1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện củ chi, thành phố hồ chí minh hiện nay

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Dương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Anh Quốc
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC (13)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC (13)
      • 1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (13)
      • 1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (17)
    • 1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC (32)
      • 1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khái niệm, vị trí, vai trò của đạo đức (32)
      • 1.2.2. Nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo quan điểm của Hồ Chí Minh (44)
    • 2.1. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN CỦ CHI HIỆN NAY (51)
      • 2.1.1. Khái quát vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (51)
      • 2.1.2. Thành tựu trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (63)
      • 2.1.3. Những hạn chế trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (75)
    • 2.2. GIẢI PHÁP CƠ BẢN VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC (82)
      • 2.2.2. Từ những phẩm chất đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng nội dung, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức phù hợp với học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi hiện nay (95)
      • 2.2.3. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, (99)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (106)

Nội dung

Do vậy, nghiên cứu, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, qua đó, vận dụng để giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, TP.HCM hiện nay, là một vấn đề có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021

TÁC GIẢ

Nguyễn Văn Dương

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm qua các năm học 57 Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học lực và đỗ tốt nghiệp các trường THPT ở huyện Củ Chi 60

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 6

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 61.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về đạo đức 6 1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 10

1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 251.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về khái niệm, vị trí, vai trò của đạo đức 25 1.2.2 Nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo quan điểm của Hồ Chí Minh 37

Kết luận chương 143

Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN

CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 44

2.1 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN

CỦ CHI HIỆN NAY 442.1.1 Khái quát vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 44 2.1.2 Thành tựu trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 56 2.1.3 Những hạn chế trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 68

2.2 GIẢI PHÁP CƠ BẢN VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC

Trang 7

2.2.1 Giải pháp nâng cao nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo

dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi hiện nay 75

2.2.2 Từ những phẩm chất đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng nội dung, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức phù hợp với học sinh trung học phổ thông ở huyện Củ Chi hiện nay 88

2.2.3 Đẩy mạnh phong trào thi đua “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong mọi tầng lớp nhân dân, bám sát những đặc trưng của huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 92

Kết luận chương 2 95

KẾT LUẬN CHUNG 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là sự kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc, kết thừa từ tinh hoa giá trị đạo đức của nhân loại, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể ở Việt Nam, hướng tới những giá trị mang tầm của thời đại Hồ Chí Minh không chỉ đặt nền móng xây dựng những phẩm chất đạo đức mới mà còn là người thực hành những giá trị đạo đức đó Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc xây dựng nền đạo đức mới và đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

Thực tế trong đời sống xã hội đang có những biểu hiện, hành vi coi thường các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đua đòi, ăn theo những nét văn hóa không phù hợp với thuần phong mĩ tục của con người Việt Nam Chúng ta đang phải đấu tranh cho sự tiến bộ, vì sự tiến bộ, tuy nhiên dù trong hoàn cảnh nào cũng cần phải phân biệt rõ giữa cái tiến bộ với cái mới nhưng không lành mạnh, không phù hợp với nét văn hóa của người Việt, để từ đó chúng ta biết tiếp thu cái hay cái đẹp, cái tiến bộ của thế giới nhưng vẫn giữ nguyên được nét văn hóa của dân tộc Giới trẻ hiện nay rất nhanh nhạy trong việc tiếp thu cái mới, tuy nhiên cần phải có định hướng phù hợp để việc tiếp thu cái mới đó của giới trẻ không làm mất đi bản sắc truyền thống tốt đẹp của Việt Nam chúng ta

Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, là vùng “Đất thép thành đồng”

luôn kiên định trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng Đây là nơi

khắc ghi đậm nét chiến công của đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng, thể hiện truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, quyết giành lại độc lập, tự do Cống hiến và đóng góp của Nhân dân Củ Chi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hơn 17.000 liệt sĩ, thương

Trang 9

binh, bệnh binh Đảng, Nhà nước đã trân trọng tuyên dương, phong tặng, truy tặng 33 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 2.064 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trên địa bàn huyện Càng tự hào, trân trọng truyền thống và công lao của các bậc tiền nhân, của các Anh hùng, liệt sĩ càng thấy được trách nhiệm to lớn trong việc giáo dục đạo đức, truyền thống cho các thế hệ trẻ

tiếp bước và noi theo Do vậy, nghiên cứu, làm rõ nội dung cơ bản của tư

tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, qua đó, vận dụng để giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, TP.HCM hiện nay, là một vấn đề có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn Chính lẽ đó là động lực cho tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Giáo dục đạo đức không phải là vấn đề mới trên thế giới cũng như ở Việt Nam Vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng luôn được luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Cụ thể:

Các công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức như: Bùi Đình Phong (2008) Văn hóa, đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh Hà Nội: Công an nhân dân; Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Văn Sáu (2008) Giá trị cơ bản về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Hà Nội: Chính trị quốc gia; Vũ Khiêu (Chủ biên) 1993 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc và nhân loại Hà Nội: Khoa học xã hội

Các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay như: Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (2013) Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Hà Nội: Chính trị quốc gia; Song Thành (2005) Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức, một yêu cầu cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tạp chí Cộng sản, số 11; Trần Hậu Kiêm, Đoàn Đức

Trang 10

Hiếu (2004) Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên Hà Nội: Chính trị quốc gia; Trần Sĩ Phán (2011) Vấn đề định hướng giá trị đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay, đề tài khoa học cấp cơ sở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một số trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Huỳnh Văn Sơn

Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh như: Nguyễn Đức Hòa (2008) Hồ Chí Minh với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường phổ thông Tạp chí triết học, số 5; Phạm Tấn Xuân Tước, Huỳnh Thị Gấm (2008) Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Lý luận chính trị; Đề tài luận văn thạc sỹ (2011): Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Lan; Đề tài luận văn thạc sỹ (2006): Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay của tác giả Trịnh Thị Bạch Tuyết

Các tác giả đã nói lên được tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng và thế hệ trẻ nói chung, tuy nhiên vấn đề giáo dục đạo đức

mà tác giả đưa ra còn mang tính chung chung, và chưa đưa ra giải pháp cụ thể trong giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với tính đặc thù của địa phương và lứa tuổi

Thông qua quá trình đọc tài liệu, cập nhật nhiều kênh thông tin khác nhau về việc giáo dục đạo đức của một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, cho thấy công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề cấp thiết được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ việc nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức để có cái nhìn sâu hơn, toàn diện hơn qua đó vận

Trang 11

dụng vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích: Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức từ đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

Thứ hai, khái quát thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở huyện

Củ Chi hiện nay, những ưu điểm và tồn tại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn mới

- Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, quan sát, phương pháp phỏng vấn Luận văn dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử

và logic, thống kê, so sánh để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực Vì vậy, việc nghiên cứu

Trang 12

những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là việc làm

có ý nghĩa khoa học sâu sắc

Ý nghĩa thực tiễn: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao; song, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại về mặt đạo đức xã hội, trong đó có sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận không nhỏ học sinh – sinh viên, cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu để giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng đạo đức của Chủ tịch

Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa thực tiễn thiết thực

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết và 9 tiểu tiết

Trang 13

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình yêu nước Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ là một nhà nho giàu lòng yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, cần cù, ý chí vượt qua gian khổ, khó khăn để đạt được mục đích, mục tiêu của mình Chủ trương lấy dân làm cơ sở cho mọi cải tiến chính trị - xã hội của thân phụ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách con người Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo nhưng là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trước hết từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương, đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, cần cù, anh dũng, ngời sáng từ dựng nước và giữ nước, tình đoàn kết, nhân ái của con người Việt Nam những truyền thống tốt đẹp đó đã được hình thành, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử thăng trầm của dân tộc “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch

sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” (Trần Văn Giàu, 1980, tr.100) Và chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, giữ vị trí tiên phong,

Trang 14

nòng cốt cho mọi hành động Yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống nội sinh, đạo lý nhân văn, niềm tự hào và là nhân tố có giá trị tinh thần to lớn của dân tộc Việt Nam

Việt Nam chúng ta có lịch sử, văn hóa lâu đời với truyền thống chống giặc ngoại xâm, cho đến thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một nước lạc hậu, kém phát triển nhất nhì khu vực Đông Nam Á Khoảng giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn ở Việt Nam đã bước vào thời kỳ suy vong, nắm bắt được tình hình đó, đế quốc Pháp tiến hành các bước xâm lược, biến Việt Nam thành một nước phong kiến nửa thuộc địa Sau khi hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác, vơ vét của cải, mọi nguồn tài nguyên trên quy mô lớn ở lãnh thổ Việt Nam cũng như Lào, Campuchia Từ đây mọi mặt đời sống, kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam thay đổi gần như hoàn toàn, tất cả đều chịu sự sai khiến của thực dân Pháp Và giai cấp công nhân Việt Nam cũng ra đời từ đây cũng với sự ra đời của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, xã hội Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới Thời kỳ của sự áp bức, bóc lội của ngoại quốc và địa chủ phong kiến trong nước Theo đó, bên cạnh mâu thuẫn trong xã hội phong kiến giữa nông dân và địa chủ đã có từ lâu, sự xuất hiện của các giai cấp xã hội mới làm nảy sinh mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam còn non trẻ với giai cấp tư sản; mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân đế quốc Pháp Trước những thay đổi mạnh mẽ về xã hội, phong trào cách mạng Việt Nam cũng có những bước phát triển mới, trong đó có sự xuất hiện của phong trào yêu nước kiểu mới và phong trào công nhân ở Việt Nam đứng lên chống bọn thực dân Pháp và địa chủ, tay sai trong nước

Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của các cuộc vận động đổi mới ở Trung Quốc của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Các phong trào nổi bật ở một số nước như: Duy Tân của Nhật Bản, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, và phong trào yêu nước ở Việt Nam đã chuyển biến mạnh mẽ ảnh

Trang 15

hưởng đến các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các học giả yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo Có thể kể đến một

số phong trào như Đông Du, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh Trường Đông Kinh Thiên Thư bị đóng cửa (12/1907), phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ bị đàn áp (1908); vụ đầu độc Hà Thành (6-1908) Phong trào Đông Du bị tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông bị trục xuất khỏi Nhật (2/2009) Phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ bị đàn áp, các thủ lĩnh như Trần Quý Cáp, Nguyễn Hàng Chi bị chém… Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn bị đày ra Côn Đảo Dù thất bại, nhưng các phong trào yêu nước đó đã không ngừng giữ vững ngọn lửa cứu nước luôn cháy trong lòng nhân dân

Có thể thấy cùng với các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân

ta, sự ra đời và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam thêm nhân tố mới Các phong trào kháng chiến nhanh chóng bị chìm trong biển máu, vì không có con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đặt ra Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, mỗi người con Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ là tìm đường cứu nước, cứu dân khỏi sự đàn áp, ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan đó Nguyễn Tất Thành một thanh niên trẻ tuổi lúc bấy giờ đang nung nấu khát vọng ấy

Bên cạnh đó truyền thống nhân nghĩa, tương thân tương ái, truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất đã được hình thành cùng với sự hình thành của lịch sử dân tộc, từ hoàn cảnh và yêu cầu đấu tranh quyết liệt chống phong kiến, tay sai và thực dân xâm lược Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam tuy đã có sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp xã hội nhưng truyền thống tốt đẹp ấy vẫn bền vững, không phai nhạt và ngày một mãnh liệt hơn Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy sức mạnh nội sinh của truyền thống dân tộc đó

Trang 16

là nhân nghĩa, nhân văn, đoàn kết, tương thân, tương ái sâu sắc Từ đó tạo động lực, sức mạnh tinh thần không hề nhỏ để Hồ Chí Minh bước qua những chông gai, thử thách trên con đường tìm đường cứu nước của Người

Chính sức mạnh truyền thống yêu nước ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, tìm sự độc lập, tự do cho nhân dân Lòng yêu nước là động lực mãnh liệt nhất thúc đẩy mọi suy nghĩ và hành động trong suốt quá trình hoạt động cách mạng ở các nước cũng như ở Việt Nam hết sức gian khổ, khó khăn, thậm chí có lúc an nguy đến tính mạng của chính mình Với hoài bão lớn, lý tưởng lớn và lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đặt dân tộc lên trên hết, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Người

đã đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc để tự nhắc nhở bản thân, đồng thời làm động lực cho cả dân tộc sống chiến đống vì Tổ quốc vì sự tự do của nhân dân Năm 1969, cả nước khóc, xúc động khi Bác ra đi mãi mãi: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước Việt Nam ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước Việt Nam ta Người là tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là ý chí kiên cườn,g bất khuất của nhân dân Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử ” (Diễn văn truy điệu Bác, 1969)

Xuất phát từ thực tiễn và truyền thống yêu nước của Việt Nam đầu thế

kỷ XX yêu cầu cần phải đổi mới trong tư tưởng và hành động là tiền đề thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và tất nhiên chính điều đó đã làm cho các tầng lớp nhân dân yêu nước đến với hệ tư tưởng Mác - Lê-nin Bác viết: Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, không phải chủ nghĩa cộng sản

đã làm cho tôi tin theo chủ nghĩa Lê-nin, theo Quốc tế thứ ba

Mặt khác vào đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự

do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc từ đó trật tự thế giới chuyển sang giai đoạn mới Các nước đế quốc mạnh bắt đầu thể hiện quyền lực của mình bằng cách vừa tranh giành, vừa xâu xé các nước thuộc địa vừa liên kết

Trang 17

với nhau để nô dịch, đàn áp các dân tộc, quốc gia yếu thế hơn mình, biến các dân tộc này thành thuộc địa của chúng

Trước tình hình đó việc đấu tranh, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không còn là việc riêng của quốc gia riêng lẻ nào mà nó đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới, của giai cấp vô sản quốc tế cùng nhau lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản ở

đế quốc chủ nghĩa Chính điều kiện về kinh tế - xã hội lúc bấy giờ là tiền đề rất quan trọng cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nói riêng

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

- Tư tưởng phương Đông

Như chúng ta đã biết Nho giáo có những yếu tố duy tâm và lạc hậu không thúc đẩy cho sự phát triển, tuy vậy cũng không thể phủ nhận những yếu tố tích cực của nó có ảnh hưởng tốt đến đời sống xã hội cũng như quá trình hình thành và phát triển của lịch sử phương Đông Đó là triết lý hành động, hành đạo, giúp đời; giúp người; lý tưởng về một xã hội bình đẳng; Triết lý nhân sinh: tu thân, dưỡng tính, nói điều hay, làm việc tốt góp phần phát huy văn hóa, tín ngưỡng, phát huy tinh thần hiếu học, trọng người

Hồ Chí Minh đã vận dụng Nho giáo một cách linh hoạt, sáng tạo, lựa chọn những nhân tố tích cực, phù hợp với thực tiễn để phục vụ cho nhiệm

vụ cách mạng Như Lênin đã từng nói: Chỉ những người cách mạng chân chính mới có thể tiếp thu, gặt hái được những kiến thức quý báu từ thế hệ trước để lại

Hồ Chí Minh khai thác, vận dụng Nho giáo chủ yếu được thể hiện trong

Tứ thư và Ngũ kinh; Gắn liền với Nho giáo (Tiên Tần) như Khổng Tử, Tăng

Tử, Mạnh Tử; Trong Nho giáo chứa đựng những tinh hoa có giá trị với đời sống con người phương Đông, ở Việt Nam Nho giáo gắn với chủ nghĩa yêu nước và cùng gắn bó với cuộc sống của người dân qua thăng trầm của lịch sử

Trang 18

Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo nhiều nội dung có giá trị cốt lõi và sức sống của Nho giáo lúc bấy giờ, đồng thời bổ sung, phát triển những nội dung mới phù hợp với thực tiễn và với con người Việt Nam Phạm trù của Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng như Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Trung, Hiếu, Và khi sử dụng vào nước ta thì rất linh hoạt, gần gũi, chẳng hạn phạm trù Trung và Hiếu Hồ Chí Minh viết:

“Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.170)

Như ta thấy ở Hồ Chí Minh thì chữ Trung mang một nội hàm mới tức

là Trung thành với Tổ quốc, với cách mạng chứ không phải trung với vua tôi như trước đây, còn chữ Hiếu được mở rộng trên cơ sở đạo đức cá nhân, đạo làm người, Hiếu với nhân dân mà cái gốc nó là hiếu với cha mẹ, đấng sinh thành, nuôi dưỡng

Những nội dung trên của Nho giáo được Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc và vận dụng sáng tạo và nhiều nội dung được Hồ Chí Minh khẳng định

đó là những phẩm chất rất cần thiết phải có ở người chiến sỹ cách mạng - những người cộng sản chân chính Điều này cho thấy rằng trong quan niệm của Hồ Chí Minh Nho giáo có nhiều nội dung có giá trị rất lớn với thời đại cũng như trong việc tu dưỡng rèn luyện nhân cách con người đặc biệt là người chiến sỹ cách mạng

Mặt khác Hồ Chí Minh đã vận dụng khéo léo một số nguyên tắc tư duy của Nho giáo như tư duy biện chứng của Khổng Tử, Mạnh Tử, và đặc biệt là trong Kinh Dịch thể hiện rất rõ ở Hồ Chí Minh thông qua quá trình hoạt động cách mạng cũng như trong thơ văn của Người

Phương pháp tư duy triết học và chính trị của Nho giáo với các nguyên tắc: Tôn trọng tính chủ thể, nét riêng của con người; coi trọng vấn đề giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức, giáo dục để hình thành nhân cách con người, coi đức

Trang 19

là gốc, là cái cốt lõi của con người; giáo dục, cải tạo con người để cải thiện xã hội, xây dựng xã hội tốt đẹp, có tính nhân văn sâu sắc, v.v cũng được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng nhuần nhuyễn vào tư duy và thực tiễn cách mạng ở nước ta cũng như trong xây dựng con người Việt Nam Có thể trích dẫn một số quan điểm của Hồ Chí Minh để chứng minh cho nhận định trên như: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.280); Khổng Tử nói: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa

là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu; mới có thể “trị quốc bình thiên hạ” được Trị quốc bình thiên hạ đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, kiến quốc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới

“Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội Lòng mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo xã hội làm sao được” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.113)

Theo đó Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách chọn lọc, có sự sáng tạo

và đặc biệt vận dụng triết lý sống của các bậc tiền bối Nho giáo với các nguyên tắc tu nhân, nhập thế, tự nhiệm, dĩ thân vi giáo, Có thể viện dẫn minh chứng cho thấy Hồ Chí Minh rất linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng các triết lý của Nho giáo vào công cuộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.284) Thực tiễn đã chứng minh Người luôn đi đầu trong mọi việc, thực hành mọi việc trong đời sống thường nhật cũng như trong công cuộc cách mạng của nước nhà Qua đó cho thấy Hồ Chí Minh đã thực hành nguyên tắc này một cách nghiêm túc, luôn làm gương cho cán bộ, chiến sỹ và mọi tầng lớp nhân dân Người luôn chỉ đạo

và nghiêm khắc thực hiện nguyên tắc “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” hay “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” Người cán bộ, đảng viên luôn phải làm gương và đi đầu trong mọi công việc, không trốn tránh đùn đẩy, không nề hà, ngại khó, ngại khổ

Trang 20

Từ những phân tích trên ta thấy Hồ Chí Minh đã khai thác, vận dụng

tư tưởng của Nho giáo rất linh hoạt, khoa học và sáng tạo – Tư tưởng Nho giáo đã ảnh hưởng không nhỏ đến Hồ Chí Minh từ vấn đề về tư duy; lý luận đến những triết lý sống và hành động

Không chỉ Nho giáo, Phật giáo cũng là một trong những tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Những tư tưởng triết lý của Phật cũng như mặt tích cực của Phật giáo ăn sâu vào trong đời sống của mỗi người dân Việt Nam từ trong tư duy đến hành động và cả trong cách ứng xử thường ngày

Giá trị cốt lõi về triết lý nhân sinh quan, thế giới quan, trung tâm là con người hướng đến cái “chân, thiện, mỹ”, “từ, bi, hỷ, xả”, “vô thường, vô ngã, vị tha”, cứu khổ cứu nạn, để sống tốt đời đẹp đạo… mà hạt nhân tư tưởng của Phật giáo là một trong những tư tưởng ảnh hưởng nhiều đến quá trình hình thành tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh

Con người chúng ta đang sống, tồn tại trong cõi Ta-bà, con người luôn

bị chế ngự bởi dục vọng khổ đau, bệnh tật, sầu hận, chết chóc, đau thương… Con người bao giờ cũng muốn vươn lên từ đời sống thấp hèn để tìm một cái cao đẹp và an lạc hơn, đằng sau bức tường đầy sự hấp dẫn của ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) Giáo lý nhà Phật cho rằng: con người chỉ là tổng hợp thể của sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn Ở một góc độ nào

đó, con người luôn điều hòa và phát triển năm uẩn đó thế nào để đạt được hạnh phúc an lạc và giải thoát bởi trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, tình cảm, sinh lý và lao động ngay trên cuộc đời con người, từ hạnh phúc tương đối đến hạnh phúc tuyệt đối Hồ Chí Minh qua góc nhìn của giáo lý Phật giáo - đó là niềm tin và hy vọng của Người đối với toàn thể tăng ni và đồng bào Phật giáo trong việc góp sức mình vì sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, bình an và hạnh phúc Lĩnh hội được triết lý Phật giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh thêm phần sâu sắc với sự vị tha, cứu khổ, mưu cầu hạnh phúc, an lành cho con người, bình

Trang 21

an cho xã hội Và chính Người, nhà cách mạng đã hành động như một nhà hiền triết hướng đến những gì cao đẹp nhất của con người

Hồ Chí Minh quan niệm rằng, trong mỗi con người cần phải có cái tâm, cái đức trong sáng là trên hết Người hết sức chú trọng về đạo đức và cái tâm của con người, có đạo đức, có cái tâm thì hành động làm theo lương tâm và đạo đức và chính Người cũng là một tấm gương về thực hành theo cái tâm, cái đức trong sáng và cao cả Người từng nói: Đức Phật đã dày công vun đắp, biên soạn rất nhiều nội dung trong giáo lý để truyền dạy tín đồ của mình và con người thông hiểu, hướng tới sống theo cái tốt, sống theo lẽ phải

để đạt được đức hạnh cao nhất trong kiếp sống con người Và nhấn mạnh mỗi người hãy gấp làm điều thiện, ngăn tâm làm điều ác, làm điều thiện dù nhỏ cũng nên làm Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất, đáng quý nhất cần phải được giữ gìn và phát huy trong mọi hoàn cảnh, điều kiện sống Từ quan điểm đó, người luôn ý thức rằng làm thế nào cho mọi người được có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bình đẳng Người tha thiết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào

ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Trong suy nghĩ và hành động, Người luôn hướng đến sự bao dung, độ lượng, hướng đến điều thiện, tránh điều ác, chỉ dẫn mỗi người trong xã hội hướng đến giá trị tốt đẹp nhất của cuộc sống Theo Hồ Chí Minh trong mỗi con người đều có phần thiện-phần tốt và phần ác-phần xấu, mỗi người phải tự mình làm cho cái tốt, cái tích cực, cải thiện ở trong mỗi con người sinh sôi, nảy nở như hoa mùa Xuân, phải làm cho phần thiện có sức lan tỏa ra toàn xã hội và từ đó cái xấu, cái chưa tốt, cái tiêu cực không thể sinh sôi, nảy nở làm cho nó bị mờ dần Như thế là cái thiện đã thắng được cái ác Chính điều này tạo nên bản chất của người chiến sỹ cách mạng Đặc biệt Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: Trong cuộc sống đời thường cũng như trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc thì đối

Trang 22

với những người có thói hư, tật xấu, miệng nói nhiều hơn làm, thích ăn sung mặc sướng, lười lao động,…kể cả hạng người làm tay sai cho giặc, phản lại

Tổ quốc và nhân dân, ta cũng cần cố gắng giúp đỡ họ cải tà quy chính, tiến

bộ từng ngày, tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của bản thân Từ đó làm cho cái tốt, cái tích cực, phần thiện trong con người họ có điều kiện nảy nở, phát triển và đẩy lùi cái xấu, làm cho phần ác mất dần

Qua lăng kính về giáo lý của Phật giáo, cho chúng ta thấy, những ảnh hưởng của Hồ Chí Minh về tư tưởng giáo lý nhà Phật rất rõ nét Người đã chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong triết lý nhà Phật nhất là triết lý đề cao nếp sống cao thượng, tinh thần bác ái, đạo đức trong sáng, chủ trương bình đẳng, yêu thương con người, đồng loại như yêu chính mình, chống lại điều

ác từ trong tâm mình cho đến cả ngoài xã Từ những điều hợp lẽ phải ấy Người đã nâng nó lên thành ngọn lửa bùng cháy của truyền thống yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, động viên khích lệ đồng bào hướng theo điều thiện, điều hợp lẽ phải cùng đồng lòng giải phóng dân tộc, xây dựng quê hương đất nước Đó là lòng yêu thương con người, quên mình vì mọi người, mình vì người khác… Trong giáo lý nhà Phật, “từ bi” là ước vọng mãnh liệt để giải thoát con người thoát khỏi đau khổ “Bác ái” là lòng thương yêu của mọi người “Vị tha, sống vì người khác”, kết tinh bằng từ bi, trí tuệ, dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích giác ngộ và giải thoát, chuyển cõi sa bà này thành cõi Tịnh độ và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống cực lạc Từ triết lý, giáo lý của nhà Phật, Hồ Chí Minh đã tích lũy

và hình thành cho mình tư tưởng mang giá trị triết lý nhân văn sâu sắc và chính Người luôn luôn hướng đến Phật pháp

Trong một lần Hồ Chí Minh đến thăm chùa Bà Đá (năm 1946), Người nói: Đứng dưới Phật đài tôn nghiêm, trước toàn thể đồng bào có mặt nơi đây, tôi xin thề đem hết trí tuệ và sức của mình nhằm giữ vững nền độc lập, tự do cho nước nhà Nếu cần tôi hi sinh cả tính mạng của mình cho Tổ quốc Hồ

Trang 23

Chí Minh quan niệm: Trong các thứ vẻ vang, tốt đẹp ở bầu trời này thì chỉ có phục vụ lợi ích cho nhân dân là vẻ vang, tốt đẹp nhất Do vậy, việc gì có lợi cho nhân dân phải làm ngay, phải cố gắng làm còn việc gì có hại, không tốt cho dân phải hết sức tránh, tuyệt đối không làm dù là việc nhỏ

Hồ Chí Minh luôn những tình cảm và sự quan tâm đến các hoạt động của Phật giáo Những lần về thăm quê hương Nghệ An (năm 1957 và năm 1961), Người đã tới Chùa Cần Linh thăm hỏi các tăng ni phật tử nơi đây Và năm 1962, khi ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đến thăm một ngôi trường của Hội Phật giáo đóng trên địa bàn Đó không chỉ là một cuộc đến thăm đơn thuần

mà quan trọng hơn là thể hiện tình cảm và sự tin tưởng, gửi gắm của Người đối với tăng ni, phật tử cũng như các chiến sỹ yêu nước đang hoạt động cách mạng Khi sang thăm đất nước Ấn Độ vào năm 1958, Hồ Chí Minh nói: Chúng tôi thật vinh dự và tự hào khi được đến thăm quê hương nơi Đức Phật sinh ra, quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới Giáo lý nhà Phật đã khẳng định: “Nhân thị tối thắng” - con người cao hơn tất

cả vì con người Người luôn ấp ủ trong lòng với những giá trị cao đẹp: Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên; điều này giống với “Hạnh vô ngã” của Đạo Phật, không nghĩ đến bản thân mình, luôn quên mình vì mọi người

Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời mình cho nền độc lập, tự do của dân tộc, sống chiến đấu hòa bình, hạnh phúc và sự bình yên của nhân dân

Hồ Chí Minh đại diện cho dân tộc Việt Nam về lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng hi sinh tất cả cho độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái Người nói: Chúng ta muốn cải tạo thế giới, cải tạo xã hội thì trước hết mỗi con người phải tự cải tạo chính mình và khẳng định: Chính tâm tu thân” để “trị quốc, bình thiên hạ Ở Người, luôn tỏa sáng những tư tưởng cao đẹp, kết tinh những giá trị tinh túy nhất của văn hóa truyền thống dân tộc và của nhân loại, trong đó có các giá trị tư tưởng của nhà Phật Nhìn ở khía cạnh hệ thống

Trang 24

tư tưởng, ta thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều nét gần gũi với giáo lý của Phật giáo Trong giáo lý Phật giáo thì cốt lõi, nền tảng tư tưởng vẫn là:

từ bi, hỉ xả, vị tha, cứu khổ, cứu nạn Từ lý luận đó, Hồ Chí Minh nhận định rằng: Đạo Phật hướng tới mục tiêu xây dựng cuộc sống trong sáng, lương thiện, bình đẳng, hòa bình, ấm no, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền tự do, không phân biệt giàu nghèo, hay địa vị xã hội, Sự đối lập hai mặt của một vấn đề là ngày nay, con người chúng ta đang sống, tồn tại trong một xã hội cạnh tranh khốc liệt, con người chà đạp lên nhau để sống, con người sống nhanh, sống gấp, con người vì cái “ngã”, chạy theo những tài sản vật chất, danh lợi địa vị, quyền lợi… Những giá trị nhân bản đạo đức làm người cũng không còn, giáo dục xuống cấp, văn hóa đồi trụy… Nguyên nhân chính cũng vì lòng tham ái mà ra, do vậy chúng ta biết quay về với đạo Phật là quay về cuộc sống chân thiện mỹ, quay về chính mình, để tìm lại hạt minh châu (Phật tính) để chúng ta thức tỉnh tu tập, để loại trừ cái

“Ngã”, cái tham vọng để đạt đến tinh thần “Vô ngã”

Nhận thức được những giá trị cao quý của giáo lý nhà Phật, có sự gần gũi với đời sống của con người, có thể nói tư tưởng của Hồ Chí Minh với triết lý đạo Phật là hai tư tưởng lớn đã gặp nhau, Hồ Chí Minh luôn nhìn Phật giáo bằng cả sự chân thành, trân trọng và ngưỡng mộ Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã dành không ít thời gian đến thăm nhiều chùa, các cơ sở Phật giáo, được tiếp xúc, nói chuyện với nhiều tăng ni, phật

tử Qua quá trình tìm hiểu về giáo lý nhà Phật, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức và xem Phật giáo là điểm tựa tinh thần vững chắc của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc và luôn hướng đến mục tiêu là đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Đến với giáo lý nhà Phật, Hồ Chí Minh không những xem đó là nhu cầu tinh thần

mà còn xem giáo lý nhà Phật là giá trị đạo đức to lớn của nhân loại Người cũng nhìn thấy ở Phật giáo những giá trị tốt đẹp phù hợp với đạo đức con

Trang 25

người mới và phục vụ cho sự phát triển của thời đại, của đất nước Hồ Chí Minh viết: Mục đích cao cả của Phật Thích ca và Chúa Giê su đều giống nhau, Thích ca và Giê su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng Người nói: Chúa Giê su dạy đạo đức là bác

ái, Phật Thích Ca dạy đạo đức là từ bi, Khổng Tử dạy đạo đức là bác ái

Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo có truyền thống yêu nước, và đặc biệt Người sinh ra trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, từng ngày lớn lên trong vòng tay yêu thương và những lời ru thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước của mẹ, thấm đẫm những lời dạy của cha Khi đã có sự hiểu biết Người phải trải qua và chứng kiến biết bao gian khổ, tủi cực của người thân, hàng xóm, chứng kiến sự chà đạp, đàn áp mà thực dân Pháp đã gây ra cho những người dân lam lũ, bần cùng Tất cả đã hình thành nên tấm lòng nhân ái, yêu nước, thương dân ngay từ khi còn nhỏ Với tấm lòng ấy, Nguyễn Ái Quốc đã sớm cảm nhận được nỗi thống khổ cùng cực mà nhân dân ta phải gánh chịu dưới ách thống trị, đàn áp của thực dân Pháp Khi còn nhỏ Người đã hỏi bố sao dân mình gầy, ốm yếu, đói rách mà phải kéo xe cho cả mấy ông tây lẫn ta to béo Được sinh ra trong một gia đình nho học lại có được tư chất thông minh thiên phú và đặc biệt là sự nhanh nhạy và khả năng tư duy chính trị sâu sắc Hồ Chí Minh nuôi chí lớn, nghĩ về dân về nước và hi vọng tìm ra con đường cách mạng để cứu nước, cứu dân thoát khỏi sự áp bức, thống khổ ấy Người nhìn thấy con đường phong kiến tối tăm không đem lại lợi ích cho người dân lao động, những người đang phải chịu sự thống khổ, và nhìn thấy con đường cứu nước thất bại của các bậc tiền bối đi trước Chính lúc bấy giờ Hồ Chí Minh đã có một hướng đi mới trong việc tìm đường cứu nước Người nói: Lần đầu tiên tôi nghe những từ bằng tiếng Pháp về "Tự do”, “bình đẳng”, “bác ái" là lúc tôi khoảng 13 tuổi Từ đó tôi muốn làm quen, tìm hiểu về nền văn minh nước Pháp, cố gắng tìm hiểu sự thật ẩn giấu đằng sau những từ hoa mỹ ấy là gì

Trang 26

Điều này đã giúp tôi nảy ra ý muốn phải sang tận nước Pháp (mẫu quốc) để học hỏi và về cứu giúp đồng bào

ấm no, hạnh phúc Với tinh thần của một người thanh niên yêu nước, một chiến sĩ cộng sản cách mạng yêu nhân dân như con, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để đổi lấy sự độc lập tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân

Từ những thực tế đó đã thôi thúc, tạo động lực người thanh niên-Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Người thanh niên ra đi với tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và lý tưởng của một người Cộng sản chân chính

Trong thời gian ở nước ngoài Người đã đi bôn ba khắp năm châu, bốn

bể để tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã có điều kiện gia nhập, tham gia vào các phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở một số nước thuộc địa và chính quốc Người đã mở rộng các mối quan hệ xã hội, kết thân với nhiều giới tri thức yêu chuộng hòa bình trên thế giới Cũng nhờ hiểu biết được nhiều ngôn ngữ khác nhau mà Người có thể tìm hiểu được nhiều nền văn hóa khác nhau từ cổ, kim, Đông, Tây từ đó hiểu biết được về nét tính cách con người của họ, giúp Người dễ dàng hòa nhập được với người dân bản xứ nơi mình đi qua; thông qua nghiên cứu sâu về lý luận Mác-Lênin qua

đó tiếp cận được nhiều điều tiến bộ của cách mạng thế giới; đồng thời bằng việc đọc sách, báo, bạn bè, đồng chí ở các nước tiến bộ từ đó đúc rút kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo cho cách mạng nước ở nước ta Bên cạnh đó Người còn trực tiếp tham dự các hội nghị quốc tế cộng sản và các hoạt động văn hóa, xã hội từ các nước tiến bộ, mạnh dạn tranh luận với các chính trị gia lỗi lạc, các nhà cách mạng về những vấn đề quan trọng của cách mạng ở các nước và bằng những trải nghiệm hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã tích lũy được cho mình nhiều vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng lớn Từ đó bằng trí tuệ sáng suốt và tư duy nhạy bén của mình, Người đã đưa ra luận điểm về cách mạng đó là: giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng

Trang 27

giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa cùng với giải phóng toàn nhân loại khỏi bị áp bức

Nguyễn Ái Quốc có lập trường, tư tưởng vững vàng, tự chủ, sáng tạo trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa cách mạng ở trong nước và đặc biệt là cách mạng tiến bộ trên thế giới Với kinh nghiệm cũng như sự trải qua nhiều gian khổ trong lao động để kiếm sống nơi đất khách nhằm quyết tâm tìm được con đường giải phóng dân tộc phù hợp nhất, Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng ở đâu con người bị áp bức, bóc lột đều là bạn, ở đâu có kẻ áp bức bóc lột cũng là

kẻ thù của nhân dân lao động Người cũng nhìn nhận, đánh giá đúng bản chất của cách mạng tư sản chứ không bị cái vẻ bề ngoài của nó đánh lừa

- Tư tưởng và văn hóa phương Tây

Hồ Chí Minh có một thời gian học ở Trường Tiểu học Đông Ba sau đó vào học ở Trường Quốc học Huế, trong quá trình học tập Người đã tìm hiểu

về văn hóa và con người Pháp Đặc biệt, Người rất đam mê lịch sử, say sưa tìm hiểu về cuộc Cách mạng Pháp năm 1789

Khi sang nước Mỹ, Người đã làm thuê nhiều công việc khác nhau ở Bruclin và thường xuyên đến thăm, tìm hiểu Haclem của người da đen Tại đây Người nghiên cứu tìm hiểu kỹ bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Hoa

Kỳ về các nội dung được ghi trong đó như: Quyền được sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc,…của con người

Có một thời gian sống và làm việc ở Anh, đặc biệt là khi sống ở thủ đô Pasri nước Pháp (1917) - trung tâm văn hóa - nghệ thuật lớn không chỉ riêng của Pháp mà cả của châu Âu, nhờ vậy Người hiểu biết sâu rộng về văn hóa

và con người Pháp Nước Pháp là cái nôi của những ý tưởng về tự do, bình đẳng và bác ái Tại đây Nguyễn Ái Quốc có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm lớn của các nhà tư tưởng khai sáng, các nhà lý luận chính trị của Cách mạng Pháp như: Vonte, Rutxo, Xi-mông Bên cạnh đó, Nguyễn

Ái Quốc tiếp tục tiếp thu những tư tưởng dân chủ và hình thành phong cách

Trang 28

dân chủ cho mình trong thực tế cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc gia nhập đảng, tập hợp, công bố ý kiến và trình bày ý kiến của mình với dư luận Pháp, viết những bài báo phê phán, lên án những quan lại, những ông vua của nước ta, những tên quan cai trị đang phạm nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam Cách làm việc dân chủ và khoa học mà Nguyễn Ái Quốc có được đều được tích lũy từ trong quá trình sinh hoạt ở các câu lạc bộ, sinh hoạt chính trị trong Đảng xã hội Pháp

Nhờ quá trình được rèn luyện trong phong trào công nhân cùng với tinh thần ham học hỏi và được nhiều lão thành cách mạng, giới trí thức tiến

bộ hướng dẫn, động viên, dìu dắt người thanh niên trẻ tuổi - Nguyễn Ái Quốc mà Người đã từng bước trưởng thành cả trong suy nghĩ lẫn hành động Một mình bôn ba khắp năm châu, bốn bể đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh tự biết tích lũy tri thức, kinh nghiệm cho bản thân từ những việc hàng ngày và từ những trải nghiệm, nghiên cứu thực tế nơi đất khách quê người

Từ đó Người tiếp tục trăn trở, suy nghĩ làm sao để biến những tri thức, kinh nghiệm mà mình tiếp thu được để truyền bá, vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh gia nhập vào đảng cộng sản và hoạt động trong Đảng cộng sản Pháp và tham gia vào một số phong trào như: phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, Chính nhờ hoạt động trong các tổ chức cộng sản mà Hồ Chí Minh được tiếp xúc, nghiên cứu các tài liệu của Quốc tế Cộng sản, được tìm hiểu các tác phẩm của C Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin Trong môi trường quốc tế cộng sản Người vừa học lý luận vừa tự nghiên cứu về Quốc tế Cộng sản và được học hỏi trực tiếp nhiều lãnh tụ cộng sản của nhiều nước trên thế giới

Khi nghiên cứu về quốc tế cộng sản chính chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã soi sáng tâm trí người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc và nó quyết định

sự thay đổi về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 29

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là ngọn đuốc soi đường Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước đúng đắn phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản Người có một niềm tin tất thắng khi đi theo quan điểm, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về giải phóng dân tộc

+ Từ những quan điểm lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin, Hồ Chí Minh miệt mài nghiên cứu, phân tích những luận điểm ấy và tự xây dựng cho riêng mình một nền tảng tư tưởng sâu sắc, toàn diện về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ

+ Chính nhờ nghiên cứu về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin mà Hồ Chí Minh tiếp thu, sử dụng, chuyển hóa được những yếu tố tiến bộ, tích cực của truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại thành vốn trí tuệ của mình Điều này giúp Hồ Chí Minh có tư duy phân tích, đánh giá và dự đoán một cách đúng đắn các vấn đề thực tiễn đang diễn ra ở trong nước cũng như quốc tế

vạch ra đường lối, sách lược đúng đắn cho cách mạng Việt Nam sau này Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam không chỉ là kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi đường cho chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng và tin xây dựng đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kĩ và nắm vững cốt lõi, linh hồn sống của nó, đó là phương pháp biện chứng duy vật; và vận dụng vào để giải quyết những vấn

đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam

- Tố chất đặc biệt của con người Hồ Chí Minh

Có thể thấy Hồ Chí Minh đã đến và đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, khách quan Người đã dày công nghiên cứu và vận dụng sáng tạo cũng như phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên một loạt luận điểm cơ bản Không phải ai khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lê-nin cũng làm được điều đó

Trang 30

mà ở Hồ Chí Minh là một con người có những tố chất đặc biệt:

Thứ nhất, Khi còn ở trong nước Hồ Chí Minh vốn đã ham học hỏi, say

mê tự nghiên cứu cũng như có một tầm nhìn sâu rộng, Người đã tự tích lũy cho mình được một vốn tri thức, hiểu biết không hề nhỏ Hồ Chí Minh đã phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 một cách tỉ mỉ, thấy được các yếu điểm cơ bản dẫn đến các phong trào đều thất bại Mặt khác Người đã như ta thấy Người đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin một cách rất tự nhiên và đó như là một điều tất yếu khách quan

và hợp với quy luật thời đại

Thứ hai, trong quá trình tìm đường cứu Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa mục đích và phương pháp tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, điểm này cũng rất khác với các bậc tiền bối trước đây khi tìm đường cứu nước Các bậc tiền bối đều có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc, nhưng phương pháp của họ không thành công Phan Bội Châu tìm đường cứu nước bằng cách khởi xướng phong trào Đông Du, kêu gọi, vận động giới tri thức trong nước xuất ngoại sang Trung Quốc, Nhật Bản học hỏi, tiếp thu kiến thức từ nước ngoài về giúp ích cho đất nước, đồng thời mua vũ khí của Nhật để hỗ trợ căn cứ địa chống Pháp trong nước; Phan Chu Trinh chủ trương đường lối ôn hòa, chú trọng đến việc giác ngộ bình dân Mục đích của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là giải phóng dân tộc khỏi sự đàn áp của thực dân Pháp, nhưng phương pháp chưa phát huy được vai trò của quần chúng nhân dân, không dựa vào sức mình là chính mà chủ yếu cầu viện từ bên ngoài là chính hoặc cầu hòa với kẻ thù Còn Nguyễn Ái Quốc đã chọn cho dân tộc một con đường giải phóng riêng không giống với các nhà yêu nước trên Người quyết định đi đến phương Tây nơi được ca tụng nhiều về “tự do, bình đẳng, bác ái” và có khoa học kỹ thuật phát triển Người tìm cách đi vào mọi giai cấp ,mọi tầng lớp trong xã hội, đi vào phong trào đấu tranh của nhân dân để đoàn kết họ cùng nhau đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc bằng chính sức mình, dựa vào sức mạnh nội sinh

Trang 31

Thứ ba, Đối với Nguyễn Ái Quốc khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin

là để tìm ra con đường, phương pháp đúng đắn nhất cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, đem lại độc lập,tự do và bình yên cho nhân dân Ngược lại những nhà trí thức tư sản phương Tây họ đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin như là tìm hiểu thêm về một học thuyết nhằm giải quyết các vấn đề trong tư duy hơn là hành động, họ tìm hiểu để so sánh giữa học thuyết Mác-Lenin với các học thuyết khác

Thứ tư, Khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người đã dùng phương pháp mác-xít và đặc biệt sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, sáng tạo và linh hoạt trong cách vận dụng, không lập khuôn, máy móc nhằm phát huy tối

đa sức mạnh của chủ nghĩa Mác khi giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã bổ sung tinh thần của các nước phương Đông, các nước thuộc địa vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin Làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở nên sâu sắc và thực sự trở thành ánh dương soi sáng cách mạng Việt Nam

Một lần nữa ta có thể khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác – Lênin và nguồn gốc chủ yếu nhất, nguồn gốc lý luận trực tiếp nhất, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác-Lênin

Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức của Người nói riêng là kết quả của quá trình tích tũy, hội tụ lâu dài, trải qua biết bao gian nan, thử thách của sóng gió cuộc đời người hoạt động cách mạng chân chính, đó là sự hòa quyện và phát triển biện chứng tư tưởng văn hóa, truyền thống của dân tộc, là kết tinh của văn hóa phương Đông và phương Tây trong đó có chủ Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng cốt lõi, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại Hồ Chí Minh-một nhân cách sống, tư tưởng đạo đức của Người mãi mãi trở thành tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ con người Việt Nam học tập và noi theo

Trang 32

1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về khái niệm, vị trí, vai trò của đạo đức

Theo Hồ Chí Minh đạo đức là cội nguồn, là gốc rễ nuôi dưỡng nhân cách của một con người, con người có giá trị với người khác, với xã hội hay không không phải do tiền tại, địa vị quyết định mà chính là do đạo đức của người đó quyết định Cũng theo Hồ Chí Minh: “Cũng giống như sông phải

có nguồn mới có nước chảy, không có nguồn thì sông khô Cây phải có gốc, nếu không gốc cây sẽ khô héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân ” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.252-253)

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn dành một sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề đạo đức con người nhất là đạo đức của cán bộ đảng viên và của thế hệ trẻ thanh thiếu niên Việt Nam Người viết: Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp

vẻ vang, nhưng cũng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề Cuộc đấu tranh còn rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh thì mới có thể gánh vác nặng và

đi được tới đích Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, làm hành trang mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang Vì vậy, Trong quá trình hoạt động của mình cũng như trong các bài viết mà Người

để lại cho thế hệ sau đều cho thấy được sự chú trọng, quan tâm đến việc giáo dục đạo đức và xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thế hệ trẻ thanh niên và xem đó là việc làm thường xuyên, bền bỉ và lâu dài

“Đức và tài” của một con người luôn được Người coi trọng; trong đó nhấn mạnh phải xem “đức” là gốc; “tài” phải lấy “đức” làm căn bản, làm bệ phóng Không có “đức” thì tài cao, biết rộng bao nhiêu cũng thừa vì không lãnh đạo được nhân dân, không xứng đáng là người lãnh đạo nhân dân Ngược lại có đạo đức mà bản thân lười biếng, không chịu khó học hỏi nâng

Trang 33

cao hiểu biết của mình thì cũng không làm được việc gì có lợi cho nhân dân, cho đất nước

Hồ Chí Minh cũng cho rằng, đạo đức “có ảnh hưởng to lớn đến sự nghiệp chuyển xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục” Người cách mạng có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại quyết không nản chí, lùi bước, lòng dạ, ý chí không nao núng…, khi gặp thuận lợi, có được thành công cũng luôn giữ vững tinh thần lạc quan, bình thản, giản dị, khiêm tốn không ngủ say trong chiến thắng, luôn giữ vững tinh thần lo ngại trước thiên hạ, hạnh phúc, vui sướng sau thiên hạ , không bon chen, kèn cựa để hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không hách dịch, không tham nhũng, không tư lợi

Người quan niệm rằng: “… đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng”, “… là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, “là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2000b, tr 288-290)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một nội dung lớn trong tư tưởng của Người và trong tư tưởng đạo đức này có sự thống nhất, hòa quyện giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa lý thuyết với thực hành, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường Hồ Chí Minh bên cạnh sử dụng có chọn lọc một số khái niệm, thuật ngữ của đạo đức vốn

đã quen thuộc và gần gũi với nhân dân, Người còn đưa ra những nội dung, vấn đề mới của đạo đức cách mạng, đạo đức đời thường mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Đối với cán bộ đảng viên phải luôn luôn nêu cao ý thức tự học,

tự rèn luyện, thường xuyên tu dưỡng để xứng đáng là người công nhân viên chức Nhà nước, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành quản lý của Nhà nước trong công

Trang 34

cuộc đổi mới, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân

ta đã lựa chọn, luôn có ý thức trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Người chỉ rõ rằng: mục đích xuyên suốt chi phối lời nói và việc làm của người cán bộ, đảng viên là “tất cả vì dân” Đây là tiêu chí cơ bản để đánh giá tư cách, đạo đức, tác phong công tác của người cách mạng Đối với cán

bộ, đảng viên, cần nhận thức rõ: Không phải cứ hô hào khẩu hiệu, vỗ ngực xưng tên, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được nhân dân yêu mến, tin tưởng Đối với quần chúng đôi khi họ không cần ta nói những gì mà họ chỉ cần ta làm được những gì và họ chỉ quý mến những người cán bộ nói đi đôi với làm, có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt Sự nêu gương về đạo đức của người cán bộ, đảng viên phải thể hiện mọi lúc, mọi nơi, trong sinh hoạt đời thường, trong từng hành vi nhỏ nhất

Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù trải qua biết bao gian nan thử thách, có lúc nguy nan đến tính mạng, nhưng dù trong hoàn cảnh nào

Hồ Chí Minh vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng

“thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao” và đặc biệt Người luôn quan niệm đạo đức là gốc của cách mạng Trong cuốn sách “đường cách mệnh” mục đích không phải là bàn luận về vấn đề đạo đức cách mạng nhưng ngay ở những trang đầu tiên của cuốn sách, Người đã nêu lên nhiều điều thuộc về phẩm chất, nhân cách của người cách mạng, và được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: với mình, với người, với việc làm Làm tốt được trong các mối quan hệ này chính là người cán bộ có tài, có đức Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có vô số những buổi nói chuyện, những bài viết về đạo đức, đặc biệt vào những năm bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, Người đều có những bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu về đạo đức cách mạng Trong Di chúc Người cũng không quên căn dặn: Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ quản lý phải thật sự thấm

Trang 35

nhuần tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư để xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Đảng cần quản lý, chú trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên, đào tạo họ trở thành những người thanh niên tiên tiến vừa “hồng” vừa “chuyên” tiếp bước xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng chứa đựng nhân sinh quan sâu sắc trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng và lẽ sống của người chiến sĩ cộng sản Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là đạo lý làm người và nhờ đó, con người mới thực sự là người theo đúng nghĩa Vì thế, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh mang đậm tính nhân văn sâu sắc; là sự kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại, vừa “tiên tiến” vừa “đậm đà bản sắc dân tộc”; là sự thống nhất hữu cơ giữa tính thực tiễn và tính khoa học

Chúng ta biết rằng mỗi xã hội ở vào mỗi thời đại đều có những chuẩn mực đạo đức riêng Tuy nhiên quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng khác hẳn với các quan điểm về đạo đức trong xã hội cũ và có một tầm nhìn vượt xa thời đại Người cho rằng đạo đức xưa cũ giống như người đầu xuống đất, ngược chân lên trời Còn đạo đức mới giống như người hai chân đứng vững trên mặt đất, đầu ngẩng lên trời; cũng giống như các nhà phong kiến xưa đã nói về các vấn đề của đạo đức như cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ thực hành mà chủ yếu hô hào khẩu hiệu để bắt ép nhân dân phải phục tùng quyền lợi cho giai cấp thống trị Ngày nay, chúng ta ra sức và thực hiện nó một cách siêng năng, cần cù, có lợi cho quốc gia, dân tộc Đạo đức của con người không phải mang tính chất “tiên thiên” như Nho gia quan niệm, cũng không phải là cái gì đó có tính “nhất thành bất biến”, mà nó được hình thành do hoàn cảnh giáo dục, do sự rèn luyện, phấn đấu và tu sửa bản thân của mỗi người Từ quan niệm cho rằng, “đạo đức cách mạng không phải thứ gì được ban phát hay trên trời rơi xuống Nó có được là do đấu tranh, tự

Trang 36

tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố” (Hồ Chí Minh, 2000b, tr.293), Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi người phải thường xuyên được giáo dục và tự giáo dục về mặt đạo đức

Giáo dục đạo đức cách mạng không có nghĩa là tiêu diệt, phá bỏ tất

cả những gì đã tồn tại, mà là phê phán, cải tạo, thay thế những cái cũ kĩ, lạc hậu, tiêu cực, có hại, không còn phù hợp với sự nghiệp của cách mạng và

bổ sung thêm các giá trị đạo đức mới, hiện đại và phù hợp hơn Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực trong việc tiếp thu những giá trị đạo đức do truyền thống dân tộc hun đúc để xây dựng nên hệ giá trị đạo đức mới mang bản chất giai cấp và dân tộc trong thời kỳ mới Các phạm trù vềbnhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng của Nho giáo được kế thừa và phát triển một cách sinh động, tinh tế, hàm chứa nhiều nội dung mới Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nhân là “thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào”; nghĩa là “thẳng thắn, không tư tưởng cho riêng mình, không làm điều xấu, không làm điều gì trái với chỉ thị, nghị quyết của Đảng” và tâm trí là “sáng suốt, lý luận dễ hiểu, dễ tìm phương hướng, biết người, biết việc” Nhưng

để nhận ra nhân, nghĩa và trí, con người cũng cần có dũng khí Dũng là

“dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.252)

Tư tưởng giáo dục đạo đức của Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn trong việc xác lập các giá trị làm người vừa mang đậm nét truyền thống người Việt Nam vừa mang nét hiện đại hội nhập quốc tế Những điều Người nói, viết về vấn đề này hết sức sâu sắc, thiết thực, gắn liền với yêu cầu, nhiệm

vụ và trách nhiệm cụ thể của từng giới, từng lứa tuổi, ngành… trong sự nghiệp cách mạng Khi nói về giáo dục đạo đức cho Đảng viên, Người xác

Trang 37

định đó là giáo dục tinh thần xả thân, quên mình vì lợi ích của Đảng, của cách mạng và nhân dân lao động; còn giáo dục đạo đức công dân là giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, giữ gìn tài sản công, có kỷ luật trong lao động, biết tôn trọng con người, biết phân biệt phải, trái, biết giữ trật tự chung; giáo dục đạo đức cho lực lượng vũ trang nhân dân là giáo dục lòng trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lòng hiếu thảo với nhân dân, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa

xã hội; Giáo dục đạo đức cho lực lượng công an nhân dân là giáo dục tinh thần đối với mình phải biết “Cần, kiệm, liêm, chính Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành, không thay lòng đổi dạ Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép Đối với công việc, phải tận tụy Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.406-407)

Là một nhà tư tưởng có tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy

ở thanh niên cái sứ mệnh là “người chủ tương lai của nước nhà”; thấy được

sự thịnh suy của đất nước phụ thuộc một phần lớn vào lực lượng thanh niên

Để gánh vác và làm tròn trọng trách vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề đó, để thật sự xứng đáng với vai trò tiền phong, ngay từ giờ, thanh niên phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra sức học tập, tu dưỡng và làm việc Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục đạo đức cho thanh niên và yêu cầu họ phải luôn nỗ lực vươn lên trong mọi lĩnh vực, phải có tinh thần quyết tâm, ham công việc ích nước lợi dân, không ham công danh phú quý; có tinh thần siêng năng, gương mẫu, sống trong sạch, không kiêu ngạo, tự mãn; nói

ít làm nhiều, thân ái đoàn kết, có tổ chức có kỷ luật; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do; sống khiêm tốn giản dị, chống lãng phí xa hoa; phải thường xuyên phê bình và tự phê bình, tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, khoa học, kỹ thuật, văn hóa; có tinh thần trách nhiệm dẫn dắt và giáo dục thiếu niên, nhi đồng; thấm nhuần đạo đức

Trang 38

cách mạng, cầu tiến, sáng tạo cần cù, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau Thiếu niên, nhi đồng – những búp măng non của đất nước, phải hăng hái “làm việc nhỏ tùy theo sức của mình”, “không sợ khó, không sợ khổ, siêng học, siêng làm”, “tiết kiệm, việc nên làm không cần nhắc, việc không nên không cần ai ngăn” Thiếu niên phải luôn luôn phấn đấu: “yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt; thật thà, dũng cảm; giữ gìn vệ sinh thật tốt”, góp phần đưa nước nhà “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” Phụ

nữ cần tích cực học tập, lao động, tham gia công tác xã hội, trở thành những người “giỏi việc nước, đảm việc nhà”

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đức luôn gắn liền với tài, bởi

“Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người” (Hồ Chí Minh, 2000b, tr.172); ngược lại, “có tài

mà không có đức… thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội,

mà còn có hại cho xã hội nữa” (Hồ Chí Minh, 2000b, tr.172) Tài và đức phải là hai phẩm chất cần thiết của con người có tác động qua lại làm cho con người trở nên hoàn thiện hơn Nếu đạo đức là tiêu chuẩn cho mục tiêu hành động, thì tài năng chính là phương tiện cho mục tiêu đó Có thể nói, nhờ có tài, đức mới được biểu hiện và thực thi trong cuộc sống; thiếu tài, tất yếu đức mãi cũng chỉ ở trong tư tưởng, nhận thức của con người Từ đó cho thấy rằng, nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là nói

đi đôi với làm; lý luận và thực tiễn phải thống nhất với nhau Người khẳng định rằng, đạo đức cách mạng “không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.252-253)

Khi đánh giá, xem xét một con người, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề đạo đức là tiêu chí quan trọng hàng đầu, xem đó là điều kiện cần để xem xét

Trang 39

các tiêu chí tiếp theo Chính vì lẽ đó Người chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên và đảng viên, chiến sỹ người cách mạng Đã là đảng viên, chiến sỹ cách mạng và lực lượng kế cận làm chủ tương lai đất nước thì cần thiết phải có những phẩm chất đạo đức như: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thành với Đảng, hiếu với nhân dân, sẵn sàng cống hiến, chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân

Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến nội dung và cách thức để giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ đoàn viên, thanh niên nước nhà Người xem đây là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng hàng đầu, bởi theo Hồ Chí Minh

“thanh niên phải luôn luôn rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, không được xa rời lý tưởng cách mạng” Do vậy làm cho thanh niên nhận thức

về đạo đức cách mạng là “nhận rõ phải, trái, giữ vững lập trường, tận trung với nước, tận hiếu với dân” (Hồ Chí Minh, 2001, tr.480)

Để làm người, đặc biệt là người cách mạng cần hội tụ đủ bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính Là thanh niên, người chủ tương lai của đất nước phải sống có lý tưởng, biết phấn đấu vươn lên, tự rèn luyện bản thân, nghiêm khắc với bản thân, tinh thần không ngại khó, ngại khổ, khi cần hy sinh, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên lợi ích cá nhân Do đó trong công việc

và hành xử của cuộc sống cần phải công tư phân minh, trách “dây tơ rễ má”, tình cảm xen lẫn công việc và đặc biệt phải trọn đời trung hiếu với nước, với dân Khi nói về tầm quan trọng của đạo đức trong mỗi con người, Hồ Chí Minh ví von bằng những hình ảnh thật gần gũi, quen thuộc với mọi người:

“Trời có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

Đất có bốn phương: đông, tây, nam, bắc

Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính

Thiếu một mùa thì không thành trời

Thiếu một phương thì không thành đất

Thiếu một đức thì không thành người” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.631)

Trang 40

Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng bởi những phạm trù: cần, kiệm, liêm, chính cho thanh niên, cho thế hệ trẻ là một điều rất cần thiết và tất yếu trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Cần” nghĩa là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cần cù trong học tập, lao động, chiến đấu và sản xuất, cần mẫn trong mọi công việc thường ngày Cần cũng có thể hiểu là việc gì dù khó đến đâu cũng làm được, và quyết làm cho được Bác ví như siêng mài dao thì dao sắc bén, ruộng siêng làm cỏ thì lúa sẽ tốt tươi, cho năng suất cao hơn Người còn nói thêm: “Đi làm cần đúng giờ, không đi trễ, về sớm Làm cho chóng, cho chu đáo Việc hôm nay chớ để ngày mai” Bác còn dạy: “Phải nhớ rằng dân đã lấy tiền mồ hôi, nước mắt đóng góp để trả lương cho ta trong những thì giờ

đó Ai lười biếng tức là lừa gạt dân” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.104) Bác phân tích, giải thích rằng đối lập với cần là lười biếng: “Lười biếng là kẻ địch của chữ cần Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.634) Theo Người, cán bộ lười biếng thì không những kìm hãm, cản trở phong trào thi đua lao động sáng tạo của toàn dân tộc, làm cho đất nước trở nên tụt hậu mà cán bộ lười biếng còn có tội với đồng bào, với Tổ quốc, trái với đạo đức cách mạng, không xứng đáng

là một người cán bộ của nhân dân Người còn nói, đối với cán bộ, đảng viên,

“cần” là làm việc đủ ngày giờ công, không đi trễ về sớm, không bớt xén thời gian, không dùng thời gian của công việc cơ quan để giải quyết việc riêng cho cá nhân mình, dẫn tới trễ nải, đình trệ trong công việc cơ quan “Cần” là một phẩm chất của đạo đức cách mạng Chữ “cần” có giá trị xã hội và sức lan tỏa nhanh, mạnh đã được Hồ Chủ tịch khái quát: “Siêng học tập thì mau biết Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến Siêng làm thì nhất định thành công Siêng hoạt động thì sức khỏe Người siêng năng thì mau tiến bộ Cả nhà siêng thì chắc ấm no Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh Cả nước

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết số: 29-NQ/TW. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: 29-NQ/TW
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
2. Bảo tàng Hồ Chí Minh. (2007). Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ: Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ: Thanh niên
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2011). Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chỉ thị 1737/CT-BGDĐT. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 1737/CT-BGDĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
5. Bùi Đình Phong. (2008). Văn hóa, đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hà Nội: Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Đình Phong
Nhà XB: Công an nhân dân
Năm: 2008
6. C.Mác, Ph.Ăng ghen. (2000). Toàn tập. Tập 42. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. Tập 42
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
7. Đại học quốc gia Hà Nội. (2003). Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Sự thật
Năm: 2003
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (1991). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (1996). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Sự thật
Năm: 1996
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành trung ương khóa VIII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (2001). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Sự thật
Năm: 2001
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (2002). Văn kiện Hội nghị lần thứ IX. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (2011). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Sự thật
Năm: 2011
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (2016). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2016
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam. (2021). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2021
17. Doãn Chính. (2013). Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Sự thật
Năm: 2013
18. Dương Tự Đam. (2000). Bản lĩnh thanh niên sinh viên ngày nay. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh thanh niên sinh viên ngày nay
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Thanh niên
Năm: 2000
19. Hà Thế Ngữ.(1990). Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1990
20. Hà Thế Ngữ. (2001). Giáo dục học-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: Đại học quốc gia
Năm: 2001
21. Hồ Chí Minh. (2000a). Toàn tập. Tập 5. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. Tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm qua các năm học - Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện củ chi, thành phố hồ chí minh hiện nay
Bảng 2.1 Tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm qua các năm học (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w