Một số luận văn có hướng nghiên cứu cụ thể hơn như: Nguyễn Thị Ngọc 2005 “kết cấu tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra”, Võ Anh Minh2005 “văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THANH TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THANH TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lý Hoài Thu
Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn nào đã được công bố ở Việt Nam
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Người cam đoan
Nguyễn Thanh Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo PGS TS Lý Hoài Thu
là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn được hoàn chỉnh
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả
Nguyễn Thanh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề: 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 6
1.1 Nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái 8
1.1.1 Khái quát chung về nhân vật và nhân vật trong tiểu thuyết 8
1.1.2 Quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái 10
1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 12
1.2.1 Xây dựng nhân vật qua tên gọi, ngoại hình 12
1.2.2 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật 18
1.2.3 Miêu tả nội tâm - dòng ý thức: 22
1.2.4 Sử dụng yếu tố kỳ ảo – tâm linh: 25
1.2.5 Miêu tả tính cách thông qua tương phản, xung đột: 30
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU 33
2.1 Cốt truyện 33
2.1.1 Khái lược về cốt truyện 33
2.1.2.Cách tổ chức cốt truyện của Hồ Anh Thái 38
2.2 Kết cấu 49
2.2.1 Khái lược về kết cấu 49
2.2.2 Kết cấu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 54
Trang 6CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 71
3.1 Ngôi kể và Điểm nhìn 71
3.1.1 Giới thuyết về ngôi kể và điểm nhìn 71
3.1.2 Ngôi kể và điểm nhìn trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 74
3.2 Ngôn ngữ trần thuật 83
3.2.1 Giới thuyết về ngôn ngữ trần thuật 83
3.2.2 Cách sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 84
Kết hợp nhiều kênh ngôn ngữ 84
Ngôn ngữ đa nghĩa, giàu hình ảnh 87
Vận dụng thành ngữ, chơi chữ 89
3.3 Giọng điệu 91
3.3.1 Giới thuyết về giọng điệu và quan niệm của Hồ Anh Thái 91
3.3.2 Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 94
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7là dấu hiệu của sự đổi mới đáng trân trọng nằm trong xu thế của văn học Việt Nam và văn học Thế giới, do vậy, cần chú trọng tìm hiểu để có những nhận định, đánh giá về văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ năm 1986 đến nay
1.2 Hồ Anh Thái là một trong những tên tuổi đáng chú ý của văn xuôi trong hơn hai mươi năm đổi mới và văn xuôi đương đại Với cương vị là Tổng thư ký hội nhà văn Hà Nội, là nhà ngoại giao, TS văn hóa Phương Đông, ông đã từng nhận nhiều giải thưởng về của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, giải thưởng văn học của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam Với hơn 30 năm miệt mài sáng tạo, Hồ Anh Thái đã khẳng định vị thế của mình trên văn đàn Việt Nam với cả hai mảng tiểu thuyết và truyện ngắn Tuy nhiên, nhà văn dường như gây ấn tượng hơn bởi thể loại mang sức nặng của câu chữ và sự kiện Nhiều tiểu thuyết của Thái gây tiếng vang lớn và được dịch ra nhiều thứ tiếng Có thể nói Hồ Anh Thái đã có những đóng góp to lớn cho nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết đương đại với một lối viết và giọng điệu mới mẻ Với những quan niệm độc đáo về tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nghệ thuật tự sự cho tiểu thuyết đương đại Ông coi viết văn
là một nghề, là một “nghiệp” Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông đều là những nấc thang đi lên, là cả một quá trình vận động thẩm mỹ về ý thức viết tiểu thuyết Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thoát khỏi mọi ràng buộc mang tính quy phạm, nhà văn thỏa sức sáng tạo với những đề tài mang đậm tính chất thế sự đời tư, những trăn trở của con người trước cuộc sống bộn bề cũng như thỏa sức tung hứng
Trang 82
trong “trò chơi” của nghệ thuật tự sự Hồ Anh Thái quan niệm: “Với tôi, tiểu
thuyết là một giấc mơ dài” Sự bộc bạch này đã phần nào lý giải cho khuynh
hướng sáng tạo cũng như bút pháp phúng dụ, huyền thoại và tượng trưng mà nhà văn đã sử dụng khi viết tiểu thuyết
1.3 Như vậy, những cách tân và thành tựu nghệ thuật của tiểu thuyết hơn hai mươi năm đổi mới đã được giới phê bình văn học cũng như nhiều bạn đọc công nhận, chú ý Tuy nhiên, cho đến nay những công trình nghiên cứu tổng quát về tiểu thuyết trong hơn hai mươi năm đổi mới cũng như những công trình nghiên cứu về những cây bút cách tân nhất như Hồ Anh Thái vẫn còn quá ít và chưa mang tính hệ thống Do vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về những nét độc đáo
trong Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
2 Lịch sử vấn đề:
Các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã thu hút được nhiều ý kiến từ dư luận, được giới nghiên cứu và người đọc công nhận và yêu quý Bàn về tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đáng chú ý là các ý kiến của Wayne Karlin, Nancy Pearl, Michael Haris… Các nhà nghiên cứu này đưa ra những nhận định về đặc điểm cốt truyện, khả năng xây dựng nhân vật, cách thức trần thuật… của những tiểu thuyết đầu
tay của Hồ Anh Thái như Trong sương hồng hiện ra và Người đàn bà trên đảo
Tuy nhiên, cách đánh giá của các nhà phê bình cho thấy, những bài viết mới chỉ đưa ra những nhận định một cách chung nhất, chưa đi sâu vào các phương diện của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
Loạt bài viết thứ hai có tập trung hơn vào những tiểu thuyết mới như Người
và xe chạy dưới ánh trăng, cõi người rung chuông tận thế nhưng cũng mới chỉ
dừng lại ở dạng các bài báo, tạp chí… Tiêu biểu có “Người đi qua bóng mình” (2002) của Lê Hồng Lâm, “Cõi người bao dung lắm” (2002) của Hoàng Lan Anh, “Người còn đi dài với văn chương”(2003) của Lê Minh Khuê, “Giọng tiểu thuyết đa thanh” (2002) Nguyễn Thị Minh Thái, “Người mê chơi cấu trúc” (2002) Nguyễn Đăng Điệp… Những bài tiểu luận, nghiên cứu phê bình cùng phỏng vấn về Hồ Anh Thái nói trên nhiều ít cũng đã đề cập tới các vấn đề có liên
Trang 93
quan đến nghệ thuật tự sự trong sáng tác của nhà văn như: xây dựng hình tượng nhân vật, kiểu loại nhân vật, cách thức tạo dựng cốt truyện, kết cấu, khả năng sử dụng ngôn ngữ, kiểu trần thuật… song các vấn đề đưa ra mới chỉ giới hạn ở những nhận định ban đầu, những đánh giá khái quát
Một số luận văn có hướng nghiên cứu cụ thể hơn như: Nguyễn Thị Ngọc
(2005) “kết cấu tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra”, Võ Anh Minh(2005)
“văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật và con người”; Lê Thu Hương (2007) “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái”; Nguyễn Thị Vân (2005) Nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái… Song, những luận văn này mới nghiên cứu một khía cạnh của tự sự hay chỉ là sự tìm hiểu ở một tác phẩm tiểu thuyết, một tập truyện ngắn… mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Ngay
cả đến luận văn có sức khái quát lớn của Nguyễn Thị Hải Huyền (2007), mang tên “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái (qua một số tác phẩm tiêu biểu)” cũng có giới hạn trong việc tiếp cận các bình diện của nghệ thuật tự
sự, nhất là chưa khảo sát được các tiểu thuyết mới được bạn đọc yêu thích như:
Mười lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và Tôi
Từ đó, luận văn mong rằng sẽ góp một cách nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật tự sự của Hồ Anh Thái cùng những đóng góp của ông cho tiểu thuyết đương đại qua việc khảo sát những tiểu thuyết được dư luận quan tâm
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quan điểm của nhà văn về hiện thực, con người và nghệ thuật của Hồ Anh Thái Từ đó, tìm hiểu sự quy chiếu của quan điểm đó tới nghệ thuật
tự sự trong sáng tác tiểu thuyết của nhà văn
Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong sáng tác của một nhà văn là một hệ thống chặt chẽ và phong phú các nguyên tắc, hình thức nghệ thuật Đây cũng là một phương pháp nghiên cứu hiện đại, được đánh giá cao trong ngành lý luận
Trang 103.2 Đối tượng nghiên cứu:
Hồ Anh Thái thành công ở cả hai thể loại, truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên, tài năng và tầm vóc của một nhà văn thường bộc lộ nổi trội và sắc nét nhất trong thể loại tiểu thuyết Vì vậy, đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là thể loại tiểu thuyết (năm tiểu thuyết được kể ở trên) của Hồ Anh Thái Nghiên cứu tự sự trong sáng tác của một nhà văn cụ thể là một phương pháp nghiên cứu khoa học, tiên tiến với hệ thống lý luận chặt chẽ Vì nhiều lý
do, luận văn chưa có điều kiện nghiên cứu tổng thể toàn bộ hệ thống ấy mà chỉ tập trung vào những phương diện cốt lõi (nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện và kết cấu, nghệ thuật trần thuật) nhằm chỉ ra những điểm nổi bật về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái từ 1986 đến nay được dư luận quan tâm:
Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987)
Trong sương hồng hiện ra (1990)
Cõi người rung chuông tận thế (2002)
Trang 115
Đồng thời, xác định vị trí của Hồ Anh Thái và những đóng góp của ông về nghệ thuật loại hình tự sự trong dòng chảy Văn học Việt Nam đương đại cũng như Văn học Việt Nam nói chung
4.2 Phương pháp so sánh văn học
Sử dụng Phương pháp này giúp người viết có thể so sánh đối chiếu và nhận thấy
rõ hơn nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái với nhiều tác giả cùng thời
4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp này được người viết sử dụng trong việc xây dựng các luận điểm, luận cứ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được nghiên cứu trên nhiều phương diện Do đó, một mặt phải phân tích để đi sâu, làm rõ các luận điểm, mặt khác phải khái quát hóa, hệ thống hóa để rút ra nhận xét tổng hợp về phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn gồm có ba chương sau:
Chương 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Chương 3: Phương thức trần thuật
Trang 126
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
Có thể thấy từ đầu thế kỉ XX đến nay người ta đã sáng tạo, đề xuất và giải quyết rất nhiều vấn đề then chốt của lí luận văn học hiện đại mà những thế kỉ trước chưa được làm sáng tỏ Đó là vấn đề hoạt động văn học, cấu trúc tác phẩm, hệ thống chủ thể, cách thức tồn tại, phương diện tâm lí, hệ thống kí hiệu, bản chất giao tiếp, tính chất văn hóa, hoạt động tiếp nhận…Trong các vấn đề đó, lí thuyết
tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến Từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái Tân Aristote, triết học phân tích, kí hiệu học, hậu cấu trúc chủ nghĩa tất cả đều quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết Bởi vì lí thuyết tự sự ngày nay đã cung cấp một bộ công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp cho người ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa Lí thuyết tự
sự có thể coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, và nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là một bộ phận cấu
thành của hệ hình (paradigm) lí luận hiện đại
Tên gọi Tự sự học - Narratology, Narratologie, là do nhà nghiên
cứu Pháp gốc Bungari T.Todorov đề xuất năm 1969, từ đó, lí luận tự sự đã thay thế cho lí luận về tiểu thuyết và trở thành một vấn đề chủ yếu của nghiên cứu văn học Như vậy, Tự sự học là một ngành nghiên cứu được hình thành từ những năm 60-70 của thế kỷ XX ở Pháp nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến quan tâm trên thế giới Vào những năm
80 của thế kỷ XX, tự sự học thực sự trở thành trào lưu và trở nên thịnh hành ở
Mỹ - tạo nên không gian lý tưởng cho đối thoại và hòa nhập giữa truyền thống phê bình Mỹ và lí luận văn học Châu Âu Nó trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế, có vị trí quan trọng thậm chí là một ngành văn hóa, bởi vì các hình thức tự sự khác nhau có thể có chung với nhau những nguyên tắc
siêu tự sự
Trang 137
Hiểu theo nghĩa rộng, tự sự học là khoa học nghiên cứu cấu trúc của văn
bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm
nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc Lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc “Narratology”- tự sự học nghiên cứu hình thức, quy luật vận động, tính chất của các tác phẩm tự sự, của chủ thể sản sinh và đối tượng tiếp nhận tác phẩm tự sự Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm “nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ của chúng Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.Genette) Trong nghĩa hạn định này “Narratology” – tự sự học không quan tâm bản thân câu chuyện mà tập trung
sự chú ý vào diễn ngôn tự sự, tức là chỉ nghiên cứu văn bản tự sự Bản chất của
tự sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra đơn phương trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và
tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường
Tự sự học chia làm ba giai đoạn: Tự sự học kinh điển (giai đoạn những năm
60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỷ XX) Vào những năm 90 về sau, tự sự học bước sang giai đoạn hậu kinh điển Tự sự học hiện đại manh nha hình thành từ cuối thế kỉ trước Cho đến nay, tự sự học hiện đại có thể chia làm
ba thời kì: Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc (tự sự học nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự), tự sự học cấu trúc chủ nghĩa (lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, mục đích là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan)và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa (gắn liền với kí hiệu học, hình thức tự sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M.Bakhtin Các
tác giả như Iu.Lotman, B.Uspenski, cũng theo hướng này)
Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình Nhóm một là những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga Nhóm thứ hai lấy
Trang 148
G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu Nhóm thứ ba trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay
dung hợp
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu, việc xác định thuật ngữ, chọn khái niệm đòi hỏi phải có những cố gắng nhất định Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, tự sự học trần thuật, văn bản, diễn ngôn, thoại ngữ… hiện nay ta dùng đều là những từ Hán Việt thì việc xác định nội hàm các thuật ngữ có lẽ cũng nên tham khảo các học giả Trung Quốc GS Trần Đình Sử nhấn mạnh:
“Chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thông thuật ngữ tiếng Việt về tự sự
học” “Trần thuật học theo Trung Quốc không phải là tự thuật học mà là tự sự học của họ Đây là một lưu ý quan trọng, tuy nhiên chính vì vậy mà chúng tôi càng nghĩ nên dùng thuật ngữ tự sự học nhất là khi ta đã ý thức được đối tượng của trường phái, khuynh hướng học thuật này không chỉ là nghiên cứu văn học
tự sự (trần thuật bằng chất liệu ngôn từ) mà là hầu hết các dạng thức tồn tại của giao tiếp nghệ thuật chất liệu khác” [44, tr.66]
Với cách hiểu đó, khi nghiên cứu các thành tựu văn học, mà cụ thể là nghệ thuật sáng tạo của một tác giả văn học, chúng tôi sẽ đi theo hướng tự sự học, tức
là nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng kết cấu, cốt truyện và các yếu tố trần thuật học mà tác giả ấy sử dụng trong tác phẩm của mình
1.1 Nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái
1.1.1 Khái quát chung về nhân vật và nhân vật trong tiểu thuyết
Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là
sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách, hành động… Văn học không thể thiếu nhân vật, vì nó là phương tiện
cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Đồng thời, “Nhà
văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó,
Trang 159
về một loại người nào đó trong hiện thực” [6, tr.126] Như vậy, nhân vật văn
học không chỉ là hình thức đơn thuần mà nó còn bao hàm cả nội dung, tư tưởng
và quan niệm của nhà văn về con người, về thế giới Nói cách khác, nhân vật chính là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và quan niệm của nhà văn về chúng
Xét trên phương diện thể hiện đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính – phụ, nhân vật trung tâm; xét
về mặt ý thức hệ có: nhân vật chính diện – phản diện, trên phương diện kết cấu,
hệ thống hình tượng bao gồm phạm vi rộng lớn hơn: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình và nhân vật tính cách
Như vậy, nhân vật văn học là hình thức văn học để phản ảnh hiện thực, phản ánh quan niêm về con người của tác giả Hình thức ấy được thế hiện dưới nhiều phương tiện nghệ thuật nhằm thể hiện những khía cạnh đa chiều và phong phú của cuộc sống
Tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, “với khả năng phản ánh một cách toàn
vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi” và “khả năng
đi sâu khám phá những số phận cá nhân” [7, tr.191] Điều đó cho thấy, tiểu
thuyết mang trong nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc sống và nhân vật
là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của một tiểu thuyết
Điểm đặc biệt làm cho nhân vật trong tiểu thuyết khác với nhân vật sử thi,
nhân vật kịch, nhân vật truyện ngắn, chính là ở chỗ “nhân vật trong tiểu thuyết là
những nhân vật từng trải, trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hành động” [24, tr.392] Kể từ khi tác giả đã có một nguồn phong phú của dữ liệu từ
cuộc sống của mình, nhiều nhân vật được sáng tạo nên nhờ năng lực hư cấu, tưởng tượng của tác giả, đó có thể là sự hóa thân của tác giả hay từ một nguyên mẫu trong cuộc sống Trong khuôn khổ rộng lớn của tiểu thuyết, nhân vật được nhà văn miêu tả một cách toàn diện, tỉ mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận Nhân vật trong tiểu thuyết không cô lập với hoàn cảnh, không cường điệu hóa sức mạnh của mình Nó hành động, phát triển phù hợp với logic, “lãnh đủ”
Trang 1610
mọi tác động của cuộc đời Có thể nói miêu tả thế giới bên trong, phân tích tâm
lý là một phương diện đặc trưng của nhân vật trong tiểu thuyết Do vậy, khi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết, chúng ta nên chú trong tới những đặc điểm này
1.1.2 Quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái
Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học, tuy nhiên, bên cạnh việc chú trọng phương diện nội dung và tính khách thể của
nó (tính cách, hành động…), chúng ta cũng cần phải tìm hiểu quan niệm của nhà
văn về con người, “tức là các nguyên tắc lý giải, cảm thụ của chủ thể trong hình
tượng thì mới thấy được vai trò sáng tạo tư tưởng của nhà văn, mới thấy mỗi hình tượng văn học là một sáng tạo độc đáo không lặp lại.”[45, tr.43] Không
những thế, “Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con
người theo một quan điểm nhất định mà anh ta lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả” [47, tr 47-48] Vì vậy, Gs Trần Đình
Sử đã cho rằng: “quan niệm nghệ thuật về con người trước hết là sự lý giải, cắt
nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật văn học đó.” [46, tr.59]
Quan niệm nghệ thuật về con người của mỗi nhà văn chịu sự quy định của lịch sử, xã hội, văn hóa nhưng đồng thời cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ, gắn với cái nhìn đầy tính phát hiện độc đáo của nghệ sĩ ấy
Khảo sát các tác phẩm tự sự Việt Nam sau 1975, khi văn học chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, có thể thấy những chuyển đổi sâu sắc trong cách tiếp cận, khai thác và biểu hiện thế giới riêng của con người của các nhà văn, cả những mặt trước đây chưa thực sự hoặc chưa có điều kiện quan tâm đến: bản ngã, vô thức, tiềm thức, đời sống tâm linh, tình dục… Vượt qua được giới hạn chật hẹp và cứng nhắc của cái nhìn con người và thể hiện nhân vật trong văn học một thời, người cầm bút đã mở ra sự phong phú đa dạng dường như vô tận cho thế giới nhân vật Bằng nhiều cách khám phá thể hiện độc đáo, các nhà văn
Trang 1711
đã khắc họa được con người cá thể một cách sinh động, đa chiều, tiếp cận được những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, góp phần làm cân bằng, hài hòa trở lại cách nhìn nhận con người trước đây trong văn học (thường nghiêng về mặt cộng đồng, tập thể) Với quan niệm bản chất con người phức tạp, đời sống bên trong con người là mê cung khôn lường và cuộc đời con người là chuỗi mắt xích những điều nghịch lý, ngẫu nhiên… các nhà văn đã xây dựng các nhân vật văn học trong không gian đời sống thường nhật, con người có số phận không bình thường, nhân vật không hoàn hảo, trăn trở, hoài nghi, chiêm nghiệm; những nhân vật không chỉ được quan tâm xem xét ở số phận mà còn được quan sát kỹ trong mối quan hệ với các vấn đề hiện thực cuộc sống Trong hướng đi sâu khai thác ấy, văn học sau 1975 thường tập trung vào một số kiểu nhân vật như: nhân vật tự nhận thức, nhân vật cô đơn, nhân vật bi kịch, nhân vật tâm linh, nhân vật
kỳ ảo, nhân vật sám hối… những kiểu nhân vật này có nhiều trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái… đã góp phần to lớn trong việc biểu biểu hiện chiều sâu cuộc sống và con người, mở ra những thế giới nhân vật đa chiều và hướng nghiên cứu mới về phương thức xây dựng nhân vật của văn học sau 1975 nói chung, tiểu thuyết nói riêng Nhìn một cách khách quan, thực tiễn phát triển văn học, nhân vật văn học vì vậy đã và đang có những bước chuyển đổi mạnh mẽ nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới văn học
Cũng như nhiều nhà văn đương đại, Hồ Anh Thái miêu tả con người xã hội với những góc nhìn thẳng thắn hơn, chạm sâu vào những khu vực mà văn học trước đây thường né tránh Con người trong văn Hồ Anh Thái được sống thực đúng với bản năng tự nhiên, với cuộc đời thực nhưng cũng có những đồi sống tâm linh riêng biệt với những tư duy về cái Thiện – cái ác, về thế giới bên kia…Thế giới đa chiều trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái nhiều khi tưởng như một hiện thực phi lý, phi logic với những đường gãy bất thường của cuộc sống từ đó thể hiện khả năng diễn tả vừa cụ thể vừa bao quát xã hội của tác giả Nhà văn đã
“hình dung cuộc sống như những mảnh vỡ và nhận thấy ở đó sự xen cài của cả
Trang 18Trong một lần trả lời phỏng vấn, Hồ Anh Thái cho rằng: “Nếu sử dụng
phương pháp truyền thống thì quan niệm phải có nhân vật là thỏa đáng Nhưng nhiều kiệt tác của văn xuôi hiện đại “bói”không ra nhân vật Xem một truyện ngắn, một tiểu thuyết hay, có thể người đọc chỉ lưu lại một cảm giác thăng hoa chứ không nhất thiết là một nhân vật” “Nhân vật của tôi không hoàn toàn tốt cũng không hoàn toàn xấu” Những bộc bạch thẳng thắn này giúp chúng ta hiểu
hơn mô hình nhân vật trong tác phẩm của nhà văn, đó là những nhân vật với những khuôn mẫu và hoàn cảnh riêng, và nhân vật nào trong tác phẩm cũng quan trọng, không có nhân vật chính hay phụ, không có nhân vật trung tâm hay nhân vật tư tưởng Trong bản thân mỗi nhân vật, có những lúc cái xấu lấn át cái tốt tạo nên sự tương phản đối lập, khiến nội tâm nhân vật giằng xé, xung đột nhằm biểu hiện ý đồ tư tưởng của nhà văn Để xây dựng được hệ thống nhân vật phong phú như vậy, nhà văn đã vận dụng khá đắc địa nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo của
tự sự hiện đại, khiến các nhân vật hiện lên sinh động, đa thanh, đa dạng và đa tính cách
1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
1.2.1 Xây dựng nhân vật qua tên gọi, ngoại hình
Xây dựng nhân vật qua tên gọi
Sinh thời ai cũng có một cái tên, dù hay, dù không, dù ngắn, dù dài, có thể
đó là cái tên do cha mẹ đặt cho với nhiều mong ước tốt lành, có thể đó là biệt
Trang 1913
danh, bút hiệu do người đó tự đặt cho mình, hay thậm chí, đó là biệt hiệu, tên gọi thông thường theo đặc điểm nhận dạng… Mỗi tên gọi là một cá thể riêng biệt, dùng khi giao tiếp Tuy nhiên, trong văn học, tên gọi của mỗi nhân vật còn mang nhiều chức năng và ý nghĩa khác nữa Tên nhân vật là một yếu tố tạo nên hình tượng nhân vật, trong đó thể hiện những đặc điểm, tính cách của nhân vật Khi nhà văn đặt tên cho nhân vật tức là đã có ý thức, có quan niệm về con người,
nhất là đối với nhân vật "có vấn đề” Có thể xem tên nhân vật là một hoán dụ, một ước lệ về chính nhân vật ấy “Cách đặt tên nhân vật là một dấu hiệu phản
ánh rõ quyền lực của tác giả trong việc tái hiện, miêu tả con người; cũng tức là gắn với một quan niệm về con người mà tác giả muốn thể hiện, muốn truyền đạt tới người đọc” [19, tr.359] Văn Giá cũng cho rằng: “với các nhân vật, tên nhân vật đâu phải cứ muốn đặt thế nào cũng được Chúng là kết quả của một sự lựa chọn có chủ ý, là một trong những biểu hiện nhất quán nằm trong thi pháp riêng của mỗi nhà văn” [16, tr.29] Nói như vậy không có nghĩa tất cả tên gọi của các
nhân vật đều phải có ý nghĩa trực tiếp thể hiện quan niệm của nhà văn Tuy nhiên, đa phần tên gọi của nhân vật lại thể hiện rõ dụng ý nghệ thuật, quan điểm, thái độ tư tưởng của tác giả, hay cao hơn, đó được đánh giá như một nghệ thuật xây dựng nhân vật của văn học tự sự nói chung Chẳng hạn, ta bắt gặp hình ảnh
ông Typn trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng Tên gọi Typn rõ ràng được gọi
theo đặc điểm của nhân vật, vừa kèm theo thái độ trào phúng, giễu cợt của tác giả, đối với nhân vật đại diện cho văn hóa rởm đời, lố bịch Ngay như nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết trên là Xuân Tóc Đỏ cũng gợi cho người đọc một sự
tò mò, cái tên Xuân Tóc Đỏ không chỉ chỉ ra đặc điểm ngoại hình mà còn chỉ ra những công việc mà Xuân làm để đến với xã hội Âu Hóa… Hay kiểu nhân vật
vô danh như AQ, cụ D trong “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn; Bà Thứ 1, bà thứ 2 trong “Đen và Trắng” của Pinter… Như vậy, cách đặt tên nhân vật là một thủ
pháp nghệ thuật khá đặc sắc của tác giả trong việc xây dựng hình tượng nhân vật
Trang 2014
Khác với các nhà văn cùng thời, Hồ Anh Thái vận dụng sáng tạo thủ pháp này ở cả thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn, đem đến cho người đọc những nhân vật với tên gọi độc đáo Ngoài những tên bình thường, những tên Ấn Độ còn có những tên nhân vật được gọi bằng ký hiệu, bằng chức danh, bằng thứ tự, tuổi tác, bằng đặc điểm nhân vật, hoặc bằng từ thậm xưng… Những nhân vật đại diện cho cái ác trong tiểu thuyết hầu hết có cái tên nghe rất “trắc”, ngay cả những nhân vật không tên cũng được gọi bằng những đại từ nhân xưng vần trắc:
gã, hắn, nó, thị Trong khi đó, những nhân vật đại diện cho cái đẹp, cái cao thượng, cái thiện được tác giả trìu mến đặt cho những cái tên vần bằng: Miên, Giềng, Hoa, Hùng, Duy, Mai Trừng, Đông
Chẳng hạn, trong tiểu thuyết “Cõi người rung chuông tận thế”: Bản chất,
đặc điểm của nhân vật còn được hiện lên rõ nét qua những cái tên như: Cốc, Bóp, Phũ Chỉ với cái tên, người đọc có thể hình dung ra nhân vật với mọi cái
xấu xa và tức cười Tên nhân vật Cốc được giải thích: "Nó tên là Công Lũ bạn
gọi nó là Cốc Cốc đọc chệch đi thì được một cái tên Mỹ - Cock Cock là con gà trống, vừa có nghĩa là cái vật ngọ nguậy giữa đôi chân một gã trai Cả hai nghĩa đều đúng với thằng Cốc” Ngay cái tên của nhân vật chính Mai Trừng cũng
mang hàm ý gợi mở ra nét điển hình độc đáo là có khả năng trừng phạt kẻ ác
“Các chị khai sinh cho cháu là Nguyễn Thị Mai Trừng Mai ngày cháu lớn, cháu
sẽ đi trừng phạt kẻ ác” Trong tiểu thuyết “Mười lẻ một đêm” hẳn bạn đọc không
thể không ấn tượng thậm chí cười mỉa mai khi nhắc đến cặp đôi giáo sư Xí và
Khỏa Hai cái tên này gắn với một lời nhắn đi họp đột xuất trên cửa: Khỏa thân
đến nhà Xí họp nhớ mang theo giấy…
Nghệ thuật đặt tên của Hồ Anh Thái không dừng lại ở việc tái hiện đặc điểm bề ngoài mà còn nhằm lột tả bản chất bên trong của nhân vật Đó là nhóm nhân vật mang những cái tên hoán dụ, định danh nhân vật theo nghề nghiệp, chức vụ nhằm làm rõ sự mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung của đối tượng: Đối lập với yêu cầu phải có trách nhiệm, phải nghiêm túc, phải cống hiến cho xã hội là sự thiếu nghiêm túc, vô trách nhiệm với nghề, với công việc, với xã hội:
Trang 2115
tất cả đều nhằm phóng đại và giễu nhại những con người ở bậc “thượng lưu”:
Ông Víp, Mađam, là thằng Cá, bà Cá Voi trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm
Hiện tượng này còn được nhà văn sử dụng đắc địa trong thể loại truyện ngắn: Đó
là tên gọi theo sở thích vật chất thể hiện một sự quý hiếm, một ao ước của thời
bao cấp thiếu thốn như: Dăm Bông, Xúc Xích, Sâm Banh (Vẫn tin vào chuyện
thần tiên) Tên nhân vật còn được gọi theo thứ tự, tuổi tác: Ông số Một, bà số
Hai, cô số Ba, anh số Bốn (Tờ khai Visa) Đặc điểm nào đó của nhân vật: tính
cách, hành động, ngoại hình của nhân vật cũng trở thành cái tên rất thú vị, giàu sức liên tưởng như hồn nhiên hết sức gọi là Thỏ Lon (Bãi tắm)
thực trạng phi lý của xã hội, thời đại mà tác giả muốn đưa vào tác phẩm Với những nỗ lực tìm tòi, đổi mới, nhà văn đã khoác cho nhân vật của mình khả năng
tự biểu hiện từ những cái tên này giúp người đọc đã có thể hình dung được bản chất, đặc điểm nổi bật về tính cách, lối sống mà chưa cần đi sâu vào chi tiết hay hành động của nhân vật Hồ Anh Thái đã có dụng ý xây dựng nhân vật có tính chất đại diện cho một loại người nào đấy trong xã hội, có sức khái quát rất lớn Dường như anh muốn xóa nhoà cá tính của từng nhân vật để chỉ ra đặc tính chung của một loại người Từ đó nhà văn dẫn người đọc đi tới nhận thức về cuộc sống Đây là một thủ pháp đắc địa được anh sử dụng thành công Bằng tên nhân vật, anh đã làm nên hình tượng nghệ thuật về “người Việt xấu xí” (Lê Hồng Lâm) Đó là những con người thiếu bản sắc, dễ hòa tan, sống hời hợt, nhợt nhạt, thể hiện sự nhố nhăng lai tạp, nhiều thói xấu của đời sống hiện đại Hồ Anh Thái không ngần ngại gọi tên nhân vật bằng những ký hiệu lấy ra từ những đặc điểm thuộc về nghề nghiệp, tuổi tác, chức vụ, chức danh hay ngoại hình và không hề giấu diếm nụ cười hài hước trước thói xấu của con người hiện đại
Cách gọi tên nhân vật kiểu này có tác động lớn bởi nó thực sự đã "động chạm"
đến nhiều con người trong xã hội, đến nhiều người đọc vì có thể thấy bóng dáng mình trong đó
Trang 2216
Trong văn học Việt Nam hiện đại, thủ pháp định danh nhân vật như vậy được nhiều nhà văn sử dụng đắc địa: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp Xây dựng những nhân vật với tên gọi được mã hóa mang theo cảm hứng giễu nhại, Hồ Anh Thái, đang nỗ lực vượt qua ranh giới của những con người cụ thể để chỉ ra đặc tính chung của một loại người Từ đó, nhà văn như muốn báo hiệu một sự đổ vỡ, một nét nhòe trong lối sống của một bộ phận người hiện đại,
và hơn thế, muốn thể hiện lòng nhiệt thành và khát khao xây dựng cuộc đời Những chân dung ấy hướng người đọc từ tác phẩm nhìn thẳng vào chính mình, nhận ra cái xấu đang cố len chân, lấn át cái đẹp, tự nhận thức và xây dựng cách hành xử, lối sống với chuẩn mực văn hóa, đạo đức
Xây dựng nhân vật qua ngoại hình
Khi xây dựng nhân vật, ngoại hình nhân vật là một phương diện được các nhà văn luôn quan tâm đến bởi ngoại hình nhân vật cũng góp phần bộc lộ đời
sống nội tâm của nhân vật, tính cách của nhân vật Ngoại hình là “hình dáng,
diện mạo, trang phục, cử chỉ, tác phong… tóm lại, toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bề ngoài của nhân vật” [7,tr.134] Nhà văn có thể miêu tả ngoại
hình nhân vật thông qua ngôn ngữ người kể chuyện, cũng có khi lại được khắc họa một cách gián tiếp qua ngôn ngữ hoặc qua cái nhìn của một nhân vật khác trong tác phẩm Như ngoại hình của nhân vật Nguyệt được miêu tả qua cái nhìn
của Lãm trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Vẻ đẹp của Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế được nhìn qua con mắt của Cốc,
Phũ, Bóp và cả nhân vật Tôi
Ngoại hình nhân vật có khi được nhà văn đặc tả trong một đoạn văn ngắn gọn nhưng cũng có thể được miêu tả rải rác, xen kẽ qua các đoạn, các tình huống Đó có thể chỉ là những nét khái quát, chấm phá về những đặc điểm nổi bật của nhân vật (như Nam Cao miêu tả Chí Phèo), nhưng cũng có thể đó là sự miêu tả tổng thể về ngoại hình nhân vật
Không dừng lại ở đó, ngoại hình nhân vật thường thể hiện đúng bản chất, tính cách của nhân vật ấy, tuy nhiên không phải lúc nào diện mạo nhân vật cũng
Trang 2317
phù hợp với tính cách nội tâm nhân vật (chẳng hạn, nhân vật Khuynh trong tiểu
thuyết Người và xe chạy dưới trăng của Hồ Anh Thái, có một vẻ đẹp ngoại hình:
trẻ trung, thân hình cường tráng, ba nhăm tuổi mà như hăm nhăm, nhưng lại có
một tâm địa mà chỉ mẹ anh là người hiểu nhất “nếu làm chồng, làm cha sẽ là một
người chồng, người cha dửng dưng lạnh lẽo Nếu là một người yêu sẽ là một người yêu ích kỷ, không bao giờ yêu hết mình, ngoại trừ nỗi đam mê xác thịt đến cuồng bạo”) Từ đó có thể thấy, đối với các nhà văn, việc miêu tả ngoại hình
nhân vật được coi như một thủ pháp nghệ thuật Mặc dù cũng có nhiều nhà văn chỉ miêu tả ngoại hình nhân vật bằng những nét phác thảo nhưng điều đó không
có nghĩa là họ không xem trọng việc miêu tả ngoại hình nhân vật Nhìn chung, việc miêu tả ngoại hình nhân vật phụ thuộc vào quan điểm, mục đích sáng tạo của các tác giả
Trong sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng ta thấy anh không coi việc miêu
tả ngoại hình nhân vật là một thủ pháp quan trọng Hình dáng nhân vật thường được miêu tả bằng những nét phác thảo, tuy nhiên, nó lại thể hiện được cái hồn, tính cách cũng như dự báo về số phận nhân vật
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật, Hồ Anh Thái chú trọng khai thác vẻ xấu
xí, dị dạng, thậm chí còn phóng to, tô đậm những đặc điểm ấy, nhà văn muốn tạo
ra ấn tượng mạnh đối với ngừơi đọc về phẩm cách nhân vật mà bản chất chẳng mấy tốt đẹp Khác với Nam Cao, tạo nên sự tương phản giữa ngoại hình và tính cách, bản chất nhân vật thì các nhân vật trong tác phẩm của Hồ Anh Thái hình như luôn có sự đồng nhất giữa phẩm chất bên trong và hình thức bên ngoài
Trong Mười lẻ một đêm, người đọc bắt gặp trên bể bơi một bà “đồ sộ đang phăm
phăm khởi động Bét ra chín chục cân” nên bà có ngay hai biệt danh bà Cá Voi hay bà Chín Yến – một mối nguy hiểm của trẻ con khi bà nhảy xuống bể bơi” Cũng trong tiểu thuyết này, ta gặp một mađam – vợ ông “đại sứ” có hình dung chẳng giống ai “đầu phi dê, hai hàm răng hạt na đen nhức”, đến chỗ cửa hàng hiệu “bà phải mủm mỉm chúm chím, khi cười không để lộ răng Chúm chím mãi thành quen, bây giờ môi bà lúc nào cũng mấp máy như ăn mít hay dính nhựa”
Trang 2418
Hình ảnh của bà khiến người đọc nhận thấy một lối ăn diện Tây – Ta lẫn lộn của các bậc “phu nhân”, Madam mới nổi thời hiện đại Ta cũng bắt gặp nụ cười mỉa
mai tương tự khi nhà văn miêu tả nhân vật Diệu trong Người và xe chạy dưới
ánh trăng Nhà văn miêu tả Diệu như “một mụ gái già cuối mùa”, khiến cho
chồng thấy ghê tởm mụ cả vẻ bề ngoài lẫn tính cách bon chen, độc ác Cách miêu tả nhân vật với những nét ngoại hình có phần trào lộng đã khiến người đọc không nén khỏi nụ cười châm biếm về những tính cách nhố nhăng, phàm tục hay
bỉ ổi của nhân vật Những nét xấu nhiều lúc được Hồ Anh thái phóng đại, đặc tả như thể hiện sự tha hóa, “vật hóa” của nhân vật nhằm thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn
Như vậy, việc miêu tả ngoại hình chỉ là thủ pháp nhằm miêu tả nhân vật ở phía bề ngoài nhưng những gì mà Hồ Anh Thái thể hiện trong việc miêu tả ngoại hình các nhân vật đã cho thấy tài năng của nhà văn Chỉ bằng một vài đoạn văn ngắn, cả thể giới nhân vật với các diện mạo phong phú đã hiện lên sống động, góp phần bộc lộ nhiều bộ mặt, nhiều tầng lớp trong xã hội, góp phần thể hiện quan niệm, thái độ cũng như sự đánh giá của nhà văn về nhân vật
1.2.2 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ tính cách của mỗi con người, do vậy trong sáng tác văn học, nó trở thành một phương diện quan trọng trong việc biểu đạt tính cách và cá thể hóa nhân vật và làm cho cốt truyện phát triển
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói của nhân vật được phát ngôn trong giao tiếp, ứng xử với các nhân vật khác hoặc với chính bản thân Có hai dạng ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại, chúng đều mang đậm dấu ấn cá nhân, phản ánh được nhiều mặt về con người chủ thể Mỗi nhà văn có một quan điểm nghệ thuật, một phong cách, một giọng văn chương cũng như có ý đồ xây dựng hình tượng nhân vật khác nhau, do vậy sẽ lựa chọn
từ ngữ cũng như phong cách riêng trong ngôn ngữ của nhân vật, tạo nên những ngôn ngữ riêng biệt, mang cá tính của nhân vật
Trang 2519
Nhân vật của Hồ Anh Thái khá đa dạng, thuộc nhiều kiểu người khác nhau trong xã hội nên Hồ Anh Thái rất chú ý đến việc cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật, tạo cho nhân vật sắc thái riêng sinh động và chân thực hơn Chính vì thế mà trong tác phẩm của nhà văn, mỗi loại người là một ngôn ngữ khác nhau: Ngôn ngữ Đức Phật mang triết lý sâu xa, ngôn ngữ các cô cậu sinh viên thì giản dị, trong sáng, ngôn ngữ tầng lớp thị dân thì suồng sã, xô bồ, thô tục, ngôn ngữ của các cô cậu thời @ thì phần nhiều lai căng, thẳng thừng…
Ngôn ngữ đối thoại
Ở giai đoạn đầu sáng tác, với đối tượng phản ánh là những người trẻ tuổi thời kỳ hậu chiến, Hồ Anh Thái sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, lãng mạn,
trẻ trung pha chút tinh nghịch Những chàng trai, cô gái trong Người và xe chạy
dưới trăng đã chiếm được thiện cảm của người đọc với những tính cách, quan
niệm sống, cống hiến trong sáng mà hết sức sâu sắc về cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc ngay từ lời ăn, tiếng nói Đó là những đối thoại chân thành của hai người
bạn chí thân có những ước mơ tươi sáng vào tương lai trong Người và xe chạy
dưới ánh trăng:
“- Cậu được hăm tư điểm, chắc chắn sẽ được đi du học – Toàn bồi hồi như sắp
phải xa Minh
- Mình sẽ gửi cho cậu một cái xích lô máy để tiếp tục hành nghề Minh nói thản
nhiên như đó là một cam kết từ trước giữa hai người
- Không cần đâu – Toàn cười sung sướng vì Minh vẫn không quên bạn – Mình
vào đại học, tháng được mười tám đồng học bổng là đủ sống, không cần phải chở bia nữa” [38,tr.236]
Bên cạnh đó, Hồ Anh Thái còn tạo ra thứ ngôn ngữ rất riêng không lẫn vào đâu trong lời đối thoại của mỗi nhân vật Ngôn ngữ của nhân vật cũng có sự thay đổi biến chuyển theo hoàn cảnh sống và tính cách của nhân vật ấy: Chẳng hạn, ngôn ngữ của Minh nói với Toàn khi chia tay là ngôn ngữ của một thư sinh
hồn nhiên, lời lẽ chân thành “Chúng mình nên có một cam kết: Dù có hiểu nhầm,
có xích mích, thì cũng không bao giờ xa lánh nhau, hơn thế, phải thường xuyên
Trang 2620
có trách nhiệm lo toan cho cuộc sống của nhau…” [38, tr.240] Vậy nhưng khi
Minh đi du học về, thái độ của anh với xã hội đã không còn hồn nhiên, lời lẽ
sành sỏi, chán ngán thời cuộc: “Thời buổi người ta coi con người có ra cái quái
gì đâu Người ta tùy tiện quyết định theo lợi ích của họ” đến mức Toàn cũng phải ngạc nhiên hỏi lại: Cậu bỏ thói quen nói những lời có cánh rồi à?” Minh
thẳng thừng đáp “ đời bây giờ phải dùng những lời nói thật thô, thật độc mới
điểm trúng huyệt của nó được Màu mè chỉ là chuyện trẻ con”.[ 38, tr.242]
Một đặc điểm đáng chú ý nữa trong nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật của Hồ Anh Thái chính là sự tường thuật những cuộc đối thoại Những cuộc trò chuyện của nhân vật trong tác phẩm của Hồ Anh Thái ít thể hiện theo cách truyền thống, nghĩa là ta rất ít gặp những cuộc đối thoại trực tiếp giữa các nhân vật Đó là những câu chuyện với những câu đối thoại được nhà văn kể lại, thành một mạch chuyện liền mạch Ta bắt gặp tình trạng mắc kẹt của đôi trai gái trên
căn hộ chung cư của họa sĩ “hoa chuối” trong Mười lẻ một đêm càng trở nên bế
tắc, kéo dài hơn với giọng đối thoại của người bị nhốt với thế giới bên ngoài kia
theo cách nối dài các đoạn đối thoại của nhà văn: “Điện thoại di động đời mới
nhiều chức năng gọi cho bạn bè Gọi cho tớ xem ông trồng chuối hột ở đâu? Nộm hoa chuối à, tớ biết một nơi nhậy có nộm hoa chuối đậm đà khó quên, đến nhà hàng ở Láng Hạ nhé… Nói tiếp câu nữa, không phải nộm hoa chuối, lão họa
sĩ chồng chuối hột ấy Cái gì? Thằng chuối hột nó làm sao? Nó nợ nần gì mày? Sao nói năng gì mà ọt ẹt như kẹt băng thế? Phía bên kia hỏi lại đúng bốn câu rồi phựt Xong Đứt mạch máu não” [36, tr.28] Những câu đối thoại đan xen cùng
những câu kể, không có sự bình luận mà mà người đọc không chỉ hiểu được nội dung mà còn cảm được thái độ của hai người trong cuộc hội thoại trên
Với lối viết tràn câu, tràn dòng ấy, Hồ Anh Thái đã tạo ra thứ ngôn ngữ rất riêng trong đối thoại nhân vật Nhà văn không chỉ giúp các nhân vật đối thoại với nhau mà còn để cho nhân vật đối thoại với độc giả nữa
Ngôn ngữ độc thoại
Trang 2721
Trong sáng tác Hồ Anh Thái, ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật không phải là phổ biến do nhà văn ít sử dụng độc thoại nội tâm song, lại là thứ ngôn ngữ chinh phục lòng người Nếu như thứ ngôn ngữ châm biếm, mỉa mai dành cho những đối tượng cần lên án, phê phán thì thứ ngôn ngữ độc thoại nội tâm lại được thể hiện một cách nhỏ nhẹ, thủ thỉ, dành cho những đối tượng mà
Hồ Anh Thái đồng cảm, thương yêu và trân trọng
Với ngôn ngữ độc thoại này, nhân vật như mong muốn tìm ở độc giả một
sự cảm thông, chia sẻ về những tâm sự đang đè trĩu trong lòng mà nếu như được
kể ra họ sẽ như tìm thấy sự đồng tình, an ủi nào đấy “Chỉ mới trước đó một giờ,
tôi đã chán nản buông xuôi cho cái chết, tôi thấy mình đang chết, tôi sẵn sàng chờ đón một liều thuốc độc đến thình lình từ một nguồn nào đó Bây giờ thì tôi muốn sống Dù đau khổ thì vẫn phải lấy làm may mắn vì đã được sinh ra làm người Tôi bỗng thấy thèm sống hơn bao giờ hết…” [35]
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật đã giúp cho nhà văn có cơ hội được tâm sự với người đọc những xúc cảm và cảm quan riêng của mình về cuộc đời và những số phận Nếu đọc văn Hồ Anh Thái mà chỉ thấy tiếng cười, châm biếm, giễu cợt thì có lẽ người đọc chưa hiểu hết Hồ Anh Thái Đằng sau sự giễu
cợt ấy là một tấm lòng nhân văn mà nhà văn thường giấu kín; “ngay cả lúc đang
nói chuyện với mình thì dường như anh cũng đang lắng nghe, đang cảm nhận cái gì đấy xung quanh anh để rồi sau đó khi đối mặt cùng phím chữ của chiếc máy tính, cuộc sống lại được hóa thân” [39, tr.242]
Cảm xúc nhân văn ấy khiến cho ngôn ngữ độc thoại của các nhân vật có sức nặng, có chiều sâu hơn Đặc biệt là những tiểu thuyết viết về những người trẻ tuổi với những tâm nguyện trong sáng, trẻ trung cùng những rung động tinh
tế “Tôi bàng hoàng khi đầu một người con gái gục vào vai, vào ngực mình
Lúc Mỵ vòng tay qua cổ tôi, cảm xúc như đang ôm một người mình yêu tan biến rất nhanh Có lẽ sự vô tư đã truyền từ Mỵ sang tôi Cái nhích lại ngây thơ, cái vòng tay bột phát của Mỵ làm tôi hiểu thực ra lâu nay Mỵ vẫn coi tôi như một
Trang 281.2.3 Miêu tả nội tâm - dòng ý thức:
Đi sâu khai thác thế giới nội tâm chính là con đường mà văn xuôi hiện đại lựa chọn để đi sâu khám phá và thể hiện con người một cách chân thực và sâu sắc Bởi thể giới nội tâm là nơi thể hiện rõ nét nhất bản chất thật sự của con người Miêu tả nội tâm nhân vật là phương thức trần thuật chủ yếu để xây dựng
nhân vật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Nội tâm nhân vật là khái niệm chỉ
“toàn bộ cuộc sống bên trong của nhân vật, đó là những tâm trạng, suy nghĩ,
cảm xúc, cảm giác, những phản ứng tâm lý của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc thể nghiệm trên bước đường đời của mình” [7, tr.135] Đối với nhân vật văn học, nếu các đặc điểm ngoại hình,
hành động, ngôn ngữ làm nên vóc dáng bên ngoài cũng như biểu đạt một chừng mực tính cách thì đời sống nội tâm chính là linh hồn làm nên chiều sâu và sức sống cho nhân vật Nhà văn có thể miêu tả nội tâm nhân vật bằng cách trực tiếp gọi tâm trạng, cảm xúc của nhân vật hoặc gián tiếp qua việc mô tả các biểu hiện bề ngoài như ngoại hình, ngôn ngữ, hành động nhân vật, song biện pháp được dùng nhiều hơn cả vẫn là độc thoại và đối thoại nội tâm của nhân vật Những đoạn này được vang lên thầm lặng trong tâm tư của nhân vật Nhà văn để cho nhân vật tự suy tư, tự lắng đọng theo dòng ý thức, dòng suy nghĩ của từng nhân vật Qua dòng ý thức, dòng suy nghĩ nội tâm của nhân vật, chúng ta thấy được những nét tính cách, những tính toán hay những day dứt, hối hận, những kế hoạch trả thù hay nỗi lo sợ của nhân vật
dạng tình huống những giấc mơ thông qua kỹ thuật dòng ý thức để biểu hiện độc thoại nội tâm Việc vận dụng thủ pháp dòng ý thức giúp nhà văn khai thác và
Trang 2923
khám phá thế giới tâm linh của con người Do có điều kiện tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật của các nền tiểu thuyết thế giới, đặc biệt là tiểu thuyết phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã vận dụng thủ pháp dòng ý thức như một phương tiện đi vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả Kỹ thuật dòng ý thức
sử dụng thời gian đồng hiện, hồi ức, hoài niệm, dòng suy tưởng, những giấc chiêm bao, nhằm để nhân vật tự bộc lộ những miền sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiểm soát của ý thức con người Giấc mơ và hồi ức là đặc điểm của nhân vật dòng ý thức Nhiều tiểu thuyết sau những năm đổi mới đến nay đã sử dụng môtíp giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải
mã thế giới vô thức của con người Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu
thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngược
dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Cơn giông (Lê Văn Thảo), Ngày hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Giàn thiêu (Võ
Thị Hảo), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) Có thể thấy, việc hướng
tới nắm bắt và phân tích nhằm hiểu cho thấu cái thế giới nội tâm đầy phức tạp của con người thời hậu chiến khi họ nhìn lại cuộc chiến tranh tàn khốc và đối mặt với cuộc sống ngày càng trở nên phức tạp là mong muốn của các nhà văn thế hệ sau 1975
Là một nhà văn có duyên trong dòng chảy văn học sau 1975, Hồ Anh Thái tỏ ra khá tinh tế, nhạy cảm trong việc nắm bắt và phân tích đời sống tâm lý của con người Nếu Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh có giọng sắc lạnh, gai góc khi phân tích nhân vật thì thế mạnh của Hồ Anh Thái lại là sự diễn tả nhẹ nhàng, tinh tế những cung bậc tâm trạng, cảm xúc, cảm giác của nhân vật Sự khai thác nội tâm nhân vật theo hướng riêng này đã đem lại cho người đọc những cảm nhận đầy sâu lắng về những nét đẹp tâm hồn của con người
Với thủ pháp miêu tả nội tâm nhân vật qua dòng ý thức, nhà văn đã xây
dựng thành công nhân vật trí thức Toàn trong Người và xe chạy dưới ánh trăng
với những nghĩ suy, những tâm trạng đa chiều và phức tạp Toàn luôn bị day dứt
và ám ảnh nội tâm vì anh đã “vô tình” giết người trong trận bom Mỹ ấy Anh
Trang 3024
không hề nói sự thật này với ai vì thế mỗi khi cầu khấn vong linh của bố, anh lại
tự dằn vặt mình, tự độc thoại với mình Toàn sống khép kín và hạn chế bộc lộ cảm xúc Chính vì thế mà anh đã để tuột cơ hội nói lên tình cảm của mình với Trang Anh chỉ tự trách mình rụt rè, và tự anh biết rằng, mình thật khó quên được Trang, nhưng anh chỉ dừng lại ở đó, vì anh tôn trọng và cảm phục cuộc sống của bạn mình Có thể nói Toàn là chàng thanh niên có nhiều mất mát, anh mất cha mẹ, bạn bè, mối tình đầu và mất cả ước mơ của tuổi trẻ… Nhưng trong những suy ngẫm có phần chua chát và tự ti của anh, ta thấy anh không mất niềm tin vào cái chân – thiện – mỹ Cả những nhân vật phản diện như Khuynh, Diệu cũng được Hồ Anh Thái miêu tả nội tâm bằng thủ pháp dòng ý thức Nhà văn để cho Diệu tự độc thoại, suy tính về những mưu mô của ả, để cho Khuynh tự nhìn nhận lại cuộc sống của mình để cảm nhận cuộc sống bệ rạc, bế tắc và trống rỗng
“Còn với Khuynh, con sáo là hồn ma ám ảnh, một con yêu tinh chết đi sống lại,
một sức sống dai dẳng, quỷ ám, nhưng chỉ một lần này nữa thôi, nó sẽ vĩnh viễn trút bỏ linh hồn khỏi thân xác loài chim…” Khuynh là một nhân vật đại diện cho
một lớp người bỏ quên đi những điều tốt đẹp của mình, trượt dần theo những khát vọng tầm thường về hưởng thụ Nhà văn mổ xẻ, phê phán Khuynh bằng chính sự dằn vặt trong nội tâm, trong ý thức của Khuynh khiến người đọc như cảm thấy có những khoảng lặng thức tỉnh Người đọc cảm thấy thương hại với nhân vật này khi cuối cùng, ông ta còn lại là sự đổ nát của gia đình, mất chức, ông ta chẳng còn gì “Mọi thứ đều trống rỗng Mà cơ hội và thời gian không còn
nữa Muộn màng rồi.” Toàn bộ tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng là một dòng chảy về những cuộc đời, những mảng nội tâm giằng xé “Khó mà tóm
tắt lại nội dung cuốn sách cũng như điểm lướt qua số phận các nhân vật vì tác giả dùng thủ pháp theo kiểu dòng suy tưởng, cảm xúc để nội tâm các nhân vật được bộ lộ sâu sắc rõ ràng, qua đó mà cái thiện, cái ác, lẽ phải và bất công, lòng cao thượng và giả dối… đấu nhau rất quyết liệt và trường đấu của cuộc chiến dữ dội hãi hùng đó lại chính là nội tâm con người.” [17]
Trang 3125
Cũng sử dụng thủ pháp “dòng ý thức”, Hồ Anh Thái đã làm nổi bật quá
trình tự nhận thức của nhân vật Đức Phật trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng
Savitri và tôi Tất cả những buồn vui, đau khổ, sự thất vọng vì chưa lựa chọn
được con đường đúng đắn của Đức Phật trong quá trình đi đến với đất Phật, cả quá trình tự giác ngộ của Đức Phật đều được nhà văn tái hiện phong phú, sinh động qua những suy nghĩ thật thường nhật của Ngài
Thủ pháp này còn được nhà văn sử dụng hết sức đắc địa khi miêu tả thế
giời nội tâm nhân vật Tôi trong Cõi người rung chuông tận thế Từ một cốt
truyện mang tính siêu thực, Hồ Anh Thái đã để nhân vật tự suy ngẫm về những vất đề rất Con và rất Người: dục vọng, cái ác, chiến tranh, tình yêu, thù hận, vòng luân hồi bất tân… Nhân vật tôi, mang trong người dòng máu của hội thanh niên Cốc, Bóp, Phũ… đã có cái nhìn tiên cảm nhưng lại không dủ khả năng ngăn chặn bất cứ hành động ác nào Trong dòng suy nghĩ của anh ta, ta thấy bản thân nhân vật Tôi cũng là một thứ cây cỏ yếu đuối nương theo Thuận cho người anh định đoạt hướng đi của mình, để mặc cho cô hoa khôi học trò cuốn vào cuộc tình lừa đảo, ngay cả với cái chết oan ức của con gái cũng chẳng có hành động nào tích cực… Theo sự phát triển của logic cuộc sống, của sự chín chắn trong suy ngẫm, nhân vật Tôi đã thoát ra khỏi vòng hận thù luẩn quẩn Anh đã may mắn hiểu được đôi điều trong kinh thánh, gặp được những con người mà phần Thiện của họ đã giúp cứu chuộc phần nào tội ác tràn ngập xung quanh
Có thể thấy, khi xây dựng nhân vật, Hồ Anh Thái đã đặc biệt chú ý đến quy luật phát triển của tình cảm, tư tưởng, tâm lý con người, để nhân vật tự bộc
lộ quá trình biên đổi tư duy qua dòng ý thức, nhờ đó mà tính cách nhân vật hiện lên đậm nét, có chiều sâu và cá tính độc đáo
1.2.4 Sử dụng yếu tố kỳ ảo – tâm linh:
Tâm linh vốn là một yếu tố thuộc thế giới bên trong con người Nó có sự tham gia của ý thức, có thể là vô thức, thường thì nó gắn liên với tín ngưỡng, với niềm tin vào lực lượng siêu hình cùng mối quan hệ bí ẩn của con người, những
Trang 32theo từ điển Tiếng Việt là “kỳ lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng
tượng” Theo Bửu Kế “kỳ- là lạ lùng, ảo là không có thực, kỳ ảo là “có một vẻ
lạ lùng, không thật, bí ẩn” [19] Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu thì nó
là sản phẩm của trí tưởng tượng trong sáng tạo nghệ sĩ, là phương thức tư duy nghệ thuật được thể hiện bằng năng lực, yếu tố có tính siêu nhiên, nằm ngoài tư duy lý tính của con người Được các nhà văn sử dụng để thể hiện quan niệm về cuộc sống, phản ánh ước mơ, khát vọng và các nỗi bất bình, sợ hãi… của con người trước cái phức tạp, bí ẩn của đời sống
Đi sâu vào khai thác và chiếm lĩnh đời sống tâm linh cùng những trạng thái tâm lý, tinh thần đầy bí ẩn của con người chính là điều mà văn học quan tâm Sau năm 1975, tâm linh trở thành một yếu tố nổi trội trong văn xuôi, so với trước đó trở thành một mảng hiện thực đặc sắc trong quan niệm về hiện thực của nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng sau 75, của Nguyễn Huy Thiệp, Ngô Tự Lập, Bảo Ninh, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái…Các tác phẩm có chứa đựng yếu tố kỳ ảo của họ đã phả một luồng gió mới vào đời sống văn học đương đại Sự nở rộ của lớp nhà văn này, theo
nhận xét của Trần Quốc Vượng: “có thể diễn giải như một cơn lốc giải tỏa
những khát vọng sáng tạo bị dồn nén từ lâu Các nghệ sĩ trẻ đang tìm kiếm bản sắc riêng của mình dưa trên những trải nghiệm cá nhân và cách nhìn riêng biệt, càng ngày càng tỏ ra tự tin và táo bạo trong công việc sáng tạo” [43, tr.328]
Việc yếu tố kỳ ảo trở thành một khuynh hướng sáng tác trong văn xuôi thời kỳ đổi mới có nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản là do kể từ sau khi cuộc chiến tranh kết thúc, những vấn đề rộng lớn của dân tộc đã nhường chỗ cho những vấn đề thuộc số phận cá nhân Vì thế, đề tài văn học không chỉ dừng lại ở hiện thực khách quan mà còn mở rộng sang địa hạt của thế giới tâm linh con
Trang 3327
người Yếu tố kỳ ảo chính là một phương thức nghệ thuật hữu dụng giúp nhà văn
đi sâu khám phá thế giới tâm linh khó năm bắt của con người nhằm thấu hiểu con người ở phần nhân tính và huyền diệu Tác động của trào lưu văn học thế giới như chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng ít nhiều ảnh hưởng tới các nhà văn
ta giai đoạn này
Việc xây dựng nhân vật bằng những yếu tố huyền ảo, sẽ tăng tính sinh động của hình tượng, khiến hình tượng trở thành một hiện tượng đa nghĩa Không những thế, yếu tố kỳ ảo còn thể hiện quan niệm của nhà văn ở một số phương diện: Quan niệm của con người về thế giới đa chiều về con người tâm linh, quan niệm về cái ác, cái thiện và những giá trị chân- thiện- mỹ… Đây cũng
là thủ pháp nghệ thuật được xem là đặc sắc hơn cả của Hồ Anh Thái khi miêu tả nhân vật
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sử dụng khá đậm đặc và nhuần
nhuyễn yếu tố kỳ ảo trong sáng tác Quan niệm “Hiện thực không chỉ là cái nhìn
thấy cầm nắm được, miêu tả được Hiện thực còn là những giấc mơ li kỳ, là niềm tin tín ngưỡng, những ước mơ ngoài tầm với, những ảo ảnh chập chờn… xuất hiện trong thế giới tinh thần con người” [41] Chỉ với bút pháp sử dụng yếu tố
kỳ ảo, nhà văn mới có điều kiện, cách thức tiếp cận sâu hơn , nhiều chiều hơn hiện thực huyền ảo đó Nhà văn đã sử dụng yếu tố kỳ ảo như một Phương thức nghệ thuật hữu hiệu trong hầu hết các sáng tác ở cả tiểu thuyết và truyện ngắn Các tiểu thuyết và các tập truyện ngắn của Hồ Anh Thái đều hoặc ít nhiều sử dụng yếu tố kỳ ảo khiến người đọc như lạc vào cõi tâm linh huyền ảo, sâu thẳm của con người Ở đó, người ta nhận ra cái Thiện, cái Ác, cái Tốt, cái Xấu chập chờn ở hai miền quá khứ, hiện tại… Điểm đáng chú ý mà Hồ Anh Thái sử dụng yếu tố kỳ ảo này là sự kết hợp linh hoạt chất kỳ trong văn học truyền thống và chất huyền ảo trong văn học hiện đại Phương Tây… khiến cho nhân vật không
xa lạ mà vẫn rất gần gũi, mang hơi thở của hiện thực, biểu đạt được những vấn
đề quan trong mang tính thời sự của cuộc sống hôm nay
Trang 3428
Nhà văn đã sử dụng khá nhiều hình thức khác nhau để tái hiện toàn bộ đời
sống nhân vật Trong thể loại tiểu thuyết ta thấy nhà văn sử dụng các hình thức
phục sinh các nhân vật trong truyền thuyết như Đức Phật, hình thức nhân vật siêu nhiên miêu tả nhân vật có sức mạnh siêu nhiên đi trừng trị cái xấu, và hình thức nhân vật biến dạng (nhân vật người Cá trong Mười lẻ một đêm)…, ở thể
loại truyện ngắn, ta còn thấy nhà văn sử dụng đắc địa bút pháp này với hình
thức tiên tri để xây dựng nhân vật tiên tri dự báo tương lai (Đến muộn)
Hình thức phục sinh nhân vật trong truyền thuyết được Hồ Anh Thái sử dụng để miêu tả những con người trong truyền thuyết Ấn Độ, trong đó có Đức
Phật – huyền thoại của cả một tôn giáo Trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri
và tôi, nhà văn đã tái hiện Đức Phạt hết sức sinh động với màu sắc huyền ảo mà
lại dung dị, gần gũi với cuộc sống con người Cuộc đời Đức Phật từ khi mới sinh
ra cho tới khi thành đấng giác ngộ cho muôn người, nhà văn đã tạo nên một sự huyền ảo bao phủ quanh cuộc đời Ngài Huyền ảo ở sức mạnh chiến thắng cái xấu, cái ác, ở sự cảm hóa cái ác bằng chân lý về tình yêu thương con người
Người đã làm tan được cơn giận của những kẻ lỗ mãng “Cơn tức giận của ngươi
cũng vậy Ngươi tức giận với ta, mà không hề bị tác động thì cơn giận ấy rơi trở lại đầu ngươi Thế rồi ngươi là kẻ duy nhất cảm thấy tức tối, chứ không phải ta Người đã tự làm tổi thương mày rồi đó”… Được bao phủ bởi màu sắc huyền ảo
nhưng nhân vật Đức Phật vẫn có những cảm xúc vui buồn, lo âu, đau khổ, thất vọng khi chưa chọn đúng đường đi rồi lại khao khát tìm ra con đường cứu khổ cứu nạn chúng sinh Phục sinh lại một nhân vật huyền thoại, Hồ Anh Thái đã giúp chúng ta có cơ hội hiểu hơn về nhân vật với tư cách một con người
Trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái lại sử dụng hình thức
xây dựng nhân vật siêu nhiên: Mai Trừng với sức mạnh đi trừng trị những kẻ ác khiến cô gái hiện lên vừa có nét thực lại vừa hư ảo, hoang đường Mai Trừng là một nhân vật siêu nhiên mà ngay chính cô và bà giáo Miên cũng không ý thức ngay được điều đó Phải mãi đến khi có những sự việc ngang trái đến với cuộc sống của cô, những kể định làm điều xấu cho cô đã bị trừng phạt một cách kỳ lạ
Trang 3529
thì cô và mẹ nuôi mới dần dần nhận thức và tin vào lời nguyền của hai người chiến sĩ xưa Từ câu chuyện về sứ mạng đi diệt cái ác của Mai Trừng, người đọc được dẫn đến cuộc đời cha mẹ cô, của bà giáo Miên, của những người thanh niên xung phong thời chống Mỹ… Họ cùng với Mai Trừng tạo thành hình thượng có tính khái quát về cuộc đời, những số phận mong muốn cuộc sống giản dị, bình yên Họ đã vượt lên những đau đớn thiệt thòi của số phận để sống bao dung, độ lượng Cùng với nhân vật Mai Trừng được thể hiện một cách kỳ ảo với sức mạnh siêu nhiên ta còn thấy sự kỳ ảo được tác giả sử dụng đắc địa qua việc miêu tả cái chết của ba chàng trai Cốc, Bóp, Phũ cũng như tai nạn của vợ chồng Quốc Đài Cuộc đời của Cốc, Bóp, Phũ được kể như ba điệp khúc, ba nhân vật, ba cuộc đời,
ba cái chết Nhà văn như muốn kêu gọi người đọc đừng để con người phải rơi vào vòng luẩn quẩn ân oán ấy
Một hình thức kỳ ảo nữa mà Hồ Anh Thái hay sử dụng là hình thức biến
dạng nhân vật Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm là một tiểu thuyết được viết với
giọng hài hước chủ đạo Câu văn thụt thò, dài ngắn có chủ đích Nhưng đến chương tám, ta bắt gặp hình ảnh biến dạng của nhân vật thằng bé Người Cá – thằng bé sinh ra với hai chân dính chặt vào nhau Một hiện thân của sự trả giá đầy vô lý??? Người đọc nao lòng khi thấy thằng người cá gắn liền với xe lăn, với những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất có thể và nó mơ những giấc mơ cổ tích Giọng hài hước không còn nữa, thế giới buông chùng, độc giả cúi đầu bên giường bệnh của thằng bé những phút cuối cùng Hình tượng thằng bé người cá làm người đọc như ngưng lại nhịp sống, nao lòng đến nhức nhối xót xa về cuộc đời của những đứa trẻ thơ ngây trong xã hội bộn bề nhiều pha tạp này
Với các tổ chức chặt chẽ và nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng thủ pháp
kỳ ảo như thế, các tiểu thuyết huyền ảo triết luận đã xây dựng thế giới con người
đa chiều, nhất là con người tinh thần, con người tư tưởng với giác ngộ Từ đó, tác phẩm có sức khái quát cao những quy luật của đời sống và của thế giới tinh thần của con người
Trang 3630
1.2.5 Miêu tả tính cách thông qua tương phản, xung đột:
Đây là một thủ pháp nghệ thuật khá phổ biến thường được sử dụng trong tiểu thuyết luận đề, nhằm làm nổi bật sự khác biệt giữa các nhân vật Cấp độ tương phản này được biểu hiện ở hai cấp độ: tương phản đối chiếu và tương phản đối lập
Sự đối chiếu tương phản trước hết ở các nhân vật, các thế hệ nhân vật trong một tác phẩm Đó trước hết là sự xung đột thế hệ về quan điểm, về cách nhìn nhận, đánh giá cuộc sống, là sự xung đột về thái độ sống, về tính cách giữa các nhân vật thuộc các thế hệ khác nhau: chẳng hạn sự đối lập về cách sống giữa Thế - người cha tỉnh, lạnh, chín chắn với những đứa con nông nổi, ham mê dục vọng, lòng đầy thù hận Cốc, Bóp, Phũ Với thế hệ của Thế, điều quan trọng nhất
là kinh bang tế thế, tìm kiếm những khả năng thành danh, mang lại một nền tảng vững chắc cho đại gia đình lớn với hằng số chung về địa vị, tiền bạc và các mối quan hệ thì ở thế hệ của Đông, sống còn là tìm kiếm một cuộc sống cá nhân cân bằng với những hằng số gia đình- tiền bạc – thành danh Đó còn là sự đối lập giữa cách nghĩ của những lớp người hậu chiến như Khuynh, Diệp với Toàn, Trang, Hùng, Minh, Mỵ, Khắc… trong Người và xe chạy dưới ánh trăng… Sự đối lập giữa các thế hệ tạo nên sự phong phú, đa dạng của một xã hội với nhiều kiểu loại người, nhiều mối quan hệ chằng chịt
Sự đối chiếu tương phản không chỉ giữa nhân vật này với nhân vật kia mà còn giữa mặt này với mặt khác trong chính một con người, trong thế giới nội cảm của con người ấy Đó là sự đối chiếu tương phản đến xung đột trong nội tâm của nhân vật Tôi trong cõi người rung chuông tận thế Nhân vật Tôi – đồng thời
là người kể chuyện, lúc đầu cũng đồng lõa với cái ác, nhưng dần dần, với những
sự việc mà anh ta chứng kiến (cái chết liên tiếp của Bốp, Cốc và Phũ) cùng những kinh nghiệm sống tích lũy được khi đi làm thuyền trưởng, nhân vật tôi đã tìm ra bản chất của quy luật “ác giả ác báo” Từ đó, những tình tiết mang tính xung đột ấy, anh đã giác ngộ, từ bỏ cái ác, tránh được vòng hận – thù để hướng thiện theo quan niệm bao dung của Phật giáo Cũng trong Cõi người rung
Trang 3731
chuông tận thế, tính cách của cô gái Mai Trừng cũng được sáng lộ theo từng cấp
độ xung đột: Những xung đột nhỏ bắt đầu xuất hiện khi cô phát hiện ra mình có một sức mạnh kỳ lạ, mức độ căng thẳng tăng dần lên khi cô liên tục chứng kiến cái chết của những kẻ muốn hại cô, dù biết, những kẻ đó không tốt với mình nhưng với tính cách trong sáng, cô không bao giờ muốn những kẻ đó bị trừng phạt đến vậy Xung đột được đẩy lên cao trào khi sức mạnh thần kỳ trong người
cô đã làm hại chính người yêu của cô Xung đột này đã khiến Mai Trừng đi đến quyết tâm tìm mộ của cha mẹ và giải thoát mình khỏi sức mạnh của một thiên
sứ Cuối cùng, cô mỉm cười hạnh phúc khi mình trở thành người bình thường – mặc dù bị thương ở những trang cuối của tiểu thuyết
Cao hơn sự sắp xếp tương phản đối chiếu là sự tương phản đối lập Đó là
sự đối lập tới xung đột giữa các phạm trù của cuộc sống như Cái Thiện – Cái Ác, giữa sự sống và cái chết giữa các nhân vật và trong chính một nhân vật Đó là sự đối lập giữa Mai Trừng và Yên Thanh, giữa Yên Thanh và Bà giáo Miên, Chị Giềng, giữa ý thức muốn trả thù và lòng mong mỏi được sám hối của Đông…
Sự tương phản đối lập này còn được thể hiện qua sự đối lập giữa nhân vật đời thường và nhân vật siêu nhiên, giữa cái đời thường và cái siêu nhiên ở mỗi nhân vật Mai Trừng mang trong mình sức mạnh trả thù kỳ lạ dữ dội nhưng cô cũng đầy nỗi sợ hãi và khát vọng của một con người bằng da bằng thịt, bằng khối óc: cô trừng trị những kẻ gây ác cho mình nhưng cô cũng xót thương cho
họ lắm “Cô thầm cầu nguyện cho tác giả bức tranh biển không phải vì cô mà chết… Giờ đây cô mới biết thêm rằng có những người chết khuất mắt cô, chết vì điều ác vừa mới manh nha trong ý thức.”
Như vậy, bút pháp miêu tả nhân vật bằng tương phản – xung đột đã đem lại một thành công rực rỡ không chỉ trong việc miêu tả nhân vật mà còn tạo nên
sự thành công của tiểu thuyết triết luận huyền ảo Và Hồ Anh Thái với nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình, đã đưa tiểu thuyết triết luận huyền ảo đến gần hơn với sự hoàn mĩ của nó
Trang 3832
Với nghệ thuật xây dựng nhân vật kể trên, ta thấy Hồ Anh Thái đã đi theo nghệ thuật tự sự đương đại Đọc tiểu thuyết của Thái, nhân vật điển hình và nhân vật trung tâm dường như mờ nhạt đi, ở đó, các nhân vật có quyền bình đẳng với nhau, tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, tự đấu tranh, sám hối và hướng thiện cho chính mình
Từ nghệ quan niệm về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình, Hồ Anh Thái đã tạo ra một thế giới nhân vật của riêng mình với các kiểu nhân vật cơ bản sau:
Nhân vật tự ý thức (tự giác ngộ và sám hối): là loại nhân vật bị ném vào những hoàn cảnh nghiệt ngã (họ phải tự vươn lên, vững tin vào điều thiện, chiến
thắng chính mình: Nhân vật “Tôi” trong Cõi người rung chuông tận thế) hoặc
nằm trong những thời khắc chuyển mình của lịch sử (ý thức cá nhân thể hiện ở tinh thần dám chịu trách nhiệm về lẽ sống của mình, khi cần họ sẵn sàng hy sinh
để bảo vệ niềm tin của mình)
Nhân vật bị tha hóa (cả về quyền lực và đạo đức): Dù không có những nhân vật điển hình như tiểu thuyết giai đoạn trước, tuy nhiên, Hồ Anh Thái cũng
đã xây dựng nên những nhân vật bị tha hóa do quyền lực, do đồng tiền khá sắc sảo là Phũ, Bốp, Cốp Từ đó mà ba nhân vật trở nên tha hóa về đạo đức: ba nhân vật, ba tính cách, ba nghề nghiệp nhưng nhìn chung chúng đều bị tha hóa và xem nhẹ mọi sự trong cuộc sống, luôn làm theo ý thích của mình, vì thế mà chúng đã
bị trả giá Ngay cả vợ chồng Khuynh – Diệu trong Người và xe chạy dưới ánh
trăng cũng là kiểu nhân vật bị tha hóa bởi họ sẵn sàng vì quyền thế, danh vọng,
tiền tài mà hãm hại và hủy hoại người khác, để rồi hủy hoại cả bản thân mình
Nhân vật hài kịch: kiểu nhân vật thể hiện sự không tương xứng giữa thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình trở thành lố bịch
Nhân vật bi kịch (bi kịch của những khát vọng con người) Là nhân vật thể hiện mối xung đột gay gắt bởi những mâu thuẫn không thể nào khắc phục nổi giữa những khát vọng chính đáng riêng tư của con người và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống
Trang 3933
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU 2.1 Cốt truyện
2.1.1 Khái lược về cốt truyện
Vấn đề cốt truyện trong tiểu thuyết từ lâu đã được ngành Tự sự học coi là một trong những yếu tố cơ bản để tìm ra cấu trúc đích thực của tác phẩm văn xuôi, một mắt xích quan trọng tạo nên kết cấu tác phẩm tự sự Cốt truyện nghệ thuật sẽ giúp chúng ta tiếp cận với mô hình tự sự mang phong cách và tài năng của nhà văn Trong xu thế liên ngành sự nghiên cứu cốt truyện không chỉ gắn bó chặt chẽ với các yếu tố của quá trình tự sự mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố của tổng thể văn hóa và văn minh nhân loại Chỉ trong sự liên kết chúng ta mới có thể lý giải được sự phát triển của tính cách cũng như tìm ra tính nội dung trong những hình thức mà nhà văn sáng tạo ra
Theo cách hiểu truyền thống thì cốt truyện “là một hệ thống các sự kiện
phản ánh những diễn biến của cuộc sống, và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ tư tưởng và chủ đề tác phẩm" [7,
tr.137] Bên cạnh đó, Từ điển thuật ngữ văn học cũng định nghĩa cốt truyện là
“hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất
định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [12, tr.88] Cũng với quan niệm
như vậy, tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng “cốt truyện là sự phát triển hành động,
tiến trình sự việc, các biến cố trong tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” [2, tr 133]
Bước sang thời kỳ hiện đại, với quan niệm hiểu cốt truyện là hành trình nhân vật chính di chuyển qua các không gian khác nhau đã cho phép xây dựng
những mô hình cốt truyện theo trình tự các sự kiện của cấu trúc nội tại văn bản
tác phẩm; sự kiện của cấu trúc được tạo nên "biến cố" vượt qua ranh giới của nhân vật hành động Do đó, cốt truyện ít tuân theo quy tắc truyền thống mà có
Trang 40kể lại đầy đủ cốt truyện của một tác phẩm, nhất là một tác phẩm lớn
Trong khi đó, câu chuyện là chuỗi những sự kiện về một vấn đề hoặc nhiều vấn đề nào đó diễn ra theo trật tự tự nhiên, nương theo sự chảy trôi của cuộc sống theo quan hệ nhân quả mà không có sự đảo lộn sắp đặt của người kể Còn cốt truyện là sự sắp xếp thẩm mĩ, không tuân theo trật tự biên niên của sự kiện và quan hệ nhân quả nghiêm nhặt, thống nhất theo ý đồ chủ quan của người
kể về những sự kiện của một câu chuyện nào đó nhằm mục đích nêu bật được tư tưởng chủ đề và tạo sức hấp dẫn tối đa cho người đọc
Tóm lại, cốt truyện có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo nên hình thức vận động của tác phẩm tự sự Khi nhà văn cầm bút viết cũng có nghĩa anh
ta đang thực hiện một dụng ý nào đó Vì thế, với mục đích tìm hiểu nghệ thuật
xây dựng cốt truyện chúng tôi quan niệm khái niệm cốt truyện phải được hiểu
như một khái niệm dung chứa những yếu tố, những khả năng để có thể tạo ra tính nghệ thuật cho một tác phẩm văn học, làm lộ diện dụng ý của nhà văn Như thế, một bản tóm tắt các sự kiện và biến cố theo trật tự biên niên hay nhân quả và một bản tóm tắt các sự kiện và biến cố theo trình tự mà nhà văn cung cấp trong tác phẩm chỉ là những cấp độ khác nhau trong tác phẩm mà nhà nghiên cứu đang
cố gắng tìm cách hiểu chúng Một mô hình cốt truyện như vậy sẽ cho phép