LỜI CÁM ƠN Trong quá trình học các chuyên đề của chương trình Nghiên cứu sinh cũng như viết Luận án “Cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh trên cứ liệu tiểu t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI LONG
CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI – ĐÁP
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (TRÊN CỨ LIỆU TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI VÀ NICHOLAS SPARKS)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2021
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI LONG
CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI – ĐÁP
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (TRÊN CỨ LIỆU TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI VÀ NICHOLAS SPARKS)
Ngành: Ngôn ngữ học So sánh – Đối chiếu
Mã số: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Thị Kim Liên
Người phản biện độc lập: 1 PGS.TS Lâm Quang Đông
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các cứ liệu, số liệu được trích dẫn, được nêu trong luận án là trung thực Bên cạnh đó, những kết luận khoa học của luận án này chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Nguyễn Hải Long
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học các chuyên đề của chương trình Nghiên cứu sinh cũng như
viết Luận án “Cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh (trên
cứ liệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks)”, chúng tôi đã nhận được sự chỉ
dạy, giúp đỡ tận tình từ quý giảng viên phụ trách các chuyên đề thuộc Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Những chỉ dẫn này đã giúp chúng tôi bổ sung thêm kiến thức, xác định được hướng nghiên cứu để hoàn thành các chuyên đề và luận án này Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả quý thầy cô
Nhân đây, chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Thị Kim Liên, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý, tạo động lực, cảm hứng để chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Chúng tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh; cũng như Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngoại ngữ và các đồng nghiệp ở Trường Đại học Văn Lang Thành phố Hồ Chí Minh Trong thời gian thực hiện luận án, quý vị
đã tạo điều kiện, gởi lời động viên, đóng góp ý kiến, cũng như chia sẻ những khó khăn với chúng tôi để chúng tôi có động lực, thời gian hoàn thành luận án này
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn sát cánh, động viên, khích lệ, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cám ơn và kính chúc tất cả quý vị nhiều sức khỏe, niềm vui và thành công trong cuộc sống
Tác giả luận án
Nguyễn Hải Long
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trong luận án này, chúng tôi có sử dụng những từ, ngữ viết tắt như sau:
Trang 6QUY ƯỚC TRA CỨU CỨ LIỆU ĐƯỢC TRÍCH DẪN TRONG PHỤ LỤC
Vì phạm vi giới hạn về độ dài của luận án nên chúng tôi xin phép chỉ trích dẫn một số ví dụ để minh họa cho các ý kiến, quan điểm, nhận xét được nêu trong luận án Phần cứ liệu còn lại được chúng tôi ghi đầy đủ ở một quyển Phụ lục khác, kèm theo luận án này Quyển Phụ lục này gồm 1.236 cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp Trong
đó, có 618 cặp thoại tiếng Việt và 618 cặp thoại tiếng Anh Chúng được sắp xếp tiếng Việt trước, tiếng Anh sau theo số thứ tự từ 1 đến 1.236
Để tiện việc tra cứu, đối chiếu các ví dụ được ghi trong luận án với cứ liệu trong quyển Phụ lục, chúng tôi xin đưa ra quy ước tra cứu phụ lục như sau:
- (PL-1) là cặp thoại số 1 trong Quyển Phụ lục
- (PL-105) là cặp thoại số 105 trong Quyển Phụ lục
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Một số thông tin về tác giả Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks 2
2.1 Tác giả Hồ Anh Thái 2
2.2 Tác giả Nicholas Sparks 4
2.3 Nội dung và các nhân vật hội thoại trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.1 Mục đích nghiên cứu 7
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 7
5.1 Phương pháp miêu tả 7
5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn 8
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu 8
5.4 Thủ pháp thống kê 8
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 8
7 Bố cục của luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh 10
1.1.1 Những hướng nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp 10
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về dấu hiệu nhận diện 10
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về mục đích sử dụng 12
1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về ngữ nghĩa 14
Trang 81.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trên
thế giới và ở Việt Nam 15
1.1.2.1 Trên thế giới 15
1.1.2.2 Ở Việt Nam 18
1.2 Cơ sở lý thuyết 23
1.2.1 Hội thoại 23
1.2.1.1 Định nghĩa hội thoại 23
1.2.1.2 Cấu trúc hội thoại 24
1.2.1.3 Các nhân tố chi phối hội thoại 27
1.2.1.4 Sự vận động trao – đáp 29
1.2.2 Các quy tắc hội thoại 32
1.2.2.1 Quy tắc luân phiên lượt lời 32
1.2.2.2 Quy tắc lịch sự 32
1.2.2.3 Quy tắc cộng tác 35
1.2.2.4 Quy tắc quan yếu 36
1.2.3 Hành động ngôn từ 38
1.2.3.1 Định nghĩa hành động ngôn từ 38
1.2.3.2 Các loại hành động ngôn từ 38
1.2.4 Nghĩa tường minh và hàm ý 46
1.2.4.1 Nghĩa tường minh 49
1.2.4.2 Hàm ý 49
1.3 Tiểu kết 54
CHƯƠNG 2: SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP VÀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐÁP TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 2.1 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét cặp thoại chứa hành động hỏi trực tiếp và những hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 57
2.1.1 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi trực tiếp trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 58
2.1.1.1 Nhóm tham thoại chứa hành động hỏi tìm thông tin 59
2.1.1.2 Nhóm tham thoại chứa hành động hỏi đúng – sai 63
Trang 92.1.2 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 70
2.1.2.1 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi 71 2.1.2.2 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi 81 2.1.2.3 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi 93 2.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của cặp thoại chứa hành động hỏi trực tiếp và những hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 109 2.2.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi trực tiếp 109
2.2.1.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của nhóm tham thoại chứa hành động hỏi tìm thông tin 109 2.2.1.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của nhóm tham thoại chứa hành động hỏi đúng – sai 111 2.2.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng 113
2.2.2.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi trực tiếp 113 2.2.2.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi trực tiếp 116 2.2.2.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi trực tiếp 119 2.3 Tiểu kết 122
CHƯƠNG 3: SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP VÀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐÁP TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
3.1 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét cặp thoại chứa hành động hỏi gián tiếp và những hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 126 3.1.1 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi gián tiếp trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 126
Trang 103.1.1.1 Nhóm tham thoại chứa hành động hỏi để cảm thán 127
3.1.1.2 Nhóm tham thoại chứa hành động hỏi để cầu khiến 132
3.1.2 Thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 136
3.1.2.1 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi gián tiếp 137
3.1.2.2 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi gián tiếp 151
3.1.2.3 Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi gián tiếp 162
3.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của cặp thoại chứa hành động hỏi gián tiếp và những hành động đáp tương ứng trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh 175
3.2.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi gián tiếp 175
3.2.1.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của nhóm tham thoại chứa hành động hỏi để cảm thán 175
3.2.1.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của nhóm tham thoại chứa hành động hỏi để cầu khiến 177
3.2.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng 178
3.2.2.1 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi gián tiếp 178
3.2.2.2 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi gián tiếp 181
3.2.2.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi gián tiếp 184
3.3 Tiểu kết 187
KẾT LUẬN: 190
Tài liệu tham khảo 194
Nguồn cứ liệu 205
Danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án 207 PHỤ LỤC LUẬN ÁN
Trang 11CÁC DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Cặp thoại được ưa thích và không được ưa thích 25
Bảng 2: Một số điều kiện sử dụng hành động ngôn từ 47
Bảng 3: Một số điều kiện sử dụng hành động hỏi trực tiếp 48
Bảng 4: Cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp 57
Bảng 5: Cặp thoại chứa hành động hỏi trực tiếp 57
Bảng 6: Các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi trực tiếp 58
Bảng 7: Các nhóm hành động hỏi tìm thông tin 59
Bảng 8: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi tìm thông tin 61
Bảng 9: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi tìm thông tin 62
Bảng 10: Các nhóm hành động hỏi đúng – sai 66
Bảng 11: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi đúng – sai 67
Bảng 12: Mục đích của các hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi đúng – sai 68
Bảng 13: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng 70
Bảng 14: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi trực tiếp71 Bảng 15: Các nhóm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi tìm thông tin 72
Bảng 16: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi tìm thông tin 73
Bảng 17: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi tìm thông tin 74
Bảng 18: Các nhóm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi đúng – sai 76
Bảng 19: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi đúng – sai 77
Bảng 20: Mục đích của nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi đúng – sai 78
Bảng 21: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi trực tiếp 81
Bảng 22: Các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi đúng – sai 82
Bảng 23: Mục đích của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi đúng – sai 83
Trang 12Bảng 24: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi đúng – sai 84 Bảng 25: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi đúng – sai 85 Bảng 26: Mục đích của các hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi đúng – sai 86 Bảng 27: Các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi tìm thông tin 88 Bảng 28: Mục đích của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi tìm thông tin 89 Bảng 29: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi tìm thông tin 90 Bảng 30: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi tìm thông tin 90 Bảng 31: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi tìm thông tin 91 Bảng 32: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi trực tiếp 93 Bảng 33: Các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi tìm thông tin 94 Bảng 34: Mục đích của các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi tìm thông tin 96 Bảng 35: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các hành động đáp lệch hành động hỏi tìm thông tin 97 Bảng 36: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi tìm thông tin 97 Bảng 37: Mục đích của các hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi tìm thông tin 98 Bảng 38: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi đúng – sai 102 Bảng 39: Mục đích của các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi đúng – sai 103 Bảng 40: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các hành động đáp lệch hành động hỏi đúng – sai 104 Bảng 41: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi đúng – sai 105
Trang 13Bảng 42: Mục đích của các hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành
động hỏi đúng – sai 106
Bảng 43: Những điểm tương đồng và dị biệt của cặp thoại chứa hành động hỏi trực tiếp và những hành động đáp tương ứng 124
Bảng 44: Cặp thoại chứa hành động hỏi gián tiếp 126
Bảng 45: Các nhóm tham thoại chứa hành động hỏi gián tiếp 127
Bảng 46: Các nhóm hành động hỏi để cảm thán 127
Bảng 47: Mục đích của các nhóm hành động hỏi để cảm thán 128
Bảng 48: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi để cảm thán 129
Bảng 49: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi để cảm thán 130
Bảng 50: Các nhóm hành động hỏi để cầu khiến 132
Bảng 51: Mục đích của các nhóm hành động hỏi để cầu khiến 133
Bảng 52: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi để cầu khiến 134
Bảng 53: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động hỏi để cầu khiến 135
Bảng 54: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp tương ứng 137
Bảng 55: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp lệch hành động hỏi gián tiếp 138
Bảng 56: Các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cảm thán 139
Bảng 57: Mục đích của các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cảm thán 140
Bảng 58: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cảm thán 141
Bảng 59: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi để cảm thán 141
Bảng 60: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi để cảm thán 142
Bảng 61: Các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cầu khiến 146
Bảng 62: Mục đích của nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cầu khiến 147
Bảng 63: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các nhóm hành động đáp lệch hành động hỏi để cầu khiến 147
Trang 14Bảng 64: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi để cầu khiến 148 Bảng 65: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp lệch hành động hỏi để cầu khiến 149 Bảng 66: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp thẳng vào hành động hỏi gián tiếp 152 Bảng 67: Các nhóm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để cầu khiến 152 Bảng 68: Mục đích của nhóm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để cầu khiến153 Bảng 69: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để cầu khiến 154 Bảng 70: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để cầu khiến 155 Bảng 71: Các nhóm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để trần thuật 158 Bảng 72: Mục đích của các hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để trần thuật 159 Bảng 73: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để trần thuật 159 Bảng 74: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp thẳng vào hành động hỏi để trần thuật 160 Bảng 75: Các nhóm tham thoại chứa hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi gián tiếp 163 Bảng 76: Các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cảm thán 164 Bảng 77: Mục đích của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cảm thán 165 Bảng 78: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cảm thán 166 Bảng 79: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cảm thán 166 Bảng 80: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cảm thán 167 Bảng 81: Các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cầu khiến 170
Trang 15Bảng 82: Mục đích của các nhóm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cầu khiến 171 Bảng 83: Tần suất vi phạm các phương châm hội thoại của các hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cầu khiến 171 Bảng 84: Các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cầu khiến 172 Bảng 85: Mục đích của các nhóm hành động phụ thuộc đi kèm hành động đáp vòng vo vào hành động hỏi để cầu khiến 172 Bảng 86: Những điểm tương đồng và dị biệt của cặp thoại chứa hành động hỏi gián tiếp và những hành động đáp tương ứng 189
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, để xã hội tồn tại, vận động và phát triển, con người cần phải giao tiếp với nhau Khi giao tiếp, con người đã dùng nhiều cách thức, phương tiện giao tiếp khác nhau như: ngôn ngữ, âm thanh, ánh sáng, ký hiệu, tín hiệu, các hành vi, cử chỉ, thái độ… Trong đó, giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ là một hoạt động diễn
ra hằng ngày của con người Hoạt động này là một quá trình chuyển giao và tiếp nhận thông tin giữa ít nhất hai người với nhau
“Chính nhờ hoạt động giao tiếp này mà con người có thể hiểu nhau hơn trong quá trình sinh hoạt và lao động Nhờ nó mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, ý định và nguyện vọng của mình Vì có hiểu nhau thì con người mới có thể đồng tâm, hiệp lực cộng tác sản xuất, chinh phục thiên nhiên và làm cho xã hội ngày càng phát triển” (Nguyễn
Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, 2008, tr 17-18)
Trong các cuộc giao tiếp hằng ngày, con người đã sử dụng các cặp thoại chứa
HĐ hỏi – đáp để trao đổi thông tin cho nhau Chúng ta có thể bắt gặp các cặp thoại này trong hầu hết các cuộc thoại Khi người nói (SP1) đưa ra tham thoại hỏi thì buộc người nghe (SP2) phải đưa ra tham thoại đáp tương ứng Ngược lại, tham thoại đáp của SP2 không thể tự nhiên xuất hiện nếu không có tham thoại hỏi do SP1 đưa ra trước đó Ngoài ra, vì sự năng động của môi trường giao tiếp, sự chi phối luân phiên của ngữ cảnh, cũng như bị phụ thuộc vào ý đồ của các nhân vật hội thoại mà các cặp thoại chứa
HĐ hỏi – đáp có thể được sử dụng với những mục đích trực tiếp hoặc gián tiếp Trong
đó, các tham thoại chứa HĐ hỏi có thể được dùng để thể hiện các mục đích trực tiếp như: tìm kiếm thông tin, yêu cầu khẳng định/phủ định thông tin…, hay để thực hiện những mục đích gián tiếp khác như: hỏi để trần thuật, để cầu khiến, hay để cảm thán Tương tự, những tham thoại chứa HĐ đáp có thể được dùng để thể hiện những mục đích trực tiếp như: cung cấp thông tin, xác nhận, bác bỏ thông tin…, hay mang những mục đích gián tiếp như: trần thuật, hỏi, cầu khiến hay cảm thán
Bên cạnh đó, khi cuộc thoại diễn ra, các nhân vật hội thoại thường chịu ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau qua lực tại ngôn và lực xuyên ngôn để tạo nên những
Trang 17phản ứng bằng lời nói, bằng HĐ từ đó dẫn đến việc thay đổi hành vi, tình cảm, thái độ, trạng thái tâm lý… của nhau Chính vì thế, để đạt được mục đích giao tiếp, các nhân vật hội thoại phải cân nhắc đến việc sử dụng các HĐ hỏi – đáp thích hợp mới đạt được mục đích giao tiếp của mình Do đó, việc đi sâu nghiên cứu cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh là điều đáng được quan tâm, nghiên cứu Ngôn ngữ được hình thành, phát triển và đồng hành cùng với xã hội Chính vì thế, những thay đổi của xã hội về các mặt như: văn hóa, kinh tế, chính trị, đối ngoại…,
đã tạo nên nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn sáng tác, phản ánh một cách khoa học, sâu sắc những khía cạnh tích cực, tiêu cực, cái tốt, cái đẹp, cái xấu… của xã hội trong các tiểu thuyết của mình Trong số đó, nhà văn Hồ Anh Thái (Việt Nam) và Nicholas Sparks (Mỹ) là hai nhà văn được chúng tôi đặc biệt chú ý đến Sau khi nghiên cứu một
số tiểu thuyết, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của hai tác giả này, chúng tôi nhận thấy hai tác giả có những điểm tương đồng như sau:
- Hai tác giả này có thể coi là cùng thời với nhau vì Hồ Anh Thái sinh năm 1960 còn Nicholas Sparks sinh năm 1965 Cho nên sự nhận thức của họ về những thay đổi trong xã hội, chịu sự tác động của xã hội có thể nói là khá tương đồng nhau
- Cả hai đều là những cây bút tiêu biểu trên văn đàn tiểu thuyết đương đại, đã chiếm được chỗ đứng trong lòng độc giả trong và ngoài nước Các tiểu thuyết của họ được độc giả trong và ngoài nước khen ngợi, được dịch ra nhiều thứ tiếng, cũng như
đã được dựng thành phim
- Nội dung mà hai tác giả này đã khai thác chính là các vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người như: lối sống, sự xung đột về tình cảm, sự đấu tranh để mưu sinh,
để khẳng định bản thân, để hưởng thụ, hay để được yêu…
Với những lý do được nêu ở trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
cho luận án này là: Cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh (trên cứ liệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks)
2 Một số thông tin về tác giả Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks
2.1 Tác giả Hồ Anh Thái
Theo website của Nhà xuất bản Trẻ (2015), Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội, nguyên quán Nghệ An Sau khi học xong chương trình phổ
Trang 18thông, ông theo học đại học ngành Quan hệ Quốc tế Sau đó, ông viết báo, làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ và một số nước ở châu Á như Ấn Độ, Iran, Indonesia Ông là Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran (2011 – 2015) và là Tham tán công sứ, Phó Đại sứ Việt Nam tại Indonesia (2016 – 2018) Bên cạnh đó, ông là một nhà nghiên cứu về Ấn Độ, giảng viên thỉnh giảng Đại học Washington và một số đại học nước ngoài Ông cũng đã lấy bằng tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông
Theo Ybook (2015), với ba tiểu thuyết đầu tay Người và xe chạy dưới ánh trăng (1986), Người đàn bà trên đảo (1988), Trong sương hồng hiện ra (1990), Hồ
Anh Thái đã nổi lên như một hiện tượng, với giọng văn trẻ trung, tươi mới, về đời sống của các thanh niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống… Ông được xem như một hiện tượng văn chương của thế hệ văn nhân sau 1975 Tính đến 2015, ông đã xuất bản được 16 tiểu thuyết Những tiểu thuyết của ông thường mang tính triết luận, bao quát số phận của người Việt và đất nước thời hiện đại Ông là nhà văn có phát kiến về ngôn ngữ, tạo cho tiếng Việt thêm màu sắc,
đa nghĩa và khả năng biểu đạt thêm phong phú Các tiểu thuyết của ông được phát hành với số lượng lớn và đã được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ như: Anh, Pháp, Thụy Điển Ông được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội hai nhiệm kỳ (2000 – 2005 và
2005 – 2010), Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (2005 – 2010) và đã nhận được những giải thưởng về văn chương như:
- Giải thưởng truyện ngắn 1983 – 1984 của báo Văn nghệ (truyện Chàng trai ở bến đợi xe)
- Giải thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng)
- Giải thưởng văn học 1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tập truyện ngắn Người đứng một chân)
- Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 (tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột)
- Giải Sách Hay của Hội Xuất bản Việt Nam 2015 (tiểu thuyết Những đứa con rải rác trên đường)
- Giải Sách hay của Viện IRED và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh 2016 (tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế)
Trang 192.2 Tác giả Nicholas Sparks
Với người phương tây thì thông tin cá nhân được xem là vấn đề riêng tư nên các phương tiện truyền thông không được phép tiết lộ thông tin cá nhân của họ, còn bản thân họ thì càng không muốn để lộ thông tin đó cho người khác xem Chính vì thế, với tác giả Nicholas Sparks, chúng tôi không thể tìm thấy thông tin cá nhân của ông trên các kênh truyền thông đại chúng chính thống mà chỉ tiếp cận được qua trang Web Wikipedia Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy không cần thiết phải miêu tả tất cả các chi tiết về thông tin cá nhân của tác giả Nicholas Spark nên chúng tôi xin phép lược dịch một số thông tin của tác giả, theo chúng tôi là có liên quan đến luận án Vì nguyên bản tiếng Anh khá dài, gần 2 trang nên chúng tôi xin phép không trích dẫn trong luận án này
Nicholas Charles Sparks sinh ngày 31 tháng 12 năm 1965 tại thành phố Omaha, bang Nebraska, Mỹ Sau khi học xong chương trình phổ thông, ông theo học ngành Quản trị Tài chính tại Đại học Notre Dame Khi còn học đại học, ông đã ra mắt tiểu
thuyết đầu tiên The Passing (1985) Sau khi tốt nghiệp đại học (1988), ông đã tìm việc
ở một nhà xuất bản, cũng như ở trường Luật nhưng không được chấp nhận Sau đó ông
đã thử qua các nghề khác như: đầu tư bất động sản, bán các sản phẩm nha khoa và kinh doanh nhưng cũng không thành công
Năm 1990, ông viết chung với Billy Mills Wokini cuốn tiểu thuyết A Lakota Journey to Happiness and Self-Understanding và đã bán được 50,000 bản trong năm đầu tiên Năm 1994, ông bắt tay vào viết quyển The Notebook trong thời gian phụ việc
tại một quầy thuốc ở Washington, D.C Hai năm sau, ông cho xuất bản và chiếm được
vị trí best seller trên tuần báo New York Times ngay tuần ra mắt đầu tiên
Sau thành công đó, cứ cách một đến hai năm, ông lại cho xuất bản thêm một cuốn tiểu thuyết khác Đến năm 2020 thì ông đã có tổng cộng 19 cuốn tiểu thuyết
thuộc loại best seller Trong đó 11 cuốn đã được dựng thành phim Phim The Choice
có doanh thu thấp nhất là 23,4 triệu đô la và phim Message in a Bottle có doanh thu
cao nhất là 118,8 triệu đô la Điều này đã chứng minh sự thành công về tài viết văn của ông Các nội dung ông viết thường xoay quanh những vấn nạn về cuộc sống, về tình yêu nhưng cuối cùng lại có một kết thúc tốt đẹp
Trang 20Đã có rất nhiều lời bình, lời giới thiệu dành cho các tuyệt phẩm của Nicholas Spark Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu ba lời nhận xét của Trạm đọc, một trang Web giới thiệu về những tiểu thuyết của Nicholas Sparks như sau:
“Nicholas Sparks được xem là bậc thầy về tiểu thuyết lãng mạn của Mỹ Với những câu chuyện được kể một cách khéo léo, văn phong trau chuốt, tự nhiên và dễ đọc, những tiểu thuyết của ông dễ dàng “bỏ bùa” hàng triệu độc giả trên khắp thế giới Nếu bạn đã từng thổn thức khi đọc những dòng nhật kí của Noah trong “The notebook” (Nhật ký) hay chứng kiến câu chuyện tình cảm động trong “A walk to remember” (Đoạn đường để nhớ) thì đây là một cuốn sách mà bạn không nên bỏ qua Đây là một cuốn sách thiên về tình cảm phụ tử, xoáy sâu vào khán giả với những yếu tố tâm lí bình dị đời thường nhất Tình cảm cha con giống như một sợi dây vải, tuy mong manh nhưng khi đứt vẫn có thể nối liền lại được Chính niềm tin, sự tha thứ, tình cảm gia đình là những thông điệp mà Nicholas đã truyền tải được đến cho bạn đọc của mình qua tiểu thuyết này Bạn
có tin vào định mệnh trong tình yêu không? “The lucky one” (kẻ may mắn) kể về câu chuyện tình yêu mãnh liệt của một người lính dành cho cô gái xuất hiện trong tấm ảnh mà anh chưa hề biết tới, một mối duyên kì lạ trong không gian đầy chất thơ và mơ mộng của New Orleans, bang Louisiana.”
2.3 Nội dung và các nhân vật hội thoại trong các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks
Những cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong các tiểu thuyết của hai nhà văn vừa nêu trên thường xoay quanh các chủ đề hội thoại như: (1) sự xung đột giữa các cặp vợ chồng dẫn đến ly thân và việc tìm kiếm các mối quan hệ tình cảm khác, (2) nhớ lại cuộc sống thời quá khứ còn khó khăn, lúc còn chiến tranh, sau chiến tranh, (3) hành trình đi tìm một nửa trái tim, (4) hành trình mưu sinh, (5) sự xung đột giữa các mối quan hệ tình – tiền – mưu sinh của lớp thanh niên trẻ mới ra đời, cũng như của những người đã có địa vị trong xã hội, (6) các cuộc giao tiếp, tán gẫu trao đổi với nhau hằng ngày
Các nhân vật hội thoại bao gồm các tầng lớp như: cán bộ ngoại giao (Khuynh) cán bộ Sở giao thông (Đô), giảng viên đại học (Yến), cô giáo (Beth), giám đốc (anh Chín, chú Đông, anh Hòa), cảnh sát (Clayton), cựu lính thủy đánh bộ (Thibault), bác
sỹ phẫu thuật (Paul), bác sỹ thú y (Travis), nữ y tá (Gabby), mục sư (Hegbert), sinh
Trang 21viên (Chi, Minh, Toàn, Tường, Blaze, Brian, Jamie, Landon, Megan, Ronnie, Sophia ), dân thường, công nhân (Bảo, Luyến, Nụ, Phức, Thắm, Adrienne, Kim, Luke, Steve), hưu trí (Bà ngoại Tân, ông Quản, Nana) trẻ vị thành niên (Tân, Trinh, Ben, Jonah, Ronnie)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này gồm 1.236 cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh trong 13 tiểu thuyết của Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks Trong đó, chúng tôi chọn 618 cặp thoại trong trong 7 tiểu thuyết Hồ Anh Thái và 618 cặp thoại trong 6 tiểu thuyết của Nicholas Sparks Lý do chọn con số
618 cặp thoại để so sánh – đối chiếu là tổng số các cặp thoại trong 7 tiểu thuyết của Hồ Anh Thái gồm 618 cặp còn tổng số các cặp thoại trong 6 tiểu thuyết của Nicholas Sparks gồm 822 cặp Chính vì thế, để có sự tương đồng về số lượng, chúng tôi chọn
618 cặp thoại của mỗi tác giả để làm cứ liệu cho luận án Với 822 cặp thoại trong các tiểu thuyết của Nicholas Sparks, chúng tôi lấy ngữ liệu từ Quyển 1 đến Quyển 6 cho đến khi đạt 618 cặp thì chúng tôi dừng lại Xem quyển Phụ lục đính kèm
Những tham thoại chứa HĐ hỏi được chúng tôi khảo sát trong luận án này bao gồm những tham thoại chứa HĐ hỏi trực tiếp và gián tiếp Cụ thể hơn, những tham thoại chứa HĐ hỏi trực tiếp là những tham thoại có hình thức là tham thoại hỏi và mục đích của nó được dùng để hỏi; còn những tham thoại chứa HĐ hỏi gián tiếp là những tham thoại có hình thức là tham thoại hỏi nhưng mục đích của nó được dùng để thực hiện các HĐ khác như cảm thán, cầu khiến, hay trần thuật…
Bên cạnh đó, những tham thoại chứa HĐ đáp tương ứng có thể là những tham thoại mang mục đích đáp thẳng vào HĐ hỏi, đáp vòng vo vào HĐ hỏi, hay đáp lệch
HĐ hỏi
Ngoài ra, để thể hiện tính khách quan khi đối chiếu về mặt ý nghĩa của các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp của Nicholas Sparks, chúng tôi có sử dụng các bản dịch của Nhà xuất bản Văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ để minh họa cho phần ý nghĩa tiếng Việt Tất cả những ví dụ mà chúng tôi trích dẫn trong luận án cũng đã được cân nhắc, chọn lọc để giữa bản gốc và bản dịch có sự tương thích ở mức độ cao nhất về ý nghĩa
Trang 223.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính là mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH trong các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp (trên cứ liệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án này chính là đi tìm những điểm tương đồng và dị biệt về mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH trong các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp (trên cứ liệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks) để đóng góp cho lý thuyết hội thoại, dịch thuật, giảng dạy giao tiếp, biên soạn từ điển hay làm tiền đề cho những nghiên cứu liên quan đến HĐ hỏi – đáp sau này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện các nhiệm
- Miêu tả, phân tích, nhận xét, so sánh – đối chiếu các nhóm tham thoại chứa
HĐ hỏi – đáp để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH của các nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi – đáp
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các nhóm HĐ hỏi – đáp, mục đích
sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH của các nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi – đáp để phục vụ cho bước tiếp theo là phân tích diễn ngôn
Trang 235.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để làm rõ (1) mục đích, ý định của các nhân vật hội thoại được thể hiện qua các HĐ hỏi – đáp, (2) vai trò và mối liên hệ giữa HĐPT và HĐCH, (3) ý nghĩa của những HĐ hỏi – đáp này
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Đây là phương pháp chủ đạo được chúng tôi sử dụng để so sánh – đối chiếu những đặc điểm về mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH trong các tham thoại chứa HĐ hỏi – đáp, giữa HĐ hỏi và HĐ đáp trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh để từ đó tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa chúng
Dựa theo các phương pháp đối chiếu do Bùi Mạnh Hùng (2008, tr 160) đưa ra, Phương pháp so sánh – đối chiếu mà chúng tôi sử dụng trong luận án này là phương pháp so sánh – đối chiếu hai chiều Phương pháp này được dùng để sánh hai đối tượng
A và B trên một cơ sở đối chiếu nhất định Cụ thể hơn, đối tượng A trong luận án này
là các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trên cứ liệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái (Tiếng Việt)
và đối tượng B chính là các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trên cứ liệu tiểu thuyết Nicholas Sparks (Tiếng Anh) Cơ sở đối chiếu chính là mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH của những cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp này
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả của luận án này có thể đóng góp cho lý thuyết hội thoại, lý thuyết HĐ ngôn từ qua những điểm tương đồng và dị biệt về mục đích sử dụng, ý nghĩa, mối quan hệ giữa các HĐPT và HĐCH trong các cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh
Ngoài ra, kết quả này có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho phần phân tích diễn ngôn các cặp thoại trong các tiểu thuyết, trong chương trình đào tạo cao
Trang 24học và nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành ngôn ngữ; hay được dùng để phục vụ cho việc biên soạn giáo trình, từ điển, giảng dạy giao tiếp
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án này được
phân thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Nội dung của
chương này tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trên thế giới và tại Việt Nam, hệ thống lại lý thuyết hội thoại, các quy tắc hội thoại có liên quan đến luận án
Chương 2: So sánh – đối chiếu cặp thoại chứa hành động hỏi trực tiếp và những hành động đáp tương ứng trong tiếng Việt và tiếng Anh Ở chương này,
chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích, nhận xét, so sánh – đối chiếu 2 nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi trực tiếp và những HĐ đáp tương ứng trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng
Chương 3: So sánh – đối chiếu cặp thoại chứa hành động hỏi gián tiếp và những hành động đáp tương ứng trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này,
chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích, nhận xét, so sánh đối chiếu 2 nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi gián tiếp trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng
Trang 25CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh
1.1.1 Những hướng nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp
Từ trước đến nay, đã có nhiều hướng nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa
HĐ hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong khuôn khổ liên quan đến luận án này, chúng tôi xin giới thiệu ba hướng nghiên cứu sau: Hướng nghiên cứu về dấu hiệu nhận diện, Hướng nghiên cứu về mục đích sử dụng và Hướng nghiên cứu về ngữ
nghĩa
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về dấu hiệu nhận diện
a Trong tiếng Anh
Các tham thoại hỏi – đáp trong tiếng Anh xét theo dấu hiệu nhận diện được Azar (2009, tr 442-449) chia thành 5 loại như sau:
(1) Tham thoại hỏi có vấn từ/ngữ hay đại từ nghi vấn (what, how, who…)
(2) Tham thoại hỏi có trợ động từ đứng đầu (do, does, is, are, have, has…) (3) Tham thoại hỏi có ngữ điệu nghi vấn (ngữ điệu lên giọng cuối tham thoại)
(4) Tham thoại hỏi có HĐ hỏi láy1 (do you, does she, is it, are we…)
(5) Tham thoại hỏi có quan hệ từ lựa chọn (or, “,”)
Những loại tham thoại trên có các dấu hiệu nhận diện như: (1) có vấn từ/ngữ hay đại từ nghi vấn đứng đầu tham thoại, (2) có trợ động từ đứng đầu tham thoại, (3)
có ngữ điệu lên giọng cuối tham thoại, (4) có HĐ hỏi láy đứng cuối tham thoại và (5)
có quan hệ từ lựa chọn “or” hoặc (,) dấu phẩy dùng để liên kết hai vế lựa chọn
Trong khi đó, các tham thoại đáp cho (1) có thể là một tham thoại hoàn chỉnh, cho (2, 3, 4) có thể là một tham thoại tỉnh lược và cho (5) có thể là một vế trả lời đã có sẵn trong (5)
Trang 26Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm thấy một số công trình nghiên cứu khác có liên
quan đến dấu hiệu nhận diện của cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp khác như: English grammar in use (Murphy, 1989), Oxford guide to English grammar (Eastwood, 1994), TOEFL preparation guide (Pyle & Munnoz, 1994), A practical English grammar (Thomson & Martinet, 1996), English grammar practice (Alexander, 1998), Essential grammar in use (Murphy, 2009), Fundamentals of academic writing (Butler, 2007), Oxford practice grammar (Eastwood, 2013), Oxford practice guide (Coe, Harrison, & Paterson, 2015), Effective academic writing (Savage, 2016), Oxford practice grammar
(Yule, 2017)
b Trong tiếng Việt
Dựa vào các dấu hiệu nhận diện là các vấn từ/ngữ, đại từ nghi vấn, phụ từ nghi vấn, quan hệ từ lựa chọn, hay TTTT mà tác giả Diệp Quang Ban (2015, tr 226-233) đã chia các tham thoại hỏi thành 5 nhóm như sau:
(1) Tham thoại hỏi có vấn ngữ, đại từ nghi vấn (ai, nào, thế nào, bao nhiêu ) (2) Tham thoại hỏi có cặp phụ từ nghi vấn (có không, đã chưa )
(3) Tham thoại hỏi có ngữ điệu nghi vấn (ngữ điệu lên giọng cuối tham thoại) (4) Tham thoại hỏi có các TTTT (à, ư, ạ, nhỉ, nhé, hả, hở, chứ )
(5) Tham thoại hỏi có quan hệ từ lựa chọn (hay, hoặc)
Dấu hiệu nhận diện của (1) chính là các vấn từ/ngữ, đại từ nghi vấn, của (2) là các cặp phụ từ nghi vấn, của (3) là ngữ điệu lên giọng cuối tham thoại, của (4) là các TTTT và của (5) là các quan hệ từ lựa chọn
Khác với các tham thoại hỏi, các tham thoại đáp không có dấu hiệu nhận diện
cụ thể Do bị ràng buộc bởi HĐ hỏi, ngữ cảnh, cũng như ý định của SP2 mà các tham thoại đáp cho (1) có thể là một tham thoại hoàn chỉnh, cho (2, 3, 4) có thể là một tham thoại tỉnh lược và cho (5) có thể là một vế trả lời đã có sẵn trong (5)
Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu có liên quan đến dấu
hiệu nhận diện của cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong tiếng Việt như: Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt (tập 1) của Nguyễn Kim Thản năm 1963 và (tập 2) năm 1964, Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê (1963), Ngữ pháp tiếng Việt của Lê Cận & Phan Thiều (1983), Ngữ pháp tiếng Việt của Đỗ Thị
Trang 27Kim Liên (1999b), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ của Lê Quang Thiêm (2004), Câu tiếng Việt của Nguyễn Thị Lương (2016)
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về mục đích sử dụng
a Trong tiếng Anh
Một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu mục đích sử dụng
của các tham thoại chứa HĐ hỏi – đáp chính là Strawson (1952) với cuốn Introduction
to logical theory Tuy nhiên, tác giả được nhiều người chú ý nhất chính là nhà ngôn
ngữ học người Anh, John Langshaw Austin Ông là người đã đưa ra lý thuyết về HĐ
ngôn từ trong cuốn Làm thế nào để thực hiện một HĐ bằng lời (How to do things with words) Trong đó, ông nhấn mạnh rằng: Khi chúng ta nói là chúng ta thực hiện một
HĐ tạo ngôn (When we perform a locutionary act, we make speech) (Austin, 1962, tr
99) Ngoài ra, ông cũng là người đầu tiên đưa ra 3 khái niệm về HĐ ngôn từ như: HĐ tạo ngôn (Locutionary acts), HĐ tại ngôn (Illocutionary acts) và HĐ xuyên ngôn (Perlocutionary acts) Dựa vào ba loại HĐ ngôn từ này mà các nhà ngôn ngữ học sau ông đã kế thừa và phát triển chúng lên một tầm cao mới
Tác giả John Searle (1969) với công trình Speech acts đã đưa ra các điều kiện
để thực hiện các loại HĐ nói cũng như cấu trúc của HĐ tại ngôn Tác giả Paul Grice
(1975) đã làm rõ khái niệm Nội dung mệnh đề (Proposition), Hàm ý (Implicature), Quy tắc cộng tác hội thoại (Cooperative principles) trong công trình Logic and conversation Bên cạnh đó, với công trình Relevance: Communication and cognition, hai tác giả Dan Sperber and Deirdre Wilson (1996) đã đưa ra Quy tắc quan yếu (Relevance principles) để giải thích làm thế nào mà người nghe có thể rút ra được
nghĩa tường minh hay hàm ý qua các tham thoại của người nói
Thêm vào đó, qua giáo trình Pragmatics, tác giả George Yule (1998) đã chỉ ra mối liên hệ giữa Sự quan yếu (Relevance) và Suy ý (Inference), Tiền giả định (Presupposition) và Câu kéo theo (Entailment), cũng như các phạm trù khác như: Điều kiện hữu hiệu (Felicity conditions) và Cặp thoại được ưa thích (Preference structure)
Ngoài ra, cũng cần phải kể đến những công trình của các tác giả khác có đóng
góp cho việc nghiên cứu theo hướng mục đích sử dụng của cặp thoại như: Truth validation of explicit performatives (Houston, 1970), Principles of pragmatics (Leech,
Trang 281983), Pragmatics and natural language understanding (Green, 1989), English grammar: A function based introduction, (Givon, 1993), Approaches to discourse (Schiffrin, 1994), Meaning in interction: An introduction to pragmatics (Thomas, 1995) và Pragmatics (Peccei, 1999)
b Trong tiếng Việt
Tác giả đầu tiên nghiên cứu về mục đích sử dụng của tham thoại chính là Đỗ
Hữu Châu Ông đã xuất bản ba công trình nghiên cứu về Dụng học gồm: Đại cương ngôn ngữ học (1993), Giản yếu ngữ dụng học (2001), Cơ sở ngữ dụng học (2003), đặc biệt là 2 quyển Tuyển tập Đỗ Hữu Châu (2005) Các công trình của ông đã giới thiệu
một cách tổng quát về Lý thuyết HĐ ngôn từ, các Phát ngôn ngữ vi, Biểu thức ngữ vi, Động từ ngữ vi thêm vào đó, ông cũng đã hệ thống lại điều kiện sử dụng một số HĐ
ở lời
Tác giả Nguyễn Đức Dân trong cuốn Ngữ dụng học (1998) đã giới thiệu về HĐ
ngôn từ, các loại HĐ tại ngôn, Biểu thức ngữ vi, Nguyên lý cộng tác và Nguyên lý lịch sự Những lý thuyết này đều có những dẫn dụ, giải thích rõ ràng, cụ thể, mới mẻ, hấp dẫn đối với độc giả
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Dụng học Việt ngữ (2004)
cũng đưa ra một chương về Lý thuyết HĐ ngôn từ gồm các loại HĐ ngôn từ như: Tuyên bố, Biểu hiện, Cầu khiến, Hứa hẹn, Bày tỏ, HĐ ngôn từ trực tiếp và gián tiếp Tác giả đã phân biệt rõ ranh giới giữa Động từ trần thuật và Động từ ngôn hành
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên, trong Giáo trình ngữ dụng học (2005) đã phân biệt
giữa HĐ và HĐ ngôn từ, Lập luận trong hội thoại, Quy chiếu và Chỉ xuất trong hội thoại, Sự trao lời, Sự đáp lời và Sự tương tác hội thoại Những nội dung trên đã định hướng cho các tác giả nghiên cứu về hội thoại sau này, cũng như cho luận án này
Dựa vào Mục đích sử dụng, tác giả Cao Xuân Hạo và nhóm cộng sự (2007, tr 123-133) đã chia các tham thoại thành 4 nhóm: Tham thoại hỏi, Tham thoại trần thuật, Tham thoại cầu khiến và Tham thoại cảm thán Theo đó:
(1) Tham thoại hỏi là tham thoại có HĐ tại ngôn yêu cầu SP2 đưa ra một HĐ thông báo về một sự tình hay một phần sự tình được tiền giả định là hiện thực
Trang 29(2) Tham thoại trần thuật là tham thoại có HĐ tại ngôn mang tính chất nhận định, trình bày
(3) Tham thoại cầu khiến là tham thoại có HĐ tại ngôn yêu cầu SP2 thực hiện một HĐ
(4) Tham thoại cảm thán là tham thoại có HĐ tại ngôn bộc lộ cảm xúc, tình cảm của SP1
Bên cạnh đó, còn có một số công trình khoa học khác có đề cập đến mục đích
sử dụng của các tham thoại như: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa (Cao Xuân Hạo, 1998), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ (Lê Quang Thiêm, 2004), Câu trong cứ liệu tiếng Việt (Cao Xuân Hạo, 2007), Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt (Bùi Minh Toán, 2012) và Câu tiếng Việt (Nguyễn Thị Lương, 2016)
1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về ngữ nghĩa
a Trong tiếng Anh
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa, chúng tôi thấy có nhiều
công trình nghiên cứu như: Studies in linguistics semantics (1971) của Fillmore và
Langendoen Công trình này lần đầu tiên đề cập đến các vấn đề liên quan đến Tiền giả định (Presupposition), về Hàm ngôn quy ước (Conventional implicature) Tiếp đến,
Paul Grice với cuốn Syntax and semantics (1975) có nói đến Nghĩa tường minh (Explicature) Cuốn Semantics (1981) của Palmer cũng đã phân biệt rạch ròi các vấn
đề như: Sở chỉ (Reference), Đồng nghĩa (Synonym), Đa nghĩa (Polysemy), Đồng âm trái nghĩa (Homonym), Quan hệ kết hợp (Collocation)… Ngoài ra, còn phải kể đến các
công trình nghiên cứu liên quan đến nghĩa học như: Semantics (Palmer, 1981), Semantics - A course book (Hurford & Heasley, 1984; 2007), Studies in the way of words (Grice, 1989), Linguistics semantics (Lyons, 1996), Meaning in English (Jeffries, 1998), Semantics (Kearns, 2000), Understanding utterances (Blakemore,
2003)
b Trong tiếng Việt
Các nhà Việt ngữ học cũng đã đóng góp vào bình diện ngữ nghĩa với các vấn đề liên quan như: Nghĩa tường minh, Hàm ý, Trường từ vựng, Sở chỉ, Vật sở chỉ, Trực chỉ, Nghĩa sở thị, Nghĩa liên tưởng, các hiện tượng Đồng âm, Đồng nghĩa, Trái nghĩa,
Trang 30Mơ hồ về nghĩa, Logic, Câu đồng nghĩa… Những vấn đề này có thể tìm thấy trong các
công trình như: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa (Cao Xuân Hạo, 1998), Ngữ nghĩa lời hội thoại (Đỗ Thị Kim Liên, 1999a), Giáo trình ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp, 2004), Nhập môn ngôn ngữ học (Mai Ngọc Chừ et al., 2013), English semantics (Tô Minh Thanh, 2011) …
Các hướng nghiên cứu được liệt kê ở trên đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp Những thông tin này đã giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể về tình hình nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp cũng như đưa ra định hướng nghiên cứu cho luận án này
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Trên thế giới
a Những nghiên cứu liên quan đến tham thoại chứa hành động hỏi
Đi sâu tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong tiếng Anh trên thế giới, chúng tôi tìm được những bài nghiên cứu sau:
Hai tác giả Gorjian, Naghizadeh & Shahramiri (2012) đã So sánh – đối chiếu cách thành lập câu hỏi giữa tiếng Anh – Mỹ và tiếng Iran Mục đích của bài nghiên
cứu này là so sánh – đối chiếu cấu trúc câu hỏi giữa hai ngôn ngữ để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa chúng Từ đó, các tác giả rút ra những giải pháp thích hợp cho việc dạy và học về câu hỏi Kết quả thu được như sau:
- Cả hai ngôn ngữ đều có dạng Câu hỏi láy
- Mục đích sử dụng của ba loại câu hỏi này giữa hai ngôn ngữ đều giống nhau
Trang 31Những điểm dị biệt:
- Trong tiếng Anh – Mỹ, khi đặt câu hỏi thì bắt buộc phải đưa trợ động từ
ra trước chủ từ và trợ động từ này phải được chia đúng thì của câu Tuy nhiên, đối với tiếng Iran, khi đặt câu hỏi thì không cần phải đưa thêm trợ động từ và cũng không cần chia thì cho câu
- Câu hỏi láy trong tiếng Anh – Mỹ được hình thành từ mệnh đề chính bằng cách lấy trợ động từ được chia trái thể với động từ ở mệnh đề chính rồi thêm vào cuối câu Trong khi đó, tiếng Iran lại sử dụng một số cụm
từ, không phải là trợ động từ và thêm vào cuối câu để thành lập câu hỏi láy
- Quy luật dùng trợ động từ trong câu hỏi láy trong cứ liệu tiếng Anh –
Mỹ không nhất quán và phức tạp
- Các vấn từ/ngữ đứng đầu câu hỏi trong tiếng Anh – Mỹ đảm nhận vai trò của chủ ngữ hay tân ngữ Tuy nhiên, các vấn từ/ngữ đứng đầu câu trong tiếng Iran lại không đảm nhận những vai trò này
- Loại câu hỏi tìm thông tin (WH-questions) trong tiếng Anh – Mỹ có ngữ điệu xuống giọng ở cuối câu, còn trong tiếng Iran thì có ngữ điệu xuống giọng ở cuối câu nhưng lại lên giọng ở các từ để hỏi
Youn & Meng (2015) đã nghiên cứu đề tài Bàn về cú pháp của câu hỏi WH đối với người nói tiếng Anh bản ngữ khi học tiếng Hoa như một ngôn ngữ thứ hai Mục
đích của hai tác giả là phân tích cấu trúc cú pháp của câu hỏi WH trong cứ liệu tiếng Anh và tiếng Hoa để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan về cấu trúc của câu hỏi WH giữa hai ngôn ngữ nhằm giúp những người nói tiếng Anh dễ dàng học được cấu trúc câu hỏi WH của tiếng Hoa Kết quả tìm được như sau:
Trang 32- Thứ nhất, phải thêm vào trợ động từ vào trước chủ từ
- Thứ hai, cần đảo vị trí của chủ từ và trợ động từ trong câu
- Thứ ba, cần dịch chuyển từ WH lên đầu câu
Trong khi đó, câu hỏi WH trong tiếng Hoa lại bỏ qua các bước này Từ WH trong tiếng Hoa có vị trí giống như vị trí của cấu trúc sâu (WH – in – situ) Chính vì vậy, câu hỏi WH trong tiếng Hoa có điểm tương đồng với câu hỏi lặp lại trong tiếng Anh
b Những nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp
Với mục đích tìm hiểu cách đặt câu hỏi và câu trả lời cũng như người nói đang
thực hiện HĐ gì qua câu hỏi, tác giả Tanya Stivers (2010) đã thực hiện đề tài Khái quát hệ thống câu hỏi – đáp trong tiếng Anh giao tiếp của người Mỹ Bài nghiên cứu
này đã khảo sát trên 350 câu hỏi gồm các loại như: (1) Câu hỏi khẳng định/phủ định (Polar questions), (2) Câu hỏi tìm thông tin (Variable questions) và (3) Câu hỏi chọn lựa (Alternative questions) Những câu hỏi này được ghi lại trong 17 cuộc giao tiếp từ hai tới năm người ở Nam California
Kết quả cho thấy:
- Để khẳng định điều gì đúng/sai: người ta đã sử dụng ba loại câu hỏi khác nhau: Câu hỏi đúng – sai, Câu hỏi láy và Câu hỏi có ngữ điệu lên giọng cuối câu
- Loại câu hỏi dùng ngữ điệu là loại câu hỏi được dùng nhiều nhất trong các cuộc thoại
- Trong khi một số nhà ngôn ngữ học cho rằng chức năng chủ yếu và quan trọng nhất của câu hỏi là tìm kiếm thông tin, thì kết quả nghiên cứu lại cho thấy rằng có nhiều câu hỏi được dùng để thực hiện một số HĐ khác như: Hỏi để xác định lại nội dung hay khẳng định chắc chắn một sự tình
- Câu đáp được dùng nhiều nhất là loại câu đáp thẳng vào HĐ hỏi Điều
này chứng tỏ các nhân vật giao tiếp có khuynh hướng cộng tác với nhau trong giao tiếp Nó giúp nhóm nghiên cứu hiểu sâu hơn mối quan hệ giữa việc đặt câu hỏi, HĐ hỏi và HĐ đáp
Trang 33Ngoài hai hướng nghiên cứu nêu trên, chúng tôi còn tìm thấy những bài nghiên
cứu khác như: Sử dụng câu hỏi để tìm kiếm thông tin và sự nhận thức về thảm họa thiên nhiên của cộng đồng cũng như cách giảm thiểu các mối nguy hiểm (Bird, 2009), Các loại câu hỏi thường gặp ở trẻ em (Grebenyova, 2006), So sánh – đối chiếu câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Serbia (Blagojević & Mišić, 2012), So sánh – đối chiếu
mô hình ngữ điệu câu hỏi lặp lại giữa tiếng Anh – Mỹ và tiếng Tây Ban Nha tại Cuba Romero (2013), So sánh – đối chiếu câu hỏi WH questions giữa tiếng Anh và tiếng Anh của người Nigeria (Mowarin & Oduaran, 2014)
1.1.2.2 Ở Việt Nam
a Những nghiên cứu liên quan đến tham thoại chứa hành động hỏi
Tác giả Văn Thị Nga (2009) đã thực hiện luận văn về So sánh – đối chiếu biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn trước 1945 và sau 1975 Đối tượng của đề tài này gồm 356 HĐ hỏi trực tiếp và gián tiếp qua lời thoại
của các nhân vật nữ trong một số truyện ngắn của các tác giả Việt Nam Ngoài việc xác lập căn cứ từ lời thoại, nội dung và hình thức, tác giả còn đưa ra hai tiêu chí để so sánh gồm:
- HĐ hỏi được thể hiện qua lời đối thoại trực tiếp của nhân vật nữ và các nhân vật khác trong tiểu thuyết
- HĐ hỏi được tái hiện trong suy nghĩ, hồi tưởng của các nhân vật này Những HĐ trên được khảo sát thông qua vai xã hội, cách dùng từ xưng hô hướng vào những thế mạnh ngôn ngữ của người phụ nữ như: sự nhẹ nhàng, tinh tế, khéo léo Bên cạnh đó, những vấn đề tế nhị, kín đáo cũng được đề cập đến như: mối quan hệ với nam giới, tình yêu đơn phương, sự ngoại tình…
Tác giả Đinh Thị Ngọc Ngà (2011) đã hoàn thành luận văn với đề tài Hành động hỏi và cầu khiến qua lời thoại nhân vật nam và nữ trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật Đối tượng của bài nghiên cứu này gồm 506 lời thoại của các nhân vật nam và nữ
Trong đó, lời thoại nam chiếm 363 lượt và lời thoại nữ có 143 lượt
Trang 34Kết quả cho thấy:
- Về chủ đề: Nam giới có sự quan tâm về những vấn đề như: tình yêu, hành trình đi tìm bản thân, hành trình đi tìm nguyên nhân cái chết, vấn
đề chiến tranh và lịch sử đất nước nhiều hơn nữ giới
- Về vị thế: Vị thế của nữ giới đã thay đổi nhiều trong xã hội hiện đại Họ quan tâm đến những vấn đề mới như: sex, báo chí, mua bán, tranh chấp tài sản… Bên cạnh đó, nhân vật nữ thường sử dụng lời thoại gắn liền với cuộc sống xã hội Xã hội càng hiện đại thì phụ nữ càng sử dụng nhiều ngôn ngữ trực tiếp để bộc lộ bản thân mình
- Về mục đích sử dụng HĐ hỏi: Các nhân vật nam thường sử dụng nhiều
HĐ hỏi trực tiếp hơn các nhân vật nữ
b Những nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa hành động hỏi – đáp
Với mục đích vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn để tìm ra những cái hay,
cái đẹp, cái tinh tế của các nhân vật nam – nữ, tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2015) đã chọn đề tài Diễn ngôn hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao – đối thoại, độc thoại và mạch lạc cho luận án của mình Đối tượng khảo sát trong bài nghiên cứu này gồm 437
cặp thoại thuộc 20 truyện ngắn của Nam Cao Chúng được phân theo 6 loại câu hỏi dựa trên lực tại ngôn do tác giả Cao Xuân Hạo đề ra để khảo sát
Kết quả chỉ ra rằng:
- Với các cặp thoại tương hợp: Sự mạch lạc được thể hiện một cách rõ ràng do chúng có chung một chủ đề, đề tài Nhân vật giao tiếp có sử dụng các yếu tố ngôn ngữ tường minh, các phương tiện liên kết để duy trì chủ đề theo nhiều hướng khác nhau làm tăng tính mạch lạc của cặp thoại
- Với các cặp hội thoại không tương hợp: Sự mạch lạc được xem xét trên nguyên tắc cộng tác và sự tương hợp giữa các HĐ ngôn từ Chúng được biểu hiện rất đa dạng và phong phú Điều này được thể hiện bằng việc người nói thường vi phạm các phương châm về chất, về lượng, về tính quan yếu và về cách thức dẫn đến người nghe không trả lời thẳng vào câu hỏi của người nói mà chuyển sang sử dụng những lối nói khác như:
Trang 35nói tránh, phủ định câu hỏi, hỏi ngược lại người nói… hoặc sử dụng các phương tiện liên kết bằng tiền giả định, hàm ý, cử chỉ, điệu bộ… những lối nói này đã tạo nên sự đa dạng, phong phú, muôn màu muôn vẻ của các cặp thoại
Để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa các hình thức thể hiện tính lịch sự và hiệu quả của câu hỏi giữa tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả Nguyễn Kim Loan
(2015) đã thực hiện luận án về Phép lịch sự và hiệu quả trong giao tiếp hàng không trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong đề tài này, tác giả đã chọn đối tượng nghiên cứu
là những câu hỏi được lấy từ bốn giáo trình tiếng Anh đang giảng dạy tại Học viện Hàng không Việt Nam Từ đó, tác giả chỉ ra những điểm nổi bật của câu hỏi chuyên biệt, câu tỉnh lược và những thuật ngữ chuyên ngành trong giao tiếp hàng không Đồng thời, tác giả đã so sánh – đối chiếu các loại câu hỏi và lời đáp giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt trên bình diện dụng học
Từ đó, tác giả rút ra một số kết luận sau:
- Về phương diện hình thức: Câu hỏi tiếng Việt đa dạng hơn do chúng có
sử dụng các tác tử nghi vấn như: à, ư, nhỉ, nhé, chứ, ạ
- Về cấu trúc: Cấu trúc nghi vấn của tiếng Việt và tiếng Anh có sự khác nhau Ít có sự tương ứng một đối một khi chuyển dịch câu hỏi từ tiếng Anh sang tiếng Việt do tiếng Việt có sự đa dạng và phong phú của các TTTT đứng cuối câu
- Về sắc thái ý nghĩa: Các từ ngữ xưng hô trong câu hỏi tiếng Việt có sắc thái biểu cảm và mức độ lịch sự đa dạng hơn trong mối quan hệ về tôn ti
và quan hệ thân tộc so với tiếng Anh
- Về các kiểu HĐ: Câu hỏi tiếng Việt và tiếng Anh có thể được thực hiện
bằng các HĐ ngôn từ khác nhau như: mời mọc, yêu cầu, đề nghị dưới
nhiều hình thức khác nhau để phát huy lực tại ngôn trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
- Về tính lịch sự: Tiếng Việt và tiếng Anh đều có phần mở đầu mang tính
lịch sự như: xin lỗi , xin vui lòng , excuse me , please Đây là phần
lịch sự cơ bản nhất, tạo tiền đề cho cuộc thoại tiến triển thuận lợi
Trang 36- Về cách cấu tạo: Câu hỏi trong tiếng Anh thường thêm trợ động từ vào trước chủ từ để thành lập câu hỏi Ngoài ra, còn phải chia động từ theo thì, thể cho phù hợp Trong tiếng Việt thì không giống như vậy mà
thường sử dụng các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, sao, bao giờ, bao lâu ở
cuối câu
Ngoài những tác giả trên, chúng tôi cũng tìm thấy một số tác giả khác đã chọn câu hỏi, cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp làm đối tượng nghiên cứu như:
(1) Giáo trình: Đặc điểm của câu hỏi tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt
(Nguyễn Đăng Sửu, 2010), Cấu trúc lựa chọn với nghĩa hàm ẩn trong giao tiếp mua bán (Mai Thị Kiều Phượng, 2008)
(2) Luận án: Câu hỏi tiếng Việt: Một số kiểu câu hỏi không dùng để hỏi (Trần
Thị Thìn, 1994), Ngữ nghĩa, ngữ dụng câu hỏi chính danh (Lê Đông, 1996), Hỏi và câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng học (Nguyễn Việt Tiến, 2002), Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán bằng tiếng Việt (Mai Thị Kiều Phượng,
2007)…
(3) Bài báo: Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi (Lê Đông, 1985), Thử tìm hiểu
phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp (Nguyễn Chí Hòa, 1993), Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong hỏi mua
và bán (Mai Thị Kiều Phượng, 2004), Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt (Đào Thanh Lan, 2005), Nhận diện hành động ngôn ngữ gián tiếp trên tư liệu lời hỏi – cầu khiến (Đào Thanh Lan, 2007), Câu chất vấn (Nguyễn Đức Dân & Đỗ Thị Thời, 2007) và Cách biểu thị hành động hỏi, đề nghị trong tiếng Việt (Lê Thị Tố
Uyên, 2013)…
* Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa
HĐ hỏi – đáp trên thế giới và ở Việt Nam giúp chúng tôi rút ra những kết luận sau:
- Theo hướng nghiên cứu về dấu hiệu nhận diện, các nghiên cứu đi trước đã xác lập rõ các dấu hiệu dùng để nhận diện các tham thoại chứa HĐ hỏi như: vấn ngữ, đại
từ nghi vấn, cặp phụ từ nghi vấn, các TTTT, quan hệ từ lựa chọn, trợ động từ đứng trước chủ từ, HĐ hỏi láy đứng cuối tham thoại, ngữ điệu lên giọng cuối tham thoại
Trang 37- Theo hướng mục đích sử dụng, các tác giả đã chia các loại tham thoại chứa
HĐ nói thành 4 loại gồm: tham thoại hỏi, tham thoại cảm thán, tham thoại cầu khiến
và tham thoại trần thuật
- Theo hướng ngữ nghĩa, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào những vấn đề liên quan đến nghĩa như: sở chỉ, đồng nghĩa, đa nghĩa, nghĩa tường minh và hàm ý
- Những nghiên cứu liên quan đến các tham thoại chứa HĐ hỏi trong tiếng Anh trên thế giới chủ yếu xoáy sâu đến lĩnh vực cú pháp của câu hỏi trong tiếng Anh để đối chiếu với cấu trúc tương đương của các ngôn ngữ khác nhằm mục đích giúp cho việc dạy và học giữa hai ngôn ngữ đạt kết quả cao hơn Trong khi đó, những nghiên cứu này trong tiếng Việt tập trung nghiên cứu các HĐ hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết với mục đích khảo sát sự ảnh hưởng của từ xưng hô, chủ đề cuộc thoại, vai giao tiếp, vị thế của phái nữ qua các thời kỳ
- Những nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong tiếng Anh trên thế giới vẫn đi theo hướng tìm hiểu về cấu trúc Tuy nhiên, tác giả Tanya Stivers (2010) có đề cập đến mục đích sử dụng các HĐ hỏi trực tiếp và gián tiếp, loại câu hỏi – đáp được sử dụng nhiều nhất Trong khi đó, những nghiên cứu ở nhóm này trong tiếng Việt đã tập trung vào các vấn đề như: sự mạch lạc của các cặp thoại tương hợp
và không tương hợp; vấn đề các nhân vật hội thoại cố tình vi phạm các phương châm hội thoại để nói tránh, phủ định câu hỏi, hỏi ngược lại người nói…
Sau khi tổng hợp những luận án, luận văn cũng như các bài nghiên cứu liên quan đến cặp thoại chứa HĐ hỏi – đáp trong tiếng Việt và tiếng Anh trên thế giới vừa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có 4 vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước chưa đề cập đến gồm:
(1) Chưa phân loại và nghiên cứu sâu 2 nhóm tham thoại: nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi trực tiếp và nhóm tham thoại chứa HĐ hỏi gián tiếp
(2) Chưa tìm hiểu sâu các nhóm tham thoại chứa HĐ đáp tương ứng gồm: HĐ đáp thẳng vào HĐ hỏi, HĐ đáp vòng vo vào HĐ hỏi và HĐ đáp lệch HĐ hỏi đối với từng nhóm HĐ hỏi trực tiếp và gián tiếp
(3) Chưa làm rõ mục đích sử dụng, mối liên hệ của các HĐPT đi kèm HĐCH trong các nhóm HĐ hỏi – đáp trực tiếp và gián tiếp
Trang 38(4) Chưa làm rõ lý do các nhân vật hội thoại cố tình tạo ra các HĐ hỏi gián tiếp như: HĐ đáp vòng vo, đáp lệch HĐ hỏi (trực tiếp và gián tiếp), cũng như lý do giúp các nhân vật hội thoại nhận ra ý đồ của nhau
Bốn vấn đề trên là những vấn đề sẽ được chúng tôi lần lượt giải quyết trong từng chương của luận án này Tiếp theo đây, chúng tôi sẽ trình bày phần cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Hội thoại
1.2.1.1 Định nghĩa hội thoại
Khái niệm hội thoại đã được một số từ điển và giáo trình ngữ dụng học định nghĩa như sau:
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” (Hoàng Phê, 2016, tr 582)
Từ điển Oxford Advanced Learners’ Dictionary (2018, tr 332) cho rằng: “Hội thoại là một cuộc nói chuyện bình thường, một hoạt động nói năng, giữa một nhóm người hay chỉ có hai người với nhau” (Conversation is an informal talk involving a small group of people or only two; the activity of talking in this way)
Trong Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã viết: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tác động qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời”
(Nguyễn Thiện Giáp, 2004, tr 64)
Thêm vào đó, tác giả Đỗ Thị Kim Liên (2005, tr 37) nhận định rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp nhằm truyền đạt thông tin từ người nói đến người nghe và ngược lại trong một ngữ cảnh nhất định, nhằm một mục đích nhất định và bằng một phương tiện ngôn ngữ nhất định”
Các định nghĩa trên đã đưa ra những yếu tố căn bản, quan trọng về hội thoại, đã chỉ ra được mục đích và các thành tố cấu thành hội thoại Tuy nhiên, hội thoại được chúng tôi đề cập trong luận án này chính là những cặp HĐ hỏi – đáp do các nhân vật nói ra, được miêu tả dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái và Nicholas Sparks Do đó, những cặp HĐ này đều diễn ra ở những ngữ cảnh nhất định, với những mục đích khác nhau
Trang 39của từng nhân vật hội thoại Vì thế, theo chúng tôi, thuật ngữ hội thoại được sử dụng trong luận án này sẽ được hiểu như sau:
Hội thoại là hoạt động trao đổi thông tin bằng lời nói, tương tác theo hai chiều giữa hai hay nhiều nhân vật hội thoại với nhau trong những ngữ cảnh và mục đích nhất định
1.2.1.2 Cấu trúc hội thoại
Khi tìm hiểu về cấu trúc hội thoại, chúng tôi nhận thấy có 3 hướng nghiên cứu như sau:
(1) Hướng phân tích hội thoại do Harvey Sack, Emanuel Schegloff và Gail Jefferson khởi xướng tại đại học California vào thập niên 1960s tại Hoa Kỳ (Sacks, Schegloff, & Jefferson, 1974)
(2) Hướng phân tích diễn ngôn do Sinclair và Coulthard sáng lập vào những năm 70 của thế kỷ XX tại đại học Birmingham Anh Quốc, thể hiện qua công trình
nghiên cứu Hướng tới việc phân tích diễn ngôn trong giờ học (Toward an Analysis of Discourse) (Sinclair & Coulthard, 1977)
(3) Hướng lý thuyết hội thoại Thụy Sỹ – Pháp Hướng này gồm các đại biểu là Eddy Roulet (Thụy Sỹ) và Catherine Kerbrat Orecchioni (Pháp) Họ đã chia cấu trúc hội thoại thành năm bậc như sau:
- Cuộc thoại (Conversation)
- Đoạn thoại (Sequence)
- Cặp thoại (Exchange)
- Tham thoại (Intervention)
- Hành động ngôn từ (Speech acts) (Orecchioni, 1996a)
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu của luận án, cấu trúc hội thoại sẽ được chúng tôi triển khai theo hướng thứ ba này
a Cặp thoại (Exchange)
Cặp thoại là đơn vị cơ bản nhất của hội thoại Nó gồm hai tham thoại do SP1 và SP2 tạo ra khi giao tiếp với nhau (Orecchion, 1996b, tr 6) Nó chính là phương tiện được dùng để thể hiện các cặp HĐ hoàn chỉnh (Schegloff, 2007, tr 2, 13)
Trang 40Cặp thoại này có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong một cặp thoại, tham thoại thứ nhất có chức năng định hướng cho tham thoại thứ hai bằng cách chi phối, quyết định người nghe tiếp theo sẽ là ai, sẽ nói cái gì, sẽ nói như thế nào để phù hợp với tham thoại thứ nhất (Sack, 1967, dẫn theo Roger and Bull, 1989, tr 25)
Chúng là cặp thoại cơ bản vì chúng thường được dùng để mở đầu hay kết thúc các cuộc thoại Chúng được dùng để điều hành hệ thống luân phiên lượt lời hiệu quả hơn bằng cách cho phép SP1 lựa chọn SP2 cũng như HĐ mà SP2 sẽ sử dụng để đáp lại SP1, hoặc giúp cho SP2 định hướng được HĐ đáp của mình để tránh bị khiếm khuyết cũng như bị trùng lặp thông tin (Coulthard, 1992, 69-70) Một đoạn thoại có thể bao gồm nhiều cặp thoại, nhưng vai trò của mỗi cặp thoại không giống nhau (Nguyễn Thiện Giáp, 2004, tr 73)
Bảng 1: Cặp thoại được ưa thích và không được ưa thích Tham thoại trao
Tham thoại đáp Cặp thoại
được ưa thích
Cặp thoại không được ưa thích
vì nó không đáp lại sự mong đợi của SP1 Xem Bảng 1