Giọng điệu và ngôn ngữ tiểu thuyết

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết hồ anh thái (Trang 108 - 130)

6. Ph-ơng pháp nghiên cứu

3.2. Giọng điệu và ngôn ngữ tiểu thuyết

3.2.1.1. Khái niệm giọng điệu và vai trò giọng điệu trong sáng tác văn học

Thế giới nghệ thuật của nhà văn là một hệ thống phức tạp đ-ợc cấu thành bởi nhiều yếu tố. Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu.

M.B. Kharapchenkô đã từng xác nhận: “Đề tài, t- t-ởng, hình t-ợng chủ đạo

đ-ợc thực hiện trong một môi tr-ờng giọng điệu nhất định, trong một phạm vi cảm xúc nhất định đối với đối t-ợng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó. Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình tr-ớc hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc tr-ng của một tác phẩm văn học với t- cách là một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh” [33, 146]. Giọng điệu là một thuộc tính tất yếu của tác phẩm văn học bị chi phối bởi cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh h-ớng nghệ thuật của tác giả và thời đại. Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Giọng điệu là thái độ tình cảm, lập tr-ờng t- t-ởng đạo đức của nhà văn đối với hiện thực đ-ợc miêu tả” [20, 134]. Giọng điệu còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. Cho nên, giọng điệu là ph-ơng tiện biểu hiện quan trọng nhất của tác phẩm văn học, là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn. Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu thấm vào mọi yếu tố, mọi lớp ngôn ngữ nh-ng nó bộc lộ rõ rệt hơn cả ở lời trần thuật. Bản thân giọng điệu trần thuật lại cũng là một hệ thống đ-ợc cấu thành bởi nhiều yếu tố.

Hồ Anh Thái là một hiện t-ợng đa dạng về giọng điệu của tiểu thuyết Việt Nam đ-ơng đại. Ông có quan niệm linh hoạt về mối quan hệ giữa phong cách nghệ thuật và giọng điệu: “Tôi cho rằng ng-ời có phong cách tức là phải

đa giọng điệu (...). Cho rằng, thay đổi giọng điệu làm loãng phong cách của chính mình là cách hiểu đơn giản và làm cho ng-ời sáng tạo l-ời biếng, ngại làm mới mình” [66, 243].

Liên tục thay đổi giọng điệu, bền bỉ “lăn lộn trên từng con chữ” (Hồ Anh Thái), bứt phá, tự v-ợt lên chính mình tự làm mới mình thể hiện một năng lực sáng tạo dồi dào để phong cách bao giờ cũng là cái đang tìm tòi.

3.2.1.2. Các sắc thái giọng điệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái rất đa dạng về giọng điệu trần thuật. Từ những tiểu thuyết đã đ-ợc khảo sát, chúng tôi thấy có những giọng điệu cơ bản sau:

giọng trữ tình, giọng suy t- triết luận, giọng trào phúng giễu nhại và sự hoà phối, xen cài các giọng điệu cơ bản.

Thứ nhất là giọng điệu trữ tình. Chúng tôi quan niệm giọng điệu trữ tình cần đ-ợc hiểu một cách linh hoạt. Khi nói trữ tình là những: “Nội dung phản

ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêng của con người trước cuộc sống” [54, 1305] thì giọng điệu trữ tình sẽ có nhiều sắc thái, cấp độ khác nhau. Có giọng trữ tình lãng mạn, có giọng điệu tâm tình cảm th-ơng và cả chất giọng hiện thực sắc lạnh suy rộng ra cũng là giọng điệu trữ

t×nh.

Giọng điệu trữ tình là “chủ âm” trong các tiểu thuyết sáng tác ở thời kì

đầu của Hồ Anh Thái: Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng, Ng-ời đàn bà trên

đảo, Trong s-ơng hồng hiện ra. Khi hiện thực cuộc sống thời hậu chiến còn ngổn ngang, bề bộn nh-ng cùng với khát vọng, niềm tin, cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái h-ớng tới chất thơ trong cuộc sống đời th-ờng để tạo nên chất giọng trữ tình lãng mạn thật trong trẻo: lãng mạn trong tựa đề tác phẩm Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng - nh- một tứ thơ, thật đẹp. Lãng mạn trong từng chi tiết, hình ảnh mộng mơ: “Cố nhắm mắt, Toàn lại thấy trước mắt một con đường trăng, con đ-ờng nhuộm màu vàng ảo mộng, càng khiến Toàn tin rằng, nó sẽ dẫn tới một t-ơng lai mờ xa. Một cỗ xe vàng chuông rung nh- lục lạc. Xe cứ trôi, một ng-ời chạy theo bên cạnh, hai cẳng chân h-ơu nhuộm trăng vàng lấp loáng” [69, 286]. Chất thơ ấy có khi là một mùi hoa sữa thoáng qua trên phố phường Hà Nội một thời đạn bom: “Quả thật, đó là mùi hoa sữa hiếm hoi còn

sót lại, chỉ toả h-ơng nhè nhẹ trong khoảng không gian chật hẹp họ đang sống (…). Chàng trai và cô gái đứng yên lặng nh- sợ cất lên một lời là làn h-ơng sẽ tan biến vĩnh viễn” [69, 255]. Chất trữ tình lãng mạn thật t-ơi tắn, trong trẻo,

đầy sức quyến rũ!

Giọng điệu trữ tình lãng mạn, bay bổng thăng hoa đan dệt nên những hình t-ợng đẹp: những con ng-ời nh- đ-ợc bảo vệ trong lồng kính không hề v-ớng chút bụi bặm của cõi trần thế. Đó là Mai Trừng - cô gái đẹp có sứ mạng trừng trị những kẻ ác khi được “giải thiêng” trở về cuộc sống đời thường: “Sau rốt, cô ôm bó hoa trên ngực, nhảy chân sáo quay trở về. Đó là b-ớc chân của một bé gái vừa mới trở thành thiếu nữ, mái tóc tung bay tinh nghịch trong nắng sớm” [66, 225]. Nhân vật Mỵ - một trinh nữ mà vẻ đẹp tâm hồn tự nhiên nh- nguồn suối đến mức không bao giờ nghĩ tới phải đề phòng với điều xấu xa, không nghĩ ng-ời khác có thể xấu xa (Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng). Trong tiểu thuyết Ng-ời đàn bà trên đảo, Vân - ng-ời con gái có tâm hồn trong trẻo

đến mức khi soi vào đó, T-ờng - một ng-ời tha hoá bị bản năng sai khiến cũng phải trăn trở, sám hối: “Vân có biết, mỗi khi nghĩ về em, anh lại cảm thấy có thể sống tốt hơn một chút hay không?” [65, 153]. Trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái có khá nhiều nhân vật nh- vậy đều là phụ nữ, thể hiện một cảm hứng có thể gọi là “nguyên tắc nữ tính hoặc thiên nữ tính” (chữ dùng của Hoàng Ngọc HiÕn).

Một sắc điệu khác của giọng điệu trữ tình trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là giọng điệu cảm th-ơng, xót xa tr-ớc những mất mát, đau th-ơng, những nỗi bất hạnh của con ng-ời. Sự đồng cảm, chia sẻ, xót th-ơng của nhà văn hoà vào trong lời của nhân vật với tất cả những đớn đau, tiếc nuối của ng-ời phụ nữ đi qua chiến tranh. “Hoà bình rồi, nhưng người tôi chờ không trở lại (…). Tôi thầm bảo mình đã quá lứa, đã hết thì, không lấy ai đ-ợc nữa, nh-ng giá nh- có môt đứa con thì cũng đ-ợc an ủi phần nào. Nếu ngày đó tôi không giữ mình quá

ít ra tôi cũng có một đứa con với ng-ời tôi yêu. Tôi giữ thân cho ai nữa, trinh

tiết cho ai khi mà chỉ còn một mình cô đơn. Tập thể có thể làm cho tôi có ý chí, có thể làm tôi khuây khoả đôi chút, nh-ng tập thể không thể cho tôi hạnh phúc riêng” [65, 122]. Tr-ớc một cái chết oan uổng, giọng văn nghẹn ngào, nức nở:

“Đám ma không kèn trống. Bà s- cụ già yếu, không xuống núi đ-ợc. Bà ngồi trên chùa gõ mõ tụng kinh cầu siêu. Rồi bà đánh chuông lớn chuông bé khắp chùa. Âm thanh nh- một núi mảnh thuỷ tinh sắc vụn trút xuống. Núi âm thanh lấp đầy, xây thành mộ cho một linh hồn đột tử oan uổng” [66, 229]. Ng-ời mẹ khốn khổ ấy để lại một đứa trẻ mồ côi 12 tuổi đầu trên cõi đời này. Ngồi một mình, em thốt lên những lời ai oán: “Mạ cháu chỉ bị ruột thừa, có tiền mạ cháu không chết. Thằng bé bất chợt nói. Giọng khô sắc” [66, 230]. Những câu văn -ớt đẫm n-ớc mắt.

Giọng điệu hiện thực sắc lạnh đ-ợc nhà văn sử dụng khi viết về cái ác.

Đây là hành động của thằng Cốc trên sân khấu (Tiểu thuyết Cõi ng-ời rung chuông tận thế): “Đêm nay cô không thoát được đâu. Đừng hòng! (…) Đột ngột cô ta thấy bàn tay thằng Cốc đang nắm tay mình nhẹ nhàng luồn vào đó một l-ỡi dao cạo lành lạnh. Mày có muốn tao rạch bộ đồ tắm này, một đ-ờng sau l-ng, một đ-ờng đằng tr-ớc, ở ngay chỗ mày đệm băng vệ sinh hành kinh hay không? Giọng nói của một kẻ dám giết ng-ời chứ không phải chỉ rạch áo tắm”

[66, 15].

Giọng điệu lạnh lùng, dửng d-ng khi nhân vật thực hiện tội ác và lạnh lùng dửng d-ng khi kể về những cái chết lần l-ợt diễn ra trong bốn ch-ơng đầu của tác phẩm: “Thằng Cốc nằm ngửa trên bãi cát, cả phần thân dưới uốn cong lên, quật đùng đùng xuống cát. Một con cá giãy chết vẫn quật quật đuôi nh- vậy” [66, 26]. Chúng tôi cho rằng, giọng hiện thực sắc lạnh nh- trên cũng là một biến thái của giọng điệu trữ tình. Lạnh lùng, dửng d-ng, vô cảm là sự thể hiện thái độ dứt khoát, nghiêm khắc đối với cái ác. Mặt khác, đó là cách biểu

đạt cảm xúc nghịch chiều. ẩn sâu bên trong lớp ngôn từ khách quan, lạnh lùng

là một nỗi đau đớn tr-ớc sự hoành hành của cái ác, tr-ớc những lầm lạc của con ng-êi.

Thứ hai là giọng điệu suy t- triết lí. Trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, giọng điệu suy t- triết lí không có vai trò “chủ âm” nhưng là giọng điệu có mặt trong hầu hết tác phẩm của ông. Tùy theo cảm hứng và cái nhìn nghệ thuật mà chất giọng này có sắc thái đậm nhạt khác nhau.

Giọng điệu suy t- triết lí có khi đ-ợc cất lên từ những sự vật, sự việc, con ng-ời vốn rất gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống đời th-ờng - một suy ngẫm, một nhận xét rút ra từ thực tế có sức khái quát, một hình ảnh so sánh, ẩn dụ...

Tất cả là những chân lí của đời sống lấp lánh vẻ đẹp của trí tuệ. Trong tiểu thuyết Ng-ời và xe chạy d-ới ánh trăng có những chi tiết, hình ảnh của hiện thực đời sống hết sức bình th-ờng nh-ng lại có khả năng khái quát, có ý nghĩa triết lí sâu sắc. Đó là cái mụn cơm xấu xí nơi tay của Toàn mà anh muốn bỏ đi.

Mỗi con ng-ời đều có thể có một mụn cơm nh- thế, không chỉ ở nơi tay, mà cả

trong tâm hồn, có điều là có tự ý thức rứt bỏ hay không “cái nốt sần canh cánh sự d- thừa bất hợp lí, một điểm chưa hoàn thiện của con người” [69, 222].

Tiểu thuyết Trong s-ơng hồng hiện ra là khát vọng đ-ợc nhận thức lại quá khứ của thế hệ trẻ thời hậu chiến. Có một hình ảnh đẹp, thật giàu chất thơ

mà chứa đựng, dồn nén thật nhiều suy t- của nhân vật, cũng là của nhà văn về ý nghĩa của quá khứ trong đời sống hiện đại: “Quá khứ ấy cũng như con tàu đắm kia, không đ-ợc quyền ngủ yên d-ới bãi sông. Một ngày nào đó, nó sẽ đ-ợc khai quật lên, đ-ợc thay đổi một số bộ phận, đ-ợc sữa chữa và tân trang. Rồi con tàu ấy sẽ hú còi chạy trên sông Hồng nhắc nhở mọi ng-ời về sự hiện diện của nó trong hiện tại” [65, 365].

Chất suy t-, triết lí đậm đặc trong những đoạn văn đúc kết kinh nghiệm sống và lẽ sinh tử ở đời: “Phải chứng kiến tận mắt, phải ôm ng-ời chết trong tay, phải khâm liệm cho một tử thi… ng-ời đó mới xem nh- thực hiểu đời, hiểu ng-ời, hiểu sự sống. Khi đã hiểu cái chết, anh mới bình thản và tự tin để quan

sát tất cả những ng-ời không hiểu cái chết, khi ấy anh thấy mình cần phải sống”

[66, 155].

Giọng điệu trĩu nặng suy t-, giàu chất triết lí là chất giọng có tính phổ quát của tiểu thuyết đ-ơng đại. Nét riêng in đậm dấu ấn phong cách của Hồ Anh Thái là ở những trang viết về t- t-ởng triết học Phật giáo, cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, sự h-ớng thiện của con ng-ời… Tiểu thuyết đậm tính luận

đề Cõi ng-ời rung chuông tận thế nhà văn để cho cô gái Mai Trừng giãi bày những suy nghĩ về lẽ thiện, ác ở đời: “Nh-ng mẹ ơi, chừng nào còn cõi ng-ời thì còn cái ác cũng nh- cái thiện vậy thôi. Diệt trừ cái ác là việc của mọi ng-ời, sao lại bắt một đứa con gái đơn độc nh- con phải làm việc ấy” [66, 233].

Có thể nói, tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi là tác phẩm mà giọng điệu suy t- triết lí nổi bật hơn cả. Nhiều trang viết thấm đẫm t- t-ởng, triết lí Phật giáo: sự giải thoát, thù hận và hoá giải… Những triết lí, t- t-ởng giàu tính nhân văn: kẻ làm ác vẫn có cơ hội đ-ợc giác ngộ, đ-ợc đón nhận trở lại cõi ng-ời; hận thù phải đ-ợc hoá giải trong một nhãn quan th-ơng yêu và bao dung… thể hiện trong những lời răn dạy của Phật: “Mọi sinh linh kể từ con ong, cái kiến cho tới con voi, con ngựa đều muốn duy trì sự sống và tự vệ cho sự sống của mình. Con ng-ời cũng vậy. Ai cũng biết rằng mạng sống của mình là quý hơn hết thảy. Vậy ta hãy học lấy cách yêu quý con ng-ời, gìn giữ sự sống cho con người và muôn loài” [77, 356] hoặc: “Làm việc thiện, bỏ điều ác thì

không bao giờ quá muộn. Biển khổ thật bao la, song hễ muốn nhìn thấy bến, ta chỉ việc quay nhìn lại” [77, 357 - 358]. Đó là những chân lí vĩnh hằng.

Thứ ba là giọng trào phúng giễu nhại. Giọng điệu trào phúng giễu nhại

đ-ợc tạo nên từ cảm hứng, cái nhìn nghệ thuật gắn liền với phạm trù mĩ học: cái hài. Cái hài trong tác phẩm văn học biểu hiện ở tiếng c-ời với nhiều sắc điệu có ý nghĩa xã hội. Từ khả năng khám phá những mâu thuẫn trào phúng hết sức đa dạng trong hiện thực đời sống, những thói tật xấu xa của con ng-ời về đạo đức, nhân cách, lối sống, những thói tật xu nịnh, háo danh, giả dối, dốt nát, nhỏ

nhen, ích kỉ... nh-ng lại giả danh đội lốt cái đẹp hoặc cố tình che đậy, lấp liếm tự cho mình là đã đẹp, là đã có ý nghĩa, khi bị lộn trái, lật tẩy thì tiếng c-ời bật ra. Đó là tiếng c-ời phê phán, phủ định, huỷ diệt cái xấu. Tiếng c-ời trào phúng

đ-ợc phức hợp từ nhiều yếu tố: tình huống trào phúng, nhân vật trào phúng, chi tiết trào phúng, ngôn ngữ trào phúng và nghệ thuật nâng cấp tiếng c-ời để tạo nên những trận c-ời, chuỗi c-ời.

“Chủ âm” trong tiểu thuyết M-ời lẻ một đêm là giọng điệu trào phúng giễu nhại. Một cái nhìn tinh t-ờng, sắc sảo đến tinh quái, nhìn đâu, nhìn đối t-ợng nào cũng phát hiện ra sự tồn tại của những mâu thuẫn trào phúng gây c-ời để phơi bày ra những sự giả dối, những của rởm, những biểu hiện của vô

văn hóa để mỉa mai, châm biếm. “Tấn trò đời” trong M-ời lẻ một đêm tập hợp thật nhiều vai diễn mà mỗi vai diễn là một chân dung biếm hoạ nghịch dị đến quái dị: hoạ sĩ Chuối Hột nh-ng không biết vẽ, chỉ có biết ở khoả thân mọi nơi, mọi lúc trên bãi biển hay khi tập yoga; một bà mẹ cuộc đời qua năm lần đò để có năm cái nhà, dâm và tham đến quái dị; ông Víp - một chính khách, quyền cao chức trọng mà chuyên môn yếu, năng lực kém, lòng tham vô đáy; đó là giáo sư, là những “nhà văn hoá” có sở thích quái dị là thích tiểu tiện vào công trình văn hoá; những phu nhân sang trọng của giới th-ợng l-u khi đ-ợc mời dự tiệc chiêu đãi của sứ quán nước ngoài thì có “quý bà” tắt mắt “ hai cái đĩa sứ bà nhón được bỏ vào túi đã bị vỡ một chiếc” [74, 181]. Còn có những nhà khoa học - giáo sư, tiến sĩ: “Khi đi là ông kĩ sư hoá chất Việt Nam, khi về là ông tiến sĩ triết học Đức - Việt, sau này bìa sách của ông bao giờ cũng nhớ ghi rõ một dòng: lưỡng quốc tiến sĩ” [74, 87], hứng lên ông còn làm thơ, thứ thơ “vừa đọc vừa bịt mũi” [74, 88]. Bao nhiêu vai diễn, bấy nhiêu tiếng c-ời, chuỗi c-ời: nổ tung!

Hiện thực đời sống phô bày ra bao nhiêu thói tật xấu xa đáng c-ời, từ chuyện hội thảo, phong hàm, chức t-ớc, du lịch, văn hoá nghệ thuật thời mở cửa, hội hè, các công tử con nhà giàu du học “thực hành tiếng Việt thay cho

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết hồ anh thái (Trang 108 - 130)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(137 trang)