ở nước Việt Nam

Hai là, văn hóa phương Đông và phương Tây đối với sự hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh:

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, dù phải tiếp cận những tri thức thông qua nền giáo dục theo kiểu Hán học, Tây học, Hồ Chí Minh cũng đã được trang bị một học vấn thấm đậm của chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam Cũng chính vì vậy, những giá trị tinh tuý của văn hoá nhân loại đã được Hồ Chí Minh dễ dàng chọn lọc và tiếp nhận

Trang 26

Đối với Hồ Chí Minh, Nho giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với Người ngay từ thời niên thiếu Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo, nhưng là Nho giáo của những người yêu nước qua bổn phận trung hiếu của người dân đối với sự mất còn của dân tộc Những giá trị văn hoá phương Đông đặc biệt Nho giáo

mà Hồ Chí Minh tiếp thu đó là phải xem dân là gốc nước

Hồ Chí Minh cũng quan tâm đối với Phật giáo và rất tâm đắc với quan niệm về lòng từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân,… đã hoà vào văn hoá dân tộc và làm sâu sắc thêm tinh thần dân chủ trong văn hoá Việt Nam Những triết lý phật giáo đã được Việt Nam hoá theo hướng tích cực, trở nên ngày càng gắn bó với nhân dân và đất nước đã có ảnh hưởng mạnh m đến nhận thức của Hồ Chí Minh Trên bình diện tư tưởng,

Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo Cốt tuỷ của Phật giáo là từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, cứu khổ cứu nạn Điều mà Hồ Chí Minh quan tâm lớn nhất ở Phật giáo là vấn đề đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Trong thư gửi Hội Phật từ năm 1947, Người viết: “Đức Phật đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác

ma Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ gìn thống nhất và độc lập Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của

Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi ải nô lệ” (Hồ Chí Minh, 2011e, 228)

Trong cuộc hành trình đi cứu nước, không chỉ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ phương Đông mà Người còn tiếp xúc và hiểu sâu sắc về dân chủ tư sản phương Tây Văn minh phương Tây mang lại cho Hồ Chí Minh những giá trị mà ở phương Đông lúc bấy giờ chưa có Đó là những khái niệm:

Tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân quyền, dân chủ, cách mạng xã hội

Trang 27

Trong thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc học được rất nhiều về các mô hình tổ chức đời sống nhà nước và đời sống xã hội theo hình thức chính thể cộng hoà dân chủ Những giá trị tiến bộ của phương Tây đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến

tư tưởng của Hồ Chí Minh Trong tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc Lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy,

có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí

Minh, 2011d, 1) Những giá trị mà theo Hồ Chí Minh là quý nhất như “Độc

lập”, “Tự do” là “quyền tự nhiên”, không có trong các chế độ phong kiến chuyên chế phương Đông, ở các nước thuộc địa

Hoạt động cách mạng bền bỉ, không mệt mỏi đã khiến Hồ Chí Minh từng bước trưởng thành về mặt tư tưởng chính trị, đặc biệt về tư tưởng dân chủ thực

sự Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu hái, vừa gạn lọc để có thể

từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển tư tưởng dân chủ vào thực tiễn đất nước Việt Nam

Ba là, Chủ nghĩa Mác - Lênin - cơ sở lý luận trực tiếp hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ:

Các giá trị dân chủ của văn hoá phương Đông và phương Tây được Hồ Chí Minh tổng hợp, chọn lọc và kế thừa, làm giàu thêm hành trang tư tưởng dân chủ của mình Tuy nhiên, Người đã sớm nhận thấy trong các giá trị đó còn những thiếu sót cần bổ sung và hoàn thiện để có thể tìm thấy một mô hình đúng đắn và phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam Với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúng đắn những giá trị hoàn thiện trong hành trình cứu nước nói chung, cũng như tìm hiểu về dân chủ nói riêng

Có thể khẳng định rằng, cơ sở chủ yếu và quan trọng nhất tạo nên và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 28

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết và trên hết là vì mục tiêu giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, khỏi mọi sự nô dịch, sau đó s xây dựng một xã hội như C.Mác và Ph Ăngghen khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bốc lột người”

(C Mác và Ph.Ăngghen, 2004, 624), “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C.Mác và

Ph.Ăngghen, 2004, 628) là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết Mác - Lênin về

giải phóng xã hội, về giải phóng con người: là điểm xuất phát cho cách đặt vấn đề xây dựng một chế độ xã hội mới, công bằng, không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng, tự do (dân chủ xã hội chủ nghĩa)

Tiếp thu tư tưởng về giải phóng con người, về xây dựng xã hội tương lai không có áp bức bóc lột, Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải trải qua một thời kỳ dài mới có thể thiết lập được ở Việt Nam sau khi cách mạng thành công Bởi vì, theo Mác và Ph.Ăngghen, việc giải phóng con người chỉ

có thể thực hiện được với tiền đề là những lực lượng sản xuất hiện đại đã phát triển Nhưng ở Việt Nam, vào thời điểm năm 1946, Hồ Chí Minh cho rằng những điều kiện ấy chưa có đủ

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa cho cách mạng Việt Nam, bắt nguồn trước hết từ niềm tin vào chủ nghĩa V.I.Lênin, tin vào sự bênh vực và ủng hộ tích cực của Lênin đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Khảo sát Cách mạng Tháng Mười Nga và thực tế được sống trong không khí sôi động của cộng cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga những năm 1934 - 1938, Hồ Chí Minh nhận thức và tâm đắc với quan điểm của V.I.Lênin cho rằng chủ nghĩa xã hội s không duy trì được thắng lợi nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ và chế độ dân chủ là phục vụ cho mọi người dân Thể hiện quan điểm này, Lênin viết: “Chế độ dân chủ vô sản mà một trong những hình thức của nó

là Chính quyền Xô - Viết đã phát triển và mở rộng chế độ dân chủ một cách

Trang 29

chưa hề thấy ở một nơi nào trên thế giới, chính là vì lợi ích của tuyệt đại đa số dân cư, vì lợi ích của những người bị bốc lột và lao động.” (Lênin, 1976, 310);

“Tất cả mọi công dân phải được bình đẳng, nếu không thì không có dân chủ”

(Lênin, 1976, 315)

Hồ Chí Minh đã tiếp thu trong tư tưởng của Lênin đấu tranh cho dân chủ

và đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau Theo dõi quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí Minh đã nhận thức được những đặc điểm của nó: Một là, cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà trước hết là sở hữu nhà nước Hai là, toàn thể nhân dân lao động là chủ thể của nền dân chủ, “sự thức tỉnh và sự tham gia tích cực của họ vào công việc của nhà nước thay cho các quan lại” là điều kiện số một của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tất cả mọi người lao động đều là thành viên của một “xanhdica” nhà nước duy nhất, làm việc ngang nhau hưởng lương ngang nhau, tất cả đều tham gia quản lý kiểm soát việc sản xuất và phân phối lao động sản phẩm Ba là, các cơ quan đại biểu nhân dân (Xôviết) do phổ thông đầu phiếu bầu ra là các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân, vừa lập pháp, vừa hành pháp, tức là thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công chứ không phân lập Nhân dân trực tiếp bầu những đại biểu của mình, trực tiếp kiểm tra và có quyền bãi miễn tư cách đại biểu Bốn là, chế độ tập trung dân chủ kết hợp với quyền tự trị, tự quyết rộng rãi của các địa phương, nhất là là các vùng dân tộc có những điều kiện riêng về kinh tế và lối sống Năm là, lực lượng lãnh đạo là Đảng của giai cấp công nhân và có các tổ chức quần chúng làm chỗ dựa cho nền dân chủ Các tổ chức này cùng với nhà nước hợp thành

hệ thống chính trị Sáu là, đối tượng chuyên chính của nó là tất cả những phần

tử, lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội

Như vậy, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin không chỉ những tư tưởng, quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn tìm thấy hệ phương pháp để thực hiện một nền dân chủ toàn diện (không chỉ về

Trang 30

mặt chính trị), trực tiếp, cụ thể (cả trong quản lý hàng ngày) của tuyệt đại đa

số nhân dân Nó là một nền dân chủ thật sự và ngày càng đầy đủ, nó s là dân chủ “gấp triệu lần” nền dân chủ tư sản Đây là những điều Hồ Chí Minh rất tâm đắc và đã tích cực vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam

1.1.3 Phẩm chất, trí tuệ và nhân cách Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm hoạt động tinh thần của cá nhân do Người sáng tạo trên cơ sở những nhân tố khách quan Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố nhân cách, phẩm chất và năng lực tư duy của chính Hồ Chí Minh

Nói đến Hồ Chí Minh phải nói đến trái tim yêu nước, thương dân của Người Nhà triết học Anh B.Rútxen viết “Cụ Hồ trước hết là một người nhân văn chủ nghĩa Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đặc biệt trong sáng và cao

cả Người là một người vì nghĩa quên mình, suốt đời tận tụy mà không nghĩ

đến danh lợi” (Nguyễn Thanh Bình, 2001, 15) Từ trái tim yêu nước thương

dân đã giúp Bác vượt qua muôn vàn khó khăn, làm đủ mọi nghề để kiếm sống, đi khắp thế giới để học tập và tìm con đường cứu nước Tình thương yêu đó, đã giúp Bác sớm đồng cảm, hòa nhập với đời sống và phong trào đấu tranh của những người lao động nghèo khổ các màu da, các dân tộc và thôi thúc Bác đấu tranh tìm ra con đường giải phóng dân tộc không biết mệt mỏi, không lúc nào nghỉ ngơi Tình cảm yêu nước, thương dân của Bác được nâng lên thành tư tưởng nhân văn cao cả Hồ Chí Minh chưa hề viết hay có một bài riêng có hệ thống nào về chủ nghĩa nhân văn Chủ nghĩa nhân văn của Người toát ra từ cuộc đời liên tục đấu tranh không biết mệt mỏi, không lúc nào nghỉ,

đã gặt hái nhiều thành quả và gửi lại nhiều kỳ vọng ở đời sau Hành động trước sau như một Giá trị nhân văn cao cả ở Người chính là ở chỗ đã chỉ ra nguồn gốc sự cùng khổ của con người, có ngay trên thế gian này, ngay trong cuộc đời này, trước hết đó là chủ nghĩa thực dân Từ đó, Người chỉ ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và con người

Trang 31

Giáo sư Trần Văn Giàu từng khẳng định “Đạo đức và nhân cách, đặc điểm số một trong tư tưởng Hồ Chí Minh” Nói đến Hồ Chí Minh, phải nói đến đạo đức trong sáng của Người Người coi đạo đức là cái gốc con người Thiếu đạo đức là không thể thành người Cũng như cây phải có gốc; không có gốc thì cây héo; sông phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn Con người cần có cả đức và tài, nếu thiếu tài thì làm việc gì cũng khó nhưng nếu thiếu đức thì vô dụng, thậm chí có hại Nói về đạo đức, Người thường gắn với việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân Đã có lần Người đặt vấn đề quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng

Vì đạo đức của Người là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Trong đạo đức cách mạng, Người đề cao phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính Người cho rằng đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mọi người, là điều tự mình phải có, là cái đức tự nhiên vốn có của con người Theo Người, đó là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầu óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc đánh giá, nhận xét các sự vật xung quanh Phẩm chất và năng lực đó còn được biểu hiện ở bản lĩnh kiên định, luôn tin vào nhân dân, khiêm tốn, ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã khám phá ra lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về cách mạng Việt Nam và đưa ra các quyết sách đúng đắn, sáng tạo để đưa cách mạng đến thắng lợi

Nói đến trí tuệ của Hồ Chí Minh nổi bật hơn hết là phương pháp hành động “dĩ bất biến ứng vạn biến” Điều dĩ bất biến quý giá của Bác là niềm tin mãnh liệt vào dân tộc, đất nước và nhân dân Trong bất kỳ hoàn cảnh nào và ở đâu, tấm lòng của Bác luôn hướng về dân, về nước Điều ứng vạn biến của

Trang 32

Bác là đường lối đúng đắn, sáng tạo, kịp thời đế phát huy sức mạnh toàn dân tộc, vượt qua những khó khăn, thử thách Đồng thời đó chính là tấm gương tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên để lãnh đạo, giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng Khi tìm hiểu nguyên tắc này, ta thấy được trí tuệ của Người bởi l nguyên tắc là sự tổng hòa nhuần nhuyễn các phương pháp luận,

đó là phép biện chứng xem xét mọi việc theo quan điểm: lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển Nguyên tắc này đã giúp Người chủ động tận dụng mọi thời

cơ, chọn được nhiệm vụ trước mắt trong mỗi thời điểm lịch sử đạt được những thành công vang dội

Trong những năm tháng hoạt động trong nước và bôn ba khắp thế giới để học tập, nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã không ngừng quan sát, nhận xét thực tiễn, làm phong phú thêm sự hiểu biết của mình, đồng thời hình thành những

cơ sở quan trọng để tạo dựng nên những thành công trong hoạt động lý luận của Người về sau

Có thể thấy các bậc tiền bối cũng như những người cùng thời Hồ Chí Minh tuy đã có những quan sát nhưng họ chưa nhận thấy hoặc nhận thức chưa đúng về sự thay đổi của dân tộc và thời đại Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh khám phá các quy luật vận động xã hội, đời sống văn hóa

và khái quát thành lý luận, đem lý luận đó vào hoạt động thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó Nhờ vào trí tuệ của mình, khả năng nhận thức chân lý mà lý luận Hồ Chí Minh mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học

Từ những phân tích trên, có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan và chủ quan, của truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Từ thực tiễn dân tộc Việt Nam và thời đại, Hồ Chí Minh đã tổng kết một cách sắc sảo, tinh tế với phương pháp khoa học biện chứng làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có những đặc điểm riêng

biệt và trở thành tư tưởng Việt Nam hiện đại

Trang 33

1.2 CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

Căn cứ vào bối cảnh lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, có thể chia quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ theo những thời kỳ căn bản như sau:

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1890 đến năm 1920

Trong cuộc hành trình sang các nước phương Tây để tìm con đường mới nhằm đưa dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với các hình thức khác nhau của nền dân chủ phương Tây Người tới nước Mỹ, nơi có bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng mà những giá trị về dân chủ như sự tự do, bình đẳng của con người được trịnh trọng tuyên bố Người cũng đã tìm hiểu thực tế đời sống của nhân dân Mỹ và hiểu rõ thực chất của nền dân chủ và tự do kiểu Mỹ Người cũng tới quê hương phát nguyên của cách mạng tư sản và tham gia vào các sinh hoạt của giai cấp công nhân Anh, tìm hiểu một nền dân chủ nữa - chế độ quân chủ lập hiến Tại quê hương của những giá trị Dân chủ - Tự do - Bình đẳng - Bác ái và của cách mạng tư sản Pháp, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu thực chất chế độ dân chủ của nền cộng hòa Pháp và những vấn đề hiện thực của xã hội nấp đằng sau bản Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp

Khảo sát thực tế ở các nước có các cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới lúc đó, nghiên cứu và tham gia trực tiếp vào đời sống và các sinh hoạt chính trị trong xã hội dân chủ tư sản, Hồ Chí Minh đã đi tới những nhận xét điển hình về sự “không đến nơi” của các cuộc cách mạng tư sản, về “sự giả dối” của các tuyên ngôn về nhân quyền tư sản, và nêu rõ thực chất của nền dân chủ tư sản

“dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến Khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến áp bức dân”, “tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong nó là tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”

Trang 34

Thực tế đó đã làm cho Hồ Chí Minh từ chối thực chất của các lý thuyết dân chủ tư sản với các mô hình của nó ngay khi trên thế giới chưa xuất hiện một hình mẫu xã hội mới nào khác Sau sự kiện yêu sách 8 điểm của Người

gửi hội nghị Vécxây đòi những điều đơn giản nhất về dân chủ bị chính những

kẻ nhân danh dân chủ từ chối, những nhận xét của Hồ Chí Minh đối với nền dân chủ tư sản càng rõ rệt hơn Có thể xem đây là thời điểm đánh dấu sự kiện

Hồ Chí Minh đoạn tuyệt với nền dân chủ tư sản và học thuyết của nó

Từ việc đứng trong hàng ngũ đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh m của Cách mạng tháng Mười, Hồ Chí Minh đã tiến tới việc tham gia vào Đảng xã hội Pháp và các hoạt động chính trị của giai cấp công nhân Pháp ủng hộ nước Nga Xôviết Từ thực tiễn của gần 10 năm khảo sát, so sánh, phê phán các học thuyết dân chủ tư sản khác nhau dựa trên thực tiễn cuộc Cách mạng tháng Mười, cuộc cách mạng đã trao quyền cho đa số nhân dân lao động, sau khi đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin,

Hồ Chí Minh đã quyết định đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, người cộng sản đầu tiên của Việt Nam

Đây là khoảng thời gian Hồ Chí Minh tìm tòi, lựa chọn một con đường cho cách mạng Việt Nam đồng thời cũng là sự tìm tòi, so sánh và lựa chọn một mẫu hình cho đất nước

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1920 đến 1945

Đây là giai đoạn hình thành con đường cách mạng Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin, con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do giai cấp công nhân lãnh đạo tiến lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền

Từ dân tộc ra đi và nâng tầm nhận thức của mình lên tầm quốc tế trong việc giải quyết những đòi hỏi của chính dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản quốc tế đấu tranh cho giai cấp công nhân và dân tộc

Trang 35

trên toàn thế giới nhất là các dân tộc thuộc địa Điều này thể hiện ở chỗ, trước khi xây dựng cho giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam một chính đảng, Người đã bắt tay ngay vào việc xây dựng một tổ chức quốc tế đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa - Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Người còn là sáng lập viên của báo Le Paria với tuyên ngôn “giải phóng con người”, “giải phóng những con người lao động khỏi những thế lực thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái Những hoạt động của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực báo chí cũng như trong các tổ chức chính trị, xã hội khác nhau đều nhằm tập trung

tố cáo sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân nhân danh lý tưởng dân chủ và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam Xuất hiện các từ, cụm từ như dân chủ, dân quyền, nhân quyền, quyền con người, quyền công dân… Trong giai đoạn này Hồ Chí Minh lại cho công bố bản Yêu sách 8 điểm trên báo chí

Cuối năm 1923, Hồ Chí Minh đã tới Nga hoạt động trong Quốc Tế Cộng Sản và trực tiếp quan sát việc xây dựng nền dân chủ mới - dân chủ vô sản Nhà nước Xôviết, nhà nước của đa số người dân lao động là hiện thực của dân chủ mới trong chính trị mà Hồ Chí Minh đã ghi nhận trong tác phẩm Đường cách mệnh, là một mẫu hình của chế độ dân chủ trong tương lai cho đất nước Việt Nam

Vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn nước ta, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và phong trào công nhân - dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và Điều

lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua trong Hội nghị thành lập Đảng (3/2/1930) đã phản ánh đúng đắn việc giải quyết những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam Đó là chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản và việc thiết lập một chính quyền công nông binh nhằm trao quyền lực cho đa số nhân dân

Trang 36

Nội dung của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được thể hiện đầy

đủ, trong đó những nhiệm vụ dân chủ được gắn chặt với nhiệm vụ dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc để giải quyết vấn đề dân chủ nhằm hướng cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đến mục tiêu giải phóng xã hội và giải phóng con người của xã hội cộng sản Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh chính là sự kết hợp đúng đắn và giải quyết thỏa đáng của hai nhiệm vụ đó Trên lá cờ giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh giương cao đã ghi rõ phải thức hiện nhiệm vụ dân tộc một cách đúng đắn để vận động toàn thể nhân dân tham gia vào cuộc cách mạng thực hiện quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và vận mệnh của chính mình

Từ nước ngoài, Hồ Chí Minh chỉ đạo Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó là Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước Những chỉ dẫn của Người (nhất là từ năm 1936 đến 1939) về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất đã khẳng định những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và dân chủ trong cách mạng Việt Nam

Tháng 2 năm 1941, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và cùng Đảng ta quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà thực chất là chủ trương giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn

đề dân chủ, dân tộc và giai cấp trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta Điều đó được thể hiện trong chương trình của Mặt trận Việt Minh Chính vào thời điểm này, thiết kế của Hồ Chí Minh về một nền dân chủ ở nước ta đã được hoàn thành: nước Việt Nam mới ra đời s là một nước đi theo chế độ dân chủ cộng hòa Những chính sách của Việt Minh đã thể hiện nội dung dân tộc và dân chủ thực sự với hai mục tiêu theo thứ tự rõ ràng: Một là làm cho nước Việt Nam độc lập, hai là làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do

Trang 37

Như vậy, tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh đã được thực hiện trong thực tiễn của cách mạng nước ta từ ngay trong quá trình vận động và tiến hành cách mạng

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1969

Đây là thời kỳ tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh được đưa vào thực tiễn xây dựng chế độ dân chủ mới ở nước ta

Cách mạng Tháng Tám thành công, với việc tuyên bố trước thế giới sự

ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh là người sáng lập

và xây dựng chế độ dân chủ mới ở Việt Nam Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã thể hiện những giá trị căn bản nhất của nhân loại về dân chủ khi

Hồ Chí Minh trích dẫn từ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của cách mạng Pháp nhưng không đóng khung trong nhân quyền và dân quyền, xét về quyền cá nhân và quyền con người, mà còn phát triển thành quyền của mọi dân tộc: Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu

cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011d, 1)

Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong lĩnh vực chính trị được vận dụng ngay để xây dựng nền dân chủ, thiết lập nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á thông qua cuộc Tổng tuyển cử tự do Đây là biểu hiện đầu tiên của Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quyền làm chủ của toàn thể nhân dân ta đối với vận mệnh của đất nước và của mỗi người dân Việt Nam với chính vận mệnh của mình sau khi giành được độc lập cho Tổ quốc

Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng,

tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh được áp dụng một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, xây dựng hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước Những quan điểm của Hồ

Trang 38

Chí Minh về dân chủ chính trị được biểu hiện tập trung nhất trong việc xây dựng Hiến Pháp năm 1959 và xây dựng nhà nước chủ nghĩa xã hội của dân, vì dân Khẩu hiệu chiến lược: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.” (Hồ Chí

Minh, 2011p, 624) được đề ra ngay sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và sau

này lại tiếp tục được ghi nhận trong Di chúc của Hồ Chí Minh, mãi mãi là mục tiêu phấn đấu của toàn dân tộc

Như vậy, tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện tư tưởng cách mạng của Người, đã đem lại thành công cho dân tộc

ta trong thế kỷ XX và tiếp tục tỏa sáng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

1.3 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

1.3.1 Khái niệm dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Là một nhà mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đã nêu lên khái niệm dân chủ trên cơ sở kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ của nhân loại Thuật ngữ “Dân chủ” ra đời trong xã hội Hy Lạp cổ đại Nó thực sự có ý nghĩa từ sau cải cách của Xôlông về Nhà nước chủ nô Aten và chế độ dân chủ

đó được tiếp tục phát triển một cách hoàn chỉnh sau cuộc cải cách của Clixten Dân chủ được hình thành bởi hai từ Démos có nghĩa là nhân dân và Kratos có nghĩa là quyền lực Như vậy, theo tiếng La tinh có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, hiểu rộng ra là nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong tất cả các mặt của đời sống xã hội

Ngay từ thời cổ đại, những triết gia nổi tiếng của Hy Lạp như Đêmôcrít (460 - 370), Platôn (427 - 347 TCN), Arixtốt (384 - 322 TCN) đã có những quan điểm khác nhau về dân chủ và thực hiện dân chủ Đêmôcrít ủng hộ nhiệt thành nền dân chủ, xem nó là chế độ chính trị ưu việt trong thế giới cổ đại:

“Cần phải ưa thích cái nghèo trong một nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi

Trang 39

là cuộc sống hạnh phúc trong chế độ chuyên chế, tựa như tự do tốt hơn so với

nô lệ” (Nguyễn Hữu Vui, 1998, 176)

Sau hơn hai mươi thế kỷ, tư tưởng dân chủ được phục hồi và hoàn thiện bởi các tư tưởng lớn thời cận đại Tây Âu, từ Lốccơ (1632 - 1704) đến các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII mà điển hình là Môngtécxơkiơ (1689 - 1755) và Rúttxô (1712 - 1778) - những nhà lý luận tiên phong của dân chủ tư sản

Môngtécxơkiơ đề nghị các quốc gia không tiến hành chiến tranh mà nên

sử dụng thành tựu khoa học vào sự phát triển xã hội “Nhà nước phải có nghĩa

vụ bảo đảm cho mọi thành viên phương tiện sinh tồn, thức ăn, quần áo - những thứ khác có lợi cho sức khỏe” (Nguyễn Hữu Vui, 1998, 353) Các dân tộc hãy hướng tới hòa bình và công lý “Luật pháp quốc tế, dĩ nhiên cần dựa trên nguyên tắc, theo đó các dân tộc khác nhau cần phải vì sự nghiệp hòa bình làm điều thiện cho nhau tới mức tối đa…trong khi không từ bỏ những quyền lợi chính đáng của mình” (Nguyễn Hữu Vui, 1998, 353) Những quan niệm trên thể hiện ý chí và khát vọng xây dựng một xã hội mới, đem lại tự do cho mọi người

Kế thừa tư tưởng dân chủ của nhân loại, Hồ Chí Minh đã nêu lên khái niệm dân chủ hết sức ngắn gọn và sâu sắc, lột tả được bản chất của vấn đề Theo Người, dân chủ là “dân làm chủ” và “dân là chủ” Đây là một định nghĩa dân chủ vừa cô đọng, súc tích, khoa học, hiện đại vừa kế thừa phát triển hiểu biết của nhân loại về dân chủ ở thời kì đương đại Khi khẳng định dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vị thế và hành động của dân “Là chủ” biểu hiện vị thế xã hội và tính tích cực chính trị và địa

vị pháp lý của người dân “Làm chủ” là hành động của dân, biểu hiện năng lực thực hành dân chủ, thước đo về trình độ phát triển ý thức dân chủ của nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực, thực hiện sự ủy nhiệm chân chính của mình vào thế hệ chính trị và thể chế Nhà nước Trong quan niệm dân chủ của Hồ Chí Minh, tính nhân văn và tính pháp lý gắn chặt với nhau Đó là hai

Trang 40

mặt của cùng một vấn đề Coi trọng dân chủ thực chất là tôn trọng con người, coi con người là giá trị cao nhất Đó là con người có quyền sống, quyền tự do

- những quyền tự nhiên và thiêng liêng không thể bị xâm phạm Giải phóng con người ra khỏi tình trạng bị áp bức, bóc lột và nô dịch là đòi hỏi bức xúc, tất yếu, làm cho con người thực sự được sống xứng đáng với cuộc sống con người chứ không phải nô lệ

Người giải thích “Nước ta là nhà nước dân chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân làm chủ”, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ” Người nhấn mạnh “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” Quan điểm Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung và nổi bật trong phần đầu của tác phẩm Dân vận (1949): “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng đều là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành

và lực lượng đều ở nơi dân” Qua đó, ta thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh dân chủ không tách rời quan niệm dân là gốc, dân là chủ, dân làm chủ Nói đến dân chủ, Người đặc biệt nhấn mạnh đến lực lượng xã hội đông đảo, đóng vai trò chủ thể là nhân dân quần chúng, đồng bào chứ không phải chỉ là cá nhân từng người Chữ “dân” trong dân chủ của Hồ Chí Minh là khái niệm mang hàm nghĩa rất rộng và sâu sắc Đó chính là con người, “chữ người nghĩa hẹp

là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người” Với quan niệm ấy, chữ “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh dùng để chỉ đông đảo những người bị áp bức, bóc lột, những người lao động trong những ngành nghề khác nhau

Trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953), Hồ Chí Minh xác định

“Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước” Trong tiểu tư sản bao gồm “phần tử tri thức, các nhà

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mác và Ph. Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Dân chủ, dân chủ nhân dân, dân chủ - xã hội và dân chủ xã hội chủ nghĩa (1995), Tạp chí Cộng sản, Số 2 ( 484), tr 60 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ, dân chủ nhân dân, dân chủ - xã hội và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 1995
4. Đàm Anh Tuấn (2012), Xây dựng và phát triển dân chủ thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển dân chủ thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đàm Anh Tuấn
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ
Năm: 2012
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1991
14. Đảng bộ quận Phú Nhuận, Lịch sử Đảng bộ quận Phú Nhuận (1975 - 2015), Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ quận Phú Nhuận (1975 - 2015)
Tác giả: Đảng bộ quận Phú Nhuận
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
15. Đặng Thị Nhiệt Thu (2005), Dân chủ hóa và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí dân vận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ hóa và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Đặng Thị Nhiệt Thu
Nhà XB: Tạp chí dân vận
Năm: 2005
16. Đoàn Nam Hương (2007), Quan điểm Mác - xít về dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong điều kiện hiện nay tại Tây Ninh, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm Mác - xít về dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong điều kiện hiện nay tại Tây Ninh
Tác giả: Đoàn Nam Hương
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ
Năm: 2007
17. Đỗ Trung Hiếu (2002), Một số khía cạnh khái niệm dân chủ, Tạp chí thông tin khoa học xã hội, số 231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh khái niệm dân chủ
Tác giả: Đỗ Trung Hiếu
Nhà XB: Tạp chí thông tin khoa học xã hội
Năm: 2002
18. Đỗ Trung Hiếu (2004), Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Trung Hiếu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Đinh Ngọc Thạch (2004), Mấy suy nghĩ về dân chủ và đổi mới, Tạp chí cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về dân chủ và đổi mới
Tác giả: Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Tạp chí cộng sản
Năm: 2004
20. Hà Minh Đức, Đinh Thái Hương (1999), Thơ văn Hồ Chí Minh chọn lọc dùng trong nhà trường, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Hồ Chí Minh chọn lọc dùng trong nhà trường
Tác giả: Hà Minh Đức, Đinh Thái Hương
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
21. Hà Thúc Minh (1999), Lịch sử Triết học Trung Quốc, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học Trung Quốc
Tác giả: Hà Thúc Minh
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w