6. Ph-ơng pháp nghiên cứu
2.2. Cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết
T- t-ởng là linh hồn của tác phẩm, là hạt nhân tạo nên tính thống nhất, tính chỉnh thể của từng tác phẩm và của cả thế giới nghệ thuật của nhà văn.
T- t-ởng nghệ thuật của nhà văn có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ quan niệm của mỗi nhà nghiên cứu. Đó là “phẩm chất sâu kín và cốt yếu của tinh
thần” (Xanhtơ Bơvơ), là “năng lực chủ đạo” (IpPôlít Ten), là “tụ điểm của những tia sáng khác nhau trong đời sống tinh thần của nhà văn” (Philaredơ
Saxlơ), là “hình thái cảm nhận đặc thù” (Pôn Lacôngbơ), là “tư tuởng cơ bản”
(Êmin Phaghê) [41, 08]… Những tên gọi khác nhau nh-ng đều h-ớng tới tính
đặc thù trong nhận thức của ng-ời nghệ sĩ mà nội dung cơ bản là sự kết hợp máu thịt giữa lí trí và tình cảm, cảm xúc, là hình thái tinh thần rất cụ thể giữa trí tuệ và tâm hồn của nhà văn với hiện thực khách quan thăng hoa thành hình t-ợng nghệ thuật. Cho nên, hình t-ợng nghệ thuật là căn cứ tin cậy nhất cho những phán đoán về t- t-ởng nghệ thuật của nhà văn, là nơi in đậm dấu ấn riêng biệt về t- t-ởng của ng-ời nghệ sĩ. T- t-ởng nghệ thuật là căn cứ để phân biệt giữa nhà văn này với nhà văn khác, là cơ sở, nền tảng của phong cách nghệ thuật, có vai trò quyết định trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật.
Nó thấm sâu vào mọi thành tố cấu thành nên hình t-ợng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học. T- t-ởng tạo ra, định h-ớng, soi sáng cho cái nhìn nghệ thuật của nhà văn.
Cái nhìn nghệ thuật chứa đựng trong nó khả năng khám phá, phát hiện
đời sống, ý thức v-ợt thoát mạnh mẽ khỏi những đ-ờng biên hạn chế sức sáng tạo nghệ thuật của những ng-ời đi tr-ớc để lại, để sáng tạo, khám phá, phát minh cái mới. Cái nhìn nghệ thuật chính là chiều sâu, là bề rộng, là khả năng bao quát trong hành trình chiếm lĩnh hiện thực đời sống với những chiều kích khác nhau của ng-ời nghệ sĩ, cái nhìn, tầm nhìn, cách nhìn, cách cảm thụ riêng biệt, độc đáo, gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn. Cho nên, có thể nói thế giới nghệ thuật của nhà văn là thế giới cái nhìn nghệ thuật của anh ta.
Cái nhìn nghệ thuật đ-ợc bộc lộ, hoá thân thành hệ thống, nguyên tắc thi pháp trong thế giới nghệ thuật thấm nhuần t- t-ởng thẩm mĩ của ng-ời nghệ sĩ.
Phù hợp với t- t-ởng sáng tạo của mình, mỗi nhà văn nhìn con ng-ời và thế giới theo một lăng kính riêng để tổ chức tác phẩm, kiến tạo thế giới nghệ thuật. Vì nhìn nhận thế giới và con ng-ời theo lăng kính riêng nên đặc điểm
của đối t-ợng nhận thức, phản ánh, cảm thụ có mặt trong thế giới nghệ thuật của từng nhà văn in đậm màu sắc cảm nhận chủ quan của phong cách cá nhân.
2.2.2. Tính năng động và đa chiều trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái thuộc thế hệ nhà văn “không hề bị v-ớng mắc bởi cái nhìn sử thi” (chữ dùng của Hoàng Ngọc Hiến), trong toàn bộ các sáng tác văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng in đậm dấu ấn của tính năng động, đa chiều trong cái nhìn nghệ thuật của ông.
Cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết là cái nhìn có tính khám phá hiện thực đời sống khi đất n-ớc b-ớc vào thời kì Đổi mới - một hiện thực vô cùng phong phú. Đất n-ớc thời hậu chiến, vết th-ơng chiến tranh ch-a kịp hàn gắn vẫn còn nhức nhối, con ng-ời lại phải đối mặt với những thử thách mới. Toàn - nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Ng-ời và xe chạy d-ới
ánh trăng đi qua chiến tranh với những mất mát ghê ghớm, b-ớc vào giai đoạn mới đã phải đ-ơng đầu với những thế lực luôn tìm cách cản trở, hãm hại anh.
Những ng-ời phụ nữ mà tuổi xuân đã để lại trên những nẻo đ-ờng chiến tranh, trở về với cuộc sống đời th-ờng, khao khát đ-ợc làm vợ, làm mẹ mà không thể kiếm tìm đ-ợc hạnh phúc riêng của chính mình là một trong vô số những vấn
đề xã hội phức tạp, gai góc đ-ợc thể hiện một cách xúc động trong tiểu thuyết Ng-ời đàn bà trên đảo. Trong đời sống tinh thần xã hội, những giá trị đ-ợc
định hình trong quá khứ cần đ-ợc nhận thức lại bởi con ng-ời không bằng lòng với những gì đã và đang có. Tiểu thuyết Trong s-ơng hồng hiện ra bày tỏ khát khao của thế hệ hậu chiến đ-ợc nhìn xuyên qua màn s-ơng huyền thoại anh hùng và quyền uy để khám phá những giá trị mới.
Lối sống thực dụng, ích kỉ, thác loạn - mặt trái của thời mở cửa đầu độc bầu không khí tinh thần xã hội; cái ác, cái xấu xa đã mang những g-ơng mặt mới, diện mạo mới cần đ-ợc nhận diện để cảnh báo. Bức tranh hiện thực với nhiều mảng khuất tối, gai góc tr-ớc đây th-ờng bị che lấp nay hiện ra trên các
trang viết của Hồ Anh Thái với bao nhiêu nhức nhối, cay đắng xót xa trong hai tác phẩm Cõi ng-ời rung chuông tận thế và M-ời lẻ một đêm.
Với cái nhìn nghệ thuật năng động, đa chiều nh- vậy, ở một đề tài mới,
đề tài văn hoá ấn Độ, Hồ Anh Thái lại có những khám phá mới. Ông không rơi vào cái nhìn của một du khách lạc lối giữa cái mênh mông của văn hoá, lịch sử ấn Độ, không phải cái nhìn dửng d-ng của một kẻ ngoài cuộc mà ông nhìn bằng cả trái tim, tấm lòng tràn ngập tình th-ơng, trân trọng, tin t-ởng.
Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi ra đời không chỉ là một cơ duyên mà còn là sự tri ân của nhà văn đối với một đất n-ớc, một dân tộc vĩ đại mà ông
đã từng gắn bó, từng sống và làm việc.
Hồ Anh Thái quan niệm: “Hiện thực là những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là ch-a đủ. Hiện thực còn là cái ta cảm nữa. Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ng-ời, ở trong tâm và trí của họ. Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là
đã đào sâu, hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy” [66, 252 - 253]. Cái nhìn nghệ thuật năng động, đa chiều của Hồ Anh Thái thể hiện khả năng chiếm lĩnh hiện thực ở nhiều chiều kích khác nhau, cho nên nhà văn có thể viết về mọi điều kể cả những gì trước đây bị coi là “vùng cấm”, là “kiêng kị”. Trong tiểu thuyết của ông, có hiện thực cuộc sống đời th-ờng, có hiện thực của tâm linh, vô
thức, có hiện thực trong những giấc mơ (Trong s-ơng hồng hiện ra), hiện thực về các vong hồn (Cõi ng-ời rung chuông tận thế), hiện thực trong các truyền thuyết (Ng-ời đàn bà trên đảo), hiện thực từ Phật sử (Đức Phật, nàng Savitri và tôi)… nhiều mảng hiện thực đậm tính kì ảo. Nh-ng tất cả đều là sự khúc xạ của cõi ng-ời, là những ph-ơng diện khác của cõi ng-ời.
Hiện thực ngoài đời và hiện thực trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái thống nhất nh-ng không đồng nhất. Trong tiểu thuyết là hiện thực do nhà văn sáng tạo nên để suy ngẫm, nghiền ngẫm những gì thuộc về nhân sinh, nhân bản.
Cảm quan hiện thực, ph-ơng thức phản ánh hiện thực trong tiểu thuyết nh- Hồ Anh Thái đã nói: “Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ng-ời, trong tâm và trí của họ” [66, 252]. Đó cũng là nguyên tắc nhận thức, phản ánh hiện thực của văn học, phải xuất phát từ số phận con ng-ời mà soi chiếu ra xã hội cuộc đời. Nhân vật trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đa dạng với nhiều kiếp ng-ời, nhiều thân phận khác nhau, tồn tại trong những không gian, thời gian khác nhau. Phong phú, đa dạng, muôn hình muôn vẻ nh-ng có sự thống nhất: tất cả đều là con ng-ời trần thế - kể cả những con ng-ời đã trở thành huyền thoại nh- Đức Phật cũng hiện lên nh- một con ng-ời trần thế với tất cả chất ng-ời tự nhiên vốn có. Con ng-ời đ-ợc nhận thức trong sự l-ỡng phân, l-ỡng hoá: khát vọng và hiện thực, thanh lọc và tha hoá, nhân bản và phi nhân bản; mỗi con ng-ời chịu sự tác
động, chi phối của các thế lực vừa đối lập, vừa hoà đồng, vừa chối bỏ, vừa chung sống với nhau. Đằng sau mỗi số phận, mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại có giao nhịp phức điệu giữa con ng-ời cá thể và nhân loại.
Các nhân vật: Toàn, Khắc (Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng), Hoà (Ng-ời đàn bà trên đảo), Đông (Cõi ng-ời rung chuông tận thế)… đều là những nhân vật có tính cách l-ỡng phân: nhiều nhân vật đ-ợc nhà văn đặt giữa lằn ranh thiện - ác để khám phá những góc khuất tối trong con ng-ời. Từ cái nhìn đa diện nhiều chiều về con ng-ời của nhà văn thấy hiện lên nhiều kiểu ng-ời. Đó là những ng-ời mà cuộc đời là một hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống (Tân), kiếm tìm chân lí (Đức Phật)… Đó còn là những ng-ời sám hối - h-ớng thiện (Đông), những số phận bi kịch (Ng-ời phụ nữ trong Ng-ời
đàn bà trên đảo và nàng Savitri trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi). Những con ng-ời nghịch dị, khiếm khuyết với những thói tật xấu xa (M-ời lẻ một
đêm), những kẻ tha hoá tàn ác (Cốc, Bóp, Phũ - Cõi ng-ời rung chuông tận thÕ).
Hồ Anh Thái có một cái nhìn nghệ thuật vừa bao quát rộng lớn, vừa sâu sắc, năng động, đa chiều về con ng-ời và cuộc sống. Đi sâu vào bản chất đời sống, con ng-ời nhà văn khám phá ra thật nhiều điều cần phải suy ngẫm, cần phải lên tiếng cảnh báo để thức tỉnh mọi ng-ời. Đằng sau đó là tấm lòng của nhà văn luôn -u ái, luôn có niềm tin song cũng luôn đòi hỏi nghiêm khắc đến khắt khe ở con ng-ời.
2.2.3. Nét mới mẻ và độc đáo trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái ở thể loại tiểu thuyết
ở mục 2.2.2, chúng tôi đã cố gắng nhận diện về cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trong tiểu thuyết. Đó là cái nhìn năng động, đa chiều, vừa có bề rộng, vừa có chiều sâu, luôn vận động, biến đổi, có khả năng bứt phá để thể hiện t- t-ởng nghệ thuật của riêng mình. Vì vậy, thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đa diện, muôn màu, muôn vẻ, luôn vận động, biến đổi trên một nền tảng ổn định, bền vững.
Nếu “các nhà văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích nhất và ông ta chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy mà thôi” [41, 12] thì
“vùng đề tài ưa thích” ấy của Hồ Anh Thái quả là rộng lớn, phong phú và có sức hấp dẫn riêng. Đó là hiện thực cuộc sống đất n-ớc, con ng-ời thời hậu chiến còn bề bộn, ngổn ngang dấu tích chiến tranh không dễ hàn gắn trong ngày một, ngày hai; những vấn đề cấp thiết về quyền sống, quyền hạnh phúc của con ng-ời khi lịch sử đã chuyển giai đoạn; những cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc, ý nghĩa cuộc đời; sự suy thoái xuống cấp của đạo đức truyền thống; cái xấu, cái ác biến hình đổi dạng, mang những g-ơng mặt mới trong xã hội đ-ơng đại; sự thay đổi các thang bậc giá trị của đời sống… Đó cũng là
đề tài quen thuộc của nhiều cây bút văn học thời kì Đổi mới.
Nh-ng cái làm nên sự độc đáo, mới mẻ của Hồ Anh Thái trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng có lẽ là cái nhìn h-ớng về một vùng đề tài góp phần làm nên tên tuổi, bản sắc riêng của ông: nền văn hoá ấn Độ. Hồ
Anh Thái đã đem đến cho văn học Việt Nam đ-ơng đại một lãnh địa mới mẻ khiến ng-ời đọc liên t-ởng đến Tô Hoài - ng-ời có công khai mở đề tài miền núi trong văn học kháng chiến chống Pháp từ tập Truyện Tây Bắc hay Nguyên Ngọc - ng-ời khai mở mảnh đất Tây Nguyên trong văn học kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với những tác phẩm nổi tiếng nh- Đất n-ớc đứng lên, Rừng xà nu.
Đề tài về ấn Độ có vị trí đặc biệt trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Hồ Anh Thái đến mức có ng-ời lấy làm dấu mốc phân định các giai đoạn sáng tác của ông. Đ-ợc học tập, nghiên cứu về một nền văn hoá vĩ đại của nhân loại, Hồ Anh Thái có một vốn hiểu biết sâu sắc, rộng lớn về đất n-ớc, lịch sử, văn hoá, triết học và con ng-ời ấn Độ. Hơn nữa ông đi vào thế giới ấy không phải nh- một khách lãng du hiếu kì để thoả mãn trí tò mò hay thái độ dửng d-ng của ng-ời ngoài cuộc mà ông thực sự hoà nhập để cảm nhận đ-ợc chiều rộng, bề sâu của cuộc sống, của tâm hồn ng-ời ấn bằng cả tấm lòng tràn ngập tình yêu th-ơng, niềm tin, lòng ng-ỡng mộ, khâm phục. Bởi thế, những sáng tác về ấn Độ đ-ợc ng-ời ấn đánh giá là “những mũi kim châm cứu điểm trúng huyệt tính cách ấn Độ” (Tiến sĩ văn học ấn Độ K. Pandey) [70, 229].
Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một thành tựu của nhà văn về đề tài ấn Độ.
Đề tài văn hoá ấn Độ mới mẻ, độc đáo nh-ng không phải quá xa lạ với
độc giả Việt Nam. Cũng nh- đề tài về miền núi Tây Bắc hay Tây Nguyên với ng-ời Việt - đề tài ấn Độ có vẻ mới lạ về phong tục, tập quán, sinh hoạt…
nh-ng vẫn có mối liên hệ với đời sống tinh thần - về tôn giáo, đó là đạo Phật
đã đi sâu vào đời sống tâm thức ng-ời Việt Nam hàng ngàn năm.
Cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái nằm trong cái nhìn nghệ thuật chung của cả một giai đoạn văn học đổi mới. Đó là cái nhìn trong hệ quy chiếu văn hoá - lịch sử - triết học, là thành tựu của sự đổi mới t- duy nghệ
thuật, là xu thế vận động mang tính thời đại. Trong quan niệm nghệ thuật về con ng-ời có sự chuyển giao từ con ng-ời nguyên phiến của văn học sử thi sang con ng-ời đa diện. Con ng-ời không còn giản đơn mà đó là kết quả của sự nhào nặn của những biến động lịch sử dữ dội, có nhiều vẻ đẹp, vị tha, cao cả nh-ng cũng không ít những thói tật xấu xa, thậm chí đốn mạt, là bằng chứng về cái vô cùng bí ẩn của tâm hồn con ng-ời. Tiểu thuyết thời đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm: Thời xa vắng, Nỗi buồn chiến tranh, Thiên sứ, Thiên thần sám hối, Thoạt kì thuỷ… tập trung nhìn nhận con ng-ời với thân phận và cuộc đời trong hệ quy chiếu lịch sử, văn hoá và cả chiều sâu triết học, chứng tỏ văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng h-ớng tới quan niệm toàn vẹn và sâu sắc về con ng-ời mà hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là t- t-ởng nhân bản.
Cái nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái không nằm ngoài những đặc điểm chung của cái nhìn nghệ thuật ở thời Đổi mới. Tuy nhiên, trong cái chung, cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái có những sắc thái mới mẻ, riêng biệt: Đó là cái nhìn nghệ thuật vừa thấm đẫm chất triết lí dân gian truyền thống, vừa có chiều sâu, bề rộng của triết học Phật giáo ph-ơng Đông.
T- t-ởng triết học Phật giáo có ảnh h-ởng sâu sắc đến thế giới quan của Hồ Anh Thái. Ông từng khẳng định: “Tôi thích triết thuyết của Phật giáo (…).
Tôi vẫn nghĩ tính bao trùm của giáo lí Phật giáo rộng lớn đến độ chạm đến mọi vấn đề của đời sống. Bạn cứ thử đ-a ra một vấn đề gì đó là mới mẻ mà xem, ngẫm kĩ thì mới thấy là hơn 2500 năm tr-ớc Phật đã nói rồi” [81].
Tư tưởng Phật giáo cùng với quan niệm “ác giả ác báo”, “gieo gió gặt bão” của dân gian là cơ sở để Hồ Anh Thái viết nên tiểu thuyết có tính luận đề nổi tiếng Cõi ng-ời rung chuông tận thế. Bốn ch-ơng truyện mở đầu tác phẩm liên tiếp xảy ra ba cái chết rùng rợn đầy bí ẩn của ba nhân vật: Cốc, Bóp, Phũ - những kẻ tha hoá về nhân cách, bị sai khiến bởi bản năng sa đoạ, lối sống thác