VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Đặng Thị Hoa TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN K
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Đặng Thị Hoa
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
TOÀN DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Đặng Thị Hoa
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
TOÀN DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ BÁ TRÌNH
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Đặng Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa triết học, Học viện Khoa học xã hội đã quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Lê Bá Trình thầy giáo đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thành luận văn
Trong khuôn khổ của một luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy
cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2016
HỌC VIÊN
Đặng Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO 13
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo 131.2 Những nội dung cơ bản về đoàn kết lương - giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh 26
Chương 2 SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO CỦA ĐẢNG TA TRONG VIỆC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC (TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY) 41
2.1 Sự vận dụng của Đảng ta về tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh thông qua các chủ trương, đường lối của cách mạng Việt Nam 412.2 Những kết quả đạt được và hạn chế của việc vận dụng tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta 502.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo của Đảng ta trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay 69
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đã tồn tại từ lâu trong đời sống tinh thần của con người Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội của nhiều dân tộc, có nơi, có lúc tôn giáo thống trị và chi phối các mặt của đời sống xã hội Bên cạnh đó nhân loại cũng chứng kiến những cuộc chiến tranh đẫm máu, kéo dài hàng trăm năm giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau trên thế giới Thực tế lịch sử chứng minh, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị sử dụng như một thứ công cụ đặc biệt để trấn át về mặt tinh thần đối với quần chúng nhân dân, nhưng trong nhiều trường hợp tôn giáo lại
là ngọn cờ tư tưởng cho việc tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động đoàn kết thành một khối thống nhất, bền gan, đồng sức, đồng lòng trong cuộc đấu tranh chống lại những áp bức, bất công để đòi quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc ở thế giới trần tục
Có một thời gian dài, nhiều người nhìn nhận không đúng về vai trò, vị trí của tôn giáo Họ cho rằng cùng với sự phát triển chín muồi của chủ nghĩa
xã hội, tôn giáo sẽ nhanh chóng mất đi Nhưng thực tế, tôn giáo không những không mất đi mà trong những năm tháng cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, tôn giáo ở nhiều nơi đã hồi sinh trở lại và phát triển mạnh mẽ, kèm theo đó là những vấn đề phức tạp cần được giải quyết như: những xung đột dân tộc, tộc người, tôn giáo liên quan đến xu thế khu vực hóa, quốc tế hóa tôn giáo và những vấn đề bảo tồn, giữ gìn truyền thống văn hóa của cộng đồng dân tộc, quốc gia Cùng với tình hình trên, nhiều hiện tượng niềm tin tôn giáo mang tính cuồng tín, phản động dẫn tới những hành động khủng bố mang tính hủy diệt, khiến cả thế giới phải sửng sốt đã xuất hiện
Trang 7Ở Việt Nam, đặc biệt là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986) đến nay, cùng với sự phát triển liên tục về kinh tế, xã hội, các tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo ngày càng phát triển góp phần làm phong phú, đa dạng đời sống tinh thần, tâm linh và các nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh đó cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội, nếu không có giải pháp cụ thể sẽ là mảnh đất tốt để các âm mưu, thế lực lợi dụng tôn giáo cản trở sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Để xây dựng đất nước đạt mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh" hiện nay, một nhiệm vụ hàng đầu, có ý nghĩa chiến lược đặt ra là phải đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết lương - giáo, xây dựng sự đồng thuận xã hội để sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy và trở thành sức mạnh nội sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong khối đại đoàn kết toàn dân ấy, tôn giáo gắn liền với một bộ phận quần chúng nhân dân và có mối quan hệ chặt chẽ với khối đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện tốt công tác tôn giáo là một trong những yêu cầu cấp thiết để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay
Để xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật đối với tôn giáo đặc biệt là vấn đề đoàn kết lương - giáo và việc áp dụng nó trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời kỳ đổi mới, thì nền tảng tư tưởng
- lý luận mà Đảng và Nhà nước ta dựa vào chính là Chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong đó có vấn đề đoàn kết lương - giáo, đoàn kết dân tộc
Việc nghiên cứu các quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo trong đó
có vấn đề đoàn kết lương - giáo và vận dụng một cách đúng đắn, nhuần nhuyễn quan điểm của Người trong hoạch định cũng như thực hiện các chính sách, chủ trương về công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay sẽ phát huy những
Trang 8mặt tích cực của tôn giáo, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, văn hóa, tâm linh của nhân dân, tăng cường nguồn lực và các điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực do tôn giáo mang lại
Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1986) đến nay đã đạt nhiều thành quả rất quan trọng, góp phần thành công của công cuộc đổi mới, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề yếu kém về nhận thức và hành động làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở nước ta hiện nay
Vì thế nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo - một trong những nội dung của đoàn kết tôn giáo, kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được trong thời kỳ đổi mới để vận dụng vào các chủ trương, chính sách và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách Xuất phát từ những lý do cấp thiết
trên tôi đã chọn đề tài : Tư tưởng Hồ Chí Minh về " đoàn kết lương - giáo"
và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời kỳ đổi mới làm luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn kết tôn giáo nói riêng trong đó có đoàn kết lương - giáo là một nội dung quan trọng và có ý nghĩa trong hệ thống tư tưởng của Người Đây cũng là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm, tập trung nghiên cứu Tùy theo đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các tác giả đã đề cập, khai thác dưới những góc độ khác nhau tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong đó có vấn đề đoàn kết lương - giáo Các công trình được tiếp cận, trình bày dưới nhiều hình thức
Trang 9khác nhau như giáo trình, sách, bài báo, luận văn, luận án, Có thể khái quát công trình nghiên cứu của một số tác giả, nhóm tác giả như:
- Một số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo
Cuốn sách Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng của Viện nghiên cứu
tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội xuất bản lần đầu năm 1996, xuất bản lần thứ hai năm 1998 có tái bản bổ sung Cuốn sách đã đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng thông qua những giai đoạn lịch sử nhất định cũng như thông qua cách giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng giải
phóng dân tộc ở nước ta
Cuốn sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam của
Viện nghiên cứu Tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, 1998, là công trình tập thể của các nhà khoa học đề cập đến tư tưởng tôn giáo tín ngưỡng của Hồ Chí Minh Tác giả Phạm Như Cương đã đặt Hồ Chí Minh trong sự so sánh với các nhà kinh điển của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin về vấn đề tôn giáo để làm rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận về tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh Cũng trong cuốn sách này, tác giả Đỗ Quang Hưng còn cho rằng, Nguyễn Ái Quốc đã phác họa những đường nét khá cơ bản về tính cách, bản chất, đặc tính một số tôn giáo, nhân vật tôn giáo của người Việt Nam và Á Đông
Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Đây là công trình của một tập thể tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên, hạn chế của cuốn sách là chỉ dừng lại ở việc sưu tầm những bài viết của Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo mà chưa đi sâu vào phân tích những luận điểm, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trong đó có đoàn kết lương - giáo
Trang 10Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta bàn về tôn giáo do Mã Giang tổng hợp cũng là một ấn phẩm do Tổng cục chính trị - Thư
viện quân đội in ấn và lưu hành năm 2003 Cuốn sách đã trình bày những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo; vấn
đề tôn giáo trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc hội thảo:
Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo Các bài viết tham gia hội thảo này được Nxb Tôn giáo ấn hành thành cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo (2003) do
GS.TS Lê Hữu Nghĩa và TS Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên Cuốn sách gồm hai phần: Phần thứ nhất gồm các bài viết Hồ Chí Minh về tôn giáo Phần thứ hai, gồm các bài tham luận Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo Cuốn sách đã trở thành tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo hoặc làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
Năm 2008, Viện nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, thuộc Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã có báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ 2007: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay do PGS.TS Nguyễn Đức Lữ làm chủ
nhiệm Đề tài gồm hai phần: Phần một, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Phần hai, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Công trình này đã khắc họa được một số tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo, về vai trò, vị trí và ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội Đề tài cũng chỉ ra sự vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh về tôn giáo trong ứng xử với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Đây là những nghiên cứu rất giá trị, có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với luận văn
Trang 11Trong luận án tiến sĩ triết học: Quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo (Viện nghiên cứu tôn giáo - Viện khoa học Xã hội Việt Nam, 2007) của tác giả Phạm Hữu Xuyên Tác giả đã phân tích cơ sở hình thành, quá trình phát triển, nội dung quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh Từ đó
đi vào phân tích, trình bày sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn từ 1969 đến nay Luận án là tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu về tôn giáo Tuy nhiên, luận án này chưa đề cập sâu được đến vấn đề đoàn kết tôn giáo trong đó có đoàn kết lương - giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng
tư tưởng đó của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Những nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo
Trong các công trình có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết dân tộc, đầu tiên phải kể đến công trình Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, do Phùng Hữu Phú (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh của
các tác giả: Nguyễn Khánh Bật, Bùi Đình Phong, Hoàng Trang, Nxb Nghệ
An, 1995; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết của
tác giả Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn Khoan, Nxb Lao động, Hà Nội,
2001; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004
Trong những công trình trên, các tác giả đã nêu và phân tích khá sâu sắc có sức thuyết phục các nội dung như: Cơ sở hình thành chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, những nội dung cơ bản trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí
Trang 12Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và một số nội dung trong tư tưởng của Người như: Vấn đề tôn giáo trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, phát huy tiềm năng cách mạng của đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phương pháp đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, và xem đây như một bộ phận, một khía cạnh để thực hiện đại đoàn kết dân tộc
Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam, Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2003 Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu có hệ thống các vấn đề như: Vấn đề dân tộc, tôn giáo; đại đoàn kết dân tộc; những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau cách mạng tháng Tám Theo các tác giả, vấn đề dân tộc, tôn giáo là những vấn đề lớn, rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội và đến nhiều quốc gia, trong đó, Việt Nam không là một ngoại lệ Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã giải quyết thành công vấn đề dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết dân tộc Đó là cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương - giáo để kháng chiến kiến quốc thắng lợi
Trong số các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, trước hết phải
kể đến luận văn Vấn đề đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Lý Thị Bích Hồng, luận văn thạc sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001 Luận văn đã trình bày từ cơ
sở hình thành cho đến nội dung, phương pháp đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả nêu ra thực trạng vấn đề đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đề xuất các giải pháp Tuy nhiên, do luận văn trình bày theo hệ quy chiếu của chuyên ngành tôn giáo học nên đã không thấy được hết các mối quan hệ biện chứng giữa tôn giáo với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Trang 13Ngoài ra, còn một số luận văn thạc sĩ khác viết về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh dưới các góc độ, phạm vi, đối tượng, không
gian, thời gian khác nhau như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
và sự vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay,
Nguyễn Xuân Trung, luận văn thạc sỹ Triết học, Đại học khoa học Xã hội
và Nhân văn, Hà Nội, 2008 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống địch lợi dụng tôn giáo và công tác đảm bảo an toàn trật tự ở nước ta hiện nay,
Đỗ Xuân Hiển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2008,
Các luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này thời gian gần đây, trước
hết phải kể đến luận án: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Văn
Siu, luận án tiến sĩ chuyên ngành CNXHKH, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 2011 Trong luận án này, chủ yếu tác giả đi sâu vào phân tích thực chất và thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo ở Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp để thực hiện tốt hơn chính sách tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo Khi đề cập đến sự vận dụng của Đảng và Nhà nước về đoàn kết lương - giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì thực chất tác giả mới chỉ trình bày đến vấn đề vận dụng về công tác tôn giáo mà chưa đi sâu vào vấn đề đoàn kết lương - giáo cũng như việc chỉ ra vai trò của đoàn kết lương - giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc
Luận án tiến sĩ Triết học: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
và sự vận dụng tư tưởng đó vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Xuân Trung, chuyên ngành Triết học, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2014 Trong luận án này, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu trình bày cơ sở hình thành, những nội cơ bản của đoàn kết
Trang 14tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh và việc thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo hiện nay ở nước ta Tuy nhiên, đoàn kết tôn giáo nó còn thể hiện ở rất nhiều mặt và nhiều khía cạnh khác nhau nữa mà trong nội dung và phạm
vi của luận án chưa thể đề cập đến hết được
Ngoài những công trình khoa học, cuốn sách tiêu biểu liên quan trực tiếp đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong đó có vấn đề đoàn kết lương - giáo đã trình bày, còn có những bài nghiên cứu trên các tạp chí, cuộc hội thảo khoa học, đặc biệt là tạp chí chuyên ngành tôn giáo Tác giả
Nguyễn Đức Lữ với bài " Tư tưởng tín ngưỡng tự do lương giáo đoàn kết ở
Hồ Chí Minh", Tạp chí Dân vận, số 6 - 2003; Về tư tưởng đoàn kết lương giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NCS Lê Đại Nghĩa, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
số 1 - 2001; Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã hội, TS Nguyễn Đức Lữ, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6 - 2002; Tư tưởng Hồ Chí Minh về điểm tương đồng đoàn kết lương giáo và vận dụng vào tình hình hiện nay, Thượng tá TS Nguyễn Mạnh Hưởng, tạp chí Giáo dục lý luận Chính trị quân sự, số 3 - 2003; Hồ Chí Minh với vấn đề tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo, Văn Thanh Mai, tạp chí Tư tưởng - văn hóa,
số 2 - 2005; Vận dụng quan điểm tôn giáo của Hồ Chí Minh để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng Việt Nam, Lê Bá Trình, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8 - 2011; Bối cảnh và cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, Nguyễn Xuân Trung, tạp chí giáo dục lý luận, số
Trang 15chung về tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, thực trạng và chính sách tôn giáo ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Cuốn sách của PGS.TS Nguyễn Hồng Dương ( chủ biên ) (2012) Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Các tác giả làm rõ quá trình nhận thức của Đảng về công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo qua các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng từ khi đổi mới đến nay Qua đó, các tác giả đi đến kết luận trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo sẽ vẫn tồn tại cùng dân tộc, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đổi mới các quan điểm, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo làm cho chức sắc, tín
đồ yên tâm hành đạo, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân "sống tốt đời, đẹp đạo"
Những kết quả, công trình nghiên cứu này đã có nhiều đóng góp quí giá cho việc nghiên cứu tôn giáo về phương diện lý luận chung cũng như góp phần hoạch định những chủ trương, chính sách đối với tôn giáo, công tác tôn giáo trên bình diện chung của cả nước Mặc dù tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong đó có đoàn kết lương - giáo đã và đang được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý công tác tôn giáo tập trung nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng do yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi cách nhìn, vận dụng mới tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vừa đảm bảo tính độc lập ổn định và tự chủ trong phát triển của đất nước, vừa đảm bảo sự hội nhập của nước ta với nền văn minh thế giới thì chưa có công trình nào đáp ứng được yêu cầu đó Đây là nội dung nghiên cứu chính mà luận văn muốn tập trung làm rõ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo, sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta để xây dựng khối đại
Trang 16đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc vận dụng tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Khái quát, hệ thống hóa những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về đoàn kết lương - giáo
- Đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời kỳ đổi mới
- Đề xuất giải pháp thực hiện tốt đoàn kết lương - giáo theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, nhằm củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương -
giáo, việc vận dụng tư tưởng này của Đảng ta trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời kỳ đổi mới và nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo, tìm hiểu mối quan hệ giữa đoàn kết tôn giáo mà cụ thể là đoàn kết lương - giáo với khối đại đoàn kết dân tộc cũng như những thành quả đạt được của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 17và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp logic- lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp; kết hợp với các phương pháp đối chiếu, so sánh, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn góp phần khẳng định tính cách mạng và khoa
học của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo và ý nghĩa chỉ đạo của tư tưởng này trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng
ta trong thời kỳ đổi mới
- Về thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công
tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo hoặc làm luận cứ cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách về tôn giáo trong tình hình hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 18
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG - GIÁO
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo
Tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng của người cha kết hợp với tình mẫu tử, tấm gương sáng ngời về nhân cách đạo đức, về lòng hy sinh tận tụy quên mình vì chồng, vì con của người mẹ - Bà Hoàng Thị Loan đã định hình trong Hồ Chí Minh rất sớm những tư tưởng về bình đẳng, tự do, nhân ái và khoan dung
Dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú, bền vững, với những truyền thống tốt đẹp, cao quý Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và
ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất đứng đầu bảng giá trị văn hóa - tinh thần Việt Nam Mọi học thuyết tôn giáo, đạo đức từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc
Trang 19Tiếp theo, là tinh thần nhân nghĩa; truyền thống đoàn kết; tương thân, tương ái; "lá lành đùm lá rách" trong hoạn nạn khó khăn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Truyền thống này được hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm Là một nước nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới
ẩm gió mùa, nhiều sông, suối, núi, rừng, trông ra biển Đông, có vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu, tài nguyên nhiệt đới phong phú Bên cạnh nhiều mặt thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi, người Việt cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách, đó là sự khắc nghiệt do tự nhiên mang lại như hạn hán, bão lũ và các cuộc xâm lược của các thế lực ngoại bang lớn mạnh Cuộc đấu tranh chinh phục, cải tạo tự nhiên như đắp đê, trị thủy và đấu tranh chống ngoại xâm đã tạo nên những giá trị tinh thần cao quý Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tính cố kết cộng đồng chặt chẽ, ý chí độc lập tự chủ, lòng dũng cảm, đức tính cần cù, sáng tạo, năng động, lạc quan,
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa những giá trị tốt đẹp từ truyền thống quý báu đó của dân tộc
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở trong cảnh "dường như trong đêm tối không có đường ra", bị bế tắc, khủng hoảng cả về lãnh đạo và đường lối cứu nước Trước tình hình đó, một loạt các phong trào cách mạng diễn ra nhằm xây dựng một xã hội mới như các phong trào cách mạng của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Tuy nhiên, tư tưởng cải lương của Phan Châu Trinh hay tư tưởng dựa vào sự giúp đỡ của Nhật để đuổi Pháp của Phan Bội Châu đều không khả thi và hết sức sai lầm vào lúc đó Hồ Chí Minh phê phán con đường cứu nước của các bậc tiền bối nhưng không có nghĩa là Người phủ nhận sạch trơn những quan điểm tiến bộ của các cụ (trong đó có những quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo) Người đã tiếp thu, kế thừa và phát triển những
tư tưởng về tôn giáo của các nhà cách mạng tiền bối
Trang 20Ngay từ đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và các sĩ phu tân học yêu nước
đã có những tư duy tiến bộ trong việc tiếp thu tư tưởng "tự do tín ngưỡng" của các nhà tư tưởng phương Tây Đặc biệt là Phan Bội Châu, ông đã có những tư tưởng rất tiến bộ trong quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng và cách ứng xử với đồng bào theo các tôn giáo khác nhau Ông phân biệt rõ những người tín hữu chân chính của tôn giáo với các thế lực phản động có âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ nhân dân ta Đồng thời, ông cũng thấy được những điều tốt đẹp, nhân văn, nhân đạo của các tôn giáo, tín ngưỡng và hết lời ca ngợi chúng Phê phán đấu tranh với những tệ nạn mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu Đặc biệt, ông hiểu được rằng kẻ địch muốn lợi dụng tôn giáo để nô dịch và chia rẽ nhân dân ta, vì thế nếu đảm bảo được tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân thì sẽ tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc thành một khối vững chắc để đánh giặc cứu nước và xây dựng đất nước giàu đẹp
Như vậy chúng ta có thể thấy, Hồ Chí Minh đã kế thừa ở một mức độ nhất định những quan điểm tiến bộ về tín ngưỡng, tôn giáo của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các sĩ phu tân học yêu nước đầu thế kỷ XX và phát triển nó lên ở tầm cao hơn
Hai là, tiếp thu những giá trị của văn hóa Đông - Tây và quan điểm của chủ nghĩa C Mác - V.I Lênin về tôn giáo, về tập hợp lực lượng cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học Truyền thống ấy tác động không nhỏ đến Người Vị danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh là người
đã tiếp thu và kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị tinh hoa của các nền văn hóa Đông - Tây Mà nói đến văn hóa phương Đông, ai cũng rõ Nho giáo chiếm một phần quan trọng và Người đã tiếp thu những giá trị tích cực của
Trang 21đạo đức Nho giáo Học thuyết của Khổng Tử được Hồ Chí Minh đánh giá rất cao với cốt tủy là tư tưởng trung, hiếu và sự tu dưỡng bản thân Người còn kế thừa những tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, nếp sống trong sạch, giản dị, chăm lo cho điều thiện và tinh thần bình đẳng chống mọi phân biệt đẳng cấp của nhà Phật và nhất là những
tư tưởng của chủ nghĩa C.Mác và V.I.Lênin về đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng với những khẩu hiệu nổi tiếng, có tính chất chiến lược như: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại" (C.Mác) "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại" (V.I.Lênin)
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu lý luận của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin theo phương pháp nhận thức mácxít đồng thời theo lối "đắc ý, vong ngôn" của phương Đông, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất, chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin để luận giải các vấn đề của dân tộc và thời đại, trong đó có vấn đề đoàn kết tôn giáo và đoàn kết lương - giáo là một trong những nội dung cơ bản của nó Xuất phát từ quan điểm quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng và động lực chính của cuộc cách mạng, tín đồ các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của quần chúng nhân dân C.Mác - Ph Ăngghen - V.I.Lênin đã sớm nhận thấy tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng của quần chúng tín đồ tôn giáo đối với đời sống xã hội và với cách mạng vô sản của giai cấp công nhân Vì thế, khi tuyên truyền, vận động họ đi theo cách mạng phải thật khéo léo và tránh xúc phạm đến đức tin của họ
Trong nhiều bài viết và trong khi dự thảo Cương lĩnh của Đảng, V.I.Lênin
đã đề cập sâu sắc về quyền tự do tín ngưỡng hoàn toàn của mọi người: mỗi người có quyền theo và truyền bá bất cứ tín ngưỡng nào và thay đổi tín ngưỡng,
Trang 22không có một quan chức nào có quyền đòi hỏi bất cứ ai về tín ngưỡng của mình, tất cả mọi nhà thờ, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật
Tôn giáo là một phạm trù lịch sử, ra đời từ rất sớm và tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội của con người Tuy nhiên, tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử lại không hề giống nhau Vì vậy, phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo
Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại cách mạng Vì thế, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng Mặt tư tưởng thể hiện thuần túy tín ngưỡng trong tôn giáo Nhưng, mặt chính trị bên cạnh ước nguyện giải phóng mình ra khỏi sự khổ ải ở chốn trần gian, trong đó có sự nô dịch của các thế lực thống trị bóc lột, mặt chính trị còn thể hiện ở việc lợi dụng tôn giáo để chống lại sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân Trong thực tế, hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen lẫn nhau, rất khó có sự phân biệt rạch ròi Những tư tưởng tôn giáo nhiều khi đã là sự lợi dụng của giai cấp thống trị
để nô dịch giai cấp bị trị và được ngụy trang khéo léo bằng những lời răn hoặc những phạm trù đạo đức trong tôn giáo Nhiều khi mâu thuẫn về mặt chính trị lại được các thế lực phản động ngụy trang bằng sự khác nhau về tư tưởng và ngược lại
Các luận điểm trên đây của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin về tôn giáo và đoàn kết quần chúng nhân dân được Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam Người cố gắng khai thác những giá trị văn hóa, đạo đức, nhân văn, tinh thần tốt đẹp của các tôn giáo nhằm đoàn kết tất cả mọi người theo hay không theo tín ngưỡng tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trang 23số lượng các vị thần mà điều đáng nói là các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt Đó chính là tính hỗn dung tôn giáo trong đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Đồng bào dân tộc Kinh có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; thờ Thành hoàng; thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc; thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước Đồng bào các dân tộc thiểu số có hình thức tín ngưỡng nguyên thủy như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo phản ánh đời sống tinh thần, tâm linh hết sức phong phú, đa dạng của các dân tộc Việt Nam
Đức tính khoan dung, khoan hòa được coi là một căn tính cơ bản, nổi trội của người Việt và khoan dung tôn giáo đã trở thành một thái độ, một lối ứng xử, một thứ triết lý sống, triết lý nhân sinh của người Việt Do đó, đặc điểm khoan dung trong tôn giáo Việt Nam cũng là cơ sở quan trọng để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo
Hoàn cảnh địa lý, lịch sử, văn hóa cũng như phương thức sản xuất khác nhau đã quy định tâm thức tôn giáo của người Việt Nam khác tâm thức của người phương Tây Ở đấy có sự khoan dung, hòa quyện giữa các tôn giáo, tín ngưỡng Người Việt chúng ta được xem là một dân tộc có phương thế sống dung hợp, có khả năng tiếp biến rất cao văn hóa ngoại sinh, bất cứ lý thuyết
Trang 24hay tôn giáo nào nếu giúp con người thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tri thức và đạt được mục đích sinh tồn, phát triển thì đều được chấp nhận Từ Nho giáo, Phật giáo, đến Công giáo khi vào Việt Nam đều bị bản địa hóa thông qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Vì thế, cách tiếp cận tôn giáo
ở Việt Nam thường không theo con đường cạnh tranh hoặc đối kháng Các tư tưởng, tôn giáo ngoại lai muốn cắm rễ và trở thành yếu tố của văn hóa bản địa đều phải khúc xạ, thay đổi và hòa nhập với các tôn giáo và tư tưởng bản địa nhưng không đe dọa đến bản sắc văn hóa và độc lập dân tộc Đó là sự khoan dung giữa tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo dân tộc Đặc điểm đó đã phản ứng đúng tâm thức tôn giáo của người Việt Nam, đồng thời là cơ sở để nước ta tồn tại nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau
Có thể nói, tính bao dung tín ngưỡng, tôn giáo và tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc nếp sống, nếp nghĩ bình thường của người Việt Nam,
là cơ sở của sự đoàn kết lương - giáo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Do đó, ở Việt Nam không có tình trạng kỳ thị tôn giáo, ngoại trừ những lúc tôn giáo bị các thế lực phản động lợi dụng để làm phương tiện thực hiện âm mưu chính trị của mình
` `Tôn giáo nào cũng dạy con người làm điều lành; tránh điều dữ; gạt điều dở; giữ điều hay; hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ Đó cũng chính là điều mà trong tâm thức mọi người dân Việt Nam luôn muốn hướng đến Họ muốn có cuộc sống thanh thản, bình an về mặt tinh thần, sống lương thiện, nhân hậu, đạo đức; sống theo lẽ phải, làm nhiều việc thiện, tu nhân tích đức, không làm việc xấu, không hành động độc ác, dối trá trái với lương tâm Họ tin vào luật "nhân nào quả ấy", "gieo gió gặp bão", "Ở hiền gặp lành" Đó là một trong những cơ sở từ thực tiễn của cuộc sống hình thành nên quan điểm đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh
Trang 25Hai là, thực tiễn vấn đề đoàn kết tôn giáo trong đó có đoàn kết lương - giáo ở Việt Nam, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XX nhằm chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng của kẻ thù
Chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch trong mọi hoàn cảnh, mọi thời đại Việc lợi dụng tôn giáo như một chiêu bài nhằm kích động, chia rẽ nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những thủ đoạn của chúng
Trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tôn giáo tồn tại và phát triển không thể tách rời chính trị, càng không thể đứng ngoài chính trị Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần nhiều thiền sư tham gia tích cực vào đời sống chính trị, xã hội; có uy tín và địa vị cao trong triều đình; là những cố vấn đắc lực cho nhà vua trong những quyết định trọng đại có liên quan đến sự tồn vong của đất nước Trong thời nhà Nguyễn và sau này cũng có nhiều linh mục, tu sĩ đi với dân tộc, góp phần canh tân đất nước, tham gia vào công cuộc canh tân đất nước như Nguyễn Trường Tộ, Đậu Quang Lĩnh, Đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc ta thì sự đóng góp công sức của đồng bào các tôn giáo vào sự thắng lợi chung của toàn dân tộc là không thể phủ nhận Điều đó cho ta thấy, tín đồ các tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong quần chúng nhân dân, đã cùng với cộng đồng dân tộc đấu tranh để dựng nước và giữ nước Nhưng tôn giáo vốn là lĩnh vực nhạy cảm, lại thường xuyên bị kẻ thù xâm lược lợi dụng để thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng Vì thế, khi xâm lược Việt Nam, các thế lực đế quốc đều tìm mọi thủ đoạn lợi dụng các tôn giáo với các mục tiêu cụ thể như chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; kích động đồng bào các dân tộc thiểu số; tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách tôn giáo của Đảng
Trang 26và Nhà nước; tạo dựng tổ chức phản động trong đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biến các tôn giáo Việt Nam thành lực lượng đối lập với dân tộc, chống lại cách mạng Trong bối cảnh đó, hầu hết các tôn giáo ở nước ta đều bị các thế lực thù địch và phản động trong
và ngoài nước lợi dụng vào những mưu đồ chính trị chống phá cách mạng nước ta
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên Với bản chất từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hòa bình, tôn trọng sự sống, đạo Phật
đã gắn bó đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Phật giáo luôn nêu cao ngọn cờ yêu nước, kề vai sát cánh cùng nhân dân
cả nước đấu tranh giải phóng dân tộc Đa số các chùa đã trở thành cơ sở cách mạng, dự trữ quân lương, nuôi giấu cán bộ Nhiều tăng ni, Phật tử đã hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc, cứu nước đồng thời tích cực tăng gia sản xuất
để ủng hộ kháng chiến Không chỉ trực tiếp tham gia chiến đấu, Phật giáo Việt Nam còn phát động phong trào "chấn hưng Phật giáo" với mục đích chấn hưng tư tưởng của một bộ phận tăng ni, Phật tử đặc biệt là lớp trẻ lúc bấy giờ, hướng họ không sa đà vào những hoạt động mê tín dị đoan, sống cuộc sống vật chất, thực dụng, thiếu lý tưởng do luồng tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mang lại Cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đã dấy lên làn sóng đề cao tinh thần, văn hóa dân tộc, là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy cách mạng lên cao Bên cạnh đó, cũng có tình trạng thực dân Pháp lợi dụng phong trào chấn hưng Phật giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta
Thất bại ở Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ Thế nhưng, thực dân Pháp lại câu kết với đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu
Trang 27mới Để đạt được âm mưu đã vạch ra, một trong những thủ đoạn nham hiểm
mà Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra là chính sách di cư Với chiêu bài tuyên truyền lừa bịp rằng : "Đức Mẹ và con trai là Chúa Giêsu đã vào Nam" chúng đã đưa hàng triệu tín đồ đồng bào Công giáo di cư vào Nam nhằm làm chỗ dựa chính trị, quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời cô lập, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Có thể thấy, việc kẻ thù lợi dụng đạo Công giáo nhằm phá hoại lực lượng cách mạng của chúng ta đã đặt nhân dân ta, dân tộc ta trước nhiệm vụ hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có sự mềm dẻo và linh hoạt, không cứng nhắc, khiên cưỡng
Như vậy, rõ ràng trong từng thời kỳ lịch sử; đặc biệt là thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ; các thế lực thực dân đế quốc luôn lợi dụng tôn giáo dưới mọi hình thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và tôn giáo; gây hiềm khích kỳ thị, chia rẽ giữa các tôn giáo để tiến tới mục tiêu chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
Bên cạnh đó, các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam do các sĩ phu, văn thân yêu nước và các phong trào đấu tranh do các trí thức mới tổ chức lãnh đạo nổi lên nhưng cuối cùng đều thất bại Trong rất nhiều nguyên nhân thất bại, có một nguyên nhân cực kỳ quan trọng là do chưa đoàn kết được đồng bào mọi lực lượng trong xã hội (trong đó có đồng bào theo tôn giáo) tham gia ủng hộ các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn giang sơn, gấm vóc của tổ tiên
Trước thực trạng đó, đoàn kết đồng bào các tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào theo đạo và không theo đạo vì sự nghiệp giải phóng dân tộc là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng Đó cũng chính là cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh
Trang 28Ba là, thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc
Trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, buôn ba qua khắp các châu lục để tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức, mong muốn tìm ra con đường chân chính cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Nguyễn Ái Quốc đã đến Liên Xô, nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và Chính sách đối với tôn giáo của V.I.Lênin, của nhà nước Xô viết chắc chắn những bài học kinh nghiệm quý báu đối với Người
V.I.Lênin sinh trưởng trong một gia đình trí thức có khuynh hướng tự
do về tư tưởng, ngay từ khi còn nhỏ ông đã nhận thấy sự bất lực của niềm tin tôn giáo trước những vấn đề cuộc sống Khi đã khôn lớn và trong bước đầu hoạt động cách mạng, V.I.Lênin đã quan tâm nhiều đến sinh hoạt tôn giáo của quần chúng, đã đề cập quan hệ giữa Nhà nước và giáo hội, phát triển các luận điểm mácxít về tự do tín ngưỡng V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, người cộng sản đòi hỏi sự tách biệt giáo hội khỏi nhà nước, nhà thờ khỏi trường học, bảo đảm tự do tín ngưỡng, mọi công dân có quyền lựa chọn tôn giáo, mọi tín ngưỡng, giáo hội đều phải bình đẳng với nhau
Cũng như C Mác và Ph Ăngghen, V.I.Lênin nghiên cứu tôn giáo không phải vì mục đích tự thân, không nhằm xây dựng một hệ thống lý luận thuần túy về tôn giáo mà do những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn phong trào cách mạng V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, người cộng sản đòi hỏi sự tách biệt giáo hội khỏi nhà nước, nhà thờ khỏi trường học, bảo đảm tự do tín ngưỡng, mọi công dân có quyền lựa chọn tôn giáo, đồng thời xóa bỏ tình trạng giáo hội thống soái; mọi tín ngưỡng, giáo hội đều phải bình đẳng với nhau
Sau Cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin ký sắc lệnh Về việc tách nhà thờ khỏi Nhà nước và tách trường học khỏi nhà thờ Sắc lệnh này quy định vị
Trang 29trí bình đẳng giữa các tổ chức tôn giáo đồng thời đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động của các tôn giáo Khi ban bố tự do tín ngưỡng, sắc lệnh trên cũng nhấn mạnh việc tự do tiến hành các nghi lễ tôn giáo, không được vi phạm đến trật tự công cộng và quyền công dân Một mặt, V.I.Lênin vạch rõ tác hại của tôn giáo khi bị các thế lực phản động lợi dụng làm công cụ
áp bức tinh thần quần chúng và củng cố địa vị thống trị của chúng Mặt khác, V.I.Lênin kiên trì với quan điểm không tuyên chiến với tôn giáo, không được làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo của quần chúng thay vào đó ông đề ra những phương pháp, nguyên tắc đúng đắn giải quyết vấn đề tôn giáo thông qua tuyên truyền, giáo dục quần chúng và chính đảng của giai cấp vô sản đoàn kết, lôi cuốn được quần chúng vào công cuộc xây dựng xã hội mới Điều
đó, vừa hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Điều này đã thể hiện rõ quan điểm tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo đối với mỗi con người của Đảng Cộng sản Nga ngay
từ khi mới cầm quyền
Nhằm đáp ứng những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn xây dựng Đảng cầm quyền, V.I.Lênin nêu ra luận điểm có tính đột phá trong vấn đề kết nạp đảng viên là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo đó là: "Không nên nhất luận và bất cứ trường hợp nào cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viên của Đảng Dân Chủ - Xã hội nhưng lại càng không nên nhất luận tuyên
bố ngược lại" [49, tr 519] Và V.I.Lênin nói thêm: "Chúng ta không những sẵn sàng kết nạp mà còn cố gắng thu hút vào trong Đảng Dân Chủ - Xã hội tất
cả những công dân còn tin ở thượng đế" [49, tr 520]
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đem lại những thành quả to lớn trong giải quyết vấn đề tôn giáo nói chung và đoàn kết lương - giáo nói riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Trang 30Đảng ta đã đề ra chính sách tôn giáo với những nội dung như: tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương - giáo, đoàn kết toàn dân; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, giúp đồng bào “phần xác được ấm no, phần hồn được thong dong”; phát huy tinh thần yêu nước, khích lệ, biểu dương những tấm gương sống “tốt đời, đẹp đạo” trong các chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo; kiên quyết đấu tranh chống mê tín dị đoan và sự lợi dụng tôn giáo vào mục đích xấu Chính sách đúng đắn đó đã có tác dụng to lớn trong đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin để giải quyết vấn đề người theo tôn giáo có được vào đảng hay không Trong buổi nói chuyện ở lớp chỉnh huấn cán bộ trí thức, một số anh chị em hỏi : Một người công giáo có thể vào Đảng lao động được không? Hồ Chí Minh đã nói: "Có Người công giáo nào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được" [38, tr 115]
Hồ Chí Minh có nhiều năm sống và làm việc tại Trung Quốc, Người rất
am hiểu văn hóa Trung Quốc, vì thế, những quan điểm và thực tiễn giải quyết vấn đề tôn giáo của Trung Quốc là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tư tưởng của Người về tôn giáo và đoàn kết lương - giáo Sau khi cách mạng thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa được thành lập năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đối với vấn đề mối quan hệ giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội Với "Văn kiện số 19" được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành mang tên "Quan điểm cơ bản và chính sách cơ bản về vấn đề tôn giáo thời kỳ xã hội chủ nghĩa ở nước ta" Trong văn kiện, quan điểm cơ bản về tôn giáo được
Trang 31Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định là: Tôn giáo còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng tôn giáo, công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo, có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo này cũng có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo khác, có quyền cải đạo hoặc bỏ đạo Văn kiện này đã đặt nền móng cho các quan điểm và chính sách tôn giáo của Trung quốc sau này Nổi lên là quan điểm: tích cực dẫn dắt tôn giáo thích ứng với chủ nghĩa xã hội" Bên cạnh đó,
là chính sách độc lập và tự quản của hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc Sau này, trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến sự độc lập của tôn giáo nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng
Chính sách về tôn giáo của các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên
Xô thực tế đã đạt được những kết quả vô cùng ý nghĩa trong công tác tôn giáo, một mặt, vẫn đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng trong chế độ xã hội chủ nghĩa; mặt khác, vẫn tạo được sự hài hòa, không có xung đột trong tôn giáo
Bên cạnh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành quan điểm đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh còn phải kể đến những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của chính bản thân Nguyễn Ái Quốc Đó là một con người có trí tuệ, am tường, hiểu biết nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự am hiểu rất sâu sắc về tôn giáo Từ nhiệm vụ của cách mạng,
từ tấm gương đạo đức của mình, từ phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng kế thừa chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã dần hình thành quan điểm đoàn kết lương - giáo, đoàn kết dân tộc
1.2 Những nội dung cơ bản về đoàn kết lương - giáo theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
1.2.1 Khái niệm lương - giáo, đoàn kết, đoàn kết lương - giáo
* Khái niệm "Lương - Giáo"
Khái niệm "Lương - Giáo" xuất hiện từ thời nhà Nguyễn Theo đó,
Trang 32có thể hiểu rằng: tất cả những người không theo Công giáo, những người theo
Phật giáo, Nho giáo thuộc bên Lương; người theo đạo Công giáo được gọi
là Giáo Tuy nhiên, khái niệm này có sự phát triển qua các thời kỳ Sau này, Lương là khái niệm để chỉ những người không theo tôn giáo, còn Giáo là chỉ những người có tôn giáo Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm Lương - Giáo ở nghĩa như trên khi Người nói: "Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương
và đồng bào các tôn giáo" [ 52, tr.30] Ngày nay, khái niệm "Lương - Giáo" ít
người sử dụng vì có sự phân biệt đối xử với tôn giáo mà thay vào đó là cụm
từ những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo
* Khái niệm "đoàn kết"
Khái niệm "đoàn kết" đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài
người, ở Việt Nam xuất hiện từ trong quá trình đấu tranh "dựng nước và giữ nước", trong tổ chức xây dựng đời sống chính trị, kinh tế - xã hội Vì vậy, trên các phương diện khác nhau, sẽ có những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về đoàn kết
Trên phương diện kinh tế, đoàn kết là một quá trình giải quyết
những mâu thuẫn, xung đột liên quan đến lợi ích và quyền lợi của mỗi cá nhân, để đi đến những thỏa thuận chung mà mọi người có thể chấp nhận được, dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền lợi của từng nhóm người, nhóm đối tượng trong xã hội
Trên phương diện xã hội, đoàn kết là sự đồng thuận, đồng tâm, đồng
lòng, nhất trí của các thành viên trong xã hội Mọi người thống nhất với nhau cùng đồng hành, cùng nhau thực hiện vì mục tiêu chung Cho dù vẫn còn sự khác biệt nhất định về quan điểm, suy nghĩ, cách thức hành động; nhưng thông qua mục tiêu chung, các thành viên tìm thấy lợi ích và quyền lợi của
Trang 33mình, tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội Đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh tập thể to lớn
Trên phương diện văn hóa, đoàn kết chính là một nét đẹp văn hóa của
con người và xã hội loài người Đoàn kết là một đức tính, một hành vi ứng xử thể hiện thái độ nhân văn cao cả, thể hiện tính xã hội của con người cùng chung tay, góp sức nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc và của nhân loại
Trên phương diện tâm lý, đoàn kết là sự khoan dung, nhân từ, độ lượng,
coi trọng tình thương yêu và lẽ phải, điều thiện Nó bắt nguồn từ tính hướng thiện tồn tại sẵn trong bản thân mỗi con người chúng ta, nó là yếu tố quan trọng để mỗi thành viên hòa mình vào cộng đồng, vào xã hội
Trên phương diện tổ chức, đoàn kết dùng để chỉ một cấp độ cao của sự
tập hợp mang tính tự giác của từng cá nhân, từng tổ chức Trong tập hợp đó
có sự cố kết, ràng buộc, chế định lẫn nhau, nếu thiếu nó sẽ không thể thực hiện thắng lợi được mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức đề ra Sự thống nhất trong đa dạng của tổ chức sẽ tạo nên tính năng động, sáng tạo của tổ chức
Để hiểu rõ hơn khái niệm đoàn kết, chúng ta có có thể tham khảo qua một số nghiên cứu sau:
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: Đoàn kết là "kết thành một khối thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau" [72, tr 645]
Theo Từ điển Chính trị vắn tắt: "Đoàn kết là hợp nhiều người thành một khối vững vàng, cùng một lòng một dạ nhất trí với nhau; sự ủng hộ của các phong trào, các tổ chức hoặc cá nhân trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thống nhất Sự phối hợp hoạt động và hành động " [64, tr 128]
Từ việc nghiên cứu các khái niệm trên, là cơ sở giúp chúng ta rút ra khái niệm đoàn kết và đoàn kết lương - giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh Theo nhà nghiên cứu Phạm Hồng Chương, thuật ngữ "đoàn kết" được Hồ Chí
Trang 34Minh sử dụng thường xuyên và khá phổ biến trong suốt quá trình làm cách mạng với nội hàm, mục đích và đối tượng khác nhau như: đoàn kết nhân dân, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết nội bộ, đoàn kết tôn giáo, đoàn
kết lương - giáo, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, Cho nên, tư tưởng
đoàn kết của Người, luôn giữ vị trí hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm đoàn kết là sự liên minh chặt chẽ thành một khối thống nhất của số đông người có chung mục đích, lý tưởng, biết đồng tâm hiệp lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, bảo đảm thực hiện thành công mục đích, lý tưởng đó Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh được tạo nên bởi bốn yếu tố cơ bản "đông", "đích", "kết", "đồng"
"Đông", chỉ lực lượng của khối đoàn kết
"Đích", muốn nói tới mục đích của đoàn kết
"Kết", là sự liên kết, liên hợp số đông người có cùng mục đích, lý tưởng thành một khối thống nhất chặt chẽ
"Đồng", trong tư tưởng của Người đó là sự "đồng tâm, nhất trí", "đồng lòng, hiệp sức", "đồng tâm, hiệp lực"
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đoàn kết là một chiến lược nhất quán lâu dài, không phải là một thủ đoạn chính trị nhằm cứu nước, giải phóng dân tộc, giai cấp, con người
* Khái niệm "đoàn kết lương - giáo"
Đoàn kết lương - giáo là một nội dung quan trọng, bộ phận hợp thành chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh Đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương - giáo trở thành quan điểm, đường lối nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo là một trong những cơ sở lý luận chỉ đạo quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Trang 35Trong quá trình hoạt động lý luận và chỉ đạo thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan niệm: Đoàn kết lương- giáo là đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng
Hiện nay, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, diễn đạt là
“đoàn kết giữa đồng bào theo và không theo tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo khác nhau Đảng ta luôn nhất quán với tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về đoàn kết lương - giáo nói riêng; đồng thời cũng bổ sung, phát triển quan điểm của Người phù hợp với thực tiễn tình hình tôn giáo và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng Có thể khái quát “Quan niệm về đoàn kết lương - giáo” như sau: Đoàn kết lương - giáo trong quá trình cách mạng Việt Nam là đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ cách mạng
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa C.Mác - V.I.Lênin, truyền thống đoàn kết của dân tộc, những giá trị nhất định của tôn giáo, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Tư tưởng đó còn được hình thành bởi nhân cách một nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, đạo đức phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Về mục tiêu đoàn kết lương - giáo
Đoàn kết lương - giáo nhằm phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo sức mạnh tổng hợp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, thống nhất
Trang 36đất nước, xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo được hình thành từ sớm Nội dung tư tưởng đoàn kết lương - giáo ra đời, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam, cần phải đoàn kết, tập hợp đông đảo lực lượng, cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của đoàn kết lương - giáo là: tập hợp, đoàn kết toàn dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, giải phóng con người thoát khỏi nô dịch,
áp bức, bất công Sau khi giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Chính vì vậy, ngay sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết” [35, tr 9] Người kêu gọi toàn dân, lương và giáo xoá bỏ mặc cảm, thực hiện tư tưởng: đoàn kết lương - giáo, chủ trương “lương - giáo đoàn kết để kháng chiến, kiến quốc thắng lợi” Hồ Chí Minh khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chủ trương: “đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào, và quá khứ họ đã hợp tác phe nào” [62, tr 312]
Theo Hồ Chí Minh, giữa tôn giáo và dân tộc có mối quan hệ khăng khít với nhau, đồng bào tôn giáo cũng là công dân của một đất nước Đối với những người có tôn giáo thì đức tin và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau
Trang 37Mỗi người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước, đồng thời vẫn là một tín đồ chân chính, và tất cả đều có chung mong muốn mình được
tự do, hạnh phúc, đều muốn nước nhà được độc lập Trong thư gửi Phật tử Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: " Nay đồng bào ta đại đoàn kết,
hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích
Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ" [36, tr 197]
Trong thư gửi giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Chí Minh viết: " Như Đức Cha đã nhấn mạnh trong thư, tôi tin rằng vị Cố vấn thân ái và đáng kính của tôi sẽ làm hết sức mình để tạo ra sự hiệp nhất giữa mọi người không phân biệt tôn giáo nhằm chống lại bọn ngoại xâm Xin Đức Cha cầu Chúa ban phúc lành cho đất nước ta để cuộc kháng chiến của chúng ta đạt thắng lợi" [62, tr 188]
Và trong dịp Nôen năm 1947, trong thư gửi đồng bào Công giáo, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương; đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do " [36, tr 333]
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mục tiêu
cụ thể của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo có sự phát triển phù hợp Tuy nhiên, mục tiêu xuyên suốt của đoàn kết lương - giáo là góp phần phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ
và giàu mạnh, tiến lên chủ nghĩa xã hội Thực tế lịch sử đã cho thấy được tư tưởng đúng đắn của Người khi giải quyết vấn đề đoàn kết lương - giáo, đó là
sự tin tưởng của nhân dân cả lương và giáo vào Đảng, Chính phủ, từ đó đoàn kết, tập hợp lực lượng toàn dân tộc để kháng chiến thắng lợi và xây dựng đất nước
Trang 38Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì thực hiện đoàn kết lương - giáo Trong “Thư gửi Hội nghị đại biểu đồng bào theo đạo Thiên Chúa toàn miền Bắc”, Hồ Chí Minh viết: “Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [42, tr 314]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương - giáo là một nội dung quan trọng, không tách rời trong di sản tư tưởng của Người Thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương - giáo góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh Đây là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, là mong muốn của Hồ Chí Minh, cũng là mục đích phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân
ta, không phân biệt lương - giáo, tầng lớp, địa vị xã hội
* Về lực lượng: Đoàn kết giữa những người theo và không theo tôn giáo, giữa tín đồ, chức sắc các tôn giáo và giữa các tôn giáo với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là sự nghiệp của toàn dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Để đạt được mục tiêu cuối cùng, Đảng phải tuyên truyền, giáo dục, vận động, giúp đỡ toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất, không để sót một lực lượng, một cá nhân nào đứng ngoài đoàn thể nhân dân trong Mặt trận Người chính là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên nền tảng là sự đoàn kết một lòng của toàn dân, không phân biệt lương - giáo, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ tạo động lực to lớn để nhân dân ta bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Mục đích cao cả mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra và quyết tâm thực hiện trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đó là sau khi giành độc lập dân
Trang 39tộc, nước ta phải đi lên chủ nghĩa xã hội Đoàn kết lương - giáo, đoàn kết tất
cả các lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân cũng là để hướng tới mục tiêu chung đó Nói chuyện với một số linh mục và đồng bào Công giáo, Người khẳng định:
"Mục đích Chính phủ ta đeo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho toàn dân Song để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người, cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội Nếu đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta
và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc Ngài sẽ
là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người" [58, tr 79]
* Phương pháp thực hiện đoàn kết lương - giáo
Để thực hiện đoàn kết lương - giáo trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh đã chú trọng kết hợp sáng tạo các phương pháp
cơ bản sau:
Một là, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, có thái độ khoan dung, trân trọng những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo
Để đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, theo Hồ Chí Minh, một phương pháp quan trọng là phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu không thể thiếu đối với nhân dân; là cái thiêng liêng của mỗi người không ai được xâm phạm hay làm tổn hại đến điều đó Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tôn trọng tự do tín ngưỡng tức là tôn trọng nhân dân; tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân; tôn trọng một yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội
Trang 40Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân,
Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến luật pháp với tư cách là công cụ để nhân dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mình
Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ quan điểm về việc chống vi phạm tự do tín ngưỡng dưới mọi hình thức Và để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân,
Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến việc chống vi phạm tự do tín ngưỡng từ phía cán bộ của Đảng, Nhà nước, đoàn thể, Mặt trận Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền vận động để họ hiểu rõ và tin tưởng vào chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, từ đó giáo dục quần chúng thực hiện đúng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mình Tự do tín ngưỡng là một vấn đề dễ bị kẻ địch lợi dụng xuyên tạc, tuyên truyền, lừa bịp nhân dân Do đó, Hồ Chí Minh đấu tranh không khoan nhượng chống lại sự xuyên tạc này
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một gương sáng mẫu mực về việc tôn trọng đức tin của tín đồ Điều này được thể hiện rõ trong những bức thư Người gửi cho giáo dân, giáo sĩ, tăng ni, phật tử nhân dịp lễ Nôen, lễ Phật đản Quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân chỉ thực sự được đảm bảo khi được gắn với độc lập tự do, gắn với vận mệnh Tổ quốc Do vậy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là điều kiện tiên quyết nhất, là cơ sở nền tảng để nhân dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
Tôn trọng và đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách lược chính trị, nhằm tranh thủ tập hợp lực lượng mà cao hơn đó là sự ứng xử văn hóa đối với đời sống tâm linh của con người Đây là một trong những phương pháp đoàn kết lương - giáo của Hồ Chí Minh, đã phản ánh được tinh thần dân chủ và nhân văn sâu sắc; có sức mạnh quy tụ được quần chúng tín đồ xung