1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Giao an day them khoi 11

12 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 37,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với NK, thơ văn Việt Nam "lội xuống ruộng đồng "và cảm thông sâu sắc với đời sống dân quê Có thể nói rằng: trước và sau đó, chưa có nhà thơ nào có bức tranh sinh động về làng nước và cha[r]

Trang 1

Vào Phủ Chỳa Trịnh

Lờ Hữu Trỏc

-* Cỏc hướng ra đề:

1 Giỏ trị hiện thực (Bức tranh hiện thực) qua đoạn trớch “Vào Phủ chỳa Trịnh” của LHT?

2 Tấm lũng, nhõn cỏch của lương y- nhà văn LHT… qua đoạn tr.ớch “Vào Phủ chỳa Trịnh” của LHT?

3 Ngũi bỳt kớ sự sắc sảo của LHT qua đoạn trớch “Vào Phủ chỳa Trịnh” của LHT?

Gợi ý

I Vài nột về tỏc giả- tỏc phẩm

1 LHT khụng chỉ biết đến là một danh y tài năng, 1 thầy thuốc đức độ, giàu tõm huyết

mà cũn là nhà văn- tỏc giả của cuốn kớ sự nổi tiếng “Thượng kinh kớ sự” với ngũi bỳt kớ

sự chõn thực, sắc sảo LHT đó vẽ lại bức tranh sinh động về cuộc sống xa hao nơi phủ chỳa, về quyền uy, thế lực nhà chỳa nhõn chuyến đi thăm bệnh cho thế tử Trịnh Cỏn với những điều tai nghe, mắt thấy Bờn cạnh ý nghĩa hiện thực tỏc phẩm cũn bộc lộ đụi nột

về nhõn cỏch, tõm hồn của HTL ụng

- Tỏc giả Lờ Hữu Trỏc (1724-1791) quờ ở Liờu Xỏ, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương, nay thuộc tỉnh Hưng Yờn Tờn hiệu là Hải Thượng Lón ễng (Hải: hải Dơng Thơng- Th-ợng Hồng cú nghĩa là ụng già lười)

- Sinh ra trong một gia đỡnh cú truyền thống học hành, thi cử đỗ đạt làm quan, bản thõn ụng là một con người học rộng biết nhiều, nhưng khụng đi theo con đường hoạn lộ mà

về quờ mẹ (Hương Sơn- Hà Tĩnh) ở ẩn, làm một thầy thuốc cứu đời

- Sự nghiệp: được tập hợp trong bộ Hải thượng y tụng tõm lĩnh gồm 66 quyển, biờn

soạn trong thời gian gần 40 năm, đõy là tỏc phẩm y học xuất sắc nhất trong thời kỡ

Trung đại, trong đú cuốn cuối cựng Thượng kinh kớ sự là một cuốn sỏch cú giỏ trị văn

học độc đỏo

2 Hoàn cảnh ra đời: Tỏc phẩm ghi lại những cảm nhận mắt thấy tai nghe của Lờ Hữu

Trỏc trong khoảng thời gian ụng được triệu hồi về kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cỏn, tổng cộng là 9 thỏng 20 ngày

- Thể loại: kớ sự -> thể loại văn học mang tớnh khỏch quan, chớnh xỏc cao Kớ sự vừa phản ỏnh chõn thực cuộc sống xó hội dưới con mắt của người viết vừa cho phộp tỏc giả thể hiện trực tiếp suy nghĩ, tỡnh cảm, quan điểm riờng của mỡnh

- Giỏ trị tỏc phẩm: bờn cạnh giỏ trị về mặt y học, Thượng kinh kớ sự cũn là một tỏc phẩm

văn học độc đỏo mang giỏ trị hiện thực và nhõn văn sõu sắc

Túm tắt tỏc phẩm:

Sơ đồ túm tắt cỏc sự việc trong đoạn trớch:

Nhận Thỏnh chỉ (sỏng sớm mồng một thỏng 2)-> vào cung (cửa sau)-> qua nhiều lần cửa-> vườn cõy-> hành lang quanh co -> điếm "Hậu mó quõn tỳc trực"-> cửa lớn-> hành lang phớa Tõy-> Đại đường, Quyển bồng, Gỏc tớa, phũng trà-> trở ra điếm "Hậu mó" ăn cơm-> mấy lần trướng gấm-> vào hậu cung-> hầu mạch, dõng đơn-> về nơi trọ

II Tỏc phẩm

Đoạn trích VPCT đã vẽ lại bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh LHT đã sử dụng cách trần thuật thứ nhất, ngời trực tiếp đợc tiếp cận khung

Trang 2

cảnh, cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa vừa tạo tính chân thực khách quan vừa có thể bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ riêng của mình Sức hấp dẫn của đoạn trích là tài năng kí sự của tác giả: quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo

1 Bức tranh nơi phủ chỳa

TG đó mở đầu bằng một sự việc với tỡnh tiết và thời gian cụ thể, với nhịp điệu cõu văn

khẩn trương, gấp gỏp “ Mồng 1 thỏng 2 Sỏng tinh mơ tụi nghe thấy tiếng gừ cửa rất gấp Tụi chạy ra mở cửa…người đầy tớ quan Chỏnh Đường vừa núi vừa thở hổn hển… tụi bốn sửa sang ỏo mũ chỉnh tề lờn cỏng vào phủ cỏng chạy như ngựa lồng, tụi bị xúc một mẻ…” Cõu văn ngắn gọn, giàu thụng tin, lời văn giản dị, giọng văn nhẹ nhàng, tự

nhiờn

a) Quang cảnh phủ chỳa

- Lần theo mạch tự sự, nhịp kể đột nhiờn chậm lại dường như là nhỡn ngắm và suy ngẫm

về cảnh và người nơi đõy Bức tranh phủ chỳa được miờu tả theo trỡnh tự khụng gian Người đọc cựng được khỏm phỏ và phỏt hiện qua con mắt của LHT và bước chõn ụng

- Vào phủ chỳa phải qua rất nhiều lần cửa và những “hành lang quanh co nối nhau liờn tiếp, cõy cối um tựm, chim kờu rớu rớt, danh hoa đua thắm, giú thoảng mựi hương” Phủ chỳa cú “điếm hậu mó quõn tỳc trực”, “những cỏi cõy lạ lung, những hũn đỏ kỡ lạ”, “cột

và bao lơn lượn vũng”

-> Khung cảnh tươi đẹp và kỡ lạ như “chốn bồng lai tiờn cảnh”

- Sau của lớn và điếm “Hậu mó” là đến nhà “Đại Đường”, “Quyển Bồng” ,”Gỏc tớa” thật là cao và rộng Chỉ nghe tờn đó thấy lộng lẫy, xa hoa Kiệu vua chỳa, đồ nghi

trượng, sập vũng, cột…đều là thứ “nhõn gian chưa từng thấy, tỏa ỏnh hào nhoỏng “sơn son thiếp vàng” Đồ dung để tiếp khỏch ăn uống toàn là mõm vàng, chộn bạc

- Nội cung được miờu tả “ở trong tối om, ko thấy cú cửa ngừ gỡ cả Quang cảnh ở đõy

gồm những chiếu gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đốn sỏp lấp lỏnh, hương hoa ngào ngạt, cung nhõn xỳm xớt, mặt phấn ỏo đỏ

=> Quang cảnh phủ chỳa là chốn thõm nghiờm, kớn cổng cao tường, vụ cựng xa hoa, trỏng lệ, lộng lẫy, nguy nga Màu sắc chủ đạo trong bức tranh phủ chỳa là đỏ, vàng rực

rỡ đua nhau lấp lỏnh Cuộc sống trong phủ chỳa là cuộc sống hưởng lạc xa hoa với cung tần mĩ nữ và mún ngon vật lạ nhưng khụng khớ ở đú lại ngột ngạt, tự tỳng chỉ thấy hơi người, hơi phấn sỏp, đốn nến thiếu hẳn sự thanh thoỏt của khi trời

*) Cung cỏch sinh hoạt nơi phủ chỳa

- Đến phủ chỳa phải cú thỏnh chỉ, cú thẻ mới được vào, để dẫn người vào phủ chỳa cú

một tờn đầy tớ chạy đằng trước hột đường, lớnh trỏng đem cỏng đún người

- Phủ chỳa là cả một guồng mỏy phục vụ đụng đỳc, tấp nập: người giữ cửa truyền tin bỏo rộn ràng, người cú việc quan đi lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ, quõn chờ sẵn ở điếm hậu mó để nhận lệnh, cỏc danh y chầu chực ở phũng trà, cung nhõn xỳm xớt xung quanh chỳa Trịnh, nơi ở của thế tử được võy bọc bởi những người hầu và mựi hương thơm ngào ngạt…

- Phủ chỳa là nơi quyền uy tối thượng bởi vậy cỏc lời bẩm tấu đếu rất cung kớnh, lễ phộp, với quy tắc kị hỳy Chỳa được gọi là thỏnh thượng, lệnh chỳa ban gọi là thỏnh chỉ, than thể vủa chỳa được gọi là thỏnh thể

-> Tất cả thường chỉ thấy ở cung vua nay xuất hiện ở phủ chỳa

Trang 3

- Việc khám bệnh cho thế tử tuân theo một quy trình nghiêm ngặt: quỳ lạy, xin phép bắt mạch, quỳ lạy xin lui, viết đơn thuốc trình lên quan chánh đường, người thầy thuốc khám bệnh khi bắt mạch cũng không dám ngẩng đầu lên nhìn thế tử…

- Chi tiết đắt giá: người thầy thuốc già cả như Lê Hữu Trác khi xem bệnh cho một đứa trẻ mới lên 6,7 tuổi cũng phải khúm núm quỳ 4 lạy và được thế tử khen "ông này lạy khéo"

-> chi tiết vừa hài hước, vừa chứa đựng sự xót xa của tác giả, thế tử chỉ là một đứa trẻ con nhưng lại được khoác lên mình những danh vị, uy quyền, những lễ nghi quá long trọng khiến tất cả trở thành một trò hề

- Chi tiết “thành thượng đang ngự, xung quanh có phi tần chầu chực, có cung nhân đứng xúm xít, dèn sáp làm nổi màu mặt phấn, áo đỏ, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt Bức tranh ấy tự nó phơi bày cs hưởng lạc thác loạn, ăn chơi trác tang, sa đọa nơi phủ chúa

=> Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa thật khác với cuộc sống bình thường, ở đó, con người quen sống với sự xa hoa, thừa thãi và lễ nghi đến mức trở nên bệnh hoạn, yếu đuối về thể chất và tinh thần

2 Thái độ , tâm trạng của LHT khi vào phủ chúa Trịnh

Thái độ và tâm trạng được biểu lộ qua những suy nghĩ kín đáo “Tôi nghĩ bụng”, “Tôi chỉ dám ngước mắt nhìn rồi cúi đầu đi”, “Bây giờ tôi mới biết cái phong vị của nhà đại gia”, “Tôi nín thở đứng chờ ở xa”, “Tôi khúm núm đến xem mạch”-> thái độ hoà nhã,

kính nhường

a) Cách nhìn, thái độ đối với cuộc sống trong phủ chúa :

- Thể hiện gián tiếp qua việc ghi chép, miêu tả tỉ mỉ, đầy đủ để bức tranh hiện thực tự nó bày ra trước mắt người đọc

- Trực tiếp bộc lộ thong qua lời bình: Cảnh giàu sang, tráng lệ của phủ chúa khiến cho một người vốn sinh trưởng nơi chốn phồn hoa như LHT cũng phải kinh ngạc, “cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường” Và cảm tác bài thơ để ghi nhớ “

Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm ngặt/ Cả trời nam sang nhất là đây/ Lầu từng gác vẽ tung mây/ Rèm châu hiên ngọc bong mai ánh vào/ Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới/ Vượn ngư nghe vẹt nói đời phen/ Quê mùa cung cấm chưa quen/ Khác gì ngư phủ đào nguyên thưở nào?”

-> Bài thơ cảm tác là lời đánh giá tinh tế, đích đáng, có chừng mực Mặc dù vẫn nhận xét về quang cảnh phủ chúa là sang, là đẹp, là giàu có, quyền quý nhưng thái độ của LHT điềm nhiên, thờ ơ, dửng dưng trước những quyến rũ vật chất

-> đồng thời cũng kín đáo bày tỏ thái độ của tg: không bằng long, không đồng tình với cuộc sống xa hoa, hưởng lạc thừa thải, xa xỉ, cs ngột ngạt trong no đủ, tiện nghi mà thiếu ánh sáng và khí trời,

-> thấp thoáng sau lời văn miêu tả khách quan, chi tiết còn có cả thái độ ngầm mỉa mai, châm biếm, phê phán

b) Diễn biến tâm trạng Lê hữu trác khi bắt mạch, kê đơn cho thế tử :

- Cách chữa bệnh của các vị thầy thuốc khác và quan chánh đường là: có bệnh thì trước hết phải đuổi bệnh, khi đã đuổi cái tà đi thì mới bổ là phép đúng đắn nhất

Trang 4

- Lê Hữu Trác lập luận và lí giải về căn bệnh của thế tử là do: ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm, nên phủ tạng yếu đi, nguyên khí hao mòn, thương tổn quá mức -> như vậy nguồn gốc sâu xa của căn bệnh đó là cuộc sống xa hoa, no đủ

quá mức đối với một đứa trẻ nhỏ làm mất đi bản năng tồn tại thích ứng của con người Bệnh từ trong mà phát ra cho nên cách chữa không thể dùng công phạt mà là bổ tì thì yên

- Bắt được bệnh rồi nhưng chữa bệnh thế nào thực sự là một cuộc đấu tranh nội tâm bên trong của tác giả Là một thầy thuốc giỏi, ông hiểu rõ căn bệnh của thế tử và có cách

chữa trị từ cội nguồn gốc rễ nhưng nếu chữa khỏi thì ông sẽ bị danh lợi ràng buộc, không thể tiêp tục "về núi" ở ẩn làm một ông già lười như trước đây Ông nghĩ đến

phương thuốc hòa hoãn, chữa bệnh cầm chừng, vô thưởng vô phạt Song lương tâm của một người thầy thuốc không cho phép ông làm như vậy với bệnh nhân của mình Cuối cùng, phẩm chất trung thực của người thầy thuốc trong ông đã lên tiếng, ông dám nói ra quan điểm của mình và cách chữa bệnh cho thái tử dù nó khác với mọi người xung quanh

c) Con người Lê Hữu Trác hiện lên trong trang kí sự:

- Một thầy thuốc có kiến thức y học uyên thâm, có kinh nghiệm chữa bệnh đồng thời là một danh y đức độ với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, tinh thần trách nhiệm với người bệnh

- Một con người có nhân cách cao đẹp, không màng danh lợi, không tham quyền quý và vật chất xa hoa, thủy chung với cuộc sống đạm bạc chốn thôn quê

- Một quan niệm sống thanh đạm, trong sạch của ông già áo vải quê mùa, đối lập hoàn toàn với cảnh sống lộng lẫy, xa hoa trong phủ chúa Mọi sắc màu, vật chất ở đo đều là thứ thuốc thử làm nổi hình, nổi sắc một nhân cách trong sạch, thanh cao của một danh y kết hợp tài năng và tâm hồn

-> Như vậy, bên cạnh bức tranh hiện thực sống động nơi cung vua, phủ chúa, tác phẩm cũng giúp ta hình dung về một con người với nhân cách cao đẹp

3 Nghệ thuật viết kí sự của tác giả.

- Bút pháp kí sự đặc sắc: khả năng bao quát sự vật hiện tượng, quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, miêu tả sinh động, kể sự khéo léo

- Khéo kết hợp tả tập trung với tả điểm xuyết, chon lọc những chi tiết tiêu biểu, đắt tạo nên cái thần của cảnh và việc

- Giọng kể khách quan, trang nghiêm xen lẫn thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo

- Kết hợp hài hòa giữa kể- miêu tả- đánh giá, bình luận tỉ mỉ, sắc sảo, tinh tế đậm màu sắc trữ tình kết hợp được chất tự sự và chất trữ tình hài hòa, cách kể chuyện hấp dẫn, cuốn hút

- Tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt Có đoạn lể theo nhân vật quan sát xưng tôi, có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ giới thiệu miêu tả

KẾT LUẬN

- Đoạn trích Vào phủ chú Trịnh vừa mang đậm giá trị hiện thực vừa thể hiện phẩm chất

của một người thầy thuốc giàu tài năng mang quan niệm sống đẹp, thích gần gũi với thiên nhiên bình dị, coi trọng y đức và không màng lợi danh, quyền lực

Trang 5

Bài tập

- Cảm nhận của em về bức tranh hiện thực trong phủ chúa Trịnh qua con mắt của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

- So sánh đoạn trích em vừa học với tác phẩm "Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh" (trích

từ cuốn sách "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ) mà em đã học trong chương trình Ngữ Văn 9

Câu cá mùa thu

-Nguyễn

Khuyến-* Các hướng ra đề:

1 Cảm nhận bức tranh thu qua bài thơ thu của Nguyễn Khuyến?

2 Vẻ đẹp của bài thơ “Thu điếu”?

3 So sánh bài thơ “Thu điếu” và “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến?

4 Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm trong bài thơ Thu điếu

I Tác giả

* Tiểu sử: Nguyễn Khuyến (1835-1909), quê quán huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, một

vùng đất chiêm trũng nông thôn Bắc bộ

- Nguyễn Khuyến sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, nhưng đến đời cụ thân sinh ra ông thì không đỗ đạt chỉ ở nhà dạy học

- Bản thân Nguyễn Khuyến là người học rộng biết nhiều, từng đỗ đầu cả ba kì thi nên người ta thường gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ (người 3 lần đỗ đầu đất Yên Đổ)

* Cuộc đời:

- Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được

Có thể nói, sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc và cũng không cam tâm làm tay sai cho Pháp nên ông xin cáo quan về ở ẩn Từ đó dẫn đến tâm trạng bất mãn, bế tắc

của nhà thơ “Đời loạn đi về như hạc độc/ tuổi già hình bóng tựa non côi”

(Với cớ đau mắt, Nguyễn Khuyến đã từ quan về hưu, sống với dân làng Nhưng lý do chính là: ông không muốn cộng tác với thực dân Pháp và triều đình bù nhìn để bóc lột

dân Vì ông thấy rằng: trong 1 xã hội mà Vua quan đều như "phường chèo", thì ông chả

làm được gì, dù có danh vị tiến sĩ như ông thì cũng chỉ như là "tiến sĩ giấy")

- Nguyễn Khuyến đã bước vào hoạn lộ với tấm lòng yêu nước thương dân Ông tin tưởng vào tài năng, chức vụ, và nhất là lòng chân thành của mình, có thể giúp triều đình

tế thế an dân, đem lại ấm no cho trăm họ Thế nhưng với sự sáng suốt, ông cũng đã nhìn

ra rất sớm 1 triều đình nhu nhược, bù nhìn trước sức mạnh của người Pháp, và sự đổ vỡ chua cay của nền Hán học:

Trang 6

- Nghĩ đến bút nghiên trào nước mắt

Ngước nhìn sông núi xiết buồn đau.

- Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng (Tự trào )

- Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

- Thế nhưng chỉ ít lâu sau, ông cảm thấy hành động của mình như 1 trốn tránh trách nhiệm, tiêu cực cầu an Và tâm trạng day dứt buồn đau này đã theo ông cho tới cuối đời Một đàng vì sức khoẻ yếu kém, nên ông không thể cùng các bạn đồng liêu như Ngự sử Phan Đình Phùng, Tán lý quân vụ Nguyễn Thiện Thuật cầm vũ khí chống Tây, đàng khác thấy cảnh nước mất nhà tan mà mình lại rút lui, bất lực Hành động từ quan mà ông cho là "dũng thoái" lúc ban đầu, nay ông lại đem ra để chế diễu chính mình, cho rằng mình đã chạy làng lúc đất nước điêu linh:

Cờ đương dở cuộc không còn nước

Bạc chửa thâu canh đã chạy làng (Tự thán)

- Nguyễn Khuyến chỉ làm quan trong vòng khoảng hơn 10 năm, sau đó ông cáo quan về quê dạy học, sống một cuộc đời thanh bạch, bần hàn Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao, sống gắn bó với con người quê hương, yêu nước và bất hợp tác với thực dân Pháp

* Sự nghiệp:

- Để lại khoảng 800 bài thơ

- Nội dung:

+ Nỗi trăn trở, ưu tư về vận mệnh của nước

+ Thái độ phản kháng với xã hội thực dân nửa phong kiến

+ Một tâm hồn giàu cảm xúc, yêu thương

.) Yêu thiên nhiên, làng cảnh quê hương

.) Sự đồng cảm, xót thương nỗi điêu linh, thống khổ của nhân dân

.) Tình cảm tha thiết với bạn bè, người thân

Cái làm cho Nguyễn Khuyến thực sự là nhà thơ của nông thôn, không phải chỉ là những bài thơ tả cảnh, mà là tình cảm của ông đối với những người chân lấm tay bùn Ông thật thông cảm với đời sống cực nhọc của dân, một nắng hai sương, lại thêm cảnh vỡ

đê lụt lội, nghèo túng, làm ăn thất bát, nợ nần ''lãi mẹ đẻ lãi con" Với NK, thơ văn Việt Nam "lội xuống ruộng đồng " và cảm thông sâu sắc với đời sống dân quê

Có thể nói rằng: trước và sau đó, chưa có nhà thơ nào có bức tranh sinh động về làng nước và chan chứa với mối cảm thông với đời sống cực nhọc của dân, qua đó để lại ấn tượng sâu đậm cho đời, bằng nhà thơ Nguyễn Khuyến

- Nghệ thuật:

+ Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến rất phong phú không những trong cách nói mà còn rất

mỹ lệ, gợi cảm trong cách miêu tả

.) Có biệt tài khai thác khả năng diễn tả của từ ghép, từ láy rất độc đáo:Thấp le te, đóm

Trang 7

lập lòe, tẻo teo, ve ve, tênh nghếch, làng nhàng, khỏe khoe…

) Sử dụng thành ngữ, tục ngữ linh hoạt, sáng tạo

.) Ngôn ngữ tả cảnh rất chính xác, cách chọn chữ, dùng từ thích hợp, từ ngữ thường lấp láy giàu nhạc điệu, có khả năng gợi tả cao

.) Sử dụng vốn ngôn ngữ bình dân nhưng không hề rơi vào sự thông tục hóa, cảnh nào cũng được vẽ, được chạm khắc thần tình đạt đến mức nghệ thuật

+ Hình ảnh sử dụng thường đơn sơ, khêu gợi thể hiện qua những chi tiết thật bình dị,

sống động Nó có giá trị nâng các câu thơ làm tăng sức biểu cảm Hình ảnh hoa nở, trăng trôi, chiếc thuyền thấp thoáng, bé tẻo teo, ngõ trúc quanh co, thấp le te, đóm lập lòe… đầy sức sống

có sự kết hợp hài hòa giữa âm thanh và màu sắc gợi cảm giác vừa xem tranh thủy mặc vừa nghe thơ Ðường

.) h/ả nhẹ nhàng, mềm mại, thanh thoát, ý tứ gần gũi-> Nguyễn Khuyến là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh nhất là trong việc tả cảnh sắc thiên nhiên

I Phân tích bài thơ

- Người xưa thường hay nói: thu là thơ của đất trời- đẹp mà buồn, thu cũng là thơ của lòng người tĩnh lặng, thơ mộng và lãng mạn Có phải vì thế chăng mà xưa nay trong văn học thi ca, thu là một đề tài vô tận luôn khơi gợi nguồn cảm hứng cho các thi nhân, là nơi hội tụ bàn tay của biết bao nghệ sĩ

- Long lanh nắng, chòng chành gió, thu phả hơi thở của mình vào vạn vật, ko còn cái nắng oi bức, chao chát, gió cũng ko còn nóng rát…Mùa thu nhẹ nhàng với gió heo may, lắng đọng với song biếc, riêng biệt với lá vàng và ko thể thiếu cái màu xanh ngắt của trời thu Đó cũng là nét đẹp mùa thu của NK

1 Tìm hiểu chung:

a) Hoàn cảnh sáng tác: Thu điếu là một trong ba bài thơ của chùm thơ thu mà Nguyễn

Khuyến sáng tác trong thời gian sau khi ông về ở ẩn tại quê nhà (huyện Bình Lục, tỉnh

Hà Nam)

b) Đề tài: - Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca phương Đông Dường như mỗi nhà

thơ đều ghi dấu ấn về cảm xúc mùa thu trong tác phẩm của mình Mùa thu trong thơ Đỗ Phủ đời Đường (một chùm thơ thu 8 bài rất nổi tiếng), mùa thu trong thơ NDu, mùa thu của Tản Đà… Mỗi thi nhân đều có cách viết riêng của mình khi khai thác cảm xúc về mùa thu Với Nguyễn Khuyến, làng cảnh Việt Nam, đặc trưng vùng đồng bằng Bắc bộ hiện lên trong chùm thơ thu rất rõ Tiêu biểu nhất là trong bài Thu điếu

- Giới thiệu về chùm thơ Thu: chùm thơ gồm 3 bài, khai thác cảnh thu trong những góc nhìn, khoảnh khắc khác nhau

Thu vịnh: làm thơ mùa thu/ Thu ẩm: uống rượu mùa thu/Thu điếu: câu cá mùathu

-> mỗi bài thơ có một đặc sắc riêng (dẫn lời bình luận của Xuân Diệu về 3 bài thơ)

2 Phân tích:

Quên đi bao bộn bề, xô bồ của cuộc sống hiện tại, đến với chùm thơ thu của danh sĩ số 1 đất Bắc Hà- thi nhân NK, đặc biệt là bài “Thu điếu” chúng ta có thể lắng hồn mình trong cái không gian đặc biệt thanh tĩnh, bình yên, êm đềm của miền thôn dã- đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ Nằm trong chùm ba bài thơ thu “nức danh nhất” về thơ nôm

Trang 8

của Nguyễn Khuyến, Thu điếu được đánh giá “là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh VN”.

1 Bức tranh thu: (6 câu đầu)

- Thơ viết về mùa thu của văn học Trung đại Việt Nam thường miêu tả cảnh đẹp vắng

vẻ, úa tàn và u buồn Cảnh thu được ghi lại một cách ước lệ tượng trưng với những nét

chấm phá, chớp lấy cái hồn của tạo vật Lác đác ngô đồng mấy lá bay/Tin thu heo hắt lọt hơi may-Hồng Đức; Thu đến trong thơ trung đại cũng thường được nhận ra qua một dấu hiệu ước lệ “Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu”.

- Thơ của Nguyễn Khuyến cũng nằm trong hệ thống thi pháp ấy nhưng bức tranh

không hề xa lạ mà hết sức gần gũi, thân quen, sống động, cụ thể đến từng đường nét, chi tiết Đọc Thu điếu, ta bắt gặp một bức tranh thu đặc trưng của vùng chiêm trũng Bắc bộ, quê hương của nhà thơ Cảnh vật làng quê trong Thu điếu hiện lên rất chân thực, giản

dị, tinh tế

* Hai câu đề:

- Mở đầu bài thơ bằng không gian mùa thu, một cảnh sắc thu đồng quê- đồng bằng

chiêm trũng Bắc Bộ “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Cảnh vật vừa cụ thể, chân thực Nó gợi được cái khí thu se lạnh, hiu hắt qua cảm nhận làn nước mùa thu Cái lạnh của cảnh, của ao thu, trời thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái lạnh từ tâm hồn nhà thơ lan toả ra cảnh vật?

- Hai âm “eo” được gieo trong một câu “trong veo”, lạnh lẽo vừa tuyệt đối hóa độ trong

của nước vừa khiến cảm giác về cái lạnh, sự ngưng đọng và tĩnh lặng của mặt ao

- Trên nền cảnh thu ấy xuất hiện một chiếc thuyền câu lẻ loi, đơn chiếc, bé nhỏ Số từ chỉ số ít “một chiếc” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến cho chiếc thuyền càng nhỏ bé hơn, như đang co lại, bất động thành một nét chấm trên nền chiếc ao vốn đã nhỏ hẹp -> Bằng những nét vẽ mộc mạc, đơn sơ NK đã gợi ra được cảnh sắc rất riêng biệt của mùa thu Bắc bộ với những nét đặc trưng nhất của mùa thu là cái lạnh và sự tĩnh lặng như một dấu lặng của đất trời

* Hai câu thực

- Với khả năng quan sát đầy tính phát hiện NK đã đem vào bài thơ cái hồn, cái thần

cảnh thu: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí/ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” Câu thơ vừa

gợi được màu sắc vừa gợi được những chuyển động khẽ khàng, tinh vi của tạo vật Từ đường nét đến màu sắc đều ấn tượng và sắc nét Những làn sóng gợn nhẹ làm xao động mặt hồ yên tĩnh Chiếc lá theo làn gió bay qua không trung dáng bay thì nhẹ “khẽ” tốc

độ thì nhanh bất ngờ “vèo”

- Bằng tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, NK đã chớp được những khoảng khắc thần tình của đất trời thu và bằng khả năng sử dụng từ ngữ nôm một cách điêu luyện NK đã đem đến cho người đọc những câu thơ tuyệt bút Làn gió thoáng qua làm mặt nước hồ gợn nhẹ, rung động mặt nước rồi không biết từ đâu một chiếc lá vàng rơi xuống chỉ nghe “vèo” vút qua rất nahnh rồi biến mất Tự nhiên không khí lại trở nên tĩnh lặng như ban đầu Hình ảnh thì động nhưng nhẹ nhàng đến mực tĩnh lặng Câu thơ không phải được quan sát bằng mắt thường mà được cảm nhận qua tâm hồn nhạy cảm nắm bắt lấy cái hồn của tạo vật

Trang 9

- Nhà thơ Tản Đà vô cùng tâm đắc ca ngợi từ “vèo” của NK và tự nhận đời mình may

có câu thơ vừa ý “vèo trông lá rụng đầy sân” trong bài Cảm thu, tiễn thu.

- Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh, cân đối về hình ảnh, nhịp nhàng về vần nhịp.Các sự vật

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, gió thổi làm sóng gợn, làm lá rơi Sự phối màu tự

nhiên mà hài hòa: sóng biếc- lá vàng, các hoạt động đều nhẹ nhàng, uyển chuyển: gợn

tí- khẽ đưa… Với ngôn từ giàu chất tạo hình NK vẽ ra bức tranh thanh nhã, bình yên, thơ mộng của chốn quê

* Hai câu luận.

- Điểm nhìn của tác giả trong bài thơ câu có sự di chuyển linh hoạt: cảnh thu được đón

nhận từ một điểm cụ thể ao thu, làn nước rồi mở ra theo chiều cao và chiều rộng “Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt/ Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

- Từ lơ lững như vẽ ra hình ảnh đám mây đọng lại lưng chừng giữa tầng không Nó không chỉ miêu tả chính xác cái ngoại cảnh mà còn diễn tả chính xác cái tâm cảnh, một trạng thái phân thân, mơ màng của người đang suy tư, trầm mặc mà nỗi niềm không biết gửi vào đâu

- Trong thơ NK, xanh ngắt là màu nhận diện của sắc trời thu “trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”- Thu vịnh; “da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”- Thu ẩm Bầu trời như mở ra

chiều sâu thăm thẳm, hun hút của vũ trụ qua cái màu “xanh ngắt ấy Nó gợi đất trời bao

la, vời vợi của quê hương

- Từ “quanh co” được nhà thơ dung đầy gái trị tạo hình Nó gợi cái ngoắt ngoéo, hun

hút của những con đường làng Cảnh vật êm đềm, thoáng nỗi buồn cô tịch, hiu hắt

* Nhận xét bức tranh thu.

-> Điểm nhìn của tác giả trong bài thơ câu có sự di chuyển linh hoạt: cảnh thu được đón nhận từ bao quát đến cụ thể, từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu Không gian hiện lên sinh động dưới sự cảm nhận của con người ở những góc nhìn, điểm nhìn khác nhau

-> Cái đặc sắc của Thu điếu là ở cái điệu xanh- đặc trưng màu sắc của mùa thu làng quê,

Các sắc xanh khác nhau, nhẹ nhàng, trong sáng: xanh sóng, xanh tre, xanh trời Trên nền xanh của bức tranh ấy, chiếc lá vàng đâm ngang khẽ đưa trong gió như điểm xuyết thêm cho sắc thu ở đây thêm sống động

-> Cảnh thu ở đây hiện lên bằng vài nét chấm phá tiêu biểu, đặc sắc như bức tranh thủy mặc: trời thu, nước thu, lá thu H/ả vừa có tính chất ước lệ vừa sộng động, cụ thể, chân thực, thân thuộc, gần gũi của làng cảnh VN

-> Cảnh thu đẹp nhưng tĩnh lặng, thơ mộng thanh thoát, khoáng đạt nhưng đượm buồn Không khí mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật toát lên ấn tượng một bức tranh thanh, vắng: không gian yên tĩnh, vắng người, vắng tiếng Các chuyển động rất khẽ, rất nhẹ không đủ tạo thành âm thanh: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa…Sự xuất hiện của những hoạt động càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch trong cảnh vật theo nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong văn học truyền thống

-> Bức tảnh ngoại cảnh cũng là tâm cảnh Qua bức tranh “Thu điếu” ta thấy tâm hồn yêu

thiên nhiên, gắn bó với làng quê, sự nhạy cảm và tinh tế trong cảm nhân của thi nhân

NK Bên cạnh đó cũng thể hiện tâm trạng thanh tĩnh và nỗi cô đơn ẩn sâu trong lòng

Trang 10

nhà thơ Sự tĩnh lặng đem đến sự cảm nhận về một nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong lòng nhà thơ

2 Tình thu

- Bức tranh thu hé lộ tình người trong cảnh, đó là tâm trạng u hoài, cõi lòng mênh mang thăm thẳm một nỗi cô đơn hiện ra qua sắc nước, trời mây, cái lạnh của hồn người lan tỏa ra cảnh vật

- Chữ “vèo” thật không phù hợp với hoạt động khẽ đưa trước đó Phải chăng đó là tâm trạng thời thế của nhà thơ, thời thế thay đổi nhanh chóng Còn ngõ trúc quanh co là nỗi lòng cô quạnh, đầy uẩn khúc của nhà thơ

- Ý vị sâu xa của bài “Thu điếu” nằm trong 2 câu kết “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được/

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

- Nếu dựa vào dáng vẻ “Tựa gối ôm cần” ta có thể hình dung tâm thế của người câu cá-

một tâm thế nhàn nhã, thảnh thơi của người tự do, tự tại nhưng cũng gợi liên tưởng người ngôi câu bất động như hóa thạch trước không gian và thơi gian

- Nhưng câu cuối lại gợi mở một thế giới nội tâm khác Câu thơ gợi nên sự tĩnh lặng vô cùng của không gian Thủ pháp lấy động tả tĩnh đã phát huy hiệu qủa nghệ thuật của nó trong việc biểu hiện mối u hoài, tĩnh lặng ghê gớm của cõi lòng người câu cá

“Từ đâu” xác định âm thanh “đớp động” mơ hồ, xa vắng làm thanh động tâm hồn thi

nhân chợt giật mình bừng tỉnh trở về với thực tại Thì ra câu cá chỉ là cái cớ để cầu cái thanh, cái trong, cái tĩnh, cái nhàn cho tâm hồn, ngồi ôm cần câu nhưng tâm hồn thi nhân thì đang chìm trong suy tư, tiếng cá đớp động khiến nhà thơ chợt tỉnh trở về thực tại

- Vậy ta tự hỏi nhà đang trầm tư mặc tưởng đến điều gì mà quên cả việc chính?

+ Nói câu cá nhưng thực ra là đón nhận trời thu, cảnh thu vào cõi lòng Cõi lòng nhà thơ yên tĩnh, vắng lặng Tĩnh lặng trong cảm nhận độ trong veo của nước, cái hơi gợn tý của sóng, cái độ rơi khe khẽ của lá Đặc biệt sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân được gợi lên một cách sâu sắc từ tiếng động duy nhất của bài thơ: tiếng cá đớp bọt nước dưới chân bèo Cái động rất nhỏ ở ngoại cảnh lại gây ấn tượng đậm đến thế, vì tâm cảnh trong sự tĩnh lặng tuyệt đối

+ Hay ở đây, con người như lạc giữa cái mênh mông vô định của trời đất, sống trong bầu không khí tĩnh lặng, yên ắng nhưng Nguyễn Khuyến cảm nhận thấy trong mình một

nỗi buồn thầm kín không nói nên lời Tâm sự ấy chất chứa trong dáng ngồi tựa gối ôm cần Chắc hẳn dáng ngồi bó gối ấy không phải là dáng của người ngồi câu mà là tư thế

của một con người đang suy tư, đang sống với những điều thầm kín trong nội tâm

-> NK chọn con đường ở ẩn để giữ danh than nhưng nhà thơ không khi nào thôi day dứt

và dằn vặt về cảnh nước nhà Tâm trạng ấy ẩn khuất, thấp thoáng đâu đó trong bức tranh phong cảnh Đó chính là nét đáng quý, đáng trọng trong tâm hồn nhà thơ

3 Nghệ thuật:

- Tiếng Việt trong bài thơ giãn dị, trong sáng đến kỳ lạ,có khả năng diễn đạt những biểu hiện rất tinh tếcủa sự vật, những tâm sự thầm kín rất khó giải bày

- Đặc biệt vần eo – “tử vận”, oái oăm, khó gieo- được Nguyễn Khuyến được sử dụng một cách thần tình Đây không đơn thuần là hình thức chơi chữ mà chính là dùng vần để

Ngày đăng: 10/11/2021, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w