1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách tiểu thuyết hồ anh thái

137 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 662,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Người mở đường tinh anh” cho công cuộc đổi mới văn học phải ghi công đầu cho Nguyễn Minh Châu, tiếp nối ông, nhiều cây bút tạo b-ớc chuyển quan trọng trong hành trình đổi mới: Nguyễn Hu

Trang 1

Tr-ờng đại học Vinh

Trang 3

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài

5 Đóng góp của đề tài

6 Ph-ơng pháp nghiên cứu

7 Cấu trúc của luận văn

Ch-ơng 1 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh

tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại và sự định hình một

phong cách tiểu thuyết

1.1 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh tiểu

thuyết Việt Nam đ-ơng đại

1.1.1 Một số tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng

đại

1.1.2 Vị trí Hồ Anh Thái và tiểu thuyết của nhà văn

trong tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại

1.2 Khái niệm về phong cách và phong cách tiểu

thuyết Hồ Anh Thái

1.2.1 Khái niệm phong cách và những cấp độ của nó

1.2.2 B-ớc đầu nhận diện phong cách tiểu thuyết Hồ

Trang 4

trong tiểu thuyết

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trong tiểu

thuyết

2.2.1 Một số giới thuyết về t- t-ởng sáng tạo đến cái

nhìn nghệ thuật của nhà văn

2.2.2 Tính năng động và đa chiều trong cái nhìn nghệ

thuật của Hồ Anh Thái

2.2.3 Nét mới mẻ và độc đáo trong cái nhìn nghệ thuật

của Hồ Anh Thái ở thể loại tiểu thuyết

2.3 Hình t-ợng thế giới và con ng-ời trong tiểu thuyết

và cách tân trong thể loại tiểu thuyết của Hồ Anh Thái d- -ới góc nhìn thi pháp

3.1 Nghệ thuật tự

sự 3.1.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xung

đột và

sử dụng

Trang 5

3.1.2 NghÖ thuËt x©y dùng nh©n vËt

3.2 Giäng ®iÖu vµ ng«n ng÷ tiÓu thuyÕt

3.2.1 Giäng ®iÖu nghÖ thuËt

Trang 6

1.1 Hồ Anh Thái là một trong số không nhiều những cây bút xuất hiện

sớm và để lại dấu ấn trong văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại Ông là tác giả của hơn 30 đầu sách bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và biên khảo, chân dung văn học, nhiều tác phẩm đ-ợc dịch ra các thứ tiếng và giới thiệu ở n-ớc ngoài Tác phẩm của Hồ Anh Thái có khả năng bao quát phạm vi hiện thực cả ở bề rộng lẫn bề sâu của các nền văn hóa khác nhau Với mỗi đề tài,

Hồ Anh Thái lựa chọn cho mình một lối viết, một cách diễn đạt, một giọng

điệu khác nhau tạo ra ma lực đáng kể cho tác phẩm của ông Luôn tự làm mới mình trên hành trình nghệ thuật với thái độ lao động nghiêm túc, một khả năng sáng tạo dồi dào, tác phẩm của Hồ Anh Thái th-ờng tạo làn sóng trong d- luận độc giả và giới phê bình, xác lập chỗ đứng vững chắc của ông trong làng văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại

1.2 Trong lĩnh vực văn học, phong cách, hiểu một cách đơn giản là

khái niệm dùng để nhận diện g-ơng mặt một tác giả, một tác phẩm, một trào l-u hay một khuynh h-ớng văn học Không phải nhà văn nào cũng có phong cách Phong cách chỉ có ở những cây bút tài năng và bản lĩnh, có một nhãn quan riêng về thế giới, đề xuất đ-ợc t- t-ởng nghệ thuật mới mẻ Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả là quá trình mổ xẻ để nhận diện các

đặc điểm riêng, độc đáo ở các tác phẩm của nhà văn từ ph-ơng diện hình thức

đến nội dung

Khảo sát phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái thực chất là quá trình khám phá thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của ông để nhận diện t- t-ởng, cái nhìn nghệ thuật trong quá trình chiếm lĩnh thế giới đa dạng, phức tạp cùng những thủ pháp thể hiện t-ơng ứng Từ góc độ phong cách học nghệ thuật để xác định phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái là vấn đề cốt yếu vẫn bị bỏ ngỏ Lựa chọn đề tài này chúng tôi muốn khắc phục phần nào sự thiếu hụt đó

1.3 Từ sau 1986, văn học Việt Nam b-ớc vào một quỹ đạo mới và vẫn

đang chuyển động không ngừng với những b-ớc chuyển đáng ghi nhận

Trang 7

“Người mở đường tinh anh” cho công cuộc đổi mới văn học phải ghi công đầu cho Nguyễn Minh Châu, tiếp nối ông, nhiều cây bút tạo b-ớc chuyển quan trọng trong hành trình đổi mới: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, D-ơng H-ớng, Nguyễn Việt Hà… và đến nay là sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ tài năng nh- Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Ph-ơng, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc T-, Thuận… Chọn một tác giả tiêu biểu, có đóng góp không nhỏ cho văn xuôi thời kì này - Hồ Anh Thái, xem xét tiểu thuyết của ông d-ới góc độ phong cách học sẽ giúp đánh giá thỏa

đáng hơn tiểu thuyết của Hồ Anh Thái cũng nh- đóng góp của nhà văn cho văn học Việt Nam đ-ơng đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Hồ Anh Thái nói chung

Trong văn học Việt Nam đ-ơng đại, Hồ Anh Thái là nhà văn có chỗ

đứng khắ vững chắc B-ớc vào làng văn khá sớm (17 tuổi), Hồ Anh Thái cũng sớm để lại ấn t-ợng và gặt hái đ-ợc những thành công nhất định Cho đến nay,

ông đ-ợc xem là một nhà văn chuyên nghiệp có sức viết mạnh mẽ với thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc Rất nhiều bài viết đánh giá cao bút lực, tài năng cũng nh- thái độ lao động nghệ thuật của ông

Diệu H-ờng trong bài Một góc nhỏ văn ch-ơng Hồ Anh Thái khẳng

định: “Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sung sức nhất và được đón

đọc nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay Ông viết văn nh- một thứ lao động nghiêm ngặt, ông chăm chút cho từng câu chữ với tinh thần không chấp nhận cái gì sẵn có, không thụ động chờ đợi, cái mà rất nhiều nhà văn khác vẫn quen gọi là cảm hứng” [31] Cùng quan điểm đó, tác giả Ngọc ánh trong bài viết

Hồ Anh Thái - Sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ cũng cho rằng: “Văn

ch-ơng với Hồ Anh Thái là một nghiệp với đa tầng phong cách biểu hiện, với một tiềm năng đọc mới và thấu suốt cuộc sống, con ng-ời, những gì mà với nhiều ng-ời khác đã trở nên cũ kỹ Anh biết v-ợt qua những lối mòn t- duy

Trang 8

coi văn học nh- là tấm g-ơng phản ánh hiện thực một cách đơn giản để nhìn cuộc đời” [06]

Là ng-ời sớm phát hiện và quan tâm đến sáng tác của Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Minh Thái cũng cho rằng: “Quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã đ-ợc kiến trúc trên sự tự ý thức triết học về cái viết, diễn ra đồng thời với quá trình hành động nhằm đổi mới t- duy và cách ứng xử ngày càng hiện đại hơn với tiếng Việt, trên một tảng nền đầy đặn về văn hoá sống và văn hóa viết Với Hồ Anh Thái, viết văn là một nghề hẳn hoi, chứ không phải là thứ lao động tài tử, nghiệp d-, một cuộc ghé chơi tình cờ nh- khá nhiều ng-ời lầm tưởng” [74, 351]

Nghiên cứu về ph-ơng diện nghệ thuật tác phẩm Hồ Anh Thái, Nguyễn

Đăng Điệp trong bài Hồ Anh Thái - Ng-ời mê chơi cấu trúc có nhiều khám

phá mới mẻ và những nhận định sắc sảo về cây bút này: “Hồ Anh Thái có ý thức tạo dựng một thế giới vừa giống thực bằng nhiều chi tiết ngỡ nhặt đ-ợc từ

đời sống ồn tạp vừa tạo nên một thế giới ngập đầy biểu t-ợng Thông điệp của nhà văn không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình huống, qua các biểu t-ợng thấm đầy chất ảo” [66, 346]

Một số nhà xuất bản và nhà phê bình n-ớc ngoài cũng có những nhận xét, đánh giá cao tác giả Hồ Anh Thái Nhà thơ George Evans cho rằng: “Hồ Anh Thái là nhà văn dũng cảm Sự hài h-ớc và ngọt ngào của tác phẩm, nghệ thuật tinh tế ở trong đó, biểu lộ sự thấu hiểu và bày tỏ một cách sâu sắc những

điều xảy ra khi thế giới thảm bại đi qua chiến tranh và sự đổi thay văn hoá Chút dí dỏm là nguồn ánh sáng hữu hiệu, nh-ng tác phẩm của anh không hề cầu kỳ hoặc chỉ đơn giản dừng lại ở văn phong, đó là sự tao nhã tràn ra từ cây bút” [65, 434]

Các bài viết trong và ngoài n-ớc đã có đ-ợc cái nhìn khái quát về hiện t-ợng văn học Hồ Anh Thái, đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa gợi mở

2.2 Lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 9

Các sáng tác của Hồ Anh Thái luôn có sức thu hút lớn Nhiều bài viết

về tác phẩm của ông đ-ợc đăng tải trên các báo, báo điện tử, tạp chí chuyên ngành, một số công trình luận văn… Ngoài ra, đằng sau mỗi cuốn tiểu thuyết

có phần D- luận, trong đó tập hợp các bài viết đánh giá về tác phẩm

Ng-ời đàn bà trên đảo, Trong s-ơng hồng hiện ra, Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng là ba thành công đầu đáng kể của Hồ Anh Thái trên hành trình

sáng tạo tiểu thuyết Ba cuốn tiểu thuyết chính là những góc hiện thực sinh

động của xã hội Việt Nam thời kì hậu chiến bộn bề, phức tạp

Wayne Karlin trong lời giới thiệu cho bản in nhà xuất bản Washinhton

cuốn tiểu thuyết Ng-ời đàn bà trên đảo có khẳng định: “Tiểu thuyết mở ra

một cách cửa vào một nền văn hoá đang phải đấu tranh để định nghĩa mối quan hệ của mình với quá khứ và tương lai của chính mình” [65, 393]

Tiểu thuyết Trong s-ơng hồng hiện ra là tác phẩm lạ trên mặt bằng văn

học đ-ơng thời, thu hút đ-ợc sự quan tâm của độc giả n-ớc ngoài Nhận diện chủ đề t- t-ởng tác phẩm, Jennifer Eagleton (ĐH Tổng hợp Trung Quốc) cho rằng: “Dường như cuốn tiểu thuyết bày tỏ niềm khao khát được quay nhìn lại quá khứ, cái quá khứ đã đ-ợc kí ức đóng khung và tôn kính Hiện thực đã chìm đi trong huyền thoại chiến tranh, đ-ợc thế hệ hậu thuộc địa, hậu chiến ghi nhớ vĩnh viễn ở mức độ cao hơn là những ng-ời đã thực sự nếm trải (…)

Sự tái tạo huyền thoại này đã thành công với sự giản dị, trong sáng của ngôn ngữ và cả yếu tố kì lạ” [65, 440]

Tác giả Diệu H-ờng trong bài Một góc nhỏ văn ch-ơng Hồ Anh Thái cũng đồng thuận: “Với tiểu thuyết Trong s-ơng hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã

làm đ-ợc một sự khác trên mặt bằng văn học đ-ơng thời Tr-ớc hết là một cốt truyện kì lạ, đầy chất huyễn t-ởng, một thứ của hiếm trong văn xuôi bấy giờ (…) Đ-a nhân vật của mình trở lại với hai m-ơi năm tr-ớc, Hồ Anh Thái đã làm một cuộc mổ xẻ quá khứ và góp lời giải cho những băn khoăn tr-ớc t-ơng lai của con người thời Đổi mới” [31]

Trang 10

Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng là cuốn tiểu thuyết đã đoạt đ-ợc giải

th-ởng văn xuôi 1986 - 1990 của Hội Nhà văn Xuân Cang trong bài Một

h-ơng vị riêng nhận định khái quát: “Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng miêu tả

những con ng-ời trong một khu tập thể, những phẩm chất ng-ời hình thành từ cuộc đời xô bồ, loang loáng nh- cái cảnh nhọc nhằn ng-ời và chiếc xích lô chạy d-ới ánh trăng trong một đêm sau chiến tranh ở Hà Nội (…) Cuốn tiểu thuyết hầu nh- không có cốt truyện để kể lại đ-ợc, nó thu hút ng-ời đọc bằng một h-ơng vị riêng kín đáo của những chi tiết, những mảnh đời, quá khứ và hiện tại đan xen” [69, 391]

Tác giả Lê Minh Khuê lại đề cao ý t-ởng của Hồ Anh Thái trong tác phẩm này: “Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng, ý t-ởng đã rất rõ, ng-ời ta đi vào đời với hai bàn tay trắng, sạch sẽ, l-ơng thiện, muốn đi tới đích phải cố giữ mình sạch sẽ nh-ng cuộc đời lại cố nhấn ng-ời ta vào màu sắc đục, vào chỗ không đ-ợc sạch sẽ lắm của đời sống Nhân vật của tiểu thuyết dũng cảm

đương đầu, chiến thắng mất mát rồi lại đứng lên” [69, 415]

Tiểu thuyết Cõi ng-ời rung chuông tận thế là sự nối tiếp thành công

trên hành trình nỗ lực tự làm mới mình của Hồ Anh Thái Hàng loạt bài viết

đánh giá cao nét mới mẻ cả về nội dung và hình thức tác phẩm Trong lời giới thiệu, nhà xuất bản Đà Nẵng đã khái quát nội dung tác phẩm: “Với tác phẩm này, lại một vấn đề của con ng-ời - nhân loại đ-ợc đề cập: thiện - ác Tác giả chọn cách đứng trên cỗ xe cái ác, gần gũi, tòng phạm, hóa thân của cái ác … nên đã chỉ ra căn nguyên sâu xa hình thành cái ác (…) Có thể nói tác phẩm

đã góp một tiếng nói đầy tâm lí, trăn trở cùng ý nghĩa cảnh báo cần đ-ợc nhìn nhận, mổ xẻ nghiêm túc” [66, 5 - 6]

Nghiên cứu giọng điệu tác phẩm, Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng: Cõi

ng-ời rung chuông tận thế là tiểu thuyết ngắn, cốt truyện khá giản dị, với

điểm nhìn tiểu thuyết độc đáo, giọng kể “đa thanh trên nền suy tưởng trữ tình” [66, 276]

Trang 11

Trên lộ trình sáng tác từ 1995 đến nay, giọng điệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái có sự chuyển h-ớng, nghiêng về màu sắc trào lộng, giễu cợt, mỉa mai

Tiểu thuyết M-ời lẻ một đêm là một thử nghiệm mới Hầu hết các bài viết đều

đánh giá cao tác phẩm ở chất hài h-ớc, nghịch dị, tiêu biểu có bài Hài h-ớc và

trữ tình (Lê Hồng Lâm), Chất hài h-ớc nghịch dị trong M-ời lẻ một đêm

(Hoài Nam) ở bài M-ời lẻ một đêm - cái nhìn hắt sáng từ phía sau, Nguyễn

Thị Minh Thái đánh giá cao lối viết mới, giọng kể mang tính thông tấn, “góc nhìn ở vị thế hắt sáng, từ phía sau, từ bản thể, giọng tiểu thuyết giễu nhại, thâm sâu” [74, 353] Đồng thời tác giả bài viết cho thấy mặt hạn chế, cái giá của việc thử thách cách viết mới: “Ng-ời đọc không dễ tính khó có thể tìm

đ-ợc sự thống nhất nội tại phải có giữa cái nhìn báo chí bên ngoài và giọng kể bên trong của một tiểu thuyết chỉ thông qua một tình huống đó đã đ-ợc Hồ Anh Thái tìm thấy và biện hộ một cách thông minh” [74, 355]

Đức Phật, nàng Savitri và tôi là tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái

với nhiều luồng ý kiến đánh giá khác nhau Hoài Nam trong bài Phật sử và h-

cấu văn ch-ơng cho cái mới của tác phẩm là “quan điểm cá nhân của tác giả

về Đức Phật và từ đó, là cách tác giả xử lí những t- liệu liên quan xa gần đến

đức Phật” [45] và thành công của tiểu thuyết là ở khả năng t-ởng t-ợng, h- cấu văn ch-ơng, chủ yếu ở ch-ơng Savitri

Trong bài Hồ Anh Thái có sợ “giải thiêng”, Phạm Xuân Thạch chỉ ra

mặt -u của tiểu thuyết là lối kết cấu bộ ba với khả năng soi chiếu lẫn nhau của các nhân vật: Đức Phật, nàng Savitri và tôi nh-ng Hồ Anh Thái ch-a đi đến tận cùng của ý t-ởng khiến cho tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mức độ là mầm mống của một ý t-ởng lớn

Dù có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về các tác phẩm nh-ng tiểu thuyết vẫn là địa hạt thể hiện rõ năng lực sáng tạo của Hồ Anh Thái, khẳng

định sức sáng tạo dồi dào, những bứt phá, nỗ lực kiếm tìm làm mới đầy riết róng của ông trên con đ-ờng sáng tạo nghệ thuật

Trang 12

2.3 Về phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Đây là vấn đề còn mới, ch-a đ-ợc nghiên cứu Là nhà văn bản lĩnh, không ngừng làm mới mình trên hành trình sáng tác văn học, việc nhận diện phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái không hề đơn giản Ch-a có công trình nào nghiên cứu phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái Hiện chỉ có một số bài viết về sự biến đổi giọng điệu, cách chiếm lĩnh thế giới hiện thực, con ng-ời của nhà văn

Hoài Nam trong bài Hồ Anh Thái - Ng-ời lúc nào cũng đang viết chia

lộ trình sáng tác của Hồ Anh Thái làm ba giai đoạn: tiền ấn Độ, ấn Độ và hậu

ấn Độ Giai đoạn tiền ấn Độ đ-ợc tính từ lúc Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn cho đến cuối những năm 1980, kênh giọng chủ đạo của văn xuôi Hồ Anh Thái thời kì này là trữ tình đôn hậu ấn Độ là giai đoạn anh say mê ngụp lặn trong

đại d-ơng văn hoá ấn với nhiều sáng tác nh- “những mũi kim châm cứu theo kiểu á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách ấn Độ” (Tiến sĩ K.Pandey) Giai

đoạn hậu ấn Độ đ-ợc tính từ năm 1995 đến nay, giọng điệu văn xuôi Hồ Anh Thái lúc này nghiêng về giễu cợt, trào lộng, mỉa mai sâu cay và không hề n-ơng nhẹ tr-ớc đối t-ợng

Đi sâu nghiên cứu nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái, Nguyễn Đăng

Điệp có bài Hồ Anh Thái - Ng-ời mê chơi cấu trúc Đi từ cơ sở lí giải “hình

dung cuộc sống như những mảnh vỡ” [66, 350], Nguyễn Đăng Điệp đề cập

đến sự đa dạng và hiện t-ợng đan cài trong giọng điệu h-ớng tới tính đa cấu trúc trong tác phẩm Hồ Anh Thái Nguyễn Đăng Điệp còn phát hiện ra “ngón chơi” đầy biến hoá của Hồ Anh Thái: sự bện kết, hài hoà giữa hai yếu tố tính luận đề và màu sắc t-ợng tr-ng, siêu thực - những ph-ơng diện đòi hỏi sự cao tay của ng-ời viết

Trong bài Nhà văn Hồ Anh Thái - Sáng tạo bứt phá trên từng con chữ,

Ngọc ánh phát hiện: “Nhà văn th-ờng trăn trở về cuộc sống bằng cái nhìn

Trang 13

phân tích sắc sảo Chân dung của hiện thực trong văn của Hồ Anh Thái có nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị xấu tốt đan cài chứ không đơn

điệu Đó không phải là thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh, nhiều chiều, là hiện thực “phân mảnh” Nhưng đằng sau những bi kịch nhân sinh, nhà văn cũng không mất đi nhiều hi vọng vào con ng-ời Anh dám nhìn thẳng vào nỗi đau, niềm nhức nhối bủa vây cõi ng-ời để gióng lên những tiếng chuông khẩn thiết về sự khan kiệt nhân tính đang có mặt khắp nơi” [06]

Qua những gì đã điểm lại ở trên, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết của Hồ Anh Thái và phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái là vấn đề cần đ-ợc quan tâm

và nghiên cứu Tuy nhiên, nh- đã trình bày, hầu hết các ý kiến đánh giá chỉ ở dạng bài viết, ch-a có công trình đi sâu nghiên cứu toàn diện, kĩ càng và hệ thống Điều này thúc đẩy chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài mà chúng tôi đã lựa chọn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Xác định vị trí Hồ Anh Thái và tiểu thuyết của nhà văn trong tiểu

thuyết Việt Nam đ-ơng đại Trên cơ sở đó nhận diện các tiền đề hình thành phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

3.2 Khảo sát, phân tích và xác định những đặc tr-ng nổi bật trong t-

t-ởng sáng tạo, cái nhìn nghệ thuật và đối t-ợng chiếm lĩnh của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết

3.3 Khảo sát, phân tích, xác định những đặc tr-ng nổi bật về nghệ thuật

tự sự, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Cuối cùng rút ra một số kết luận về phong cách tiểu thuyết Hồ

Anh Thái

4 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài

4.1 Đối t-ợng nghiên cứu: Phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

4.2 Phạm vi và giới hạn của đề tài

Trang 14

Luận văn tập trung khảo sát các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, trong đó tập trung vào các tiểu thuyết sau:

1 Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng

Các thể loại khác của nhà văn là đối t-ợng để tham chiếu Ngoài ra, còn

có thêm sự liên hệ với một số tiểu thuyết của nhà văn giai đoạn tr-ớc và sau

Đổi mới

5 Đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu tập trung và hệ thống phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái, qua đó góp phần đánh giá những thành công và hạn chế của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết

Kết quả của Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp nhận tiểu thuyết Hồ Anh Thái

6 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số ph-ơng pháp nghiên cứu sau: thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh - loại hình, cấu trúc -

hệ thống…

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn đ-ợc triển khai trong 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1: Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh tiểu thuyết Việt

Nam đ-ơng đại và sự định hình một phong cách tiểu thuyết

Ch-ơng 2: T- t-ởng, cái nhìn nghệ thuật và hình t-ợng thế giới, con

ng-ời trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 15

Ch-¬ng 3: TruyÒn thèng vµ c¸ch t©n trong thi ph¸p tiÓu thuyÕt cña Hå

Anh Th¸i

Trang 16

Ch-ơng 1

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh tiểu thuyết

Việt Nam đ-ơng đại và sự định hình Một phong cách tiểuthuyết 1.1 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam

đ-ơng đại

1.1.1 Một số tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại

1.1.1.1 Một giai đoạn khởi sắc của tiểu thuyết

Trong nhịp độ phát triển gấp gáp, hối hả của cuộc sống hiện đại, không thể phủ nhận vị thế của truyện ngắn trong khả năng nắm bắt tinh nhạy, năng

động hiện thực cuộc sống Thế nh-ng, thể loại có vai trò quan trọng quyết

định diện mạo, tầm thế của nền văn học hiện đại là tiểu thuyết Với khả năng dung chứa phạm vi hiện thực rộng lớn, với tính chất tự do, để ngỏ, linh động, tiểu thuyết có thể xâm nhập vào tất cả các tầng vỉa, ngóc ngách của hiện thực

đời sống để nhận thức, phản ánh và biểu hiện

Văn học Việt Nam từ sau 1975 có sự đổi mới rõ rệt Trong không khí dân chủ hoá, tiểu thuyết đã “lột xác”(chữ dùng của Nguyễn Tuân), thay đổi trên nhiều bình diện, từ quan niệm, nội dung phản ánh đến hình thức thể hiện

Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, nhìn cuộc sống từ góc độ đời t- Đời t- chính là tiêu điểm để miêu tả cuộc sống Tùy vào từng thời kì mà c-ờng độ của sự khai thác cuộc sống từ góc độ này khác nhau Mô hình tiểu thuyết còn đ-ợc đặc tr-ng bởi tính chất văn xuôi, nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải”, tư duy Thành phần chính yếu của tiểu thuyết là cốt truyện, là tính cách nhân vật và hệ thống sự kiện, biến

cố, chi tiết Tiểu thuyết xoá bỏ khoảng cách giữa ng-ời trần thuật với nội dung trần thuật, cho phép ng-ời trần thuật có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã với nhân vật Đây cũng là thể loại có sự tổng hợp nhiều nhất khả năng nghệ

Trang 17

thuật của các thể loại văn học khác Tất cả những đặc điểm trên làm tiểu thuyết truyền thống nh- một đại tự sự Quan niệm này đã bị tiểu thuyết đ-ơng

đại hoàn toàn phá vỡ Tiểu thuyết đ-ơng đại tự do, gần gũi đời th-ờng với dung l-ợng vừa phải, cốt truyện đơn giản, số l-ợng nhân vật ít Đặc biệt từ sau

1986, tiểu thuyết Việt Nam đã có nhiều phá cách đáng kể trong quan niệm Tiểu thuyết không chỉ là sự tái hiện hiện thực mà còn là sự sáng tạo hiện thực

- hiện thực với sự đan cài của ảo và thực Tiểu thuyết không đ-a đến những lời răn dạy, giáo huấn, không đ-a ra những chuẩn mực, chân lý mà đó là sự cật vấn, phản biện, tạo lập một thế giới đầy nghi hoặc Vì thế, tiểu thuyết không h-ớng tới mục đích để độc giả tin vào thế giới mà luôn đặt ng-ời đọc trong trạng thái phản tỉnh, đầy nghi ngờ Mô hình nhân vật điển hình trong tiểu thuyết truyền thống đã đ-ợc thay thế Nhân vật trong tiểu thuyết đ-ơng đại không có lí lịch rõ ràng, không có cuộc đời đ-ợc lập trình sẵn, mang tầm khái quát xã hội mà nhân vật chỉ đ-ợc tái hiện nh- những mẩu, những mảnh, những kí họa đ-ợc góp nhặt trong bộn bề đời sống Tiểu thuyết đ-ơng đại cũng không tuân thủ trình tự thời gian trần thuật mà phá vỡ văn bản thành những mảnh vụn rời rạc, nhà văn là người sắp xếp, là người “chơi cấu trúc” (Nguyễn Đăng Điệp) Với kết cấu nh- trên cho phép tiểu thuyết có sự thâm nhập của các thể loại khác: thơ, điển tích, nhật kí… nới rộng nội hàm thể loại Nh- vậy, trong thời kì Đổi mới, mô hình tiểu thuyết truyền thống đã bị phá vỡ

để thích nghi nhanh chóng với sự biến đổi của hiện thực cũng nh- tuân thủ quy luật phát triển nghệ thuật

Từ sự thay đổi trong quan niệm, sau 1975, tiểu thuyết Việt Nam đã có nhiều b-ớc chuyển đáng kể Một đội ngũ nhà văn đông đảo thuộc nhiều thế hệ

đã nối tiếp v-ợt qua những rào cản trói buộc, h-ớng tới tìm tòi, thể nghiệm mới mẻ, làm phong phú, đa dạng thể loại tiểu thuyết Cũng từ sau Đổi mới (1986), số l-ợng tiểu thuyết đ-ợc xuất bản khá lớn Mỗi tác phẩm tiếp cận hiện thực ở những góc độ khác nhau, phân tích, kiến giải nó d-ới nhãn quan

Trang 18

riêng của ng-ời nghệ sĩ, tạo ra đời sống tiểu thuyết sôi động, phong phú Với

xu h-ớng dân chủ hoá, nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã chạm vào mọi ngóc ngách, tầng vỉa của đời sống xã hội với tất cả sự ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời ở giai đoạn 1945 - 1975 đối t-ợng trung tâm của sự nhận thức, phản ánh là con ng-ời công dân, con ng-ời cộng đồng thì sau Đổi mới,

số phận con ng-ời trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn, thể hiện cái nhìn dân chủ Tiểu thuyết đương đại đã đào xới sâu vào “tiểu vũ trụ”, vào “con ng-ời bên trong con ng-ời”, giải mã những uẩn khúc trong suy nghĩ, tình cảm mỗi cá thể, chạm vào cả thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức với nhiều yếu tố h- hoặc

Về ph-ơng diện nghệ thuật, tiểu thuyết đ-ơng đại có sự cách tân mạnh

mẽ Nhiều cây bút tiểu thuyết, đặc biệt là những cây bút trẻ với bản lĩnh, tài năng, chấp nhận sự mạo hiểm luôn sáng tạo, thể nghiệm, cách tân trên nhiều ph-ơng diện, từ cốt truyện, giọng điệu, ngôn ngữ, bút pháp… khai thác tối đa hiệu quả biểu đạt của các yếu tố này Thoát khỏi mô hình kết cấu tiểu thuyết truyền thống, các cây bút tiểu thuyết đ-ơng đại lựa chọn kiểu cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, với cốt truyện giàu tâm trạng, nhiều kết thúc để ngỏ Tiểu thuyết

đ-ơng đại dung nạp mọi sắc thái ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ đời th-ờng trần trụi, góc cạnh Nhiều tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật đ-ợc cá tính hoá cao độ, giọng điệu tiểu thuyết đa thanh với nhiều sắc thái khác nhau, có hài h-ớc, trữ tình, có cật vấn, hoài nghi, triết lí

Nh- vậy, từ sau 1986 đến nay, tiểu thuyết Việt Nam có sự nỗ lực đáng

kể, mở ra giai đoạn phát triển phong phú, đa dạng và đầy khởi sắc Các nhà văn đ-ơng đại dần khẳng định chỗ đứng và dần định hình phong cách nghệ thuật, trong đó có nhiều cây bút trẻ Vì thế, cũng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Thiệp gọi đây là “thời của tiểu thuyết”

Trang 19

1.1.1.2 Các khuynh h-ớng, tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Khuynh h-ớng văn học có vị trí then chốt trong tiến trình lịch sử văn học “Khuynh hướng là những cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất t-ơng đối về các định h-ớng thẩm mĩ - t- t-ởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật” [07, 173] Sự hình thành, nảy sinh các khuynh h-ớng văn học khác nhau trong một giai đoạn văn học là do

sự nảy sinh các luồng t- t-ởng - thẩm mĩ khác nhau cũng nh- yêu cầu tìm tòi, khai thác các đối t-ợng thẩm mĩ mới Theo đó, có thể thấy, từ sau 1975 đến nay văn xuôi Việt Nam cũng xuất hiện nhiều khuynh h-ớng khác nhau

Bất cứ sự biến động xã hội nào cũng có sự tác động không nhỏ đến đời sống văn học Năm 1975, đất n-ớc hoà bình, lịch sử sang trang, yêu cầu đổi mới văn học cũng đ-ợc đặt ra Giai đoạn 1975 - 1985 đ-ợc xem là giai đoạn

“tiền trạm”, chuyển tiếp, khuynh h-ớng sử thi vẫn là khuynh h-ớng nổi bật

Văn học 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, vấn đề sống còn của toàn thể cộng đồng dân tộc đ-ợc đặt ra gay gắt hơn bao giờ hết, vì thế văn học có khuynh h-ớng sử thi hoá Quan điểm sử thi chi phối từ cách lựa chọn

và xử lí đề tài, phạm vi hiện thực đ-ợc chiếm lĩnh đến chủ đề tác phẩm Con ng-ời trong văn học luôn là nhân vật của cộng đồng, kết tinh những phẩm chất của cộng đồng, sức mạnh của cộng đồng, nhân danh lợi ích của cộng đồng mà suy nghĩ, hành động Trong khoảng m-ời năm đầu hoà bình, tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung vẫn quán tính phát triển theo khuynh h-ớng sử thi Tính chất sử thi thể hiện trên nhiều ph-ơng diện: đề tài, chủ đề, ph-ơng

thức nghệ thuật Có thể kể tới: Đất miền Đông (Nam Hà), Ng-ời cùng quê (Phan Tứ), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Năm 1975 họ đã sống nh- thế

(Nguyễn Trí Huân) Dĩ nhiên đặc điểm sử thi trong tiểu thuyết đ-ơng đại không bảo l-u toàn vẹn loại hình tiểu thuyết sử thi trong văn học giai đoạn

1945 - 1975 Chất tiểu thuyết gia tăng, chất sử thi có phần mờ nhạt hơn, thể hiện nổi trội hơn cả ở nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, cách nhìn nhận,

Trang 20

kiến giải các sự kiện, biến cố lịch sử, hé mở những tín hiệu mới trong sáng tác tiểu thuyết

B-ớc ra khỏi hai cuộc chiến tranh thánh thần vĩ đại của dân tộc, khi hơi nóng của cuộc chiến đã đi qua, con ng-ời lại trở về với cuộc sống th-ờng ngày, đối mặt với hàng loạt vấn đề nảy sinh trong thời bình Hiện thực thay

đổi, yêu cầu cách tân đổi mới văn học lại cấp thiết đ-ợc đặt ra Từ mục tiêu hướng về cuộc chiến đấu cho quyền sống của dân tộc, văn học “cởi trói” nhìn thẳng vào hiện thực, soi chiếu lại quá khứ, phơi bày những mặt tối còn bị

khuất lấp Khuynh h-ớng nhận thức lại phát triển sôi nổi, đặc biệt trong

những năm đầu của thời kì Đổi mới Hàng loạt tiểu thuyết ra đời đặt ra yêu

cầu “nhận thức lại”: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (D-ơng H-ớng), Đám c-ới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Mùa trái cóc ở

miền Nam (Nguyễn Minh Châu), Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu) Cuộc chiến

tranh khốc liệt, dữ dội đi qua, với cái nhìn thẳng thắn, chân thực, các nhà văn

đã soi chiếu nó d-ới nhiều góc độ, có cả những chiến công và tổn thất, những hào quang và bi kịch đặc biệt là sự tác động ghê gớm của nó đến tính cách,

số phận con ng-ời Vì vậy, bi kịch hậu chiến trở thành mảng văn học thu hút nhiều tiểu thuyết gia Đây thực sự là những nỗ lực cố gắng của các cây bút văn xuôi Việt Nam trong quá trình chiếm lĩnh đề tài khá quen thuộc

Cùng khai thác số phận con ng-ời trong cuộc sống mới, nhiều nhà văn lại có cách chiếm lĩnh khác Họ nhận thấy sự lệch pha giữa hạnh phúc cá nhân

và hiện thực cuộc sống đời th-ờng Các tiểu thuyết gia đã soi ngắm hiện thực

ở mặt trái của nó, các định kiến, tập tục lạc hậu, những tâm lí cố hữu ở làng xã

là những rào cản con ng-ời trên con đ-ờng kiếm tìm và gìn giữ hạnh phúc riêng t- Đi vào khai thác đề tài này, các nhà văn gửi gắm trong đó khát vọng

được “bước qua lời nguyền” (tác phẩm của Tạ Duy Anh), h-ớng tới giá trị nhân bản cao đẹp, hạnh phúc cá nhân đích thực

Trang 21

1.1.1.3 Thành tựu và hạn chế

Cho đến nay, quá trình đổi mới văn học đã đi đ-ợc một chặng đ-ờng dài hơn 20 năm và vẫn đang tiếp diễn Văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực với nhiều thành tựu Thành tựu nổi bật làm thay đổi diện mạo tiểu thuyết đ-ơng đại chính là sự đổi mới t- duy văn học Văn học Việt Nam 1945 - 1975, do sự quy định của điều kiện lịch sử - xã hội là nền văn học phát triển theo khuynh h-ớng sử thi, đối t-ợng nhận thức và phản ánh của văn học trở nên hạn hẹp, cứng nhắc, h-ớng tới những mục tiêu, nhiệm vụ ch-a thực sự phù hợp với bản chất của nó B-ớc vào thời bình, nhiều nhà văn mẫn cảm đã nhận thấy s- lệch pha giữa đời sống và văn học Từ sự phản ánh “hiện thực lớn”, hiện thực kháng chiến hào hùng, ngập tràn âm h-ởng sử thi, văn học chuyển sang kiểu t- duy mới: suy ngẫm về hiện thực, suy ngẫm về cái đ-ơng đại đang diễn ra; từ mục tiêu h-ớng về cuộc chiến đấu cho quyền sống dân tộc, văn học tham gia vào cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân Không có lãnh địa nào là “vùng cấm” đối với nhà văn thời

Đổi mới Tiểu thuyết thời kì này không ngần ngại miêu tả tính dục, tình yêu, nhục thể - là lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân, khai thác các yếu tố tích cực của con ng-ời tự nhiên là khía cạnh nhân bản của văn học Thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, vùng mờ của ý thức cũng là phạm vi chiếm lĩnh của tiểu thuyết

ở thời đại nào, đối t-ợng trung tâm của sự nhận thức, phản ánh văn học cũng là con ng-ời Giai đoạn văn học tr-ớc, trung tâm của sự phản ánh là con ng-ời công dân, con ng-ời cộng đồng Trong thời kì Đổi mới, con ng-ời đ-ợc nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn Các cây bút viết tiểu thuyết đã không ngần ngại đi vào số phận, những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh,

bi kịch giữa khát vọng và hiện thực, thanh lọc và tha hóa, nhân bản và phi nhân bản Số phận cá nhân đ-ợc nhìn nhận trong mối quan hệ mật thiết với cộng đồng Đằng sau mỗi số phận, mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa

Trang 22

nhân sinh của thời đại, có sự giao nhịp phức điệu giữa con ng-ời cá thể và con ng-ời nhân loại Chính những tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh,

Ma Văn Kháng, Lê Lựu… đã góp phần tạo sự thăng bằng cần thiết cho nền văn học nhiều năm qua thiên về cái chung, cái vĩ đại Con ng-ời đời th-ờng, con ng-ời đạo đức, con ng-ời thế sự là đặc điểm quan trọng nhất của sự đổi mới t- duy nghệ thuật tiểu thuyết đ-ơng đại Nếu nh- văn xuôi 1945 - 1975 lấy cái chung đánh giá cái riêng, lấy số phận cộng đồng định đoạt số phận cá nhân thì trong thời kì Đổi mới, các nhà tiểu thuyết đã lấy số phận cá nhân để soi chiếu lại lịch sử và cuộc sống Đó cũng là sự vận động mang tính thời đại, chuyển giao từ con ng-ời nguyên phiến của văn học sử thi sang con ng-ời đa diện

Cốt truyện đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, cấu trúc tiểu thuyết

Từ sau 1975, do sự đổi mới t- duy văn học, đề tài thế sự, đời t- phát triển mạnh mẽ đã xuất hiện những cốt truyện về cái bình th-ờng, nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày Sự xuất hiện của các dòng ý thức, những hồi ức, giấc mơ… là những yếu tố làm nên cốt truyện tâm trạng Kĩ thuật đồng hiện, kĩ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, sử dụng các yếu tố kì ảo khiến cốt truyện trở nên lỏng lẻo, mơ hồ, co dãn, biến hóa, khó tóm tắt và có thể nói đến một hiện t-ợng: sự tan rã của cốt truyện trong các tự sự truyền thống Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề đ-ợc giải quyết trọn vẹn,

có tác phẩm với kết thúc lỏng lẻo, không hoàn tất Sự đổi mới về nghệ thuật tổ chức, cấu trúc tiểu thuyết cho thấy một cách nhìn, cách tiếp cận mới về cuộc sống và con ng-ời

B-ớc vào thế giới văn học là b-ớc vào thế giới ngôn từ Văn học là nghệ thuật ngôn từ Ngôn từ trở thành yếu tố quy định cung cách ứng xử của ng-ời nghệ sĩ, là ph-ơng tiện để nhà văn thể hiện sự giao tiếp nghệ thuật Từ bỏ sự

áp đặt quan điểm một chiều - quan điểm đúng đắn của ng-ời viết tiểu thuyết

đ-ơng đại là đ-a ra nhiều chính kiến khác nhau trên cơ sở xây dựng nhiều

Trang 23

điểm nhìn trần thuật, nhiều sắc thái giọng điệu ý thức cá tính hóa về mặt ngôn ngữ và xu h-ớng gia tăng thành phần khẩu ngữ, rút ngắn khoảng cách giữa tác phẩm và ng-ời đọc Do yêu cầu cá thể hóa cao độ ngôn ngữ nhân vật nên tiểu thuyết đ-ơng đại dung nạp nhiều dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp ng-ời trong xã hội Các cây bút tiểu thuyết đ-ơng đại có lối ứng xử riêng với ngôn ngữ, thể hiện sự cách tân mạnh mẽ, trong đó tính đối thoại của ngôn ngữ tiểu thuyết trở thành đặc điểm nổi trội Cùng với ngôn ngữ

đối thoại, độc thoại nội tâm cũng đóng vai trò quan trọng trong ph-ơng thức trần thuật của tiểu thuyết thời Đổi mới Độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết

đ-ơng đại có xu h-ớng phá vỡ khuôn khổ cú pháp thông th-ờng, tạo nên nhiều dạng thức mới, làm tăng hiệu quả của quá trình xâm nhập thế giới nội tâm nhân vật Nhờ nó, tác giả mô tả đ-ợc cả những hoạt động của ý thức, vô thức

Tiểu thuyết đ-ơng đại có sự phối hợp, đa thanh trong giọng điệu, khó

có thể có sự phân chia rạch ròi giọng tác giả, giọng nhân vật Giọng kể cũng không mang tính chất răn dạy mà chỉ đơn giản là kể lại, thuật lại, có khi

“không nghiêm túc”, “nửa đùa nửa thật” Giọng suy t-, triết lí là một nét độc

đáo trong tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại Trong một tác phẩm có nhiều cuộc

đối thoại, tranh biện, những lời nói đầy triết lí về con ng-ời, cuộc đời, nhân sinh thế sự

Mỗi nhà văn góp vào dòng chảy văn học một tiếng nói mới, một giọng

điệu mới, một t- t-ởng mới, góp phần làm phong phú, đa dạng, sinh động cho cả nền văn học giai đoạn này Hơn 30 năm tồn tại, vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại đã có nhiều biến chuyển Tiểu thuyết phong phú

về đề tài, có nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật, đa dạng về phong cách và khuynh h-ớng thẩm mĩ Song những hạn chế của tiểu thuyết giai đoạn này cũng là điều dễ thấy

Tiểu thuyết đ-ơng đại phát triển phong phú, đa dạng, có nhiều khởi sắc song không ổn định Nhiều khuynh h-ớng, t- t-ởng mới chỉ nở rộ trong một

Trang 24

giai đoạn ngắn và không còn hiện hữu Đây cũng có thể xem nh- một hệ quả tất yếu của giai đoạn văn học đang giao thời

Nhân tố quyết định cho tiến trình đổi mới tiểu thuyết là đội ngũ nhà văn

- chủ thể sáng tạo bởi quy luật vận hành đi lên của mọi nền văn học là không ngừng sáng tạo, không ngừng cách tân Trên văn đàn có sự góp mặt đông đảo của nhiều cây bút tài năng, chuyên tâm và gặt hái đ-ợc nhiều thành công Song tiểu thuyết đ-ơng đại Việt Nam vẫn thiếu sự góp mặt của những cây bút trẻ, khỏe Điều này có ảnh h-ởng không nhỏ tới tiến trình cách tân tiểu thuyết

Số l-ợng tiểu thuyết xuất bản hằng năm khá lớn, trong đó nhiều tác phẩm đặc sắc có khả năng tạo đ-ợc d- chấn trong đời sống văn học Song để

có được những tác phẩm có thể xem là “hiện tượng tiểu thuyết” tầm cỡ thì vẫn còn thiếu Đây cũng là động lực thúc đẩy sự sáng tạo của các cây bút tiểu thuyết đ-ơng đại

Quá trình sáng tạo văn học trọn vẹn gồm ba thành tố: nhà văn, tác phẩm

và công chúng Độc giả cũng là bộ phận hợp thành của quá trình văn học và

có ảnh h-ởng không nhỏ tới tiến trình đổi mới văn học Các tiểu thuyết gia

đ-ơng đại không ngừng miệt mài cách tân, đổi mới tiểu thuyết song vẫn ch-a tìm đ-ợc sự đồng cảm của số đông ng-ời ng-ời đọc Việc tiếp nhận tiểu thuyết đ-ơng đại đòi hỏi phải thay đổi “khẩu vị” thẩm mĩ vốn có, thay đổi hoạt động tiếp nhận truyền thống - tiếp nhận trên cơ sở trải nghiệm văn ch-ơng, so sánh chi tiết văn ch-ơng với chi tiết đời sống, đánh giá tác phẩm theo tiêu chí đúng - sai để từ đó tích cực và sáng tạo hơn trong hoạt động tiếp nhận

Tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại vẫn đang đứng tr-ớc những thách thức của đời sống, của bạn đọc và cả ng-ời sáng tạo Để đạt đ-ợc hiệu quả thẩm

mĩ, khẳng định vị thế “xương sống” trong nền văn học đòi hỏi cao hơn nữa ý thức cách tân và năng lực sáng tạo của đội ngũ tiểu thuyết gia đ-ơng đại

Trang 25

1.1.2 Vị trí Hồ Anh Thái và tiểu thuyết nhà văn trong tiểu thuyết Việt

Nam đ-ơng đại

1.1.2.1 Hồ Anh Thái nh- một hiện t-ợng tiêu biểu, góc cạnh của văn

xuôi Việt Nam đ-ơng đại

Công cuộc đổi mới văn học n-ớc nhà hơn 20 năm đã thu đ-ợc nhiều thành tựu Làm nên diện mạo mới cho văn xuôi n-ớc nhà nói riêng và văn học nói chung phải kể tới sự nhập cuộc đầy tích cực của các thế hệ văn nghệ sĩ, trong đó có đóng góp của Hồ Anh Thái - một hiện t-ợng tiêu biểu, góc cạnh của văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại

Hơn 30 năm cầm bút, Hồ Anh Thái đã khẳng định đ-ợc chỗ đứng,

“th-ơng hiệu”, tạo nên một dòng chảy Hồ Anh Thái giữa dòng chung của văn học đ-ơng đại Đến nay, Hồ Anh Thái có khoảng 30 đầu sách đã xuất bản ở từng thời kì, từng giai đoạn, từng tác phẩm, sáng tác của Hồ Anh Thái có những sắc thái khác nhau Sự thay đổi này có tính chất biện chứng, vừa cho thấy khả năng lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai, vừa khẳng định tính nhất quán trong t- t-ởng nghệ thuật của Hồ Anh Thái Chính điều này đ-a ông trở thành một trong số không nhiều những tác giả đ-ơng đại mà mỗi sáng tác đều

có sức thu hút, hấp dẫn, đ-ợc sự đón nhận rộng rãi của bạn đọc và giới nghiên cứu

17 tuổi, Hồ Anh Thái trình làng đầu tiên truyện ngắn Bụi phấn và sớm

tạo đ-ợc dấu ấn ngay từ những sáng tác đầu tay Các tác phẩm giai đoạn đầu của Hồ Anh Thái là tiếng nói trẻ trung, trong trẻo của những ng-ời trẻ tuổi tr-ớc ng-ỡng cửa cuộc đời Sáng tác của Hồ Anh Thái đã chạm vào mọi biến thái của đời sống tâm lí giới trẻ, là sự thức nhận các giá trị đích thực của cuộc

sống Đó là những trạng thái cung bậc tình cảm trong tình yêu đầu đời (Nói

bằng lời của mình, Chàng trai ở bến đợi xe…), là sự ý thức bản thể, khát vọng

đ-ợc khẳng định mình giữa cuộc đời (Chàng trai ở bến đợi xe, Ng-ời và xe

chạy d-ới ánh trăng…) Sự đồng cảm giữa một tác giả trẻ viết về đề tài thanh

Trang 26

niên mới lớn khiến ngòi bút Hồ Anh Thái có thể chạm tới những rung động tế

nhận về hiện thực lịch sử trong mối quan hệ biện chứng giữa hiện tại và quá

khứ Với Trong s-ơng hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã thực hiện khát vọng

khám phá, đ-ợc tri nhận về hiện thực chiến tranh khốc liệt của thế hệ trẻ thời hậu chiến Quá khứ - hiện tại - t-ơng lai là một sự nối tiếp biện chứng Vén màn s-ơng mờ ảo, mổ xẻ quá khứ cũng là cách để Hồ Anh Thái nhận chân các

giá trị của cuộc sống đ-ơng đại Tiểu thuyết Ng-ời đàn bà trên đảo và truyện ngắn Mảnh vỡ của đàn ông là “bước đệm” cho sự rẽ hướng trên con đường

sáng tạo văn ch-ơng của Hồ Anh Thái Ngòi bút của Hồ Anh Thái đã tìm thấy những “mảnh vỡ” trong cuộc đời, nơi “người đàn bà góa là mảnh vỡ của người

đàn ông đã mất Ng-ời thì cam chịu số kiếp của một mảnh vỡ âm thầm nơi riêng khuất, dù vẫn dai dẳng một -ớc mong tìm đ-ợc những mảnh vỡ khác để hàn gắn lại, ng-ời thì làm mảnh vỡ lăn lê ra đ-ờng đi lối lại mà đâm, mà cứa vào những bàn chân may mắn, trả thù cho số phận hẩm hiu của mình” [63,

237 - 238]

Thời gian lao động, học tập và công tác trên đất n-ớc ấn Độ tạo ra b-ớc chuyển đáng kể trên con đ-ờng sáng tác văn học của Hồ Anh Thái Hồ Anh Thái từng xem miền đất ấn Độ như “bảo tàng sống” đầy bí ẩn Ngụp lặn trong

đại d-ơng văn hóa ấn, Hồ Anh Thái có điều kiện thâm nhập các giá trị của nền văn hóa mới, đem đến chiều sâu cho các tác phẩm của ông Hồ Anh Thái tiếp cận nền văn hoá mới bằng tất cả tình yêu th-ơng con ng-ời, bằng nỗi đau trước “kiếp người đi qua” Niềm tin, tình yêu con người được thể hiện trong

Trang 27

khát vọng h-ớng thiện (Chuyện cuộc đời đức Phật, Đến muộn, Kiếp ng-ời đi

qua…) hay những “tiếng thở dài” đau xót tr-ớc những sinh linh bé gái không

đ-ợc chào đời bởi những hủ tục lạc hậu (Tiếng thở dài qua rừng kim t-ớc)…

Cho đến nay, trong văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại, Hồ Anh Thái là cây bút tạo

đ-ợc bản sắc riêng trong những trang viết về miền đất Phật, tạo ra những mảng màu mới trong đời sống văn học

Là nhà văn từng trải, đi qua nhiều miền đất, chứng kiến nhiều kiếp nhân sinh, không muốn cái gì trở thành “căn tính” bám riết lấy mình, văn xuôi Hồ Anh Thái có sự chuyển “kênh” từ giọng trữ tình, sâu lắng trong các sáng tác thời kì đầu sang giọng hài h-ớc, giễu cợt Văn xuôi Hồ Anh Thái trở thành những màn c-ời, đời c-ời Với cái nhìn tinh quái, hài h-ớc, Hồ Anh Thái thể hiện năng lực nắm bắt tinh nhạy mặt trái của cuộc sống con ng-ời đ-ơng đại

trong Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà c-ời, M-ời lẻ một đêm Sự giễu cợt,

mỉa mai của ngòi bút Hồ Anh Thái không loại trừ đối t-ợng nào từ công chức, anh xe ôm, cô giúp việc, dân th-ờng, họa sĩ, nhà báo… và cũng không loại trừ lĩnh vực nào từ giáo dục, hội họa, điện ảnh, lí luận học thuật, văn hóa, phẫu thuật thẩm mĩ… Tất cả đ-ợc nhìn qua tấm g-ơng trào phúng, giễu nhại trở nên méo mó, nhăn nhúm, đầy khuyết tật Đằng sau mỗi tiếng c-ời ấy là niềm xót th-ơng, là niềm khắc khoải nhân sinh Đó chính là chiều sâu nhân bản trong tiếng c-ời văn xuôi Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái là g-ơng mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại Văn xuôi Hồ Anh Thái là hành trình phát triển và không ngừng biến đổi Tất cả sự thay đổi ấy xuất phát từ một gốc, một cội nguồn: cá tính Hồ Anh Thái - một bản lĩnh nghệ thuật, một cách nhìn độc đáo

1.1.2.2 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại

Tiểu thuyết là thể loại then chốt trong đời sống văn học, có khả năng phản ánh hiện thực sinh động trên cả hai bình diện: bề rộng và bề sâu Vì thế, các tiểu thuyết gia tr-ớc hết phải là những ng-ời có vốn sống phong phú, vốn

Trang 28

kiến thức rộng, vốn văn hoá bề dày, l-ợng ngôn từ lớn, khả năng t- duy sắc sảo để đáp ứng đ-ợc yêu cầu của thể loại tự sự cỡ lớn nh- tiểu thuyết Do vậy, không phải ngẫu nhiên khi ở n-ớc ta hầu hết các nhà văn b-ớc vào nghề đa phần từ truyện ngắn hay thơ Hồ Anh Thái cũng không phải là tr-ờng hợp ngoại lệ

Hồ Anh Thái sáng tác trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, du kí, tiểu luận và biên khảo ông trình làng đầu tiên

truyện ngắn Bụi phấn và thành công đầu tay bằng tập truyện Chàng trai ở bến

đợi xe nh-ng thể loại đ-a Hồ Anh Thái trở thành nhà văn tên tuổi trong làng

văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại lại là tiểu thuyết Tiểu thuyết chiếm vị trí -u thế trong sự nghiệp sáng tác Hồ Anh Thái cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng

Từ sau 1986 đến nay, tiểu thuyết Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng, bổ sung cho những khiếm khuyết của bức tranh văn học giai đoạn trước đó Với tâm thế của những người được “cởi trói”, các cây bút tiểu thuyết giai đoạn này không ngần ngại đào xới sâu vào những góc khuất của đời sống, những vùng trước đây bị xem là “cấm kị”, không ngừng cách tân trên bình diện nghệ thuật Hồ Anh Thái cũng đã hoà vào dòng chảy ấy với những đóng góp không nhỏ Hơn ba m-ơi năm cầm bút, cho đến nay Hồ Anh Thái đã có đến tám cuốn tiểu thuyết Mỗi tác phẩm ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng tìm tòi của ông trên hành trình sáng tạo

Để bắt nhịp với sự thay đổi của cuộc sống sau chiến tranh, văn học buộc phải thay đổi Trong cao trào đổi mới tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung, Hồ Anh Thái là cây bút gây ấn t-ợng mạnh Với mỗi tiểu thuyết, Hồ Anh Thái gửi gắm thông điệp thẩm mĩ sâu sắc về nhân sinh, cuộc đời, với những b-ớc tiến về quan niệm nghệ thuật, t- duy nghệ thuật, cách tiếp cận và

xử lí đề tài Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã theo sát những b-ớc chuyển của

đời sống xã hội, chạm tới cả những chấn động bề sâu của cuộc sống: từ chiến tranh biên giới, bi kịch của con ng-ời thời hậu chiến, lật lại để chiêm nghiệm

Trang 29

những vấn đề của quá khứ và cả những vấn đề mới nảy sinh đặt ra cho con ng-ời trong cuộc sống đ-ơng đại Hồ Anh Thái đã đi sâu và khai thác triệt để những mảng khuất lấp của hiện thực đời sống, của bản thể

Viết về cuộc sống thời hậu chiến, ba cuốn tiểu thuyết Ng-ời đàn bà

trên đảo, Trong s-ơng hồng hiện ra, Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng là

những tiếng nói mới đầy -u t- và trăn trở của Hồ Anh Thái Ng-ời và xe chạy

d-ới ánh trăng là sự cảm nhận tinh tế cuộc sống của ng-ời lao động trong thời

kì Đổi mới ở đó có sự hiện hữu của các giá trị đối nghịch: tốt - xấu, thiện -

ác, vị kỉ - thứ tha, rồng ph-ợng - rắn rết, thiên thần - ác quỷ… và để tồn tại con ng-ời buộc phải đối mặt với những mặt trái của cuộc sống Khai thác đề

tài chiến tranh, với tiểu thuyết Ng-ời đàn bà trên đảo, Hồ Anh Thái có sự

nhìn nhận khách quan về sức tàn phá ghê gớm của nó đến số phận cá nhân Sức tàn phá ấy chính là những mất mát, hi sinh của những ng-ời đàn bà đội

Năm trong và sau chiến tranh Với Trong s-ơng hồng hiện ra, Hồ Anh Thái lại

đứng từ góc nhìn hiện tại để mổ xẻ, kiến giải, nhận thức lại quá khứ, thẩm

định giá trị hiện tại, bày tỏ khao khát của thế hệ hậu chiến đ-ợc nhìn xuyên qua màn s-ơng huyền thoại để xem xét nguồn cội

Ba cuốn tiểu thuyết là ba cách tiếp cận hiện thực, tất cả làm nổi bật đời sống Việt Nam thời kì hậu chiến: có đổ nát, có bi th-ơng, có mất mát nh-ng trên hết là sự khẳng định giá trị đích thực của con ng-ời, khẳng định sức sống mãnh liệt của con ng-ời

Từ tiểu thuyết Cõi ng-ời rung chuông tận thế trở về sau, ngòi bút Hồ

Anh Thái có nhiều đổi mới cả trên bình diện nội dung và hình thức Lật lại

những vấn đề muôn thuở của cuộc sống con ng-ời, Cõi ng-ời rung chuông tận

thế là cuộc đấu tranh thiện - ác với chân lí: chỉ có tình yêu th-ơng, sự bao

dung mới hoá giải nổi vòng luẩn quẩn của sự hận thù

Đến M-ời lẻ một đêm, Hồ Anh Thái chiếu cái nhìn nghịch dị, châm

biếm sâu sắc vào muôn mặt trái của đời sống đ-ơng đại trên mọi lĩnh vực

Trang 30

Mở rộng không gian chiếm lĩnh, Hồ Anh Thái đã v-ơn tới tiếp cận những không gian văn hoá mới - đất n-ớc, văn hoá và con ng-ời ấn Độ bằng

tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi Với cuốn tiểu thuyết này, Hồ Anh

Thái đã tái dựng lại cuộc đời Đức Phật bằng t- duy tiểu thuyết, đ-a ông trở thành một trong những cây bút có nhiều tác phẩm hay về đất n-ớc và con ng-ời ấn Độ trong văn học đ-ơng đại

Với sáu cuốn tiểu thuyết, mỗi tác phẩm là một h-ơng vị riêng Đi qua từng tác phẩm, Hồ Anh Thái dường như đã làm được những cuộc “lột xác” mạnh mẽ hơn, ghi dấu từng b-ớc tiến trên nấc thang nghệ thuật Tiểu thuyết

Hồ Anh Thái đã chạm tới những vấn đề nhạy cảm của xã hội, thể hiện ý thức luôn tìm tòi và tự làm mới mình của nhà văn Trên ph-ơng diện nghệ thuật,

Hồ Anh Thái không ngừng cách tân, biểu hiện rõ ở sự linh hoạt trong ph-ơng thức thể hiện và sự đa dạng trong từng giai đoạn Sự cách tân thể loại trên ph-ơng diện nghệ thuật của Hồ Anh Thái biểu hiện ở nhiều bình diện, từ dung l-ợng, kết cấu, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo dựng không gian, thời gian nghệ thuật và rõ nhất là ở sự biến đổi của giọng điệu nghệ thuật, xác lập những kết cấu nghệ thuật mới mẻ qua từng tiểu thuyết

Trên mặt bằng sáng tác tiểu thuyết đ-ơng đại, Hồ Anh Thái là nhà văn

để lại nhiều dấu ấn Với mỗi cuốn tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã khẳng định những b-ớc tiến của mình trên con đ-ờng sáng tạo và cây bút ấy còn đầy hứa hẹn cho văn học Việt Nam đ-ơng đại

1.2 Khái niệm về phong cách và phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

1.2.1 Khái niệm phong cách và những cấp độ của nó

1.2.1.1 Phong cách nghệ thuật và phong cách tác giả

Phong cách là thuật ngữ bắt nguồn từ thuật ngữ stylos (tiếng Hy Lạp, nghĩa là cái que), style (tiếng Pháp, nghĩa là nét chữ, bút pháp), đ-ợc sử dụng

từ thời Cổ đại Ngày nay, thuật ngữ này trở nên thông dụng và đ-ợc sử dụng

Trang 31

rộng rãi cả trong đời sống và trong nghệ thuật Tuỳ vào từng lĩnh vực mà nội hàm của khái niệm này có ý nghĩa khác nhau “Nghĩa phổ quát của phong cách là chỉ cấu trúc với “kiểu”, “vẻ”, “riêng”, với những đặc tr-ng khá ổn

định, bền vững, mang tính độc đáo của đối t-ợng đ-ợc bàn đến” [15, 29]

Phong cách nghệ thuật là phạm trù thẩm mĩ, “chỉ sự thống nhất tương

đối ổn định của hệ thống hình t-ợng, các ph-ơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, một tác phẩm riêng

lẻ, trong trào l-u văn học hay văn học dân tộc” [20, 255 - 256] Phong cách là thuật ngữ có nội hàm rộng Do đó, để có đ-ợc sự đồng thuận trong việc minh

định khái niệm này là điều không dễ Theo M Kharapchenkô: “Nếu như dùng một công thức văn tắt thì phong cách cần phải đ-ợc định nghĩa nh- ph-ơng thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hiện thực đối với cuộc sống nh- là ph-ơng

thức thuyết phục và thu hút độc giả” [33, 279] Trong bài viết Một số khuynh

h-ớng nghiên cứu phong cách, Tôn Thảo Miên cũng khẳng định: “Tựu trung

lại, phong cách đ-ợc hiểu là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức,

nó tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là nét riêng để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác”

[43, 78] Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trong nghĩa rộng, phong cách là

những nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một chỉnh thể có thể cảm nhận đ-ợc, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất” [20, 256]

Nh- vậy, tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau song có thể hiểu phong cách là những nét độc đáo phân biệt các tác giả, tác phẩm, trào l-u, thời

đại văn học

Trong văn học nghệ thuật, phạm trù phong cách đ-ợc hiểu theo nhiều cấp độ Có khái niệm phong cách nhằm chỉ phong cách của một tác giả (phong cách nhà văn), đặc điểm về mặt ngôn ngữ của nhà văn, phong cách thể loại văn học, một trào l-u văn học, một khuynh h-ớng, tr-ờng phái hay một

Trang 32

nền văn học, một thời đại văn học Trong các cấp độ này, phong cách nhà văn

là khái niệm cơ bản Nhà văn là ng-ời trực tiếp sáng tác ra tác phẩm, kết tinh quá trình sáng tạo, khởi đầu cho hoạt động văn ch-ơng Phong cách nghệ thuật đ-ợc xem nh- th-ớc đo tài năng, là yếu tố xác lập vị trí của nhà văn trong tiến trình lịch sử văn học Không phải nhà văn nào cũng có phong cách Lao động nghệ thuật là thứ lao động cá thể, lao động sáng tạo, muốn tạo dựng

đ-ợc phong cách đòi hỏi nhà văn phải có bản lĩnh nghệ thuật, có tài nghệ, biết kiếm tìm và phát hiện cuộc sống một cách độc đáo, đề xuất những t- t-ởng mới mẻ, có đóng góp cho văn học

Có nhiều quan niệm khác nhau về phong cách nhà văn Trong công

trình Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Tôn Ph-ơng Lan khẳng

định: “Phong cách nghệ thuật của một nhà văn là cá tính của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn chất liệu và cách tiếp cận đời sống nghệ thuật, cách thức xây dựng tác phẩm, các thủ pháp và ph-ơng tiện biểu đạt nghệ thuật ngôn từ… Quá trình sáng tạo đó của ng-ời nghệ sĩ không đơn thuần là việc lựa chọn, càng không phải là việc chiếm lĩnh những yếu tố mà là tổ chức chúng lại thành một cấu trúc tinh vi, nhuần nhuyễn đến mức mà tất cả những dấu hiệu hình thức đều mang tính nội dung và ngược lại” [39, 30] Phan Ngọc xác

định: “Phong cách là sự lặp đi lặp lại như một chùm nét khu biệt, những nét riêng này muốn tạo thành phong cách không đ-ợc có tần số quá thấp bởi nhiều khi tần số thấp nó không để lại trong óc người đọc một ấn tượng nào cả” [49, 09]

Nh- vậy, có thể khái quát phong cách nhà văn là những đặc điểm riêng, bền vững, nhất quán đ-ợc biểu hiện qua tác phẩm, lặp đi lặp lại ở nhiều tác phẩm, thể hiện cái nhìn và cách chiếm lĩnh hiện thực độc đáo của nhà văn, giúp ng-ời đọc nhận diện g-ơng mặt nhà văn, phân biệt nhà văn này với nhà văn khác Thiếu một cốt cách ổn định, vững bền sẽ không tạo đ-ợc phong

Trang 33

cách Nh-ng sự ổn định này không đồng nghĩa với sự lặp lại đơn điệu, nhàm chán mà đó phải là sự đa dạng, là cái khả biến trên nền tảng ổn định

Phong cách không phải do ý muốn chủ quan của ng-ời nghệ sĩ mà đó là kết tinh của cả quá trình lao động nghệ thuật nghiêm ngặt M.Proust từng cho rằng: “Đối với nhà văn cũng nh- nhà hoạ sĩ, phong cách không phải vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn Đó là một sự khám phá mà ng-ời ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một sự khám phá về chất, chỉ có đ-ợc trong cách cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [87, 51] Phong cách là th-ớc đo tài năng Quá trình tạo dựng phong cách là quá trình nỗ lực khẳng định bản ngã của mình trong dòng chảy văn học của ng-ời nghệ sĩ

Tác phẩm văn học là sự thống nhất hài hoà giữa nội dung và hình thức

Do vậy, nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một tác giả không đơn thuần là việc tìm hiểu những nét riêng về t- t-ởng nội dung hay hình thức nghệ thuật Phong cách là phẩm chất thẩm thấu, xuyên suốt các yếu tố của một tác phẩm

cụ thể hay nhiều tác phẩm khác và có thể bộc lộ rõ ở phạm vi nội dung hoặc hình thức tùy từng tr-ờng hợp cụ thể Nh- vậy cũng có nghĩa phong cách tr-ớc hết là cái nhìn độc đáo của ng-ời nghệ sĩ đối với con ng-ời, đời sống Từ cốt cách, bản lĩnh trong cách nhìn đời, nhà văn đã lựa chọn thể loại, nhân vật, hình thức câu văn, giọng điệu t-ơng ứng Tất cả tập hợp lại tạo thành phong cách nghệ thuật, mở ra chân trời cho con ng-ời cảm nhận đời sống

Phong cách nghệ thuật ghi nhận sự tr-ởng thành về mặt nghệ thuật của ng-ời nghệ sĩ Do đó, một nền văn học càng lớn khi quy tụ đ-ợc nhiều phong cách nghệ thuật

1.2.1.2 Phong cách thể loại và phong cách thể loại của một tác giả

Thể loại văn học trở thành nhân vật chính của lịch sử văn học, quy định cách kiến thiết, tổ chức tác phẩm cũng nh- quy định h-ớng tiếp cận Nếu

Trang 34

chúng ta quan niệm phong cách là cái “riêng”, cái “độc đáo” thì trong lịch sử nghệ thuật tồn tại cấp độ phong cách thể loại

Thể loại văn học là “dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành

và tồn tại t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện t-ợng đời sống đ-ợc miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn

đối với các hiện tượng đời sống ấy” [20, 299] Một thể loại văn học thể hiện phạm vi đời sống đ-ợc chiếm lĩnh, giới hạn tiếp xúc đời sống, một tr-ờng quan sát đối với đời sống cũng nh- các ph-ơng tiện thể hiện t-ơng ứng Có nhiều cách chia loại văn học trong đó cách chia phổ biến dựa trên tiêu chí ph-ơng thức phản ánh đời sống chia thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch

Tự sự, trữ tình và kịch cũng là ba ph-ơng thức cơ bản phản ánh hiện thực Ba ph-ơng thức này chính là cơ sở tạo ra tính ổn định cho thể loại Nói cách khác, bên cạnh biến động do sự phát triển của t- duy nghệ thuật trong mỗi thời kì không giống nhau thì thể loại có những yếu tố t-ơng đối ổn định nh- ph-ơng thức tiếp cận đời sống, cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm, cách giao tiếp đối với độc giả… Trên nền tảng ấy, mỗi loại văn học

có những đặc tr-ng về phạm vi chiếm lĩnh đời sống, giới hạn tiếp xúc đời sống cũng nh- các ph-ơng tiện thể hiện t-ơng ứng

Chẳng hạn, cùng h-ớng đến cách cảm nhận, nắm bắt và chiếm lĩnh đời sống nh-ng loại tự sự, trữ tình và kịch có những cách thức khác nhau Nếu loại

tự sự h-ớng tới nhận thức hiện thực, phát hiện, khái quát mối quan hệ xã hội,

đào sâu vào tầng vỉa của hiện thực đời sống để thấy đ-ợc sự tác động của nó

đối với con ng-ời thì ph-ơng thức trữ tình thiên về biểu hiện trực tiếp cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình, nắm bắt thế giới bên trong của con ng-ời

Từ đó, mỗi thể loại quy định cách giao tiếp đối với ng-ời đọc Ph-ơng thức tự

sự yêu cầu độc giả có óc quan sát, phán xét, phân tích còn đối với thể loại trữ tình, ng-ời đọc có tâm thế tiếp nhận xem tiếng nói trữ tình ấy chính là tiếng

Trang 35

nói của mình, nghĩa là phải có sự đồng cảm, tri âm Riêng kịch lại chú trọng tới các mâu thuẫn, xung đột trong đời sống Đặc tr-ng của loại tự sự là sự kiện, của loại trữ tình là cảm xúc thì kịch đánh giá cao hành động Hành động trong kịch đ-ợc bộc lộ qua ngôn ngữ Vì thế, nhà viết kịch có thể giảm tải

đ-ợc rất nhiều việc thể hiện những yếu tố khác so với tự sự Do sự tác động và chi phối bởi yếu tố không gian và thời gian trình diễn nên nhân vật kịch cũng không đ-ợc khắc họa tỉ mỉ với nhiều khía cạnh nh- nhân vật trong tác phẩm tự

sự Nh- vậy, nghiên cứu phong cách theo h-ớng thể loại cũng là h-ớng đi

đúng để có những cách tiếp nhận và kiến giải tác phẩm hợp lí

Tác giả văn học là một đơn vị, một bộ phận của quá trình văn học, một g-ơng mặt không thể thay thế tạo nên diện mạo chung của một thời kì, một thời đại văn học Có ba ph-ơng thức phản ánh đời sống t-ơng ứng với ba loại văn học: tự sự, trữ tình và kịch Với mỗi ph-ơng thức này đòi hỏi một kiểu t- duy nghệ thuật khác nhau T- duy nghệ thuật là hoạt động trí tuệ h-ớng tới sáng tạo tác phẩm văn học, nảy sinh trên nền tảng tâm sinh lí cụ thể Sáng tạo tác phẩm đối với ng-ời nghệ sĩ là sự huy động toàn bộ nội tâm, mĩ cảm, tầm văn hoá Do vậy, d-ờng nh- mỗi tác giả có “miền” sáng tạo phù hợp với mĩ cảm của bản thân Nói cách khác, mỗi nhà văn có thể phát huy đ-ợc toàn bộ năng lực sáng tạo của mình ở một thể loại văn học nhất định Từ đây hình thành phong cách thể loại của một tác giả

Phong cách thể loại của một tác giả đ-ợc hiểu là những nét riêng biệt,

độc đáo của tác giả ghi dấu ở thể loại văn học, có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thể loại ấy

Thể loại văn học là một phạm trù siêu cá thể nh-ng mang những đặc

điểm của phong cách nhà văn Mỗi thể loại văn học có những nét t-ơng đối cố

định về phạm vi chiếm lĩnh đời sống, hình thức tổ chức cấu trúc tác phẩm cũng nh- cách thức tiếp nhận tác phẩm Song đối với những nhà văn có phong cách, họ luôn có ý thức làm mới thể loại đó, đóng dấu ấn cá nhân vào thể loại,

Trang 36

khẳng định bản sắc Mỗi nhà văn có thể lựa chọn thể loại để sáng tác, nghĩa là lựa chọn cái đã có sẵn nh-ng bằng tài năng của mình, họ có thể cách tân, phá

vỡ khuôn hình sẵn có ấy Vì thế, một ng-ời viết văn có thể tìm và thử sức với nhiểu thể loại văn học song lịch sử văn học sẽ ghi công cho họ chủ yếu ở thể loại mà họ sở tr-ờng

Chẳng hạn, cùng sử dụng thể lục bát truyền thống - thể loại t-ơng đối

ổn định nh-ng mỗi nhà thơ qua các thời kì đều có sự cách tân Với kiệt tác

Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đ-a thể lục bát phát triển đến đỉnh cao Sang văn

học hiện đại, nhiều nhà thơ đã làm mới thể lục bát quen thuộc bằng những đổi mới về tứ thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu, vần… Đó là Nguyễn Bính với những vần thơ chân chất về làng quê, là Hoàng Cầm với những tứ thơ lạ, là Tố Hữu cùng những câu thơ chuyên chở cả những vấn đề của cuộc sống kháng chiến, h-ớng

về quần chúng, nói tiếng nói của quần chúng hay Bùi Giáng làm mới bằng chữ nghĩa trùng trùng điệp điệp, phối hợp linh hoạt từ Hán - Việt và từ thuần Việt… Tất cả minh chứng cho sức sống mãnh liệt của thể lục bát

Trong công cuộc hiện đại hóa văn học, từ đầu thế kỉ XX đến 1945 các thể loại văn học phát triển sôi nổi Phóng sự là thể mới nh-ng đã gặt hái những thành tựu đáng kể Nhiều cây bút thể nghiệm ở thể này (Tam Lang, Ngô Tất Tố…) nh-ng chỉ có Vũ Trọng Phụng đ-ợc tôn lên ngôi vị là “ông vua phóng

sự đất Bắc” với nhiều trang viết sắc sảo, độc đáo, v-ợt lên các cây bút phóng

sự đ-ơng thời Cũng trong giai đoạn này, tùy bút được xem là thể loại “khinh binh” Tuy nhiên, trở thành nhà tùy bút thực sự, có sức viết dồi dào chỉ có ở Nguyễn Tuân

Nh- vậy, ý thức tạo lập bản sắc của mỗi nhà văn ở thể loại là một động lực quan trọng giúp cho thể loại văn học không ngừng đổi mới Thể loại văn học một mặt chịu sự quy định của môi tr-ờng văn hóa, mặt khác là kết quả của việc phát huy tài năng, cá tính sáng tạo của mỗi ng-ời nghệ sĩ

1.2.2 B-ớc đầu nhận diện phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 37

1.2.2.1 Hồ Anh Thái - từ quan niệm về tiểu thuyết đến thực tiễn sáng

tác

Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hồ Anh Thái, nhà văn ghi dấu ấn cá nhân của mình nhiều nhất ở thể loại tiểu thuyết Thành công ấy bắt nguồn tr-ớc hết từ những quan niệm đúng đắn về tiểu thuyết của ông Quan niệm tiểu thuyết của Hồ Anh Thái vừa đ-ợc thể hiện trực tiếp qua các ý kiến bàn luận về tiểu thuyết, vừa đ-ợc thể hiện qua sáng tác của nhà văn

Cảm quan hiện thực của từng nhà văn là nhân tố cốt lõi chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn Với Hồ Anh Thái, quan niệm hiện thực nh- là

đối t-ợng phản ánh, khám phá, nhận thức của văn học đ-ợc mở rộng, khơi sâu

và mang tính toàn diện hơn Ông cho rằng: “Hiện thực là những gì ta nhìn thấy, ta nghe là ch-a đủ, hiện thực là cái ta cảm nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ng-ời, trong tâm

và trí của họ Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là

đã đào sâu, hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy” [66, 252] Với cảm quan hiện thực nh- vậy, Hồ Anh Thái sáng tác tiểu thuyết không hề bị lệ thuộc đề tài hay cách nhìn đã đ-ợc định tr-ớc, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện thực đời sống; dung l-ợng phản ánh hiện thực cũng

đ-ợc nới rộng, xác lập quan niệm mới về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái không chỉ phản ánh thực tại ngoài đời mà còn là thế giới do nhà văn sáng tạo, có thể bao gồm cái có thực với cái không thể có, cái kì ảo đ-ợc tạo ra bằng trí t-ởng t-ợng có thể tồn tại bên cạnh những hình ảnh của hiện thực Hồ Anh Thái khẳng định: “Tôi quan niệm tiểu thuyết nh- giấc mơ dài, gấp sách lại nguời ta vừa mừng rơn nh- thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều

mà đời thực không có” [66, 245]

Trang 38

Hồ Anh Thái là nhà văn có ý thức sâu sắc về nghề viết, về bản chất của lao động nghệ thuật Theo ông: “Tôi quan niệm ng-ời viết văn phải là ng-ời vật vã lao động trên từng chữ, mà là chữ sáng tạo (…) Tôi là ng-ời luôn thay

đổi Tôi cũng không dừng ở lối viết này lâu đâu, khi chuyển sang đề tài khác tôi sẽ chọn một lối viết khác cho hợp đề tài mới Không dừng lâu ở một chỗ, cho nên ng-ời ta vừa kịp buông ra lời nhận xét thì tôi đã đi qua chính tôi rồi” [70, 226] Với Hồ Anh Thái, văn ch-ơng nghệ thuật là địa hạt tinh thần, nó

đào thải tất cả cái gì nhợt nhạt, thiếu bản sắc Tạo ra những sản phẩm mới mẻ

là đòi hỏi tự bên trong của hoạt động sáng tạo nghệ thuật chân chính Mỗi sản phẩm nghệ thuật là sự hiện diện của nhà văn giữa cuộc đời Vì thế cũng không

phải ngẫu nhiên Hồ Anh Thái gọi tên một tác phẩm của mình là Hãy nói bằng

lời của mình Đây có thể xem nh- một tuyên ngôn nghệ thuật của ông Nói

bằng lời của mình, lao động nghệ thuật bằng tài năng, tâm huyết, bằng bản lĩnh, bằng khả năng sáng tạo, Hồ Anh Thái đã cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết

mà mỗi tác phẩm một dáng vẻ, một phát minh, ghi nhận sự tr-ởng thành nghệ thuật của ông trên từng chặng đ-ờng sáng tác

Những ý kiến có tính chất tuyên ngôn về sáng tác tiểu thuyết và lao

động nghệ thuật là sự đúc rút, khái quát những gì Hồ Anh Thái đã làm đ-ợc trong giai đoạn sáng tác vừa qua Thực tiễn sáng tác cho thấy Hồ Anh Thái là cây bút đa phong cách, không ngừng tìm tòi, khám phá và sáng tạo

1.2.2.2 Những dấu hiệu độc đáo, sự đa dạng và thống nhất trong thi

pháp tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

Hơn hai m-ơi năm đổi mới, văn xuôi Việt Nam đ-ơng đại đang khoác trên mình một diện mạo mới với sự nở rộ của hàng loạt phong cách nghệ thuật Hồ Anh Thái là cây bút đã khẳng định đ-ợc vị thế của mình trong dòng chảy ấy bằng những sáng tạo nghệ thuật có giá trị

M Proust từng khẳng định: “Phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật

mà là vấn đề cách nhìn” [87, 51] Theo quan niệm này hoàn toàn có cơ sở để

Trang 39

khẳng định phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái đ-ợc xây dựng xuất phát từ cái nhìn nghệ thuật độc đáo Là nhà văn thuộc thế hệ “không bị v-ớng mắc bởi cái nhìn sử thi” (chữ dùng của Hoàng Ngọc Hiến), Hồ Anh Thái đã v-ợt qua cái nhìn nguyên phiến, một chiều, để chiếm lĩnh cuộc sống đa chiều Cái nhìn nghệ thuật đa chiều, đầy góc cạnh của Hồ Anh Thái h-ớng đến chiếm lĩnh là thế giới đa dạng, phức tạp với nhiều loại ng-ời trong những miền không gian và trong những bình diện thời gian khác nhau

Cái nhìn nghệ thuật đa chiều trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đ-ợc khởi phát từ sự đa dạng trong t- t-ởng sáng tạo của ông Trên hành trình sáng tác tiểu thuyết của mình, với mỗi tác phẩm, Hồ Anh Thái luôn bộc lộ một quan

điểm, đề xuất một t- t-ởng nghệ thuật riêng, cho thấy sự đa dạng và chiều h-ớng vận động t- t-ởng nghệ thuật của ông Sự đa dạng này vẫn có đ-ợc sự thống nhất trên nền tảng ổn định

Tạo đ-ợc dấu ấn trong thể loại tiểu thuyết, bên cạnh mặt nội dung, Hồ Anh Thái huy động toàn bộ khả năng biểu đạt của hình thức nghệ thuật ở bình diện hình thức, Hồ Anh Thái một mặt vừa tiếp thu truyền thống thể loại nh-ng mặt khác luôn nỗ lực cách tân về nghệ thuật tự sự, về giọng điệu, ngôn ngữ… tất cả tạo nên sự độc đáo, đa dạng và thống nhất trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, cho thấy sự năng động, uyển chuyển của cây bút văn xuôi này

Sự thống nhất giữa cái nhìn, t- t-ởng nghệ thuật và hình thức biểu hiện t-ơng ứng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tạo ra thế giới nghệ thuật phong phú, sinh động, mang đậm dấu ấn, cá tính sáng tạo của nhà văn

Trên đây, chúng tôi đã điểm lại khái niệm về phong cách và các cấp độ của nó làm tiền đề, cơ sở, đồng thời khái quát nhận diện tiểu thuyết Hồ Anh Thái và tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại, qua đó khẳng định vị trí và tiểu thuyết của nhà văn trong dòng chảy văn học thời kì Đổi mới

Trang 40

Ch-ơng 2

T- t-ởng, cái nhìn nghệ thuật và hình t-ợng thế giới, con

ng-ời trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

2.1 T- t-ởng nghệ thuật của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết

2.1.1 Khái niệm t- t-ởng nghệ thuật

Văn ch-ơng là một hình thái ý thức xã hội có đặc tr-ng riêng Đó là lĩnh vực của năng khiếu thẩm mĩ, của tài nghệ, của cá tính và phong cách độc

đáo Nghệ thuật là sáng tạo Bản chất của t- t-ởng nghệ thuật là t- t-ởng sáng tạo Một nhà văn lớn bao giờ cũng có t- t-ởng của riêng mình

Tư tưởng nghệ thuật “là tư tưởng có tính tổng hợp cao rút ra từ toàn bộ tác phẩm của nhà văn Nói cách khác đó là một t- t-ởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn chi phối về căn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo ra cho sự nghiệp ấy, cho thế giới nghệ thuật ấy tính thống nhất, tính hệ thống, hay nói đúng hơn: tính chỉnh thể” [41, 08]

Thuộc hình thái ý thức tinh thần nh-ng t- t-ởng nghệ thuật có những

đặc điểm riêng biệt, Biêlinxki đã chỉ ra: “Tư tưởng thơ (tư tưởng tác phẩm văn học, rộng ra là t- t-ởng nghệ thuật) đó không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là quy tắc mà là một ham mê sống động,

đó là cảm hứng” [20, 383] Bằng sự trải nghiệm trong quá trình lao động nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Khải đúc kết: “Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật tr-ớc hết là ở giá trị t- t-ởng của nó Nh-ng là t- t-ởng đã đ-ợc rung lên ở các cung bậc tình cảm chứ không phải là cái t- t-ởng nằm thẳng đơ trên trang giấy Có thể nói, tình cảm của ng-ời viết là khâu đầu tiên và cũng là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật” [35, 61]

Nh- vậy, t- t-ởng nghệ thuật là hình thái nhận thức đặc thù của ng-ời nghệ sĩ, trong đó nội dung chính bao gồm lí trí và tình cảm, cảm xúc kết hợp

Ngày đăng: 16/10/2021, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w