Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đời sống thị dân đã thực sự trở thành một đề tài trọng điểm để ngòi bút ông hướng tới khai thác, lý giải.. Trước luận văn này, vấn đề đời sống thị dân tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THƯƠNG
ĐỜI SỐNG THỊ DÂN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2014
NGHỆ AN - 2012
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy,
cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Đại học Vinh đã cho tôi nhiều chỉ dẫn khoa học quý báu, cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ Đặc biệt, nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên, T.S Lê Thị Hồ Quang – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ rất tận tình cho tôi trong suốt dài thời gian nghiên cứu
Trước một vấn khá hóc búa, mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhưng người thực hiện vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được nhiều hơn nữa những sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô giáo và toàn thể các bạn để công trình được hoàn thiện hơn nữa
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Trang 4NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI
Trang 5Nxb: Nhà xuất bản TP: Thành phố
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số
trang đứng sau Ví dụ: [51, 391]nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo là 51, nhận định trích dẫn nằm ở trang 391 của tài liệu này
Trang 6MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.1 1 Lý do chọn đề tài
1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark
not defined.2 2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát Error! Bookmark not
vi văn bản khảo sát 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.7 4 Nhiệm vụ nghiên cứu
7
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark
not defined.7 5 Phương pháp nghiên cứu
8
6 Đóng góp của luận văn Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.7 6 Đóng góp của luận văn
7
7 Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.7 7 Cấu trúc luận văn
7
Trang 7defined.Error! Bookmark not defined.8 CHƯƠNG 1: NHÌN CHUNG
VỀ ĐỀ TÀI ĐỜI SỐNG THỊ DÂN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 8 1.1 Khái niệm thị dân và đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt
thuyết Việt Nam sau 1975 8
1.1.1 Khái niệm thị dân Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not defined.81.1.1 Khái niệm thị dân 8
1 1.2 Đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đến nay
tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đến nay 9
1.2 Hồ Anh Thái – một gương mặt nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam
Việt Nam đương đại 13
1.2.1 Cuộc đời, con người Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not defined.141.2.1 Cuộc đời, con người 141.2.2 Hành trình sáng tạo Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not defined.171.2.2 Hành trình sáng tạo 141.2.3.Những thành tựu chính Error! Bookmark not defined.Error!
1.3 Đời sống thị dân – một đề tài nổi bật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
sống thị dân – một đề tài nổi bật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 21
Trang 81.3.1.Khái quát về đề tài thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái…….…
Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
Thái…….… 21
1.3.2 Cơ sở hình thành cảm hứng viết về đời sống thị dân trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái 23
DÂN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
THỊ DÂN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
………32
2.1 Nét đặc thù trong cái nhìn về đời sống thị dân của Hồ Anh Thái
đặc thù trong cái nhìn về đời sống thị dân của Hồ Anh Thái 32
2.1.1 Cái nhìn phê phán Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not defined.322.1.1 Cái nhìn phê phán 322.1.2 Cái nhìn trào lộng 372.1.2 Cái nhìn trào lộng 37
2.2 Đặc điểm đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 392.2 Đặc điểm đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 39
2.2.1 Hiện đại, tiện nghi- những giá trị tích cực không thể phủ nhận 392.2.1 Hiện đại, tiện nghi- những giá trị tích cực không thể phủ nhận 392.2.2 “Nguyên lý xác thịt” và “nguyên lý đồng tiền” - cơ sở của mọi mối quan hệ trong đời sống thị dân Error! Bookmark not defined.Error!
Trang 9Bookmark not defined.422.2.2 “Nguyên lý xác thịt” và “nguyên lý đồng tiền” - cơ sở của mọi mối quan hệ trong đời sống thị dân 422.2.3 Sự xô bồ, hỗn loạn của đời sống thị dân trong cơ chế thị trường
472.2.3 Sự xô bồ, hỗn loạn của đời sống thị dân trong cơ chế thị trường 47
2.3 Đặc điểm con người thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 542.3 Đặc điểm con người thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 54
2.3.1 Con người ngụy tạo, ích kỷ, vụ lợi 552.3.1 Con người ngụy tạo, ích
kỷ, vụ lợi 552.3.2 Con người buông thả theo những dục vọng thấp hèn 622.3.2 Con người buông thả theo những dục vọng thấp hèn 622.3.3 Con người cô đơn trong cuộc sống hiện đại 672.3.3 Con người cô đơn trong cuộc sống hiện đại 67
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 72CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN ĐỜI SỐNG THỊ DÂN TRONG TIỂU
THUYẾT HỒ ANH THÁI 72 3.1 Cách tổ chức văn bản tiểu thuyết 723.1 Cách tổ chức văn bản tiểu thuyết 72
3.1.1 Mỗi tiểu thuyết là sự tập hợp của nhiều câu chuyện nhỏ 723.1.1 Mỗi tiểu thuyết là sự tập hợp của nhiều câu chuyện nhỏ 723.1.2 Tính “đứt gãy” trong mạch kể chuyện 753.1.2 Tính “đứt gãy” trong mạch kể chuyện 753.1.3 Hình thức trữ tình ngoại đề- một sự dẫn dắt hấp dẫn, thú vị 793.1.3 Hình thức trữ tình ngoại đề- một sự dẫn dắt hấp dẫn, thú vị 79
Trang 103.2 Miêu tả, thể hiện ngôn ngữ theo lối thị dân 843.2 Miêu tả, thể hiện ngôn ngữ theo lối thị dân 84
3.2.1 Khảo sát, miêu tả một số lớp từ ngữ đặc thù (tiếng lóng, từ tục, thành ngữ hiện đại…) 85 3.2.1 Khảo sát, miêu tả một số lớp từ ngữ đặc thù (tiếng lóng, từ tục, thành ngữ hiện đại…) 85 3.2.2 Khảo sát, miêu tả cách sử dụng, tổ chức câu văn 883.2.2 Khảo sát, miêu tả cách sử dụng, tổ chức câu văn 883.2.3 Hiệu quả, tác dụng thẩm mỹ của việc sử dụng kiểu ngôn ngữ thị dân
……….903.2.3 Hiệu quả, tác dụng thẩm mỹ của việc sử dụng kiểu ngôn ngữ thị dân
động, tính cách nhân vật 1043.3.4 Phóng đại những nét quái đản, nghịch dị trong ngoại hình, hành động, tính cách nhân vật 1043.3.5 Sử dụng các giai thoại tiếu lâm hiện đại Error! Bookmark not
tiếu lâm hiện đại 107
Trang 113.4 Bút pháp giễu nhại Error! Bookmark not defined.Error! Bookmark not
defined.110 3.4 Bút pháp giễu nhại 110
3.4.1 Khái niệm giễu nhại Error! Bookmark not defined.Error!
3.4.2 Các hình thức giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Error!
hình thức giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 1113.4.3 Hiệu quả của bút pháp giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Hiệu quả của bút pháp giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 117
KẾT LUẬN 119119119KẾT LUẬN
119
defined.121 TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Quan điểm mỹ học mới về con người, đời sống và sự sáng tạo đã khiến tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986) đến nay thực sự khởi sắc Nhiều đề tài, chủ đề vốn trước đây chưa được khai thác và nhìn nhận xứng đáng nay được đào sâu và khơi mở ở nhiều chiều kích khác nhau Đặc biệt, đời sống thị dân là đề tài thu hút được nhiều cây bút quan tâm thể hiện Khi viết về đề tài này, mỗi nhà văn đều cố gắng tìm tòi một hướng đi riêng để khẳng định dấu ấn cá nhân của mình Tiêu biểu là các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ…
1.2 Hồ Anh Thái là một gương mặt xuất sắc của văn xuôi Việt Nam đương đại Với bút lực dồi dào và cách nhận thức, thể hiện vấn đề độc đáo, ông sớm ghi dấu ấn cá nhân với thể loại truyện ngắn và có thành tựu đáng kể
ở cả mảng tiểu luận, chân dung văn học Song thành công nổi bật của ông nằm ở tiểu thuyết, đặc biệt mảng tiểu thuyết viết về đề tài đời sống thị dân Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đời sống thị dân đã thực sự trở thành một đề tài trọng điểm để ngòi bút ông hướng tới khai thác, lý giải Nhạy bén và tinh tường, nhà văn đã phản ánh hiện thực đô thị vào trong tác phẩm của mình một cách sinh động, hấp dẫn và mới lạ Điều đó được minh chứng qua nhiều tác
phẩm, chẳng hạn: Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột
1.3 Mặc dù đời sống thị dân là một đề tài quan trọng, xuyên suốt trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, song nó vẫn chưa được tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống, kĩ lưỡng Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn “Đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
Trang 132 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Cho đến thời điểm hiện tại, Hồ Anh Thái luôn khẳng định mình là nhà văn chuyên nghiệp, có bút lực sung sức và thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc Ông có nhiều đóng góp trong tiến trình cách tân bộ mặt văn chương đương đại Chính vì vậy, đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về sáng tác của Hồ Anh Thái Các bài viết và công trình này đều chú ý nhấn mạnh đặc trưng bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ, cách tân nghệ thuật… của tác giả qua mỗi tác phẩm
2.2 Trước luận văn này, vấn đề đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã được một số tác giả đề cập đến song chủ yếu mới chỉ dừng lại ở những tiểu thuyết riêng lẻ Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể điểm qua một số các ý kiến sau đây:
Người và xe chạy dưới ánh trăng đánh dấu thành công bước đầu ở thể loại
tiểu thuyết của Hồ Anh Thái cũng như vấn đề đời sống thanh niên thành thị ông đặt ra trong đó Tác phẩm đã nhận được giải thưởng văn xuôi 1986 -1990 của Hội nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Về tác
phẩm này, tác giả Vũ Bão trong bài Bức tranh thu nhỏ thời hậu chiến đăng trên báo Sức khoẻ và Đời sống năm 2003, nhận định:" Thành công của cuốn
tiểu thuyết đầu tay đã cổ vũ Hồ Anh Thái dấn thân vào công cuộc khám phá mảnh đất đầy gai góc thời hậu chiến Anh đã bắt trúng mạch nỗi đau truyền
kiếp của con người"
Tác giả Xuân Cang nhận ra: “Người và xe chạy dưới ánh trăng miêu tả
những con người, những quan hệ người trong một khu tập thể, nhưng phẩm chất người hình thành từ cuộc đời xô bồ, loang loáng như cái cảnh nhọc nhằn người và chiếc xích lô chạy dưới ánh trăng trong một đêm sau chiến tranh ở
Hà Nội” [51, 391]
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế tập trung hướng về đời sống thị dân Tác giả Trần Thị Hải Vân trong công trình: Cõi người trong thế giới
Trang 14nghệ thuật của Hồ Anh Thái có cái nhìn khái quát về đối tượng thị dân trong
tiểu thuyết của Hồ Anh Thái: “Tầng lớp thị dân trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái gần như là cả một xã hội đông đảo nhưng có phần nhốn nháo, ở đó những con người lương thiện tốt đẹp dường như quá hiếm hoi, ít ỏi (…) Hồ Anh Thái lôi tất cả họ lên sân khấu trò đời, không chừa một ai, để phân tích, soi ngắm, bình phẩm, chế giễu và cả lên án…” [53, 63]
Tác giả Phạm Chí Dũng trong bài Ám ảnh và dự cảm khẳng định vị trí
của cuốn tiểu thuyết này trong việc phản ánh đời sống thị dân hiện đại: “Trên văn đàn Việt Nam trong khoảng mười mấy năm nay, chúng ta cũng đã đụng chạm với nhiều sự thật về mặt trái của một xã hội đang bị tha hóa với tốc độ
nhanh về đạo đức được phơi bày ra trong không ít tác phẩm Nhưng Cõi người rung chuông tận thế có lẽ là một trong số ít những sự phơi bày được
văn học hóa thành công…” [53, 301]
Tác giả Phạm Anh Minh trong bài viết Cõi người rung chuông tận thế
từ góc nhìn Phật giáo, nhận xét về mặt trái của đời sống thị dân thể hiện trong
tác phẩm: “Với dung lượng ít (241 trang), lối viết hàm súc, nén chặt, Hồ Anh Thái đã vạch ra mặt trái của cõi người hiện đại: Sự xuống cấp về mặt nhân cách, đạo đức của nhiều lớp người; lối sống buông thả của những kẻ có tiền,
có quyền; sự thiếu trách nhiệm của con người, sự dung túng của xã hội; những bất công trong cuộc sống…” [53, 330]
Sau Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái cho ra đời tiểu thuyết Mười lẻ một đêm Đây là tác phẩm khẳng định sở trường của Hồ Anh Thái
với đề tài đời sống thị dân
Tác giả Trần Quỳnh Trang trong công trình Phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã nhận xét về thế giới nhân vật thị dân trong tiểu thuyết này như sau: “Mười lẻ một đêm là tiểu thuyết trào lộng châm biếm sắc sảo nhiều thói
tật đáng cười của con người trong xã hội đương đại Tác phẩm như một “tấn
Trang 15trò đời” tập hợp nhiều chân dung biếm họa độc đáo thành thị, những nhố nhăng kệch cỡm của đời sống thị dân” [64, 79]
Lê Thị Cần trong Giọng điệu nhại trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm đã
nhận định: “Tác giả kịch liệt phê phán lối sống gấp gáp xô bồ đang và sẽ cuốn con người vào vòng xoáy của sự xa hoa tầm thường Bộ mặt đô thị với những nét đẹp riêng đang dần mất đi bởi một bộ phận không nhỏ thị dân đang trượt dài trên con đường tha hóa, thậm chí là vật hóa” [9, 62]
Tác giả Ngọc Lan nhận xét khái quát: “Trong Mười lẻ một đêm người
ta thấy hiện rõ bộ mặt Hà Nội và Sài Gòn với sự “giàu xổi” của giới trí thức
Sự kệch cỡm của những Phòng khách, sự tẻ nhạt của lớp thị dân, thói trưởng giả của giới thượng lưu…” [57, 343]
Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái nhận định: “Thoạt nhìn, thấy nhà viết tiểu thuyết kể lan man toàn chuyện đời sống thường nhật vặt vãnh của một xã hội thị dân Việt Nam đương đại, đang trôi chảy, như hằng ngày ta vẫn thấy Nhưng đọc kỹ, ngẫm kỹ, lại thấy nhiều điều đáng khóc, đáng nghĩ, đáng cười…” [57, 367]
Tiếp nối thành công khi viết về đề tài đời sống thị dân, năm 2012, Hồ
Anh Thái tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột
Tác giả Thi Thi trong bài Chuyện đời sinh động đăng trên trang http://hoanhthai.vn có nhận xét về hiện thực đô thị được thể hiện trong tiểu
thuyết này: “Đó là một tiểu thuyết miêu tả hiện thực với ngồn ngộn chuyện đời, ở các lĩnh vực Từ chuyện buôn đất, làm sân golf, phá biệt thự cổ, ma túy đến chuyện xã hội đại gia và chân dài, nữ doanh nhân ham việc quên lấy chồng… và rất nhiều chuyện bi hài của các giới nghề nghiệp” (2011)
Trong bài Hồ Anh Thái lấy chữ mà chơi đăng trên báo Thể thao và văn hóa số ra ngày 9-12-2011, nhà văn Đoàn Lê có nhận xét về xã hội lớp thị dân được phản ánh trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột: “Mảng xã hội gồm
nhiều tầng lớp, muôn mặt đời thường, bỗng hiện ra trên một sân khấu rối, với
Trang 16những con rối sinh động (…) mỗi người trong đám nhốn nháo ấy đại diện cho tầng lớp họ không lẫn vào đâu được”
Nhà phê bình Hoài Nam, trong bài Chuyện của người và chuột, đã nhận
xét về tác dụng xây dựng chân dung nhân vật thị dân theo lối biếm họa:
“Dựng lên những chân dung biếm họa trong tiểu thuyết này, nhà văn Hồ Anh Thái đã cho thấy ở ông một sự nhạy cảm, một nhãn quan sắc bén, một năng lực nhìn thấu cái xấu, cái giả, cái buồn cười trong các kiểu người thị dân hiện đại” [36]
Những ý kiến trên đây đều đi đến một kết luận chung: Đời sống thị dân
là vấn đề cơ bản trở đi trở lại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Tác giả tỏ ra hết sức am hiểu mảng chủ đề này và thực tiễn sáng tác cho thấy ông đã thành công Các nhận xét đều điểm qua những thành công trên phương diện ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật, sử dụng bút pháp…của nhà văn Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến cũng mới chỉ dừng lại ở những tác phẩm cụ thể và cũng chưa thật sự đi sâu khảo sát vấn đề khoa học này
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là Đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
3.2 Phạm vi văn bản khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ tìm hiểu, khảo sát tất cả các sáng tác của Hồ Anh Thái, kể các các tác phẩm thuộc các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu luận văn học… Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu và giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ tập trung vào các tiểu thuyết sau đây:
- Người đàn bà trên đảo, (2003, Nxb Phụ nữ, Hà Nội )
- Trong sương hồng hiện ra, (2003, Nxb Phụ nữ, Hà Nội )
- Người và xe chạy dưới ánh trăng (2005, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội)
- Cõi người rung chuông tận thế, (2009, Nxb Lao động, Hà Nội)
Trang 17- Mười lẻ một đêm, (2013, Nxb Trẻ, Hà Nội)
- SBC là săn bắt chuột, (2013, Nxb Trẻ, Hà Nội)
Đồng thời, khi cần thiết, luận văn cũng khảo sát tác phẩm của các tác giả khác cùng viết về đề tài này như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phong Điệp, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh… để so sánh, đối chiếu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận diện vị trí của đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
- Chỉ ra những đặc điểm chính của đời sống thị dân và con người thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
- Chỉ ra những nét chính về nghệ thuật thể hiện đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp loại hình, phương pháp phân tích - tổng hợp…
6 Đóng góp của luận văn
Sau khi luận văn hoàn thành, đây sẽ là công trình nghiên cứu tương đối tập trung và hệ thống về đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có nội dung chính gồm ba chương:
Chương 1: Nhìn chung về đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Trang 18Chương 2: Đặc điểm đời sống và con người thị dân trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ
Anh Thái
Trang 19Chương1
NHÌN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI ĐỜI SỐNG THỊ DÂN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 1.1 Khái niệm thị dân và đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.1 Khái niệm thị dân
Trong quan niệm truyền thống, khái niệm thị dân được hiểu tương đối
hẹp, chỉ những đối tượng là thợ thủ công, những thương gia, những người buôn bán sống ở những khu dân cư sầm uất Trong quan niệm hiện đại, nội
hàm khái niệm thị dân được hiểu một cách rộng rãi hơn Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng phê chủ biên, thị dân là: “Người dân thành thị thời phong kiến,
chuyên sống bằng nghề thủ công hoặc buôn bán” [42, 938] Đây mới chỉ là một định nghĩa sơ lược, chủ yếu mới dừng lại ở phương diện nghề nghiệp và
chưa chỉ rõ được cấu trúc xã hội - lịch sử của khái niệm thị dân
Bài viết Thị dân và văn hóa thị dân do tác giả Vũ Thị Phương Anh dịch
và giới thiệu trên báo Giáo dục Việt Nam (thứ 5, 10-10-2013) có cách hiểu khái niệm thị dân đáng chú ý Bài viết đặt ra những câu hỏi đi sâu vào những
vấn đề trọng tâm liên quan đến đối tượng này Thị dân – tiếng Anh là urbanite hoặc city-dweller - là gì? Một nơi như thế nào mới được xem là đô thị? Để sáng tỏ vấn đề trên, bài viết sử dụng cách định nghĩa khái niệm “đô thị”, “thị
dân” trích từ từ điển mạng có tên là Từ điển Đô thị (urbandictionary.com):
“[Thị dân] là người sinh sống ở một trong những thành phố lớn trên thế giới,
có độ tuổi từ 17 đến 44 Là người tiêu dùng khá giả, có quan điểm sống lạc quan và rất khác những người sống ở "thị trấn nhỏ" hoặc khu vực nông thôn” [1] Khái niệm này đã nêu lên một cách tương đối đầy đủ về khái niệm thị dân trên những phương diện quan trọng như địa điểm sống và làm việc, độ tuổi, tư tưởng sống…
Trang 20Ngoài ra, bài viết còn trình bày một số đặc điểm cơ bản của thị dân
Theo tác giả bài viết, “thị dân có 6 đặc điểm chính: Thiếu thời gian, tự hào về
văn hóa đô thị, có hiểu biết về truyền thông (media-literate), có ý thức về thương hiệu hàng hóa, tiêu dùng theo thị hiếu (trend-sensitive) và có ý thức về văn hóa
Với mục đích xác định những đặc trưng cơ bản của con người thị dân,
trang www.diendan.org có đăng tải bài viết Hồn vía đô thị và cốt cách thị dân Bài viết nêu lên cách hiểu về khái niệm thị dân như sau: “Thị dân, nói chung
là những người có lối sống, sinh hoạt phù hợp với cơ cấu thời gian hành chính, tác phong công nghiệp của đô thị, khác với dân cư ngoại ô hay ven đô
có những nghề nghiệp, sinh hoạt khác” [44] Định nghĩa này lại chú ý đến phương diện tác phong công việc của con người đô thị trong sự đối sánh với các cư dân của những vùng khác
Như vậy, ở mỗi cách hiểu về thị dân khác nhau đều có những hạt nhân hợp lý riêng của nó Từ những định nghĩa trên đồng thời qua những quan sát
từ hiện thực đời sống, chúng tôi đi đến cách hiểu về khái niệm thị dân trong
luận văn như sau:
Thị dân là người dân sinh sống ở thành phố, đô thị lớn Họ là những
đối tượng có trình độ văn hóa khá cao, đời sống vật chất tương đối sung túc hoặc giàu có, có hiểu biết về truyền thông, có thị hiếu thẩm mỹ khá tinh tế, thường làm việc trong những ngành nghề có hàm lượng chất xám cao Phương thức sản xuất của thị dân khác hẳn với những vùng địa lý khác như nông thôn hay miền núi
Sống trong môi trường thành thị, được tiếp nhận những thành tựu về mặt kinh tế, khoa học – kĩ thuật, văn hóa… những cư dân này thường có trình
độ và kĩ năng lao động, cũng như lối sống và cách suy nghĩ, ứng xử mang tính đặc thù, khác hẳn với người sống ở khu vực khác Từ xưa đến nay, tầng lớp
này luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển xã hội
Trang 211.1.2 Đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đến nay
Đời sống thị dân là một hiện thực phong phú lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà văn trong mọi giai đoạn, đặc biệt là thời kỳ văn học sau 1975 Đề tài đời sống thị dân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là bức tranh đa dạng của sự pha tạp nhiều mảng màu khác nhau trong xã hội Nhiều tác giả thuộc các thế hệ khác nhau đã khai thác đề tài này trên nhiều phương diện, góc cạnh Có thể kể đến nhiều tác giả như Ma Văn Kháng, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn…
Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn đầu tiên nhận ra được sự thay đổi của con người và cuộc sống đô thị trong thời buổi kinh tế thị trường Sự biến động đó được thể hiện ở những “tế bào” nhỏ nhất của xã hội – gia đình Trong mắt nhà văn, đời sống đô thị với một bộ phận dân cư đang dần dần bị chi phối bởi lối sống xô bồ, chỉ biết chạy theo đồng tiền, địa vị, quyền lực mà
quên đi tình nghĩa, đạo lý Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời… là những tiểu thuyết hay viết
về đề tài này
Trong Mưa mùa hạ, thông qua những số phận như của Trọng, của Nam và
một số nhân vật khác như của ông Cần, ba của Trọng, nhà văn đặt ra một vấn
đề xã hội lớn lao, khẩn thiết Đó là cuộc đấu tranh của con người với cái xấu, cái ác, với những biểu hiện tiêu cực, ngăn trở cuộc sống chân chính, cản trở
bước tiến của xã hội Mùa lá rụng trong vườn chứng minh sức mạnh tàn phá
vô song của đồng tiền đến cuộc sống của mỗi gia đình (như tổ ấm của ông
Bằng) và của tất cả những con người trong đời sống hiện đại Đám cưới không có giấy giá thú viết về nhân vật trí thức đô thị với sự khao khát được
sống hết mình với sự nghiệp giáo dục song lại luôn bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất Họ luôn khắc khoải, dằn vặt bởi sự sa sút về nhân cách người thầy giáo, đầy lo âu, buồn tủi về cuộc đời
Trang 22Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Lê Lựu cũng là những nhà văn có nhiều tác phẩm viết về đề tài đời sống thị dân rất thành công và sâu sắc Với họ, không khí của đời sống đô thị thời hậu chiến và những mâu thuẫn này sinh trong thời
kỳ đổi mới với bao vấn đề ngổn ngang đã thành động lực thôi thúc sáng tác Các nhà văn này chủ yếu tái hiện cuộc sống thị dân trong giai đoạn chuyển tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
Hai nhà của Lê Lựu chiếu ống kính vào một góc nhỏ nơi thành thị Đó là
“một cái góc nhỏ đầy rẫy sự đểu cáng trong thành phố”, “cái tận cùng của xã hội đã vỡ mất rồi, đàn ông không ra đàn ông, đàn bà không ra đàn bà” [33,
42] Phố của Chu Lai cũng là tiểu thuyết viết về đề tài đời sống thị dân Phố
là tác phẩm về cơn lốc chuyển mình của một phố lính nói riêng và đất nước
nói chung Gia đình Thảo – Nam trong Phố là một mái nhà hạnh phúc, êm ấm
nhưng rồi cuộc sống đời thường với những lo toan, mưu tính cuối cùng đã khiến tổ ấm ấy phải tan vỡ Sức mạnh của đồng tiền, những cám dỗ vật dục đã đẩy Thảo từ một người phụ nữ ngoan hiền thành người đàn bà ngoại tình tội lỗi Còn Nam, vì không thể thích nghi với sự phức tạp của đời sống kinh tế thị trường mà anh đã dần dần trở nên xa lạ, lạc lõng trong chính ngôi nhà mình, với chính người vợ của mình
Trung Trung Đỉnh cũng đề cập đến đời sống thị dân trong nhiều tiểu
thuyết Tiêu biểu là Ngõ lõ thủng Trong tác phẩm này, ông quan tâm nhiều
vấn đề của đời sống xã hội hiện đại, nhìn thấy mọi trật tự của đời sống con
người đều bị đảo lộn nghiêm trọng “Lỗ thủng” ở đây thực chất là lỗ thủng về
nhân cách, lỗ thủng văn hóa trong từng con người Ví như Xoay, một nhà văn độc thân chỉ biết mê mải làm nghề và luôn chân thành, chân chất, thật thà trong tình yêu với Sương mà không hề biết đến những toan tính cùng cách sống thực dụng của cô Sự va chạm giữa hai lối sống thực dụng, cơ hội với chân thật, hồn nhiên ẩn dưới những câu chuyện tưởng chừng hài hước nhưng không thiếu bi kịch Một Ron, luôn luôn cúc cung tận tụy cho sự nghiệp, cứ
Trang 23nghĩ cấp trên đã nói là phải đúng, đã đúng là phải làm, đã làm quyết không sai, rốt cuộc ra về tay trắng, hóa thành một anh ngớ ngẩn, nhìn con chết mà bất lực…
Có thể nói, thông qua sự thể hiện đời sống đô thị, văn học có thể phản ánh
rõ nhất sự biến đổi sâu sắc của một xã hội Việt Nam đang trên đà mở cửa, hội nhập thế giới, với nhiều sự đổi thay tích cực nhưng cũng không ít bất ổn, xô bồ Điều này còn được thể hiện khá thành công qua tiểu thuyết của Nguyễn
Việt Hà (với các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn…) và Đỗ Phấn (với các tiểu thuyết Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, Gần như
là sống…) Các tác giả này viết về đô thị với cái nhìn từ bên trong Hình ảnh
đô thị và chân dung người thị dân đương đại trong những tác phẩm của họ không phải bao giờ cũng đẹp, thường xấu là đằng khác, nhưng không thể phủ nhận rằng bao giờ những cái viết ấy cũng thể hiện một sự thân thuộc đô thị, bao giờ cũng đau đáu một “tâm thế thị dân”
Trong Cơ hội của Chúa, nhiều thang bậc giá trị đời sống đã tan tành, đổ
vỡ Thời thế hỗn loạn Cả những niềm tin tôn giáo cũng trở nên mong manh, đáng ngờ vực Nguyễn Việt Hà đã dựng lên những con người, với hoàn cảnh
và lối sống khác nhau, song khá quen thuộc trong xã hội thị dân hiện đại Hoàng, có khả năng như “một nhà tư tưởng lớn” nhưng chỉ được xếp làm một nhân viên trực điện thoại, yêu nhưng bị chiếm đoạt tình yêu, không tìm được chỗ dung thân nơi nền văn minh kỹ trị Nhã, người đàn bà xinh đẹp và tháo vát, lao vào làm giàu như để giải thoát khỏi nỗi khao khát tình yêu nhưng không được, và cũng không bao giờ có được một tình yêu đích thực Tâm, em Hoàng, một người có chí lớn, đã đặt sự nghiệp làm giàu lên trên hết, trên cả tình yêu, trên cả học vấn, ước mơ là một triệu phú đô la đầu tiên, cũng không thể đạt được ước vọng đó, bởi cơ chế xã hội không cho phép Còn Bình, con ông cháu cha, thông minh đẹp trai, có địa vị để đạt được tất cả, nhưng thực chất vẫn không đạt được gì, bởi cái địa vị ấy là nguyên nhân của sức mạnh
Trang 24cũng đồng thời là nguyên nhân của sự tha hóa (Hai bố con loạn luân, quan hệ cùng một cô gái, muốn có tình yêu phải đi chiếm đoạt người yêu của anh ruột bạn mình)
Tiểu thuyết Đỗ Phấn “lên án tất cả những thói rởm hợm của xã hội thị dân đương đại nhưng lại cũng rất dễ dàng hòa tan vào nó, ngay ở cả chính những cái rởm hợm ấy” [11, 246] Ở các tiểu thuyết của ông, người ta thấy một đô thị đang vỡ ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa bản thể và
những lai tạp nhố nhăng Nếu như ở Vắng mặt là sự đào sâu vào bi kịch cá nhân, loay hoay ở những vấn đề mang tính cá nhân thì ở Chảy qua bóng tối
lại có sự cực đoan khi cắt nghĩa các vấn đề của đô thị và những hệ lụy của nó với cách nhìn rất dễ khiến những kẻ “ngụ cư chân chính” phải chạnh lòng Đỗ Phấn sẵn sàng chỉ ra cái sự nhộn nhạo của đô thị là do những kẻ nhập cư, là
do những bát nháo của “nửa kia thành phố”, phần đất mới nhập vào làm mất
thế “rồng cuộn hổ ngồi” Còn đến Rừng người, người ta đã thấy một đô thị
không hẳn là Hà Nội, một khái niệm đô thị ở tầm cao hơn, đã có sự liên kết với các “đô thị vệ tinh”, các vùng nông thôn lân cận để vấn đề không còn là của một đô thị riêng lẻ nào Cùng với tiến trình mở rộng địa lý của Thủ đô, không gian tiểu thuyết của Đỗ Phấn cũng có sự mở rộng để hướng tới một Thủ đô rộng lớn hơn và cũng tượng hình hơn, để nói những vấn đề của thời đại
Bằng việc điểm qua một số tiểu thuyết tiêu biểu, ta có thể thấy, đời sống thị dân thực sự đã trở thành đề tài quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 Muôn mặt đô thị hậu chiến và thời kỳ kinh tế thị trường được phản ánh một cách sâu sắc, đa chiều, thể hiện những cách nhìn nhận, lý giải mới về hiện thực
Trang 251.2 Hồ Anh Thái – một gương mặt nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.1 Cuộc đời, con người
1.2.1.1 Cuộc đời
Hồ Anh Thái là tác giả tiêu biểu của nền văn học sau Đổi mới Ông được đánh giá là nhà văn có vốn kiến thức, văn hóa phong phú và năng lực sáng tác dồi dào Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 Quê gốc ở Quỳnh Đôi – Nghệ An Tuy vậy, nhà văn từng bộc bạch rằng chỉ biết quê qua lời kể của cha mẹ mình Bởi, ông sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rồi trưởng thành
và công tác ở Hà thành từ bấy đến nay Cuộc đời ông phần lớn gắn liền với không gian đô thị ồn ã, phát triển từng ngày với tất cả những tiến bộ và hạn
chế của nó
Năm 1977, Hồ Anh Thái tốt nghiệp THPT rồi theo học Đại học Ngoại giao ngành Quan hệ Quốc tế Sau khi tốt nghiệp (1983), ông tham gia viết báo
và làm việc tại Bộ ngoại giao, công tác ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ, đặc biệt là
Ấn Độ, Iran Năm 1995, ông nhận bằng Tiến sỹ văn hóa phương Đông
Là người giỏi ngoại ngữ, có kiến văn hóa sâu rộng, ông còn là giảng viên thỉnh giảng ở một số trường đại học của Mỹ như Đại học Tổng hợp Washington… Hồ Anh Thái đến với nghề văn từ năm 17 tuổi Từ đó đến nay, mỗi tác phẩm của ông khi ra mắt luôn nhận được sự quan tâm của độc giả Ông thành danh khá sớm khi tuổi đời chưa đầy 20 Năm 1986, nhờ bước ngoặt từ Đại hội Đảng lần thứ VI, cùng với sự chuyển mình của xã hội, đất nước, văn học Việt Nam cũng dần sáng tạo theo quỹ đạo mới, đạt được nhiều thành tựu Trong dòng chảy đó, Hồ Anh Thái dần nổi lên như một gương mặt tác giả xuất sắc của văn xuôi Việt Nam đương đại
Năm 2000, ông được bầu làm chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội (đến năm 2010) Trong khoảng thời gian từ 2005 – 2010, ông được bầu là Ủy viên Ban
Trang 26chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam Hồ Anh Thái đã từng sống và làm việc nhiều năm tại Ấn Độ và một số nước khác trên thế giới
Hiện nay, Hồ Anh Thái đang làm việc tại Bộ ngoại giao, giữ chức vụ Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran
1.2.1.2 Con người
Tài hoa, lịch lãm, có kiến thức văn hóa và chuyên môn sâu rộng, nhạy cảm, hài hước là những từ có thể dùng gọi tên chính xác tuy chưa thật đầy đủ khi nói về con người Hồ Anh Thái
Với tư cách là một nhà ngoại giao, một nhà văn, hiếm có tác giả nào được đi nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều vùng văn hóa khác nhau như Hồ Anh Thái Chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi hình thành nên ở ông một kiến thức phong phú và phông văn hóa dày dặn, một cảm quan đời sống và văn chương tinh nhạy, sắc bén
Nhìn lại hành trình sáng tạo và những tư tưởng mà ông bộc bạch trong quá trình sáng tác, có thể khẳng định rằng, Hồ Anh Thái là nhà văn đầy trách nhiệm, nghiêm túc với ngòi bút của mình Ngay từ khi mới bắt đầu sáng tác,
“Hồ Anh Thái tự đặt lịch: mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai tiếng Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là phải đủ kỹ năng để huy động cảm hứng Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư
và có chút thần bí hóa nghề văn” [53, 249] Hồ Anh Thái luôn sáng tác theo mục đích và ý đồ nghệ thuật xác định, rõ ràng, chứ không chỉ trông chờ cảm hứng đến như nhiều tác giả khác Đó là một cách để chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa ngòi bút Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa nhà văn xem nhẹ chất xúc tác làm nên những tác phẩm văn chương – cảm hứng Ông vẫn hết sức coi trọng cảm hứng - một yếu tính của hoạt động sáng tạo nghệ thuật – chỉ có điều ông luôn cố gắng để cảm hứng gắn kết tự nhiên, hài hòa và bền bỉ với môi trường, hoàn cảnh sáng tạo cũng như cá tính của người viết Về điều này, ông nói thêm: “Tôi chỉ viết những gì tôi thích và hợp với mình, như vậy thì
Trang 27không phải tự ép mình, không gò gẫm như đánh vật Với mỗi nhân vật là thêm một lần được sắm vai mới, mỗi hoàn cảnh tạo dựng ra cho nhân vật là thêm một lần người viết được trải nghiệm, được phiêu lưu” [53, 252]
Hồ Anh Thái luôn coi trọng vấn đề lương tri và sự chân thật của người cầm bút: “Tôi vẫn nghĩ nhà văn đích thực phải là người tử tế, nhưng không thể nói là hơn hay kém những người khác Cũng giống như nghề văn là một nghề cao quý, nhưng không thể nói nó cao quý hơn nghề khác được Còn những cái mác, những danh hiệu thì… hãy coi chừng! Không khéo chỉ vì những thứ ấy mà bênh ảo tưởng của nhà văn càng nặng đấy” [57, 347] Điểm đặc biệt ở con người này là làm ngoại giao nhưng trong cuộc sống lại ghét thói đạo đức giả, không thích xu nịnh và những lời nói ngọt… Mặc dù ông từng là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam, nhưng ông luôn cho rằng “làm nhà văn thuần túy là sướng nhất, ta có thể tùy thích ngồi viết suốt ngày chứ không phải chỉ có trích ra vài ba tiếng như bây giờ” [57, 345-346] Quan niệm này cho thấy ông là người luôn khao khát được toàn tâm toàn ý sống với nghề văn mà mình theo đuổi
Vốn là một người có địa vị, danh vọng và chắc chắn là đầy đủ về tiền bạc, nhưng Hồ Anh Thái vẫn là một người lắng lòng để tìm thấy giá trị, ý nghĩa đích thực của cuộc sống Ông vẫn thường nhắn nhủ: “Trước khi đột tử, hãy sống tử tế với mọi người và hãy sống cho cả chính mình nữa, đừng tự biến mình thành cái máy chỉ biết công việc, chỉ biết kiếm tiền, chỉ biết làm công cụ” [57, 346] Những đặc điểm tính cách con người đã in dấu ấn đậm nét vào văn chương ông
Nhận xét về con người của Hồ Anh Thái, trong Nhà văn Hồ Anh Thái: Một mình qua đường, tác giả Thiên Ý nhận xét: “Người đàn ông này không
thuộc bất cứ đám đông nào Và dường như anh cũng không có cả cái thú vui nhậu nhẹt của đàn ông Anh yêu vẻ cô đơn đẹp đẽ của mình Anh như một hòn đá chìm trong lòng suối sâu, phải ngắm rất lâu ngày nước lặng mới gặp
Trang 28Nhưng chỉ cần mỗi tác phẩm mới của anh xuất hiện, ngay lập tức, có những
dư luận trái chiều Người khen cũng nhiều người chê cũng lắm Nhưng tuyệt nhiên không có những lời nổi đóa hay thanh minh Im lặng sống, im lặng viết Một mình Chỉ có những con chữ xôn xao…”[68]
1.2.2 Hành trình sáng tạo
Năm 1978, khi mới vào tuổi hai mươi, đang là sinh viên trường Đại học Ngoại giao, Hồ Anh Thái đã là tác giả văn xuôi có truyện ngắn đăng đều trên báo Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội… Những truyện ngắn ban đầu của
Hồ Anh Thái tiêu biểu là Chàng trai ở bến đợi xe, Nói bằng lời của mình, Mảnh vỡ của đàn ông…đã được người đọc chú ý bởi bút pháp mới mẻ và sự
sống thật chân thực Trong hơn ba mươi năm cầm bút, ông đã cho ra đời gần
30 tập truyện ngắn và tiểu thuyết Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên
có lần đã phân kỳ lộ trình sáng tác của Hồ Anh Thái (một cách tương đối) thành ba giai đoạn: Tiền Ấn Độ, Ấn Độ và hậu Ấn Độ
Giai đoạn tiền Ấn Độ có thể có thể tính từ lúc Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn cho đến cuối những năm 1980 “Giai đoạn này, kênh giọng chủ đạo của văn xuôi Hồ Anh Thái là trữ tình đôn hậu” [37, 91] Ở giai đoạn đầu này, ông hăng say đi vào khám phá và phản ánh hiện thực đời sống với những gam màu hồng tươi, cảm xúc chân thành với một môi trường của cuộc sống học sinh, sinh viên trong cuộc sống mới với nhiều khát khao hoài bão Điều này
được thể hiện trong các truyện ngắn: Chàng trai ở bến đợi xe, Nói bằng lời của mình, Mảnh vỡ của đàn ông Tiêu biểu nhất cho tinh thần này là tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái
thể hiện một ý tưởng khá sâu sắc rằng con người ta đi vào đời với đôi bàn tay trắng, sạch sẽ và lương thiện, có khát vọng lớn lao lập thân, lập nghiệp Vậy
mà đời cứ luôn muốn nhấn chìm con người ta vào sắc dục, vào những con đường không lương thiện Các nhân vật trong tiểu thuyết đều còn trẻ, Toàn,
Trang 29Hiệp, Trang, Minh… mỗi người một thân phận, bị cuộc sống xô dạt về những
nẻo khác nhau và họ phải vật lộn với số phận trên đường đời Với Người và
xe chạy dưới ánh trăng, Hồ Anh Thái đã khẳng định được tiềm năng của một
nhà văn còn có thể đi dài trên con đường văn chương Giai đoạn này, ông còn
nỗ lực vượt thoát ra khỏi quán tính ngợi ca thường có của văn học để nhìn sâu vào dòng chảy tâm lý bên trong của con người thời hậu chiến với tâm lý hoang mang Tiêu biểu cho sự chuyển hướng sáng tác này của Hồ Anh Thái là
hai tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo và Trong sương hồng hiện ra Trong đó
đề cập những chấn thương to lớn về thể chất và tinh thần của những nữ cựu chiến binh đi qua cuộc chiến tranh, trở thành quá lứa, lỡ thì Sau chiến tranh,
họ đến làm việc trong một lâm trường trên đảo Cát Bạc Ở đó không còn âm vang tiếng súng nhưng họ phải tiếp tục chống lại những lại những ham muốn nhục dục, và khao khát có một đứa con làm điểm tựa cuối đời Dù là nhà văn trẻ, nhưng Hồ Anh Thái đã mạnh dạn đặt ra vấn đề tình dục, về bản năng con
người và nhu cầu làm tròn thiên chức người phụ nữ Trong tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã xây dựng được một cốt truyện lạ: Trong
cơn hôn mê cận kề cái chết do điện giật, nhân vật chính của tiểu thuyết đã từ năm 1987 ngược thời gian trở lại năm 1967, khi anh ta còn chưa ra đời Ở đó anh ta gặp bà nội, bà ngoại, cha mẹ… Tất cả họ đều trẻ hơn hai mươi tuổi so với chính họ so với thời điểm bắt đầu kể chuyện Điều quan trọng hơn là họ sống hồn nhiên, chân tình, cởi mở hơn, đối xử thân ái với nhau hơn so với hai mươi năm sau Chính những điều này là sự báo hiệu những sự đổ vỡ tất yếu của một trật tự xã hội mới với lối sống kinh tế thị trường ngày càng thịnh hành
Giai đoạn Ấn Độ ghi dấu quãng thời gian sáu năm (1988 - 1994) Hồ Anh Thái sống và làm việc trên đất nước Ấn Độ Đây là giai đoạn trung tâm của sự phân kỳ nói trên Được sống và làm việc trong môi trường mới, ông say sưa học hỏi, tìm hiểu miền đất này Là một công chức trong ngành ngoại
Trang 30giao, một thời gian dài sống và làm việc tại Ấn Độ cũng như nghiên cứu văn hóa phương Đông, Hồ Anh Thái có điều kiện suy tư, nghiền ngẫm sâu hơn về cuộc sống và con người ở các vùng đất khác nhau trên thế giới Ông đã sống
và hòa mình vào cuộc sống trên đất nước Ấn Độ xa xôi và hiểu được những
vẻ đẹp lẫn nỗi đau khổ của con người nơi đây Tất cả những tình cảm sâu sắc
đó được thể hiện qua tập truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước Với kênh giọng chủ đạo là tỉnh táo và sắc lạnh (chữ dùng của Hoài Nam), Hồ Anh
Thái đã phơi mở một bi kịch nhân sinh qua tác phẩm này: con người có thể đặt cược tất cả đời mình vì một sự xác tín cá nhân nào đó, nhưng cũng nhiều khả năng tất cả chỉ là sự hy sinh vô nghĩa cho các ảo tưởng mà thôi Tiến sỹ
văn học người Ấn K Pandey trên tờ The Hindustan Times đã coi các sáng tác
của ông về đất nước này là “Những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm đúng huyệt tính cách Ấn Độ”
Đến giai đoạn hậu Ấn Độ (có thể tính từ năm 1995 đến nay), Hồ Anh Thái đã hoàn toàn “lột xác” Lối viết của ông so với thời kỳ tiền Ấn Độ đã có nhiều thay đổi Giọng điệu văn xuôi Hồ Anh Thái giai đoạn hậu Ấn Độ nghiêng về “giễu cợt, trào lộng, mỉa mai sâu cay và không hề nương nhẹ trước đối tượng” [37, 94] Cảm hứng phê phán, trào lộng dường như là một cảm hứng nổi bật, xuyên suốt chi phối thế giới nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái Nhà văn phơi bày lối sống thực dụng, háo danh, chạy theo vật chất của những kẻ hãnh tiến, sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận người sống ở thành thị Cũng trong những sáng tác thời kỳ này, nhà văn đã vạch rõ sự xuống cấp của nhiều lĩnh vực ý thức xã hội trong đó có cả lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật như hội họa, điện ảnh, văn chương… Tiêu biểu cho giai đoạn này
là các tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Sắp đặt và diễn,
và các tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột…
Trang 31Việc điểm qua các giai đoạn sáng tác Hồ Anh Thái nhằm để nhìn thấy
sự chuyển biến không ngừng trong phong cách sáng tạo của một cây bút tài năng, vững vàng, luôn làm mới mình qua từng trang viết Điều đó góp phần làm nên giá trị đích thực và chỗ đứng của văn chương Hồ Anh Thái trong lòng công chúng, bạn đọc
1.2.3 Những thành tựu chính
Cho đến nay, với thâm niên ba mươi năm cầm bút, gia tài văn chương của Hồ Anh Thái là hơn 30 đầu sách gồm tiểu thuyết và các tập truyện ngắn, ngoài ra còn có các tập tiểu luận và chân dung văn học Nghĩa là gần như năm nào ông cũng có sách được xuất bản Quan sát chặng đường sáng tạo của Hồ Anh Thái, có thể khẳng định rằng ông đã để lại dấu ấn trong nền văn học ở cả
số lượng lẫn chất lượng các tác phẩm Về số lượng, ông cho ra đời rất đều tay
và ngày càng rút ngắn về thời gian các tác phẩm cả truyện ngắn và tiểu thuyết
Về truyện ngắn có thể kể đến: Bụi phấn (1977), Chàng trai ở bến đợi xe (1985); Lũ con hoang (1995); Mảnh vỡ của đàn ông (1993), Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998); Tự sự 265 ngày (2001); Bốn lối vào nhà cười (2005); Người bên này trời bên ấy (2013)… Khởi nghiệp và khá thành công
với truyện ngắn nhưng Hồ Anh Thái chỉ thực sự trở thành cây bút tên tuổi bởi
thể loại tiểu thuyết Ở thể loại này, Hồ Anh Thái có các tác phẩm: Vẫn chưa tới mùa đông (1984), Người đàn bà trên đảo (1985), Trong sương hồng hiện
ra (1989), Cõi người rung chuông tận thế (2002), Mười lẻ một đêm (2006), Đức Phật, nàng Savitri và tôi (2007), SBC là săn bắt chuột (2011), Dấu về gió xóa (2012) Bên cạnh truyện ngắn và tiểu thuyết, Hồ Anh Thái còn thử sức mình với tiểu luận (Hướng nào Hà Nội cũng sông) và chân dung văn học (Họ trở thành nhân vật của tôi) Dù hàng năm vẫn cho ra sách đều đặn, song
điều đó không làm chất lượng sáng tác của ông bị giảm sút Ngược lại, sức hấp dẫn tỏa ra từ tác phẩm của ông vẫn luôn được chứng minh bằng sự đón nhận của đông đảo độc giả, sự quan tâm nghiên cứu của giới nghiên cứu phê
Trang 32bình Ông cũng là một trong số ít những nhà văn Việt Nam hiện đại được dịch
và giới thiệu tác phẩm ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ,
Hàn Quốc, Iran…
Hồ Anh Thái đã nhận được nhiều giải thưởng cao, minh chứng cho tài năng và sự cống hiến của ông trong văn học Giải thưởng về truyện ngắn 1983
– 1984 của báo Văn nghệ (truyện Chàng trai ở bến đợi xe) Giải thưởng văn
xuôi 1986 – 1990, của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng liên đoàn Lao động
Việt Nam (tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng) Giải thưởng văn học
1995 của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (tập truyện ngắn Người đứng một chân) Năm 2012, ông được nhận giải thưởng ở hạng mục văn xuôi của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 cho tác phẩm SBC là săn bắt chuột
Với những thành tựu trên, Hồ Anh Thái đã khẳng định chắc chắn vị trí, cũng như “thương hiệu” của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại Tác phẩm của ông được cả dư luận trong và ngoài nước quan tâm, đánh giá
cao
1.3 Đời sống thị dân – một đề tài nổi bật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
1.3.1 Khái quát về đề tài thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận định: “Các nhà văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài yêu thích nhất và ông ta chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy mà thôi” [34, 12] Vì vậy mà trong nền văn học Việt Nam, nếu cụm từ “nhà văn của nông dân”, “nhà văn của làng quê” gắn với Nam Cao, Kim Lân, Lê Lựu… hoặc “nhà văn mặc áo lính” có Chu Lai, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều… thì khi mệnh danh “nhà văn của đô thị” không thể không nhắc đến tên tuổi của Hồ Anh Thái
Cũng như nhiều nhà văn có ý thức đổi mới trong sáng tác văn học, Hồ Anh Thái cũng không ngần ngại đi sâu vào tìm tòi và khai thác các đề tài, chất liệu mới, cảm hứng mới cho văn chương Đề tài đời sống thị dân và đô thị
Trang 33trong văn học Việt Nam hiện đại đã được nhiều nhà văn khai phá Tiêu biểu là sáng tác của những tác giả: Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Phong Điệp, Đỗ Phấn… Nó cũng là sự lựa chọn hàng đầu của nhà văn Hồ Anh Thái Hiện thực trong những sáng tác của Hồ Anh Thái rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề trong cuộc sống và con người Hồ Anh Thái rất thoải mái khi lựa chọn đề tài và cảm hứng sáng tác Nhưng trong tiểu thuyết, đề tài đời sống thị dân được ông đặc biệt “ưu ái” và tập trung bút lực
để khai thác và chiếm lĩnh Nó thực sự đã trở thành một “tâm điểm” trong các sáng tác của ông
Ngay từ những sáng tác đầu tiên, đời sống thị dân đã xuất hiện như một
đề tài đáng chú ý trong văn Hồ Anh Thái Càng về sau, vấn đề này càng được nhà văn nhận thức, soi chiếu ở nhiều góc độ đa diện hơn, sâu sắc hơn Muôn mặt của đời sống thị dân được ông “lộn trái” một cách triệt để và đầy hài
hước, trào lộng Có thể kể đến những tiểu thuyết xuất sắc của ông như Người
và xe chạy dưới ánh trăng, Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột Dù cùng tập trung tìm hiểu về đời sống thị dân, song ở
mỗi thể loại, Hồ Anh Thái lại có những cách xử lý chất liệu và biến tấu khác nhau Với truyện ngắn và tiểu luận, Hồ Anh Thái chủ yếu viết về những sự kiện, những “mảnh vỡ”, “lát cắt” của đời sống đô thị Vào tiểu thuyết, ông đã lách ngòi bút của mình viết về nhiều hiện tượng đời sống rộng lớn, mang tính thời sự cao trong xã hội Các nhân vật cũng được xây dựng đầy đặn và hệ thống hơn Điều đó làm hứng thú tìm hiểu đối tượng của người đọc trở nên trọn vẹn và thỏa mãn hơn
Có thể khẳng định rằng: Đời sống thị dân là chủ đề lựa chọn hàng đầu trong sáng tác nói chung và tiểu thuyết nói riêng của Hồ Anh Thái Ông rất
“biết cách” luồn lách vào mọi ngóc ngách của đời sống thị dân để phát hiện,
mô tả, lý giải Từ những chuyện lớn mang tính thời sự như mua bán đất cát, xây dựng sân golf, buôn ma túy, xây khách sạn, bệnh viện đến những chuyện
Trang 34nhỏ, thường nhật như thi hoa hậu, lũ lụt, hạn hán, diệt chuột… Tất cả đều diễn
ra ở đô thị, trong cuộc sống của thị dân hiện đại Ông rất ít đề cập đến môi trường nông thôn, miền núi Điều này có thể lý giải không chỉ ở sự quen thuộc về môi trường sống của nhà văn Đồng thời, hiện thực đô thị ngồn ngộn hôm nay cũng đã thôi thúc ngòi bút nhạy cảm và trách nhiệm của một nhà văn phải viết và đánh vào trúng vấn đề bức thiết trong cuộc sống thị dân hiện đại
Nó mang đến cho người đọc cái nhìn phản tỉnh về một bản chất khác hẳn với
vẻ hào nhoáng bên ngoài của đời sống thị dân
1.3.2 Cơ sở hình thành cảm hứng viết về đời sống thị dân trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
1.3.2.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mỹ Việt Nam sau 1975
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã trở thành bước ngoặt vĩ đại của đất nước Việt Nam, khẳng định công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã hoàn toàn thắng lợi Nhân dân bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước Tháng 8/1986, diễn ra Đại hội Đảng lần thứ
VI, có ý nghĩa đánh dấu một bước ngoặt mới cho đất nước Việt Nam Nó đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới, phát triển đất nước trên mọi phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật Đồng thời, nhà nước ta cũng đã bắt đầu chính sách hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa với các quốc gia trên thế giới
Những sự kiện trọng đại trên đã làm bộ mặt đất nước ngày càng thay da đổi thịt, đời sống kinh tế, xã hội phát triển, cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của mỗi cá nhân được nâng cao hơn hẳn so với trước Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, xã hội không thể giấu đi những vết rạn đã bắt đầu xuất hiện: tình hình xã hội trở nên đầy biến động, xáo trộn, hiện tượng băng hoại về mặt đạo đức của con người trở nên phổ biến, những chuẩn mực tốt
Trang 35đẹp của truyền thống cũng đang dần bị phá vỡ Cơn lốc kinh tế thị trường đã cuốn cả xã hội vào vòng xoáy kim tiền
Mảnh đất sớm được đón nhận những thành quả lẫn hậu quả trên trước hết là thành phố - không gian sống của thị dân- nơi đi đầu trong việc tạo ra các phát minh, tiên phong trong các trào lưu hiện đại Thêm vào đó, quá trình
đô thị hóa ngày càng diễn ra với tốc độ chóng mặt, khoảng cách phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng rõ rệt
Năm 1986 cũng cắm cột mộc quan trọng trong đời sống văn học nghệ thuật nước nhà Đặc biệt, nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và nâng cao trình độ quản lý văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới” đã mở ra một cái nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ Tinh thần “cởi trói” đến với hầu khắp văn nghệ sỹ Nhiều nhà văn đã “xông vào” mọi ngõ ngách của đời sống xã hội để nắm bắt được cái bề bộn, ngổn ngang vốn có của nó Có thể nói, chưa bao giờ những vấn đề thuộc về đời sống xã hội hiện lên chân thực, sống động mà xót xa nhức nhối như thế trong văn chương giai đoạn này Bởi các nhà văn đã khai thác đến các “tầng vỉa” khuất lấp, tối tăm nhất của hiện thực đời sống và những mảnh vỡ bi kịch của số phận con người
Hiện thực cuộc sống thay đổi đòi hỏi các nhà văn phải có cách tiếp cận phù hợp Nhà văn thời đổi mới quyết liệt đi tìm sự sáng tạo, đi sâu vào các vấn
đề phức tạp của đời sống, mạnh mẽ bộc lộ chủ kiến trước những tình huống,
sự kiện và những vấn đề nóng bỏng, gai góc của xã hội Văn học từ sau 1986 trở đi đã khai phá gần như mọi vùng đất, kể cả những “vùng đất cấm kị” với văn học trước đây Văn học thời đổi mới có xu hướng nói nhiều tới các vấn đề nhân sinh - thế sự, mặt trái của xã hội và đến phương diện đời sống cá nhân, chủ đề bị “bỏ quên” trong văn học thời chiến trước đó “Hiện thực bấy giờ không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng
Trang 36mà còn là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn đã đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt tạo nên những mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn nổi rõ lên những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách,
cả hạnh phúc và bi kịch ” [31, 15] Bức tranh hiện thực đời sống với muôn mặt cuộc đời con người là những mạch nguồn cảm hứng bất tận cho sự sáng tạo của văn nghệ sỹ
Cảm hứng sử thi, cảm hứng ngợi ca đến lúc này tỏ ra không còn thích hợp để phản ánh, để khái quát hiện thực phức tạp, đa chiều của đời sống kinh
tế thị trường Cuộc sống hiện đại với hàng loạt các vấn đề nảy sinh mỗi ngày
từ ăn mặc ở đi lại đến chính trị, xã hội Tất cả cái ngổn ngang của đời sống thường nhật đi vào mỗi tác phẩm của họ là trăm hình vạn trạng khác nhau nhưng đều mang hơi thở ngồn ngộn của thời kì mới
Những cơ sở quan trọng trên vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác của những đội ngũ nhà văn tài năng qua nhiều thời kỳ khác nhau Từ Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng… đến Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh… Đến đầu thế kỷ XXI, đã có thêm nhiều tên tuổi với nhu cầu đổi mới hết sức mạnh mẽ như Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương… Trong số đó có Hồ Anh Thái
1.3.2.2 Sự am hiểu của nhà văn về đề tài đời sống thị dân
Hồ Anh Thái là nhà văn đạt được nhiều thành công khi hướng ngòi bút của mình vào nhiều vấn đề của đời sống xã hội, song ông đặc biệt để lại dấu
ấn đậm nét khi viết về đề tài đời sống thị dân Sự thành công này có thể lý giải bởi nguyên nhân quan trọng nhất là nhờ vào sự am hiểu của chính nhà văn về mảng đề tài này
Trước hết cần phải thấy ngay rằng Hồ Anh Thái là một thị dân điển hình Quê gốc ở Nghệ An, song ông được sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, học xong đại học, làm việc tại mảnh đất này, rồi đến với văn chương như một
“cái duyên” Những hiểu biết của ông về nông thôn cũng chỉ có được từ khi
Trang 37cuộc chiến tranh chống Mỹ lan ra miền Bắc, Hồ Anh Thái lên 5 tuổi, được gia đình đưa đi sơ tán ở nông thôn Chiến tranh nhanh chóng mở rộng tới các làng quê, nơi dự trữ rất nhiều sức người, sức của để cung cấp cho mặt trận Mang trong mình những nét hào hoa, thanh lịch Hà Thành, song ông cũng nhận thấy rất rõ những nhược điểm của con người sống trong môi trường đó Hoàn cảnh
xã hội đặc biệt - buổi giao thời giữa cơ chế bao cấp và cơ chế kinh tế thị trường với những nghịch cảnh, pha tạp, hỗn loạn ở đô thị, cuộc sống xô bồ, ngổn ngang trăm mối – đã làm biến dạng mảnh đất thị thành nơi ông gắn bó
Xã hội tạo nên lắm loại người, nhiều kiểu sống Những thanh niên mới lớn thì
tự do, buông tuồng, trong họ nảy sinh không ít thói dị bợm Đời còn nhiều người nghèo khó, nhưng cũng đã thấy lắm kẻ giàu phất lên… Thêm nữa, trong hoàn cảnh xã hội đặc thù, thì thành thị chính là nơi có điều kiện tiếp xúc
và tiếp thu nhiều nhất, nhanh nhất những luồng văn hóa ngoại lai Chính vì vậy, đây cũng là nơi những thói hư tật xấu của cuộc sống được thể hiện ra rõ nhất Tất cả điều đó đã tác động sâu sắc đến con người nhạy cảm này và ông
đã thể hiện những gì mình chiêm nghiệm được về cuộc sống ở thành thị qua từng trang viết Bằng nhãn quan sắc bén của một con người có “căn tính” trở thành nhà văn, ông đã viết nhiều về những cái mình biết, mình am hiểu Đó chính là đời sống của những con người sống trong môi trường như mình Tất nhiên, cần phải thấy rằng: “Môi trường sống không phải là yếu tố tiên quyết cho nhà văn chọn đề tài, nhưng nó có ảnh hưởng đến ngòi bút của nhà văn, bởi nhà văn cần yếu tố thực tế, đành rằng thực tế có nhiều cách, không nhất thiết viết về thành phố biển thì tác giả phải đến đó, viết về một sa mạc chết tác giả phải đặt chân đến” [18]
Ngoài ra, chính vị trí, nghề nghiệp của ông (một nhà ngoại giao, một giảng viên, một nhà Ấn Độ học, Đông Phương học) cũng đã mang đến cho
Hồ Anh Thái một nhãn quan sâu sắc về cuộc sống, môi trường nơi ông đang hàng ngày làm việc và sinh sống Nghề nghiệp đã tạo điều kiện cho ông có cơ
Trang 38hội đi nhiều, tiếp xúc nhiều, am hiểu phong tục tập quán, những nền văn hóa, lịch sử, chính trị, tôn giáo của nhiều quốc gia, dân tộc Bởi vậy, ông có hiểu
rõ hơn bản chất của con người đô thị Việt Nam hiện đại thông qua việc suy ngẫm, liên hệ, đối sánh tự nhiên Hồ Anh Thái là người có ý thức sâu sắc trong việc tích lũy và xây dựng một nền tảng văn hóa đầy đặn, làm cơ sở cho con đường sáng tạo chuyên nghiệp Ông là nhà văn của một thời đại văn chương mới, thời đại của các nhà văn, coi văn chương là mục đích của văn hóa Hồ Anh Thái nghĩ ngoại giao và viết văn có nét giống nhau, tương quan với nhau Chính điều đó đã khiến ông vận dụng được rất nhiều vốn kiến thức ngành nghề vào việc viết văn
Thực ra, đề tài đời sống thị dân đã được nhiều tác giả văn học Việt Nam hiện đại quan tâm khai thác Tiêu biểu là sáng tác của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng… Tiếp nữa là sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Chu Lai, Lê Lựu… Sau này có sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Phong Điệp, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Quang Lập, Đỗ Phấn… Điều này có nghĩa viết về đề tài đời sống thị dân, Hồ Anh Thái không chỉ gặp thuận lợi mà còn gặp không ít khó khăn, thách thức Nhưng chính điều đó cũng sẽ là động lực thôi thúc ngòi bút nhà văn phải liên tục sáng tạo, đổi mới trên từng trang viết để có những tác phẩm viết về đô thị độc đáo mang thương hiệu “made in
Hồ Anh Thái”
Khi được hỏi vì sao đề tài đời sống thị dân lại luôn trở đi trở lại trong các sáng tác của mình, Hồ Anh Thái đã giải thích một cách giản dị: “Có lẽ chính là hoàn cảnh đã chọn đề tài cho tôi, sống đâu quen đấy, làm gì biết nấy Không thể gọi là đã hiểu nhưng cũng có thể nói tôi thuộc môi trường sống của mình” [57, 343] Có thể nói, Hồ Anh Thái là nhà văn của đời sống thị dân Với Hồ Anh Thái, đô thị không chỉ là môi trường thường trực cung cấp không gian sống mà với ông đó còn là một mảnh đất để khám phá, phản ánh trên
Trang 39trang viết Ông sống với nó, viết về nó bằng sự trăn trở và am hiểu thực sự của một cư dân đô thị
1.3.2.3 Nhận thức riêng của nhà văn về con người, đời sống và sự
sáng tạo
Nhà văn M.Gorki từng nói: “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng đó có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có những hình thức riêng” Điều này
có nghĩa, mỗi nhà văn khi sáng tạo văn chương cần có những quan điểm riêng, cách nhìn nhận riêng về con người và hiện thực và sự sáng tạo Có như vậy mới tạo ra những tác phẩm hay và có giá trị nghệ thuật cao
Hồ Anh Thái là nhà văn sinh ra trong giai đoạn đặc biệt của lịch sử nước nhà Đó là giai đoạn giao thời từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang thời buổi kinh tế thị trường Ông có những nhận thức riêng của mình về con người, thời đại Chính những suy nghĩ và quan điểm đó đã khúc xạ vào trong tác phẩm của ông Trong văn học, quan niệm không toát lên từ những lời tuyên bố mà toát lên từ chính tác phẩm
Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, là cái đích cuối cùng của văn học đồng thời cũng là điểm quy chiếu, thước đo giá trị của văn học, của sự kiện, biến cố lịch sử Mỗi nhà văn khi nhìn nhận khám phá con người đều có những quan điểm riêng biệt, từ đó mới xây dựng được những hình tượng nghệ thuật độc đáo trong các sáng tác của mình, thể hiện tư tưởng, quan điểm riêng của mỗi nhà văn Hồ Anh Thái là người đã gắn bó phần lớn đời mình ở thành thị Hơn nữa ông là người đi nhiều, hiểu biết rộng với phông văn hóa phong phú Tất cả những điều đó đã kết tinh ở ông thành một nhà văn tài năng, có học vấn và bản lĩnh dám phản ánh những mặt trái của đời sống của một bộ phận người sống ở đô thị đang tồn tại và ngoi lên ngày càng phổ biến trong nền kinh tế thị trường Trong không gian rộng lớn
ấy, ngòi bút của ông hướng “tâm điểm” vào con người và cuộc sống đô thị
Trang 40bằng lăng kính nhiều chiều, sắc cạnh Khi nhìn nhận con người, Hồ Anh Thái luôn quan sát cả bề ngoài lẫn nội tâm Ông không chối bỏ những tiến bộ của cuộc sống đô thị đưa lại nhưng cũng không phủ nhận những tiêu cực, hạn chế của con người sống trong cuộc sống đó Ông là nhà văn vừa dám nhìn thẳng vào nỗi đau của cõi người để lên án sự xấu xa, hoài nghi về những gì hào nhoáng nhưng vẫn ước mơ, vẫn giữ niềm tin, muốn thanh lọc con người và thức tỉnh họ tìm về những gì tốt đẹp Những quan niệm và nhìn nhận về con người của ông đã in dấu ấn đậm nét vào văn chương của nhà văn này Cách nhìn hiện thực, nhất là hiện thực đô thị của Hồ Anh Thái cũng có nhiều điểm độc đáo Ông có khả năng bao quát phạm vi hiện thực rộng lớn ở cả bề rộng lẫn bề sâu của nhiều nền văn hóa khác nhau Nhận xét về cách nhìn hiện thực của Hồ Anh Thái, tác giả Nguyễn Đăng Điệp viết: “Là cây bút nhạy bén và tỉnh táo, Hồ Anh Thái cũng tạo được cái nhìn riêng về thế giới Độ sắc trong những trang viết của Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗ anh dám nhìn thẳng vào những
“mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo…” [53, 357] Điều này có nghĩa ông không nhìn đời sống bằng đôi mắt màu hồng, ảo tưởng mà chú ý nhiều hơn vào những mạch ngầm, vùng tối của hiện thực Đồng thời, hiện thực với ông không chỉ đơn thuần, phiến diện như những gì thường nhật ta nhìn thấy bằng mắt mà nó còn phải được khám phá ở chiều sâu “Quan niệm hiện thực là những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi người, ở trong tâm và trí của họ Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là đã đào sâu hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy Tôi cho rằng tái hiện đời sống con người mà chỉ dùng mỗi một công cụ hiện thực là không đủ, như thế là tự làm nghèo trang viết của mình” [53, 253] Chính những quan niệm này đã thể hiện vào trong tác phẩm của Hồ Anh Thái vô cùng đậm nét Chân dung hiện thực trong các sáng tác của ông bề bộn, nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá