Ngô Minh Hiền Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Đại Học Đà Nẵng Tóm tắt: Luận văn đã thông qua sự khám phá giá trị của thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ NGỌC HOA
NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐÀ NẴNG – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ NGỌC HOA
NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa khoa: PGS TS Ngô Minh Hiền
ĐÀ NẴNG - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Tên đê tài: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
Ngành: Văn học Việt Nam
Họ và tên học viên: Hà Thị Ngọc Hoa
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Ngô Minh Hiền
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Đại Học Đà Nẵng
Tóm tắt: Luận văn đã thông qua sự khám phá giá trị của thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, để đánh giá một cách khách quan về sự sáng tạo và thành công của nhà văn ở việc vận dụng thủ pháp nghệ thuật này trong tiểu thuyết Qua đó khẳng định tài năng, vị trí, vai trò của ông đối với văn chương Việt Nam đương đại
Hồ Anh Thái với sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi vì nghệ thuật, đã cho ra đời nhiều tiểu thuyết mang đậm dấu ấn riêng, đề cập những vấn đề thời sự của xã hội ngày nay với những đứa con tinh thần mang hình hài và tính cách khác nhau Tất cả đã tạo cho nhà văn trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu đã cách tân mạnh mẽ tiểu thuyết Việt Nam Ông đã rất thành công trong việc phản ánh hiện thực thông qua cái nhìn nghịch dị
Đề tài Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã làm nổi bật những đặc điểm của nghệ
thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chỉ ra cách thức Hồ Anh Thái vận dụng các yếu tố, thủ pháp trong quá trình sáng tạo tiểu thuyết của ông Đề tài đã làm rõ nghịch dị không đơn thuần là một thủ pháp mà trở thành tư duy nghệ thuật chi phối quan niệm nghệ thuật của tác giả Với một thái độ nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, ông đã thực sự lăn xả vào cuộc sống và chạm ngòi bút của mình đến những vấn đề nhạy cảm của xã hội, phản ánh sự phức tạp của cõi đời, cõi người hiện hữu hôm nay Từ đó, thông qua các thủ pháp nghịch dị, nhà văn đã đẩy tất cả sự vật, con người và cuộc đời trở nên khác lạ và hấp dẫn; những cái đời thường, những cái được bọc rất kỹ trong lớp vỏ hào nhoáng đều bị bóc trần ra và kiến tạo một thế giới đầy những phi lí, mâu thuẫn, nghịch lí, chấn thương Hiện thực đời sống không chỉ thu gọn trong những biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà rộng hơn, sâu hơn, là cái thường nhật với bao mối quan hệ chằng chịt, chìm ẩn trong những mối quan hệ xã hội, cộng đồng và cá nhân
Từ khóa: Nghịch dị, tiểu thuyết, carnaval, tư duy nghệ thuật, Hồ Anh Thái
Trang 5MASTER THESIS SUMMARY
Name of thesis: THE GROTESQUE IN THE NOVELS BY HO ANH THAI
Major: Vietnamese Literature
Full name of Master student: Ha Thi Ngoc Hoa
Dissertation Instructor: Assos Prof PhD Ngo Minh Hien
Faculty: Pedagogy College of Danang University
Summary: The Thesis has, by discovering the value of the Grotesque in the Novels by Ho Anh Thai, objectively appraised the creation and success of the Novelist by the wield of this Grotesque in his Novels
By his untiring researching and creation for literature, Ho Anh Thai has generated many of his own Novels, describing the current affairs by “brainchildren” with the typically different personality and characteristics All of those has made him become a typical representation, having massively renovated Vietnamese novels
The Grotesque in the Novels by Ho Anh Thai has accentuated the characteristics of the Grotesque in
the Novels by Ho Anh Thai, indicating the ways in which, he has used elements of “art tricks” in his novels The Thesis has obviously pointed out that the Grotesque is not only “an art trick” but also a creative thinking of the art, governing his art conception By his serious attitude in the labor of art, he has, really and practically, described the sensitive social affairs, reflexing the complications of the current life, on which, by the Grotesque, he has made the nature and the human beings and life typically different and attractive and things in common, closely enclosed in the “ shiny crust” have been exposed to the paradoxical society The reality of life has not only been within the historical changings in the social community but also in the routine life with many of the complicated relationships of the society, community and people
Key words: Grotesque, Novels, carnaval, creative thinking of art, Ho Anh Thai
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
2.1.Về cảm quan nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 2
2.2 Về các thủ pháp nghệ thuật làm nên chất nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 4
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc 8
5.2 Phương pháp liên ngành 8
5.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp 8
5.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
7 Bố cục của luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 NGHỊCH DỊ VÀ TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 10
1.1 Nghịch dị và nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết 10
1.1.1.Về khái niệm nghịch dị 10
1.1.2 Nghịch dị - một phương thức nghệ thuật quan trọng trong tiểu thuyết 12
1.1.3 Sự hồi sinh của nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 14
1.2 Hồ Anh Thái và hành trình sáng tạo nghệ thuật 16
1.2.1 Hồ Anh Thái - “Nhà văn luôn luôn đi và bao giờ cũng đang viết” 16
1.2.2 Tiểu thuyết nghịch dị của Hồ Anh Thái - sự kiếm tìm sáng tạo 18
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái 20
1.3.1 Nhà văn “phải là người tử tế” 20
1.3.2 Văn chương phải luôn “chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” 22
Trang 71.3.3 “Tiểu thuyết là một giấc mơ dài” 24
Tiểu kết 25
CHƯƠNG 2 CẢM QUAN CARNAVAL VÀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 26
2.1 Cảm quan Carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 26
2.1.1 Cường điệu hóa những mâu thuẫn trong cuộc sống 26
2.1.2 Sáng tạo những tương phản kỳ quặc 30
2.1.3 Cái nhìn trào lộng về cuộc sống, con người 32
2.1.4 Kế thừa tư duy văn hóa, văn học dân gian 35
2.2 Hình tượng nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 38
2.2.2 Con người - Nhân vật mặt nạ diễn trò 41
2.2.3 Không - thời gian trò diễn 47
Tiểu kết 50
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 51
QUA CÁC THỦ PHÁP BIỂU HIỆN 51
3.1 Carnaval hóa thế giới nghệ thuật 51
3.1.1 Xây dựng tình huống nghịch lý 51
3.1.2 Lạ hóa biểu tượng nghệ thuật 54
3.2 “Hoàn cảnh hóa” ngôn ngữ nghệ thuật 58
3.2.1 Sử dụng các biệt ngữ xã hội và lớp “thuật ngữ thời đại” 58
3.2.2 “Thông tục, suồng sã hóa” ngôn ngữ 61
3.3 Linh hoạt trong giọng điệu nghệ thuật 65
3.3.1 Tối đa hóa giọng giễu nhại 65
3.3.2 Kết hợp giọng trào phúng dân gian với triết lý hiện đại 69
Tiểu kết 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghịch dị là một thủ pháp nghệ thuật nhằm tổ chức hình tượng nghệ thuật dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc giữa cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, cái giống như thực với cái biếm họa Trên thế giới, nghệ thuật nghịch dị đã tồn tại khá phổ biến trong các sáng tác văn học dân gian hay văn học cổ đại châu Âu, không chỉ trong tác
phẩm của F Rabelais (Gacganchuya và Pantagruyen), nghịch dị còn được tìm thấy trong nhiều tác phẩm sau đó của các nhà văn nổi tiếng như Muguelde Cervantes (Don
Quixote), Franz Kafka (Biến dạng, Vụ án, Lâu đài), Victor Hugo (Nhà thờ Đức Bà
Paris), Nikolai Gogol (Chiếc áo khoác, Quan thanh tra)…
Ở Việt Nam, nghịch dị xuất hiện từ rất sớm bằng sự phóng đại gây cười trong
ca dao, hát đối đáp; bằng việc xây dựng những hình tượng nhân vật xấu xí trong truyện
cổ tích; bằng việc tạo tiếng cười trào lộng trong các tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương và xuất hiện với tần suất dày đặc trong truyện ngắn của Nam Cao, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng,…
Sau 1986, cùng với sự đổi mới toàn diện trong xã hội, văn học Việt Nam đương đại đã đạt được những thành tựu đáng kể về nội dung và nghệ thuật Một trong những thành tựu phải kể tới là sự cách tân nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mới của
xã hội Cùng với các thủ pháp nghệ thuật hiện đại, nghệ thuật nghịch dị được các nhà văn Việt Nam sử dụng như một phương tiện nhằm thể hiện lối tư duy nghệ thuật hiện đại, tiếng nói tự do dân chủ cùng với sự nhìn nhận, đánh giá hiện thực cuộc sống con người một cách mới mẻ Cảm quan nghịch dị trong văn xuôi đương đại Việt Nam thường được các nhà văn cụ thể hóa bằng việc kiến tạo những hình tượng lệch chuẩn, gắn với nhu cầu phê phán những điều lệch lạc, xấu xa trong hiện thực đời sống Thành công với nghệ thuật nghịch dị là các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái… Bằng sự thành công này, họ không chỉ tạo ra trong tác phẩm của mình những thông điệp giàu ý nghĩa xã hội và nhân sinh
mà còn góp phần đáng kể vào quá trình đổi mới tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Hồ Anh Thái là nhà văn đã khẳng định được phong cách nghệ thuật độc đáo qua những tác phẩm nghệ thuật đầy ấn tượng Ở thể loại tiểu thuyết, với cái nhìn tỉnh táo, sắc sảo, ông đã thiết lập được trong các tác phẩm của mình cái nhìn tự do, thái độ
Trang 9châm biếm độc đáo nhằm vào mảng hiện thực chứa chất những vô lý, nực cười, quái
lạ Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, vì thế không chỉ là tiếng cười giễu nhại mà còn ẩn chứa những thông điệp ý nghĩa thức tỉnh con người Có thể nói những cách tân nghệ thuật của Hồ Anh Thái đặc biệt ở nghệ thuật nghịch dị đã tạo nên giá trị nghệ thuật cho tiểu thuyết của ông, giúp ông khẳng định phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của mình đồng thời góp phần không nhỏ vào việc cách tân, làm phát triển mạnh mẽ văn xuôi Việt Nam đương đại
Chọn nghiên cứu đề tài Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái,
chúng tôi mong muốn chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nghệ thuật nghịch dị mà Hồ Anh Thái đã sử dụng trong tiểu thuyết của ông, phân tích, đánh giá giá trị của chúng trong việc tạo ra những đặc sắc cho tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đồng thời khẳng định tài năng, sự sáng tạo và những đóng góp của nhà văn đối với văn học Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1.Về cảm quan nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Huỳnh Thị Thu Hậu, khi nghiên cứu về Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết
Việt Nam từ 1986 đến 2012 đã cho rằng: “Nhờ có nghịch dị, tính chất tiểu thuyết được
gia tăng Tuy nhiên, nghịch dị ở mỗi tác giả, trong từng tác phẩm cũng không hoàn toàn giống nhau về cấp độ Hay nói cách khác, có một số tác giả như Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, nghịch dị được biểu hiện đậm nét, mang tính thế giới quan” [28,138]
Phan Trọng Hoàng Linh khi nghiên cứu Tiểu thuyết Carnaval hóa tiểu thuyết
Hồ Anh Thái nhìn từ nhân vật nghịch dị đã phát hiện tiếng cười chính là cảm quan
nghệ thuật chi phối sáng tác của Hồ Anh Thái: “Có thể lấy tiếng cười làm tiêu chí nhận diện cảm quan carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, mặc dù không phải tác phẩm văn học carnaval hóa nào cũng hài hước (như tiểu thuyết Dostoievski), và không phải cái hài nào cũng có tính carnaval (như cái hài phủ định thuần túy) Là bởi trong hành trình sáng tạo của Hồ Anh Thái, sự xuất hiện của tiếng cười, ngay từ bề nổi, đã đi kèm (hay là hệ quả) các hình thức của cái tục, sự giễu nhại, tình trạng “hôn phối không tương xứng”…, từ đó chi phối đến cấu trúc hình tượng và cấu trúc văn bản truyện kể Tiếng cười đánh dấu sự chuyển biến khá căn bản trong cái nhìn nghệ thuật của nhà văn” [42]
Trong bài viết Cái hài trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, tác giả Phan Trọng
Hoàng Linh có nhận xét “tư duy carnaval gần như đã làm thay đổi toàn bộ cấu trúc tác
Trang 10phẩm của Hồ Anh Thái ở cấp độ hình tượng, cho thấy sự chuyển biến trong cái nhìn nghệ thuật về thế giới và con người” [43,153]
Cũng theo Phan Trọng Hoàng Linh thì “Có thể lấy tiếng cười làm tiêu chí nhận diện cảm quan carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái”(…) “Tiếng cười đánh dấu sự chuyển biến khá căn bản trong cái nhìn nghệ thuật của nhà văn” [41]
Khi giới thiệu tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, tác giả Từ Nữ đã cho rằng đây là
cuốn tiểu thuyết “với cách viết hài hước, tràn đầy chi tiết carnaval, khiến nó trở thành cuốn sách được yêu thích nhất trong tháng 3-2006” [69,354]
Còn Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thùy trong bài Đặc trưng ngôn ngữ tiểu
thuyết của Hồ Anh Thái trên Báo Đại biểu nhân dân thì nhận định “tiếng cười trong
văn xuôi Hồ Anh Thái nói chung, tiểu thuyết nói riêng, không lộ liễu, nghiêng về bản năng, dung tục chỉ để “thọt lét” độc giả chuộng lạ mà chứa đầy ý vị, kín đáo, tinh tế, sâu sắc, bộc lộ rõ cái tầm, cái tâm của người viết” [69,379]
Trong lời giới thiệu tuyển tập tác phẩm của Hồ Anh Thái, tác giả Wayne Karlin
có viết: “Ở cuốn Trong sương hồng hiện ra cũng như các tiểu thuyết và truyện ngắn
khác, trong đó chất hài hước, chất lạ quyện với chất Kafka dường như gây bất ngờ cho người đọc phương Tây khi họ tìm hiểu văn học Việt Nam” [66,189]
Trong khi đó, Dina Shilo với bài Xuyên qua màn sương hồng của quá khứ thì
khẳng định: “Tác giả đã viết với sự hài hước tinh tế, khiến cho cuốn sách này hấp dẫn
và mang đầy tính thưởng thức” [66,203]
Khi xem xét, đánh giá về văn học đương đại, trong bài Một cái nhìn về thực tiễn
văn chương hậu hiện đại, tác giả Phùng Gia Thế nhận định: “cái hài, cái nghịch dị
trong sáng tác của Hồ Anh Thái, vừa “lột tả” được bản chất đối tượng, vừa dung hợp được cái bác học của suy tư với cái suồng sã của văn hoá bình dân, một sức mạnh của
trào tiếu dân gian” [78]
Tác giả Dan Duffy, trong bài viết Nhà văn bẩm sinh mang gương mặt nhà
ngoại giao cho rằng những câu chuyện kỳ ảo mà Hồ Anh Thái tưởng tượng “vừa là sự
giải trí nhẹ nhàng, vừa là sự châm biếm sắc sảo đời sống đương đại” [66,213]
Với Trần Thị Hải Vân trong bài viết Một chiêm nghiệm “Cõi người” đăng trên báo Văn nghệ, số 16, 18-4-2009 cho rằng theo thời gian, qua những tác phẩm Cõi
người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm và Đức Phật, nàng Savitri và Tôi, Hồ
Anh Thái sắc sảo hơn, châm biếm, giễu nhại cũng sâu cay hơn Anh đã có những bứt phá trên hành trình nghệ thuật” [89]
Trang 112.2 Về các thủ pháp nghệ thuật làm nên chất nghịch dị trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái
Trong bài viết Những đứa con rải rác trên đường – Hiện thực không ranh giới
ranh giới bi – hài kịch trong cốt truyện, tác giả Trần Thị Ty đã thấy rằng điều đặc biệt
tạo nên hiện thực trong Những đứa con rải rác trên đường và một số tác phẩm khác
của Hồ Anh Thái không gì khác là chất nghịch dị và “Chính trong những tình huống đậm chất nghịch dị ấy hẳn nhiên người đọc đã thấy nó vừa có hài, vừa có bi trong tình huống truyện” [87]
Ở bài viết Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm, tác giả Hoài Nam khẳng định những tình huống nghịch dị trong Mười lẻ một đêm “được tạo bởi những
nhân vật nghịch dị”, “những tình huống nghịch dị này tạo ra ấn tượng mạnh về một đời sống mất chuẩn” [69,395]
Còn trong bài Chất nghịch dị trong tiểu thuyết “Những đứa con rải rác trên
đường” của Hồ Anh Thái, tác giả Vũ Thị Thanh Hoài nêu rõ: “Hạt nhân của tình
huống nghịch dị là các mâu thuẫn Đó là những mâu thuẫn đầy tính nghịch lý, oái oăm, khác thường, trớ trêu, hài hước” [36]
Quan tâm đến sự hồi sinh mạnh mẽ của chất nghịch dị trong văn xuôi Hồ Anh Thái và các nhà văn đương đại, Vũ Thị Thanh Hoài cũng cho rằng “Nghịch dị đã góp phần thể hiện cái nhìn dân chủ, tư duy hiện đại, đi cùng tiếng cười châm biếm, giễu nhại Thông qua những hình tượng trái với thông thường, ở dạng thức méo mó, lệch lạc so với thông niệm, hiện thực được khuếch đại, tô đậm, biểu hiện một thái độ tiếp cận đối tượng “suồng sã”, phi thành kính Những hình tượng nghịch dị ấy vừa đi sâu vào bản thể con người vừa chạm đến những vấn đề muôn thuở của cuộc sống” [37]
Khi đánh giá về tác phẩm “Những đứa con rải rác trên đường” của Hồ Anh Thái, Phan Trần Thanh Tú nhận định: “Nhân vật ông Kễnh cũng là một hình tượng
nghịch dị điển hình khi con người quyền uy đạo mạo đó lại có đến 32 người con Đặc tính di truyền nổi bật nhất mà ông Kễnh để lại cho con trai không gì khác ngoài cái
“dai huyền dài” mà cậu cũng tận dụng ưu thế của nó một cách tối đa y như ông bố” [82]
Tác giả Phạm Phú Uyên Châu đã nhận thấy một số nhà văn Việt Nam hiện đại
trong đó có nhà văn Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế đã “sử dụng hình
tượng ma như thủ pháp nghệ thuật, như chìa khoá diệu kì dẫn con người vượt qua cánh
cửa giới hạn hiện thực - tâm linh” [11]
Trang 12Với Phạm Thị Mỹ Anh, điều đặc biệt trong nghệ thuật xây dựng nhân vật qua chi tiết gợi bản chất trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “các chi tiết nhà văn chọn lựa đều thành công khi khắc họa nhân vật đậm chất nghịch dị” [2,75]
Trong khi đó, Huỳnh Thị Thu Hậu đã nhận thấy Hồ Anh Thái đã chạm đến vấn
đề giải phóng tính dục khi xây dựng các nhân vật nữ nghịch dị bằng cách phóng đại
những đòi hỏi bản năng nhục dục của họ: “Nhân vật người Mẹ trong Mười lẻ một đêm
của Hồ Anh Thái ám ảnh chúng ta bằng yếu tố vật chất xác thịt Người mẹ là một kiểu nhân vật nghịch dị được tạo bởi thủ pháp phóng đại nét tính cách dâm đãng và hám
của.”; Yên Thanh trong Cõi người rung chuông tận thế là “hoa khôi sống buông thả
Trong khi đó, hai tác giả Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thùy lại cho rằng:
“Nhân vật trong tác phẩm của anh phần đông là những con người đa cực, đa trị, bất
bình thường” [65,261]
Nhà nghiên cứu Vân Long khi đánh giá nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã khẳng định: “Với thủ pháp sử dụng thành ngữ, khẩu ngữ đời thường, lối viết tràn câu, tràn dòng, bỏ dấu…anh đang muốn thể hiện một xã hội đang sôi động đổi mới nhưng vẫn đan xen những cái lố lăng bất cập…Phải chọn sự hài hước thông minh để phê phán một cách hữu hiệu!” [68,465]
Khi xem xét ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái, trong bài viết Hồ Anh Thái và
nỗ lực đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986, tác giả Bùi Thanh Truyền cho rằng Hồ
Anh Thái có tài và đặc biệt nghiêm cẩn trong tiếp biến hệ thống lời ăn tiếng nói đời thường để tạo màu sắc riêng cho trang viết “khiến sáng tác của tác giả đôi lúc giống như một hình tượng ngôn ngữ giễu nhại với sự tổng hòa nhiều sắc độ: lúc suồng sã, thân mật, lúc hoài niệm, triết lí, lúc bặm trợn, chao chát, lúc cợt nhả, chợ búa ” [86]
Trong bài Hồ Anh Thái lấy chữ mà chơi in trong phần Dư luận của tiểu thuyết
SBS là săn bắt chuột, tác giả Đoàn Lê viết: “Những vấn đề nghiêm túc đến mấy,
những dòng chữ đau cứa vào tâm hồn người đọc đến mấy, ông vẫn cứ cười cợt, nghịch ngợm khoác cho cái áo hài hước” [70,378]
Trang 13Còn trong bài Chất nghịch dị trong tiểu thuyết “Những đứa con rải rác trên
đường” của Hồ Anh Thái, Vũ Thị Thanh Hoài khẳng định: “Để diễn tả sự lố bịch, quái
đản, Hồ Anh Thái sử dụng một ngôn ngữ pha trộn giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ hàng ngày tạo nên ấn tượng về một thế giới bất ổn, lộn xộn và vô lý” [36]
Phạm Chí Dũng đã tìm thấy sự thành công tiểu thuyết Cõi người rung chuông
tận thế của Hồ Anh Thái khi so sánh với một vài tiểu thuyết hiện đại Đó là “ngoài yếu
tố mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào vấn đề cá nhân hôm nay như nhà văn Tô Hoài nhận xét; còn vì bút pháp châm biếm trào lộng, mặc dù có đôi chỗ hơi thái quá, nhưng quả tình là đặc biệt và đặc sắc, với một kho ngôn ngữ dân gian
ẩn dụ và tả thực phải nói là rất phong phú, cùng với điểm nhìn khách quan và thái độ giễu cợt của nhà văn đối với những mặt trái của xã hội cứ thế mà tuôn trào ra, được lôi
tuột ra, không che giấu gì cả… đã làm cho cuốn tiểu thuyết này trở nên sức cuốn hút” [67,317-318]
Tác giả Phan Trọng Hoàng Linh trong bài viết Cái hài trong tiểu thuyết Hồ Anh
Thái đã cho rằng: “Sự chơi trong sáng tạo nghệ thuật của ông thể hiện trên nhiều cấp
độ, nhưng trước hết, luôn bắt đầu với hành trình thể nghiệm trò chơi ngôn từ qua từng tác phẩm” [43,154]
Còn tác giả Hoài Nam khi nghiên cứu Chất hài hước, nghịch dị trong “Mười lẻ
một đêm” lại chú ý giọng điệu đặc trưng của văn xuôi Hồ Anh Thái: “Tất cả các câu
chuyện đều được kể lại với ngôi thứ ba số ít; và luôn luôn giọng phát ngôn này đan cài, bị đánh lẫn vào giọng của chính các nhân vật đang được nói tới, nó tạo nên một kiểu giọng tưng tửng, giỡn cợt, giễu nhại rất đặc trưng cho văn xuôi Hồ Anh Thái giai đoạn gần đây” [51]
Nhà nghiên cứu Thúy Nga thì cho rằng: “Giọng bỡn cợt và hài hước theo suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết mới nhất này của anh.” [69,358]
Thái Phan Vàng Anh qua cảm hứng cùng với việc cấu tạo ngôn ngữ và cấu trúc câu của Hồ Anh Thái đã nhấn mạnh: “Chất giễu nhại kiểu grotesque, chất trào tiếu dân gian làm nổi rõ sự va đập giữa hai mảng sáng tối: một thế giới của văn hóa và một thế giới lộn nhào mọi giá trị, lố bịch và kệch cỡm Chính sự dung hợp giữa chất trào tiếu dân gian và chất suy tưởng bác học ấy đã khu biệt giọng điệu Hồ Anh Thái trong bản hợp xướng nhiều bè của tiểu thuyết Việt Nam đương đại” [3,11]
Trang 14Nhà nghiên cứu Mai Hải Oanh thì coi Hồ Anh Thái là nhà văn “có ý thức sử dụng bút pháp giễu nhại thành công và phong cách trần thuật này ám cả vào giọng điệu của nhà văn ” [55,11]
Còn Sông Thương trong Mười lẻ một đêm: Ngả nghiêng trần thế lại cho rằng:
“Mười lẻ một đêm được viết bằng giọng hài hước chủ đạo, thậm chí có đoạn được lồng
vào cả “truyện cười dân gian” Câu văn thụt quen thuộc thò dài ngắn chủ đích… Tác giả dũng cảm - phải dùng chữ dũng cảm - nhảy thẳng vào những ngổn ngang của đời sống hôm nay” [79]
Cũng đánh giá về giọng điệu tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, Nguyễn Thị Minh
Hoa đã nhấn mạnh: “Cảm hứng chế giễu, châm biếm đã chi phối giọng điệu của Mười
lẻ một đêm, đó là giọng hài hước, giễu cợt” [34]
Với cái nhìn của tác giả Lâm Huy thì Hồ Anh Thái đã “đem đến cho độc giả từ đầu đến cuối là một giọng điệu châm biếm, hài hước và cười cợt quen thuộc những trò
lố lăng, kệch cỡm về đời sống thị dân, giới tri thức nửa mùa, những kẻ bất tài mang danh nghệ sĩ…” [69,348]
Và với Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thùy thì: “Giọng trào lộng của tiểu thuyết
Hồ Anh Thái đã thể hiện rõ chức năng tái tạo hiện thực bằng tiếng cười”[69,382]
Nhà văn Ma Văn Kháng khi phát biểu về giọng văn của Hồ Anh Thái đã nhận xét “có cái thông minh, hóm hỉnh vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống Hơn nữa, cái này mới là cái thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại, cay chua mà tâm thiện” [67,315]
Cũng nhận xét về giọng điệu tiểu thuyết của nhà văn, Vân Long viết trong bài
Cái ảo trên nền thực: “Hồ Anh Thái đặc biệt mài sắc gọng kể trào lộng, hóm hỉnh của
mình Tác giả chỉ chấm phá vài nét, ta đã thấy nhân vật đó lồ lộ tính cách như đã gặp ở ngoài đời vậy” [67,297]
Có thể nhận thấy rằng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật nghịch
dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ
đề cập riêng về một số khía cạnh nghệ thuật như nhân vật nghịch dị, ngôn ngữ nghịch
dị, giọng điệu nghịch dị… mà chưa xem xét chúng như một chỉnh thể tạo nên nghệ
thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Vì vậy, việc xem xét, đánh giá Nghệ
thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa
khoa học
Trang 153 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, người nghiên
cứu hướng tới làm nổi bật những đặc điểm của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái; chỉ ra cách thức Hồ Anh Thái vận dụng các yếu tố, thủ pháp nghịch dị trong quá trình sáng tạo tiểu thuyết của mình Thông qua đó, khẳng định tài năng, vai trò, vị trí và những đóng góp của Hồ Anh Thái với tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng và văn xuôi Việt Nam nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tiểu thuyết Hồ Anh Thái:
- Cõi người rung chuông tận thế (2002), NXB Trẻ;
- Đức phật, nàng Savitri và tôi (2006), NXB Trẻ;
- Mười lẻ một đêm (2006), NXB Trẻ;
- SBC là săn bắt chuột (2011), NXB Trẻ;
- Dấu về gió xóa (2012), NXB Trẻ;
- Những đứa con rải rác trên đường (2014), NXB Trẻ;
- Tranh Van go gh mua để đốt (2018) NXB Trẻ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các các yếu tố, thủ pháp nghịch dị được Hồ Anh Thái vận dụng khi sáng tạo tiểu thuyết được biểu hiện cụ thể ở phương diện nội dung
và nghệ thuật tiểu thuyết
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Sắp xếp, cấu trúc các tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thành một hệ thống phù hợp
với mục đích nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của nhà văn
5.2 Phương pháp liên ngành
Vận dụng kết hợp phương pháp của các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như văn hóa, sân khấu, phân tâm học… để khám phá tiểu thuyết Hồ Anh Thái nhiều góc độ nhằm làm nổi bật nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
5.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trang 16Xem xét, lý giải, đánh giá nghệ thuật nghịch dị trên các phương diện như cảm quan nghệ thuật, cách phản ánh hiện thực, việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật…
5.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu
So sánh sự tương đồng và khác biệt của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái với tiểu thuyết một số nhà văn đương đại như Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương… để làm nổi bật sự đặc sắc trong nghệ thuật nghịch dị của tiểu thuyết Hồ Anh Thái
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Tìm hiểu, đánh giá các thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đưa ra những nhận định khách quan về sự sáng tạo thành công của Hồ Anh Thái trong việc vận dụng thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của nhà văn
Khẳng định sự độc đáo của tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng như tài năng, vai trò, vị trí của ông đối với văn chương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Nghịch dị và tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong dòng chảy tiểu thuyết
Việt Nam đương đại
Chương 2: Cảm quan Carnaval và hình tượng nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Chương 3: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua các thủ pháp biểu hiện
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1
NGHỊCH DỊ VÀ TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Nghịch dị và nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết
1.1.1 Về khái niệm nghịch dị
Theo Từ điển văn học, “nghịch dị (tiếng Italia: grottesco; tiếng Pháp: grotesque;
còn được dịch là thô kệch hoặc kỳ quặc); là thuật ngữ chỉ một cách tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc cái huyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thật và cái biếm họa” [30,1053]
Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học, “nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng
nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, cái giống như thực với cái biếm họa Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên, chẳng hạn: “Lỗ mũi thì tám gánh lông - Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho” (Ca dao) Hoặc trong cái mũi của Gogol, cái mũi trên mặt viên tướng Kô-va-lép bỗng nhiên biến mất một cách không sao giải thích được rồi sau lại trở về chỗ cũ và cái việc bất thường ấy dần dà trở thành bình thường đến nỗi có viên quan nọ ngả mũ chào cái mũi của ông ta đang đi dạo trên bờ sông Nê-va…Những thế giới người tí hon và người khổng lồ mà chàng Gu-li-vơ gặp phải cũng là một thế giới nghịch dị Nghịch dị khác với kì ảo (fantastique) và châm biếm (satire), mặc dù có sự gần gũi và có sử dụng yếu tố này Kiểu hình tượng nghịch dị vốn có trong thần thoại
và trong nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc, nhưng chỉ trong sáng tác của một số nhà văn cổ đại ở văn học Châu Âu và trong văn học dân gian, nó mới trở thành thủ pháp Ở thế kỉ XX, chất nghịch dị trở thành hình thức tiêu biểu của nghệ thuật, kể cả một loại khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa (chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực) Ở kiểu hình tượng nghịch dị hiện đại chủ nghĩa, thế giới quen thuộc với ta bỗng chốc biến thành thế giới thù địch, xa lạ, ở đó ngự trị cái vô nghĩa giống như một sức mạnh siêu
Trang 18nhân không thể hiểu được, một tất yếu vô điều kiện biến con 26 người thành con rối, chất nghịch dị ở đây trở thành nỗi sợ sống, trở thành ý thức về sự phí lí sinh tồn” [24,141-142]
Trong thực tế, “Nghịch dị” là kiểu hình tượng đã có từ xa xưa trong các hệ thần thoại, trong cổ ngữ của mọi dân tộc Đó là hình thức đặc trưng cho văn hóa dân gian, nhất là trong các lễ hội cải trang ở châu Âu trung đại
Nadan Tamarchenco coi Nghịch dị (grotesque) “là một trong những thủ pháp tiếp cận thẩm mĩ đối với hiện thực” Còn M Bakhtin lại quan niệm nghịch dị là lệch, chống, phá chuẩn, mà chuẩn ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã
xơ cứng, hoàn kết Theo đó, ở thời đại Phục Hưng, thuật ngữ nghịch dị xuất hiện lần đầu tiên nhưng lúc đó theo nghĩa hẹp
M.M.Bakhtin đã đưa ra mô hình mĩ học nghịch dị và chứng minh một cách thuyết phục qua những sáng tác của Francois Rabelais và nâng lên thành lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực nghịch dị mà hạt nhân cơ bản là tiếng cười lưỡng trị trong nền văn hóa trào tiếu dân gian Ông cho rằng trên thực tế, chính hình tượng nghịch dị giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cái tất yếu phi nhân đã ngấm sâu vào những quan niệm chính thống về thế giới Cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái tương đối và hữu hạn Và, hình tượng nghịch dị thường mang tính nước đôi và mâu thuẫn Chúng kì dị, quái đản và xấu xí theo quan điểm của mọi thứ mĩ học
cổ điển, tức là mĩ học của một sự sinh tồn và hoàn kết
Như vậy, nghịch dị tồn tại từ lâu trong nghệ thuật, đóng vai trò khác nhau trong
các nghệ thuật khác nhau Nói như nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn
học bộ mới thì “trong lịch sử và lí luận văn học, nghịch dị khi thì được xem là thủ pháp
của cái hài, khi thì được xem là mức độ sắc sảo của sự châm biếm, khi thì được nhấn mạnh ở tính táo bạo của hình tượng huyễn tưởng” [30,1053] Nghịch dị cũng là một nguyên tắc miêu tả hiện thực trong đó kết hợp một cách nhân tạo các sự vật thuộc các loại sinh vật khác nhau, phá vỡ sự giống như thật của mô phỏng đời sống, kết hợp những cái không thể kết hợp được
Và vì thế, có thể hiểu nghịch dị là thế giới quan, là nghệ thuật, là thủ pháp, là một kiểu ước lệ đặc thù Nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái
tự nhiên Hạt nhân quan trọng nhất của nghệ thuật nghịch dị là tính lưỡng trị, tính nước đôi, tính chưa hoàn kết Xét về sự thể hiện đầy đủ bản chất thể hiện khái niệm nghịch
dị, chúng tôi chọn khái niệm: Nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật
Trang 19(hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, là sự hòa trộn của cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa, bình thường và bất thường, lạ lùng, kì quặc
1.1.2 Nghịch dị - một phương thức nghệ thuật quan trọng trong tiểu thuyết
Ở thế kỉ XX, nghịch dị trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật Các motif nghịch dị có mặt trong sáng tác của một loạt nghệ sĩ lớn của thế kỉ XX như Swift, Hoffman, Kaffka, Bungacov, Faulkner v.v Thế giới nghịch dị ở họ nói chung
không loại trừ nguyên tắc hiện thực (Hóa thân và Vụ án của Kafka, Khi tôi nằm xuống
của Faulkner)… vẫn “thiên về tố cáo một chiều nhưng hướng tới sự luận bàn triết lý về những xung đột xã hội và tinh thần của thế kỉ XX” [30,1053] Nghịch dị là thủ pháp
mà nhiều nhà văn phi lí sử dụng và được dòng kịch phi lí đẩy lên thành một thủ pháp chủ đạo Sự có mặt và tồn tại lâu bền của nghịch dị trong tiến trình phát triển của văn học cũng như giá trị nghệ thuật của nó trong mỗi sáng tác của các nhà văn cho thấy đây là một phương thức quan trọng trong văn học từ cổ chí kim đặc biệt là trong tiểu thuyết Trải qua các giai đoạn lịch sử, các thời kỳ văn học, nghịch dị với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đã có nhiều biến đổi, bổ sung, mỗi thời kì có một màu sắc riêng
Ở Việt Nam, thời trung đại, nghịch dị thể hiện ở việc hướng đến việc trình bày những cái đời thường, những hình tượng mà trong văn chương chính thống nhà Nho vốn không đề cập đến vì họ sợ vi phạm vào những chuẩn mực đạo đức và văn phong
đã trở thành các quy phạm cổ điển Từ đó hướng đến một quan niệm khác, một cái nhìn khác về thế giới, rằng cái mà từ trước tới nay vốn được cho là không trang nghiêm, không chính thống vẫn tồn tại, vẫn luôn khiêu khích và có những lí lẽ tồn tại của riêng nó Nghịch dị trong thời đại này vì thế mà đối thoại với truyền thống trang nghiêm
Trong văn học hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có thể được coi là những tác phẩm thấm đẫm chất nghịch dị Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng mang đến những tiếng cười mỉa mai về tình trạng đạo đức giả tạo tồn tại nghiễm nhiên trong những hình thức trang nghiêm Ông hướng đến các tầng lớp tinh hoa trong địa vị
xã hội nhưng lại rất “rởm đời” Họ là những người đội mặt nạ, là những biểu hiện lệch lạc và không tương xứng giữa phẩm chất và những chuẩn mực hành vi của con người
Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn hướng đến miêu tả thế giới thông qua các hình thức giễu nhại, cười cợt, suồng sã, giáng cấp, vật hóa, sử dụng
Trang 20ngôn ngữ chợ búa, chửi rủa, v.v Những yếu tố này có thể tìm thấy trong các tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già), Tạ Duy Anh (Thiên thần
sám hối), Đặng Thân (Những mảnh hồn trần) v.v Nó hướng đến một quan niệm nghệ
thuật về bản chất của con người, quan hệ giữa chúng với nhau và với thế giới Đồng thời hướng đến việc cấp một cái nhìn khác về hiện thực vốn trang nghiêm và đặt nặng các quy chuẩn Cũng vì thế trong tương quan với những biểu hiện đa dạng của cuộc sống Nghịch dị hướng đến việc cho con người thấy bản thân mình một cách tự nhiên
ở khía cạnh cảm tính sống động Nó vừa khai tử một thế giới nào đó, vừa tái sinh và hướng đến đổi mới
Nếu tiểu thuyết được hiểu là “thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” [30, 1716]; là “thể loại của tinh thần tự do, vượt ra khỏi sự gò bó của những luật lệ cũ và cho phép sự sáng tạo về hình thức cũng như về chủ đề” [24, 328] thì với tính chất luôn luôn biến đổi, có khả năng phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực, tiểu thuyết là thể loại chính trong tiến trình phát triển văn học đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt
Và nghịch dị, khi hiện diện trong tiểu thuyết, nó có sự liên quan đến kiểu, cách thức tổ chức hình tượng nghệ thuật Nó hướng tới việc biểu hiện một hệ thống các dấu hiệu đặc thù của thế giới thông qua hình tượng nhân vật, qua ngôn ngữ, v.v thông qua các biểu hiện đó nhà văn hướng đến các ngụ ý, sự trào phúng, v.v mang đến một cái nhìn riêng và khác về thế giới Cũng ở điểm này, nó thuộc một yếu tố quan trọng của phong cách
Nghịch dị hướng đến một kiểu ước lệ đặc thù mang tính phi logic Cả không gian nghệ thuật đảo lộn, hướng đến sự tự do của hư cấu nghệ thuật nhằm phá hủy các hình thức vốn bị tư duy duy lí áp đặt trong các chuẩn mực của đời sống thông thường
Và rộng hơn, nó hướng đến tái sinh một hình thức khác, một trạng thái khác của sinh tồn Và đặc biệt, ở chiều sâu, nghịch dị hướng đến phạm vi tư tưởng, quan niệm nghệ thuật Nó đề xuất một quan niệm lưỡng trị, tính tương đối, sự không hoàn tất của tồn tại Nó hướng đến sự định hướng và định giá lại bản chất đời sống Nó chống lại những thứ thù nghịch với con người, chống lại sự phi nhân, phi lí Nó cho phép kết hợp những cái trái ngịch và xích gần lại những cái xa cách, giúp giải phóng ý thức con người khỏi quan điểm chính thống về thế giới, khỏi mọi sự ước lệ, mọi chân lý khuôn
Trang 21sáo, khỏi tất cả những gì là bình thường, quen thuộc, được mọi người thừa nhận Nó cho phép nhìn thế giới bằng con mắt mới, nhận thấy tính tương đối của mọi thực tại hiện hữu và khả năng có thể có một trật tự thế giới hoàn toàn khác …
Chính vì thế, đằng sau những hình tượng nghịch dị là nỗi đau nhân tình, thế thái mang tính nhân đạo và triết lý cao đẹp; là mong muốn con người vững vàng với ý thức
tự điều chỉnh hành vi đạo đức và hoàn thiện nhân cách của mình Nó thanh lọc hóa tất
cả các mối quan hệ cá nhân và xã hội, và sau tất cả, nghệ thuật nghịch dị giữ vai trò to lớn, góp phần đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về thể loại trong sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng Sự có mặt của nghệ thuật nghịch dị đã hình thành nên dòng tiểu thuyết nghịch dị bên cạnh những khuynh hướng tiểu thuyết khác Bởi tinh thần của nghịch dị phù hợp với sự đổi mới quan niệm
về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại của văn học Việt Nam đương đại
1.1.3 Sự hồi sinh của nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986
Ở Việt Nam, nghịch dị đã xuất hiện từ khi có những hoạt động diễn xướng dân
gian và văn học truyền khẩu Trong văn học dân gian, nghịch dị thường gắn với tiếng cười vui vẻ, không đả kích, được thể hiện bằng sự tương phản trong các hình tượng dị
biệt, kiểu nhân vật xấu xí, quái dị với sự nghịch dị về thể xác Đến thời kỳ văn học
trung đại, do hoàn cảnh và yêu cầu của văn học dân tộc, nghịch dị có xu hướng được
thể hiện bằng việc xây dựng những tài năng khác thường, kì dị cho nhân vật bằng thủ pháp chủ yếu là phóng đại Thông qua đó, nhà văn sẽ tạo dựng những hình tượng kì bí, mang uy lực, linh thiêng và bí ẩn Các hình tượng nghịch dị này thường mang khí tượng đế vương, thể hiện thế giới quan thần bí của niềm tin tôn vinh thiêng liêng Từ cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, cảm hứng nghịch dị trở nên rõ nét hơn ở sự trộn lẫn tiếng cười giễu nhại, châm biếm và trào phúng với nghệ thuật cường điệu hóa
và tương phản giữa nội dung bên trong và hình thức bên ngoài của nhân vật Thủ pháp nghịch dị chủ yếu được thể hiện bằng sự kết hợp những cái không thể kết hợp như bi - hài, giả - thật, đạo đức - vô đạo đức, hoặc xây dựng kiểu hình tượng vật chất xác thịt nhằm miêu tả hiện tượng lưu manh, vô học, vô đạo đức lại được ngợi ca, tôn vinh Có thể thấy rõ điều này trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng khi ông châm biếm cái
xấu, cái lố lăng của hiện tượng Âu hóa (Số đỏ), sự bỉ ổi, đồi trụy tron lối sống của giai cấp tư sản thành thị (Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy, cơm cô) Từ 1945 đến 1975, đặc biệt
là từ 1954 đến 1975, do đặc điểm vai trò, nhiệm vụ của văn học nên biểu hiện của thủ
Trang 22pháp nghệ thuật này có phần bị nhạt bớt, tạo sự gián đoạn, đứt gãy trong văn học Dù
vậy, nghịch dị cũng không mất hẳn mạch chảy mà vẫn hiện diện ở một số tiểu thuyết
được biểu hiện qua nghệ thuật xây dựng các nhân vật có phần kì quái, kinh dị, rùng rợn, khác thường dẫn dắt người đọc vào thế giới của những câu chuyện về ma, quỷ
bằng nghệ thuật phóng đại kết hợp với yếu tố kinh dị
Từ năm 1986 đến nay, trước những thay đổi của lịch sử dân tộc, văn học cũng
thay đổi chủ đề và nội dung phản ánh mà hệ quả của nó là những cách tân về mặt nghệ thuật Vượt lên trên những quy định, những khuôn khổ truyền thống, các nhà văn đã ý thức về nhu cầu đổi mới tư duy, nhân sinh quan và kỹ thuật viết Chính cái nhìn dân
chủ đã tạo tiền đề cho nghịch dị có cơ hội phát triển tạo nên cái nhìn tự do với tiếng
cười châm biếm, giải phóng bản thể con người khỏi mọi rập khuôn, sáo rỗng Sau
1986, Văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng bên cạnh những cách tân mạnh mẽ về quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại đến thi pháp thì sự hồi sinh mạnh mẽ của nghệ thuật nghịch dị đánh dấu sự đổi mới như một tất yếu của tiểu thuyết nói riêng, văn học nói chung Thủ pháp nghịch dị
đã hiện diện trong tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam sau 1986 như một tư duy nghệ thuật mới Nhiều tác giả đã nỗ lực tìm tòi, thể nghiệm, tích hợp trong thế giới nghệ thuật của mình yếu tố nghịch dị như những dấu ấn đặc biệt cho tác phẩm của
mình nhằm tạo ra những thông điệp giàu ý nghĩa xã hội và nhân sinh thời hiện đại
Màu sắc nghịch dị trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài biểu hiện ở nhiều
tình tiết được giai thoại hóa, huyền hoặc hóa Ở đó, sự tranh đua của hai trăm chín mươi chín phò mã trong lễ cầu hôn, nhưng rồi còn lại chục người cùng các kiểu lễ vật khác nhau Đám cưới là một tình tiết tạp loạn với nhiều biến cố lạ lùng Hay tình tiết ván bài với các vật đặt cược khác lạ sau đám cưới, nhân vật nghịch dị Quang lùn
Nghịch dị cũng thể hiện rõ qua sáng tác của Nguyễn Bình Phương trong Những đứa
trẻ chết già Đó là những hiện tượng ma quái đầy bí ẩn, hư hoặc của ngôi làng Linh
Nham và những biến cố xung quanh nó Ở đó, những kẻ mộng du mải mê bị cuốn đi trong cuộc đua tìm kho báu, nhưng khi ngộ ra thì quanh họ hiện hữu là sự chết chóc, hoang tàn và đau khổ đến nghẹt thở, cùng cực Có thể nói rằng, yếu tố nghịch dị có thể giúp các nhà văn thể hiện rõ hơn tính chất phức tạp quay cuồng của cuộc sống, sự bế tắc không lối thoát của con người Đó còn là sự xuống cấp về nhân cách đạo đức, sự đánh mất bản ngã, sự đau đớn bơ vơ và bất an của con người trước những đảo lộn của hiện thực đầy hỗn độn, phi lý
Trang 23Có thể thấy, ở mỗi thời kì khác nhau, dù hướng vào những đối tượng khác nhau
song nghịch dị trong văn học luôn được thể hiện bằng những cảm hứng nghệ thuật từ
những hoàn cảnh xã hội Hiện thực luôn mang tính nước đôi với sự pha trộn của cái bi, cái hài; của sự thật và giả dối; của cái thiện, cái ác; cái tốt, cái xấu, cái cao thượng và thấp hèn Con người cũng tồn tại trong đầy ắp những mâu thuẫn không phân định của chính môi trường sinh quyển đa chiều ấy Và hiện thực đương đại Việt Nam chính là
điều kiện thuận lợi để nghịch dị trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn học Nhiều tác giả đã sử dụng nghịch dị để kiến tạo thế giới nghệ thuật của mình như Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng, Đặng Thân Bởi lẽ, trong bối cảnh đổi mới tất yếu của văn học Việt Nam, người nghệ sĩ được tự do thể hiện cá tính, sự sáng tạo trước hiện thực đa chiều,
phức tạp đã nói lên suy nghĩ về cuộc đời Nghịch dị có điều kiện hồi sinh mạnh mẽ và
được các nhà văn sử dụng như một kiểu tư duy nghệ thuật Và chính lối tư duy này nghịch dị đã giúp họ hình thành các kiểu con người cô đơn, con người tha hóa, con người tự giễu nhại, tự ý thức, con người lệch chuẩn, con người xấu xí, dị dạng Với nhu cầu phê phán cái lạc hậu, cái xấu, tác phẩm của họ tập trung hướng vào nhận thức, phê phán cái xấu, cái dị dạng, sự lệch chuẩn và phi lí; gắn chúng với tiếng cười hài hước, giễu nhại, trào lộng đồng thời hòa lẫn với yếu tố kinh dị Đây chính là các dạng thức của nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay Từ việc sử dụng
nghịch dị như một tư duy nghệ thuật, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã
góp công thay đổi nhân sinh quan của đời sống
Như vậy, được ươm mầm và lớn dậy theo mạch nguồn lịch sử văn học dân tộc, qua những thăng trầm của đời sống văn học, nghịch dị đang hồi sinh mạnh mẽ mà tinh thần hạt nhân của nó là tiếng nói tự do dân chủ Có thể nói, các tác giả viết tiểu thuyết sau năm 1986 đến nay có rất nhiều cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, đi tìm cho mình một hướng đi riêng và mới trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Ấn tượng mạnh nhất đối với tiểu thuyết của họ là sự khác lạ cả về hình thức diễn đạt, nghệ thuật ngôn từ đến cách nhìn nhận của các nhà văn về những thăng trầm, biến ảo trong cuộc sống
1.2 Hồ Anh Thái và hành trình sáng tạo nghệ thuật
1.2.1 Hồ Anh Thái - “Nhà văn luôn luôn đi và bao giờ cũng đang viết”
Hồ Anh Thái sinh ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại Hà Nội Sau khi tốt nghiệp Quan hệ Quốc tế, ông tham gia viết báo, làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu
- Mỹ và một số nước châu Á như Ấn Độ, Iran, Indonesia Hồ Anh Thái từng là một
Trang 24nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Ấn Độ, giảng viên thỉnh giảng Đại học Washington và một số đại học nước ngoài, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam Trên hành trình hơn
ba mươi năm lao động nghệ thuật, Hồ Anh Thái đã xuất bản ba mươi đầu sách giá trị Với nhiều tác phẩm được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ, tác giả chứng tỏ một sức viết mãnh liệt, không chỉ trông chờ vào ngẫu hứng mà còn bằng những cảm hứng ngay trong quá
trình lao động nghệ thuật để tìm kiếm gương mặt thế giới từ chính bản thể mình
Hồ Anh Thái bắt đầu cuộc đời văn chương từ những năm 80 của thế kỷ XX, khi
đang là sinh viên Đại học Ngoại giao, với các truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe,
Nói bằng lời của mình, Mảnh vỡ của đàn ông đăng trên các báo Văn Nghệ, Văn nghệ Quân đội Khi ấy, các truyện ngắn này chưa thực sự giúp ông ghi dấu ấn trên văn
đàn
Hồ Anh Thái chỉ bắt đầu tạo được sự chú ý với cuốn tiểu thuyết Người đàn bà
trên đảo đề cập đến những chấn thương về thể chất và tinh thần của những người phụ
nữ đi qua cuộc chiến tranh, trở thành quá lứa, lỡ thì được ông hoàn thành năm 1989
Tiếp theo đó là tiểu thuyết Trong sương hồng hiện Ở hai tiểu thuyết này, từ những vấn
đề về đạo đức, cả trong ứng xử xã hội cả về mặt luật pháp, đối với thân phận những nữ cựu chiến binh đã phải trả một cái giá khủng khiếp cho cuộc chiến tranh chống Mỹ đến việc nhận thức lại quá khứ được Hồ Anh Thái nhìn nhận với tất cả sự phức tạp trong họ bằng tất cả sự trân trọng con người Nói như Anh Chi thì “Dù là nhà văn rất trẻ, anh đã đặt vấn đề về tình dục, về bản năng con người và nhu cầu làm tròn thiên chức người phụ nữ Đặc biệt, đề tài của tiểu thuyết thực sự táo bạo, là, cái giá mà
những nữ cựu chiến binh phải trả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ thật ghê gớm”[8]
Đến Vẫn chưa tới mùa đông (1986), rồi Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), Hồ
Anh Thái càng ngày càng thể hiện tính chuyên nghiệp trong việc viết văn và đã khẳng
định được vị trí của mình trong đời sống văn chương Việt Nam Từ Trong sương hồng
hiện ra (1990) mang cảm hứng phê phán thực tại của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi
mới, đến Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo,… Hồ Anh Thái đã
tạo cho mình một ngã rẽ khá bất ngờ khi chạm tới hiện thực ở bề sâu, mang tính phổ quát
Với hàng loạt tiểu thuyết trong những tiểu thuyết sau này như Cõi người rung
chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, Đức phật, nàng Savitri và tôi, SBC là săn bắt chuột, Dấu về gió xóa, Những đứa con rải rác trên đường, Tranh Van gogh mua để đốt… Hồ
Anh Thái đã tạo được cho mình một lối đi riêng không giống ai Tác phẩm của Hồ
Trang 25Anh Thái nghiêng về giọng điệu giễu cợt, trào lộng, mỉa mai sâu cay và không hề nương nhẹ trước đối tượng phản cảm Ông không chỉ có cái nhìn về cuộc đời, về con người về cuộc chiến của dân tộc bằng cái nhìn sâu sắc mà còn phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong đời sống, khai thác đến cùng phương diện gây cười của nó để đưa vào tác phẩm Nhà văn dường như luôn bóc trần tất cả những nhơ nhớp của cuộc
đời lên từng trang viết của mình
1.2.2 Tiểu thuyết nghịch dị của Hồ Anh Thái - sự kiếm tìm sáng tạo
Văn học Việt Nam từ sau 1986 đến nay đã có những chuyển biến đáng ghi nhận
ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách nhìn và trong lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên đường tìm tòi, thể nghiệm, song điều đáng nói ở đây là tất cả đều hướng tới hệ quả: làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng Hồ Anh Thái miệt mài trên từng con chữ, không ngừng tìm tòi với ý thức làm mới tư tưởng của mình với mục tiêu mỗi con chữ viết ra phải là những con “chữ sáng tạo”, mỗi tác phẩm phải chứa đựng trong nó những điều
mới lạ và khác thường Trong suốt hành trình của giấc mơ dài về tiểu thuyết, Hồ Anh
Thái dần thể hiện rõ tư duy, quan niệm và dụng ý nghệ thuật của mình qua thủ pháp nghịch dị Nghịch dị đã trở thành phương thức làm mới nghệ thuật viết tiểu thuyết để ông trở thành một gương mặt văn học nhiều cá tính của Văn xuôi Việt Nam từ sau Đổi Mới (1986) Chính nền tảng học vấn vững chắc, kinh nghiệm từ công việc của một nhà ngoại giao và tài năng xuất sắc đã giúp Hồ Anh Thái có điều kiện tích lũy vốn sống và sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị Ông đã tạo cho mình một lối đi riêng không giống ai Mỗi sáng tác của ông có thể được coi là một cuộc tìm kiếm mới cho cả nội dung và hình thức biểu hiện của tác phẩm bằng cái nhìn nhân văn, cấp tiến về cuộc đời, con người và cuộc chiến của dân tộc Nhà văn đã phơi bày trên từng trang viết của mình tất cả sự lố bịch, quái gở, kệch cỡm một cách chân thực, sống động
Nếu Phía sau vòm trời và Vẫn chưa tới mùa đông được viết năm 1982 và 1984,
khi đất nước chưa đi vào công cuộc đổi mới, nghịch dị đã xuất hiện với các mức độ đậm nhạt khác nhau, được thể hiện bằng sự phát triển dần từ chỉ là những yếu tố đến
trở thành một phương thức nghệ thuật, chưa có nhiều yếu tố nghịch dị thì đến Cõi
người rung chuông tận thế đã xuất hiện những nhân vật đậm chất nghịch dị, ấn tượng
Trang 26và đầy ám ảnh Chính tác phẩm này đã xác lập vị trí mới và định hình phong cách Hồ Anh Thái trong sự tích hợp chất huyền ảo, tính nghịch dị quyện trong giọng văn trào
lộng, giễu nhại, châm biếm đến tột cùng Đến Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột,
Dấu về gió xóa, Những đứa con rải rác trên đường… Hồ Anh Thái càng ngày càng
định hình rõ giọng văn hài hước, trào lộng, châm biếm của mình Tuy mỗi cuốn sách
là một câu chuyện khác với bối cảnh khác, không gian khác và các vấn đề khác nhưng văn phong của Hồ Anh Thái càng ngày càng nhuần nhuyễn hơn, tự nhiên hơn Và nghịch dị, đến đây, đã trở thành một phương thức nghệ thuật quan trọng trong sáng tác tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
Luôn mong muốn được đọc và viết “những tác phẩm của sức tưởng tượng phi thường, tạo dựng được những tình huống khác lạ, những cảm xúc mê đắm, những nhân vật không chịu mặc đồng phục” [67,10], Hồ Anh Thái không “tự làm nghèo trang viết của mình” bằng việc chấp nhận sự độc tôn của phương pháp hiện thực thuần tuý Chính vì thế, ông quan tâm đến cái khác lạ, cái kì ảo, bất ngờ tận dụng chúng như một thủ pháp đắc địa để tạo ra sự lôi cuốn đặc biệt trong những tác phẩm của
mình Ý thức về nghịch dị như một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật dựa vào huyễn
tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, Hồ Anh Thái đã ý thức sử dụng nghịch dị như một phương thức nghệ thuật để tạo ra những sự kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài Ông hòa trộn cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa, bình thường với bất thường, lạ lùng, kì quặc để trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên, từ đó đưa ra những cách lý giải cuộc sống tinh tế và sâu sắc với cả tấm lòng vị tha, đầy dung thứ Có thể nói, nghịch dị là phương thức nghệ thuật đáp ứng được ý đồ sáng tác của Hồ Anh Thái Bởi cùng với các phương thức biểu hiện khác, thủ pháp nghịch dị đã giúp ông từ những chi tiết nhỏ nhất của đời sống hỗn tạp tạo dựng một hiện thực ngập đầy những biểu tượng trong tác phẩm của mình, gửi vào đó những thông điệp sống độc đáo, đẫm
nhân văn
Cùng các khuynh hướng tiểu thuyết tân lịch sử, tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết tính dục, tiểu thuyết nữ quyền, tiểu thuyết nghịch dị là một khuynh hướng khá nổi bật trong văn xuôi Việt Nam đương đại Có thể thấy, sau năm 1986, nghịch dị đã được nhiều nhà văn sử dụng thành công và để lại dấu ấn riêng Song đối với Hồ Anh Thái, nghịch dị đã trở thành một phương thức nghệ thuật đánh dấu sự linh hoạt, đa dạng và tài tình của nhà văn với cách sử dụng dày đặc, càng ngày càng đậm nét ngôn ngữ,
Trang 27giọng điệu, nhân vật, các biểu tượng nghệ thuật… mang đậm chất nghịch dị, Hồ Anh Thái không chỉ làm mới cách thức thể hiện nghệ thuật nghịch dị qua các tiểu thuyết mà còn làm mới mình qua từng trang viết
Dày công kiếm tìm và sáng tạo nghệ thuật nghịch dị, Hồ Anh Thái đã thành công trong hành trình làm mới phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của mình Ông luôn hướng tới mục đích là chỉ viết những gì mà mình thực sự cho là chín về mặt cảm xúc
Mà khi viết về cái đời thực quá nhỏ bé, quá chật chội này, ông đã thêm vào một chút tưởng tượng, một chút ước mơ và khao khát thông qua nghệ thuật nghịch dị Nhà văn
đã góp phần làm mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái
1.3.1 Nhà văn “phải là người tử tế”
Mỗi nhà văn thường có những quan niệm khác nhau về nghề viết, lương tâm trách nhiệm của người cầm bút, Hồ Anh Thái cũng vậy Với ông, “nhà văn đích thực phải là người tử tế” Hồ Anh Thái luôn trăn trở về điều này trong mỗi sáng tác của mình
Sự tử tế mà Hồ Anh Thái nhắc đến là lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm với nghề của một nhà văn Bằng đam mê văn chương, Hồ Anh Thái đã dành nhiều thời gian cho công việc viết lách Ông duy trì được sức sáng tác đều đặn không chỉ vì đam
mê kiếm tìm trò chơi trên con chữ mà còn vì trách nhiệm với nghề, với đời Ông tạo dựng tình yêu đối với văn chương bằng “một chút mê đắm, một chút thành thực” để hành nghề thuần túy chứ không chỉ là một thứ trải nghiệm đơn thuần Với Hồ Anh Thái, sự chuyên nghiệp trong việc viết văn được thể hiện bằng ý thức trách nhiệm của một nhà văn với nghề viết Vì thế, những gì viết ra phải thực sự có giá trị với bạn đọc, với bản thân mình và với xã hội Chính vì thế, nhà văn phải luôn giữ được lòng yêu nghề và không ngừng nỗ lực tự học để có thể có được những thành công thực sự
Với quan niệm, tác phẩm văn học phải phản ánh được sự phức tạp của “cõi người”, cõi đời chứ “không thể viết văn mà lời lẽ kềnh càng, rườm rà hoặc cố tỏ ra đao
to búa lớn để thu hút sự chú ý của mọi người” bởi đó chỉ là hình thức lao động nghệ thuật “lên gân”, cố hét thật to để người ta biết đến mình Hồ Anh Thái đã không ngần ngại nhìn thẳng vào những bi kịch nhân sinh mà mổ xẻ nó một cách trung thực nhất Ông cho rằng, nếu không tin vào trang viết của mọi người và của chính mình thì chẳng nên tự giam mình bên bàn viết làm gì
Trang 28Nhà văn phải thành thực với bản thân và trung thực với sự thật nhằm đưa lên trang viết những bi kịch nhân sinh với những nỗi đau, niềm nhức nhối bủa vây cõi người để gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh về sự xói mòn nhân tính trong xã
hội Chính vì thế, chân dung của hiện thực trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được lột tả ở
nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị xấu tốt đan cài chứ không giản đơn, một chiều
Hồ Anh Thái là nhà văn luôn biết tự răn mình không bị câu thúc bởi tiền bạc Ông đề cao sự tử tế, tử tế với mọi người và tử tế với chính mình Sáng tạo nghệ thuật phải gắn liền với những ứng xử tử tế Với cuộc đời, ai cũng nên sống như có thể đột tử bất cứ lúc nào Vì thế, đừng tự biến mình thành một cái máy chỉ biết công việc, chỉ biết kiếm tiền, chỉ biết làm công cụ Nhà văn chân chính không thể là người phụ thuộc vào tiền bạc, danh vọng hay địa vị: “nhà văn đích thực phải là người tử tế” [70,347]
Có lẽ, chính vì cách nhìn nhận này mà Hồ Anh Thái không ảo tưởng, không quá đề cao văn chương Ông thận trọng với danh hiệu nhà văn, không để mình mắc bệnh ảo tưởng Ông chủ trương, để thành nhà văn lớn thì phải học, học nhiều Đã dấn thân vào văn chương thì nhà văn cần phải viết khác, không tô hồng, không ảo tưởng với bức tranh hiện thực Bởi dù thế nào, người đọc cũng cần được gương mặt trung thực của thời đại
Sự tử tế trong quan niệm của Hồ Anh Thái còn được thể hiện ở ý thức lan tỏa tri thức của ông trong xã hội Làm việc ở nhiều lĩnh vực, Hồ Anh Thái luôn thể hiện việc đọc, cho ý kiến chân thành và biên tập cho những tác phẩm của nhiều tác giả trẻ, người quen và cả những người không biết mặt một cách nghiêm cẩn Ông làm như một nghĩa vụ Với ông, điều đó thể hiện sự “đáp đền tiếp nối giữa các thế hệ” nhằm làm phong phú hơn, giàu hơn cho văn học nước nhà Sự trân trọng của ông đối với những cây bút trẻ, đặc biệt là những cây bút trẻ có yếu tố mới và lạ trong cách viết không chỉ thể hiện lòng nhiệt tình rất mực mà còn là cách hành xử đẹp đẽ, sự trân trọng với sức sáng tạo của người viết Sức lan tỏa tài năng, ý thức nâng đỡ những cây bút triển vọng,
sự lao động nghệ thuật bền bỉ và thành quả từ nghề viết của Hồ Anh Thái đã tạo ra các giá trị nhân văn với cộng đồng 30 năm cày ải trên cánh đồng chữ nghĩa với gần 40 đầu sách có giá trị Hồ Anh Thái đã thực sự trở thành một tấm gương, một mục tiêu phấn đấu của nhiều người cầm bút khác
Trang 291.3.2 Văn chương phải luôn “chung sống với những vấn đề nhạy cảm của
xã hội”
Hồ Anh Thái xuất hiện trên văn đàn Việt Nam đương đại với hàng loạt tiểu thuyết mang đậm dấu ấn riêng Với lối viết táo bạo mới mẻ, cùng một khả năng tư duy nghệ thuật độc đáo, tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã phản ánh hiện thực một cách độc đáo bằng việc khai thác và giải quyết những vấn đề mới, nóng của cuộc sống Có được điều này, có lẽ bởi Hồ Anh Thái luôn có ý thức văn học và đời sống vốn có mối quan
hệ qua lại, văn học hình thành từ cuộc sống và quay lại phục vụ cuộc sống Để văn học
có thể bắt rể từ cuộc sống, nhà văn phải sống hết mình với hiện thực phong phú ấy, và hơn thế, phải nhận thức đúng, định hướng đúng các vấn đề quan trọng, thiết yếu của cuộc sống thì mới có thể tạo ra những tác phẩm giá trị
Cuộc sống vốn vô cùng phức tạp song từ trong vô vàn những vấn đề cuộc sống,
Hồ Anh Thái thường hướng sáng tác của mình vào những vấn đề nhạy cảm của xã hội hiện đại Đó là sự hiện diện của cái ác, cái xấu, sự xáo trộn nền tảng đạo đức xã hội, những chấn thương về thể chất và tinh thần của những người đi qua cuộc chiến Đa số
tiểu thuyết của ông viết về vấn đề này: Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987),
Người đàn bà trên đảo (1989),Trong sương hồng hiện ra (1990), Cõi người rung chuông tận thế (2002), Mười lẻ một đêm (2006), SBC là săn bắt chuột (2011), Những đứa con rải rác trên đường (2014)
Trong tiểu thuyết của mình, Hồ Anh Thái đã nói lên khát vọng về lòng người,
về tình yêu thương giữa con người với con người Hồ Anh Thái đã nhận diện được sự thao túng của cái ác trong xã hội hiện đại đầy phức tạp bằng cách tạo ra sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, để cho cái xấu lấn át cái tốt qua đó nhấn mạnh sự trỗi dậy của thiện
lương con người Thông qua Cõi người rung chuông tận thế, ông tái hiện lại một xã
hội, một cuộc sống xấu xa, tàn ác đến nghẹt thở với sự hiện diện của cái ác, không chỉ
là sự bạo tàn của chiến tranh trong quá khứ, mà nó còn ẩn hiện dưới muôn hình vạn trạng qua cách mà người ta ứng xử với nhau trong đời sống hiện đại hiện ra một cách chân thực trong tiểu thuyết của ông Sự thao túng của kẻ có tiền có quyền, sự xuống cấp về nhân cách đạo đức của một bộ phận thanh niên trong xã hội hôm nay được ông quyết liệt phơi bày Và tác giả không chỉ đơn thuần nói về cái ác, cái xấu, hơn thế, ông muốn gửi gắm những thông điệp nhân sinh đến cuộc đời
Hồ Anh Thái tỏ ra tinh nhạy trong việc phát hiện những thói xấu đáng cười, đáng chê của con người Ông xây dựng nhiều nhân vật mang nhiều thói xấu đáng cười
Trang 30để sau tiếng cười ấy có thể giúp người đọc ngẫm ra một bi kịch, một thân phận Đó là
họa sỹ Chuối Hột trong Mười lẻ một đêm vừa dị hợm, lố bịch, buồn cười với sở thích
quái đản là trồng cây chuối trong tình trạng khỏa thân “người bóng nhẫy, trắng lôm lốp như cây chuối Tất nhiên là chuối hột trổ hoa ở quãng lưng chừng trời” [70,24] Đó là
bà mẹ dị hợm, thích phiêu lưu tình ái, ham tiền bạc: “Người chồng thứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất lượng cao” [70,64] – người đàn bà “ngửi thấy mùi đàn ông và mùi đất đều chén được” Và, đó còn là vị giáo sư mắc chứng: “chỉ bật lên tiếng cười thôi thì cứ thế cười mãi Không sao hãm lại được Hơ hơ hơ Mãi Chập dây thần kinh cười” [70,93] Người đọc có thể thấy, sau những cái cười trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là những thương xót, ưu tư
Hồ Anh Thái nói rằng: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” [91] Chính vì thế, trong tiểu thuyết của mình, ông còn luôn có tham vọng lật mặt những hạng người điển hình làm xáo trộn nền tảng đạo đức xã hội Những vấn đề nhạy cảm được nhắc đến rất thực tế,
vừa cũng rất bi hài Có thể nhận rõ điều này trong “SBC là săn bắt chuột”, một tiểu
thuyết phản ánh những trò đời của một bộ phận trí thức diễn trò của một ông chính khách đầy quan cách, một Thư ký như cái hàng rào ngăn không cho sếp đến với dân, một Luật sư lợi dụng kẽ hở của luật pháp để giúp sếp tách nhập tỉnh thành, hưởng lợi, một Giáo sư sa đọa và làm suy đồi giáo dục nhà văn phơi bày một hiện thực đang diễn ra quanh ta bằng các chân dung Có thể thấy những gì Hồ Anh Thái đề cập trong
tiểu thuyết của ông đều là vấn đề thời sự của xã hội
Ngay khi viết Người đàn bà trên đảo, dù còn rất trẻ nhưng Hồ Anh Thái đã đề
cập vấn đề về tình dục, về bản năng con người và nhu cầu làm tròn thiên chức của những người phụ nữ đi qua cuộc chiến tranh, trở thành quá lứa, lỡ thì bị chấn thương
về thể chất và tinh thần Với đề tài thực sự táo bạo này, ông thẳng thắn nói đến cái giá ghê gớm mà những nữ cựu chiến binh phải trả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ Cuộc sống không phải lúc nào cũng như mong muốn Sau chiến tranh, vượt qua đạn bom tàn khốc, những nữ cựu chiến binh lại tiếp tục cuộc chiến đấu mới, đau đớn chống lại những ham muốn nhục dục thường tình và nhẫn nhục thèm khát có một chút con làm nơi nương tựa lúc cuối đời Một cuộc sống lý tưởng mà vẫn chỉ tồn tại trong ước mơ của họ Những ám ảnh về cuộc chiến tranh chống Mỹ, kể lại những câu chuyện chiến tranh, Hồ Anh Thái còn đặt ra những vấn đề bức thiết của cuộc sống hiện tại Con người vào đời với đôi tay sạch sẽ và tâm hồn thánh thiện dẫu sắc dục, sự vô lương và
Trang 31những xô dập của cuộc đời vẫn khiến họ phải vật lộn với số phận trên con đường mưu cầu sự sống
Hồ Anh Thái đã nhạy bén nhìn thẳng vào những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nó
bằng cái nhìn trung thực, táo bạo để lột tả sự đan xen của cái ác với cái thiện, cái cao
cả với cái thấp hèn, cái sang trọng với cái nhếch nhác, cái trong suốt xen lẫn cái phàm tục Điều mới lạ và độc đáo là Hồ Anh Thái không bao giờ cho phép mình quay lưng với cuộc đời, luôn nhìn thẳng những vấn đề nhức nhối bủa vây cõi người để trong cái hiện thực "phân mảnh" đầy những vấn đề nhạy cảm ấy, có thể luôn phản ánh hiện thực đời sống nhân sinh bằng nụ cười chua chát mà vẫn muốn đánh thức lòng vị tha, sự bao dung của con người Với một thái độ nghiêm cẩn đối với bản thân, với nghề viết, Hồ Anh Thái đã thực sự lăn xả vào cuộc sống và chạm ngòi bút của mình đến những vấn
đề nhạy cảm của xã hội, phản ánh được một cách sắc nét sự phức tạp của cõi đời, cõi người hiện hữu Khi khẳng định rằng không đặt văn chương vào tháp ngà mà để nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội là nhà văn đã thể hiện tư tưởng khám phá về hiện thực mang màu sắc nhân văn trên trang viết của mình
1.3.3 “Tiểu thuyết là một giấc mơ dài”
Tiểu thuyết là phần quan trọng nhất trong sáng tác của Hồ Anh Thái Nhà văn
đã theo đuổi, dành trọn tinh thần và tài năng cho tiểu thuyết Với ông, “tiểu thuyết là một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa mừng rơn vừa thoát khỏi cơn ác mộng, lại vừa nuối tiếc vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” [68,253] Trong lúc văn chương vẫn còn bị quy định bởi những khuôn phép, sáo mòn thì tiểu thuyết của ông đã làm cho dư luận ngạc nhiên bởi thế giới nghệ thuật phong phú Trong những tiểu thuyết được viết khi còn trẻ, Hồ Anh Thái đã tạo ra thế giới nghệ thuật mới
mẻ, có khả năng trở thành “những nhân vật của tương lai” Nhà văn Lê Minh Khuê đã
nhận định khi đọc xong tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng: “…tác giả sẽ là
người tỉnh táo để có thể sáng tạo những cuốn sách mang vác các vấn đề quan trọng của văn học.”; “Đây là người còn đi dài với văn chương” [64,267]
Cuộc sống trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một cõi người không bình yên Phản ánh hiện thực đời sống ấy, được ông tìm tòi, mổ xẻ, phơi bày bằng tất cả tâm huyết, sự thông minh và nhạy bén của mình Cùng với sự dịch chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng sử thi sang thế sự đời tư, Hồ Anh Thái đã tạo ra trong tiểu thuyết lối tư duy, giọng điệu và cách ứng xử đầy văn hóa mang dấu ấn hiện đại Chính sự nỗ lực đã khiến Hồ Anh Thái chuyển tải được trong tiểu thuyết của mình
Trang 32những quan niệm, những cách nhìn, những chiêm nghiệm về cuộc đời, về nhân tình thế thái, không buông tha bất cứ một thứ gì trong cõi người nhốn nháo và đầy nghịch
lý Hồ Anh Thái đã không chỉ phản ánh hiện thực một cách đơn giản mà còn mạnh dạn kiến tạo hiện thực, sáng tạo một thế giới nghệ thuật chân thực, kì ảo và huyễn hoặc, đồng thời với khát khao hướng độc giả đến những điều tốt đẹp Bằng cách này, Hồ Anh Thái đã thực hiện được tâm nguyện của mình, làm cho tiểu thuyết trở thành một giấc mơ dài không chỉ với mình mà cả với độc giả Ông đã bằng tất cả sự tinh tế của tâm hồn, khát vọng tình yêu cuộc đời mà phản ánh cuộc sống con người với tất cả sự
đa diện, đa chiều của nó Với cách tiếp cận hiện thực và phương pháp sáng tác mới
mẻ, Hồ Anh Thái đã quan tâm, lý giải một cách đầy đủ, chi tiết hiện thực trần trụi, ám ảnh của cuộc sống bằng tất cả nỗ lực của tài năng
Tiểu kết
Quá trình cách tân của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 diễn ra trên mọi phương diện từ quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại đến thi pháp Nghịch dị với tinh thần hạt nhân là tiếng nói tự do dân chủ, đã lớn dậy theo mạch nguồn lịch sử văn học dân tộc, đang hồi sinh mạnh mẽ cùng những thăng trầm của đời sống văn học Và nghịch dị có thể được coi là một trong những yếu
tố làm nên sự mới mẻ cho tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói riêng
Trong sự nỗ lực đã đổi mới tư duy tiểu thuyết, cố gắng tìm cho mình một hướng
đi riêng và mới lạ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, Hồ Anh Thái đã khai thác và thể hiện một cách mới mẻ thủ pháp nghịch dị để nó trở thành tư duy nghệ thuật chi phối quan niệm nghệ thuật của chính mình Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái có thể được coi là sự thành công đặc biệt, làm nên sự độc đáo cho tiểu thuyết trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông
Trang 33CHƯƠNG 2
CẢM QUAN CARNAVAL VÀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
2.1 Cảm quan Carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
2.1.1 Cường điệu hóa những mâu thuẫn trong cuộc sống
Nhà triết học, nghiên cứu văn học người Nga M.M Bakhtin cho rằng hiện tượng carnaval với ý nghĩa rất rộng, như là tổng thể các lễ hội có nguồn gốc khác nhau
mà đặc điểm nổi bật của nó là niềm vui hội hè của nhân dân Hiện tượng này tạo thành nửa đời sống không chính thức của con người, là sự diễn trò dưới dạng lộn trái thế giới Đó là “hiện tượng học tinh thần về lễ hội dân gian trong lịch sử văn học và văn hóa châu Âu” [30,189]
Cường điệu là cách trình bày trên mức sự thật một mặt nào đó của sự vật, hiện
tượng để làm người khác chú ý Cường điệu hóa là làm tăng, làm quá mức bình
thường cái vốn có nhằm tạo ra một cái mới khác hoàn toàn cái cũ
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, những mâu thuẫn trong đời sống được tái hiện thường là các mâu thuẫn mang tính chất phi lý, phản quy luật thông thường Sự xuất hiện phản logic của chúng thường tạo nên yếu tố bất ngờ, có khả năng gây cười và phản ánh chân thực một số tình huống phi lý trớ trêu, lật tẩy sự ăn may đầy chất nghịch dị
Và con người cũng phức tạp, đa dạng không kém gì cuộc sống Các nhân vật trong trong tiểu thuyết của ông có thể là những con người quay cuồng trong vòng xoáy của danh lợi, bỏ qua mọi giá trị đạo đức để chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ và vô tình, tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà không cần quan tâm đến người khác nhưng họ cũng còn là những con người có ước mơ cao đẹp, dám sống hết mình
với tuổi trẻ, với đam mê, khát vọng Ở tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã lột tả cả cái tốt, cả cái xấu của cuộc sống thời chiến Trong Cõi người rung
chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã tái hiện lại một xã hội, một cuộc sống xấu xa tàn ác
đến nghẹt thở Cái ác không chỉ là sự bạo tàn của chiến tranh trong quá khứ mà nó còn
ẩn hiện muôn hình vạn trạng qua cách mà người ta ứng xử với nhau trong đời sống hiện đại Đó là cuộc đối đầu giữa cái thiện và cái ác, quá khứ và hiện tại, tình yêu và thù hận, những giá trị truyền thống và tư tưởng mới du nhập những vấn đề mà xã
Trang 34hội, “cõi người” từng ngày phải đối diện Nhân vật “tôi” dửng dưng, bàng quan, đồng hành và nhiều khi là đồng phạm với cái ác Cho đến lúc nhận ra rằng “Phải chứng kiến tận mắt, phải ôm người chết trong tay, phải khâm liệm cho một tử thi người đó mới xem như thực hiểu đời, hiểu người, hiểu sự sống Khi đã hiểu cái chết, anh mới bình thản và tự tin để quan sát tất cả những người không hiểu cái chết Khi ấy, anh thấy
mình cần phải sống” [68,157] Xã hội con người muôn đời đã như vậy Hồ Anh Thái còn nhìn rõ con người với đầy rẫy cái xấu Đó là sự ghen ghét đố kỵ, là lòng tham, thói
ích kỷ cá nhân, lối sống buông thả dâm ô,… và nhất là sự ác độc mà người ta đối xử
với nhau Toàn trong Người và xe chạy dưới ánh trăng là một chàng trai nhiều mơ ước
và luôn khát khao vươn lên Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong đời sống, trong công việc nhưng anh vẫn luôn giữ được tâm hồn trong sáng Bên cạnh sự trong trẻo, thánh thiện của Toàn, của Mỵ, bên cạnh sự hoàn lương của Khắc là tham vọng thái quá đến mức tàn nhẫn của Khuynh, là sự ích kỷ đến mức độc ác của Diệu, là thói ngổ ngáo vô giáo dục của Sa Vợ chồng Khuynh – Diệu với đứa con là thằng Sa là những nhân vật tha hoá được Hồ Anh Thái đặt song song Khuynh là kẻ có năng lực nhưng không thật
sự trong sáng, chỉ biết sống cho bản thân mình Diệu không có cái duyên dáng nhưng lại có thừa cái tinh quái của kẻ lắm mưu mô ác độc, luôn mong muốn chiếm đoạt
Cường điệu hóa là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong văn học
Sự cường điệu hóa giúp các tác giả cùng đào sâu thế giới đa chiều kích của cuộc sống, cùng phản ánh những mâu thuẩn cuộc sống Đặc biệt, trong tiểu thuyết hậu hiện đại, cường điệu hóa giúp nhà văn thể hiện rõ hơn tính chất phức tạp quay cuồng của trật tự đời sống, sự bế tắc không lối thoát của con người, sự băng hoại về nhân cách đạo đức,
sự đánh mất bản ngã, sự đau đớn bơ vơ và bất an của số phận con người trước thời cuộc và cả sự đảo lộn giữa thực và hư, giữa siêu nhiên huyền bí và đời thường… Có thể thấy, những mâu thuẫn trong cuộc sống được cường điệu hóa trở nên sống động đã tạo nên những đặc sắc khác lạ trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Một người đàn bà dâm đãng, trắc nết là phu nhân ông Vip, Giáo sư hẳn hoi lại bẩn tính, Họa sĩ lại thích
khỏa thân trồng chuối… trong Mười lẻ một đêm; hoa khôi sinh viên Yên Thanh trong
Cõi người rung chuông tận thế lại là cô gái đầy dục tính; … Những thói hư tật xấu tồn
tại trong xã hội được nhà văn lột trần, không che đậy bởi lớp vở hào nhoáng của danh vọng và địa vị Tất cả những xấu xa, những nghịch lý của xã hội đang được che đậy đã được phơi bày một cách quyết liệt nhưng không kém phần dí dỏm Có thể khẳng định rằng, khi tạo ra những tương phản, đối lập giữa các hiện tượng cuộc sống, Hồ Anh
Trang 35Thái đã gửi vào đó sự mỉa mai, phê phán hàm chứa những gợi nhắc về nhân tính con người Bằng những thủ pháp cường điệu hóa trong tiểu thuyết của mình, Hồ Anh Thái khắc họa đậm nét những thói hư, tật xấu, những sự đối ngược, phi lý vẫn tồn tại và
ngang nhiên tồn tại trong xã hội Trong tác phẩm Mười lẻ một đêm, cái dâm đãng và
tham lam của bà mẹ được cường điệu khiến nhân vật nữ này trở nên dị thường, lệch chuẩn Đó là người đàn bà có trái tim thiếu nữ ẩn trong dù đã năm mươi tám tuổi:
“Thỏa mãn một người đàn ông đấy chắc chắn là năng khiếu bẩm sinh duy nhất của cô nàng Đấy còn là sự thỏa mãn thói tham lam duy nhất của chính nàng Nàng bao giờ cũng muốn biến cuộc sống của mình thành bữa đại tiệc lạc thú triền miên” [70, 63] Nhưng lố bịch, trơ trẽn hơn là hành vi dâm đãng thực hiện mọi lúc, mọi nơi với bất kỳ
ai, hễ thấy trai tân là mắt liếc đa tình, tán tỉnh, quyễn rũ và lao vào, khiến con gái nhiều lần “phải chứng kiến bất đắc dĩ Có khi nửa đêm tỉnh dậy nó còn nghe hai người lớn rên rỉ như đau bụng dưới gầm bàn” [70, 69] Năm lần lấy chồng, năm lần li dị, mỗi lần li dị được một cái nhà…, người đàn bà mồi chài luôn “người đàn ông đáng trọng duy nhất” [70,104] của con gái mình Thói dâm đãng của “Người mẹ thèm quà vặt của
cô có bao giờ để yên bất cứ món đồ ngon nào bày ra trước mắt mình”… “Giữa năm đời chồng chính thức là bao nhiêu lần quà vặt khai vị điểm tâm lót dạ”… “Người đàn
bà tuổi bốn ba, vừa mới qua một cuộc hôn nhân, năm sau mới bắt đầu cuộc hôn nhân mới Bây giờ đang cần những món ngon lấp chỗ trống” [70,105] Song hành với thói dâm đãng, mê trai, tính tham lam của bà mẹ được tác giả cường điệu không kém phần độc đáo Bà ta có thể ngửi ngay ra mùi nhà đất trên thân thể cái người đàn ông bắt đầu dan díu Rồi những vị giáo sư, những nhà văn hóa lớn được phong hàm giáo sư sau khi
“đi học bổ túc công nông về làm giảng viên đại học”, có nhà văn hóa lớn nghiên cứu
và giảng dạy về văn hóa mà cử chỉ và hành động cũng như lối sống lại thiếu văn hóa: hội thảo quốc tế cho phép mỗi đại biểu phát biểu trong 10 phút mà giáo sư Một vô tư rông dài đến 30 phút, làm cho hội thảo kéo dài thêm nửa tiếng buổi chiều, kéo theo việc lùi giờ chiêu đãi sứ quán Trong lúc chiêu đãi, giáo sư Một lại vục đầu vào ăn khi mọi người chăm chú nghe phát biểu của Phó Thủ tướng Vị Giáo sư “Nhai chòm chọp, chèm chẹp”, “vung vẩy, công phá” [70,216] Khủng khiếp hơn là vị giáo sư, nhà văn hoá ấy lại tiểu tiện một bãi mỗi lần đi qua tượng đài, dù bị nhắc nhở lập biên bản nhưng chứng nào vẫn tật đó Còn Giáo sư Hai lại mang tật xấu lạ kỳ là cứ nữ sinh viên xinh đẹp thì ông thích cầm tay, cầm chân không dứt ra được Có thể nói, Hồ Anh Thái
Trang 36đã phản ánh phong phú, sinh động những hình ảnh con người ở các địa vị, hoàn cảnh sống khác nhau qua nghệ thuật cường điệu hóa
Điều đặc biệt là bên cạnh những lời văn tràn đầy yêu thương những khi sử dụng thủ pháp cường điệu hóa để viết về những mâu thuẩn trong cuộc sống, Hồ Anh Thái đã
ý thức rõ việc kế thừa nghệ thuật trào phúng dân gian Những điều bất ổn, phức tạp và
ẩn chứa nhiều cái xấu và đáng cười của hiện thực cuộc sống bề bộn, đầy rẫy những mâu thuẫn được nhà văn tập hợp lại trở thành bức tranh hiện thực cuộc sống đương đại Chúng đang len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống làm biến đổi nhiều giá trị trong
đó có truyền thống văn hóa Hát quan họ, văn hóa truyền thống của Kinh Bắc giờ đã trở thành dịch vụ: “Các anh, các chị nếu có lòng yêu quan họ, xin cứ gọi điện, sau ba mươi phút, các cháu sẽ đến phục vụ ngay tại nhà Phục vụ bất cứ ai có nhu cầu Phục
vụ ngay cả chốn rượu thịt như thế này vẫn xưng vì văn hóa quê hương Thực khách mồm mép bóng mỡ, sực nức mắm tôm thịt chó đi quá đà cầm tay cầm chân từ A đến Z thì quan họ bảo sao?” [70,135] Quan họ trở thành một món hàng, người hát quan họ bổng như thành kẻ hát rong: “Chị hai nhắc, năm nghìn ạ Khách sộp bo mười nghìn luôn Khách ki bỏ vài ba nghìn coi như cũng xong Thuyền dùng dằng đi, người hát rong quanh cái bờ ao toen hoẻn ấy ba ngày hội thu nhập cũng kha khá” [70,136] Chợ tình Sa Pa, Lào Cai, chợ văn hóa Bắc Hà, nơi trai gái hẹn hò, trao duyên nhưng nay chỉ còn là nơi “Cô gái Mèo thì giơ tay che mặt,… mỗi người phải đưa năm nghìn thì mới được chụp” [70,142], vải thổ cẩm được dệt bằng chỉ pha nilông Trung Quốc, nhưng
“Không bán đâu Để bán cho Tây thôi Khinh khỉnh” [70,143],… Qua cách nhìn của
Hồ Anh Thái, cuộc sống hiện đại đang bộc lộ những mặt trái với nhiều mâu thuẫn, tiêu
cực Chính sự kế thừa đầy sáng tạo này mà những mâu thuẫn trong đời sống được tác
giả đưa vào trang viết một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, đầy tiếng cười nhưng cũng hết sức sâu sắc Từ những mâu thuẫn trong cuộc sống được cường điệu hóa mà người đọc có thể khám phá những khía cạnh nhân văn của xã hội và đời sống con người, để đồng cảm với sự đau đớn của những số phận trong thế giới nhộn nhạo những điều không thể
chấp nhận
Trong suốt chiều dài phát triển của văn học, không ít nhà văn đã có cái nhìn khách quan, chân thực và phản ánh một cách chân thực về cuộc sống để làm nổi bật lên những mảng màu sáng, tối; thiện, ác; đẹp, xấu; hay, dở…, những mâu thuẩn vốn có của xã hội, của những mối quan hệ giữa người với người Hồ Anh Thái cũng vậy Trong tiểu thuyết của mình, ông đã làm nổi bật những mẫu thuẫn bên trong con người,
Trang 37những mâu thuẫn trong lòng xã hội phát triển bằng thủ pháp cường điệu hóa một cách sáng tạo Bằng cách này, nhà văn đã chế tác chân dung hiện thực với nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị xấu tốt đan cài một cách không đơn điệu Một hiện thực đầy góc cạnh, nhiều chiều có phần tồn tại trong mâu thuẩn lẫn nhau Những mâu thuẫn giữa cái thiện với cái ác, giữa cái thấp hèn với cái sang trọng, giữa cái phàm tục và cái cao cả, giữa cái thú vật và cái nhân tính được phơi bày trong sự thường trực trăn trở về cuộc sống của nhà văn Từ đó, con người trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái trở nên rất thực, luôn tồn tại trong sự đấu tranh bản thể Có thể nói, với cái nhìn toàn diện, sắc sảo đa chiều về con người và cuộc sống, với thái độ thẳng thắn, quyết liệt khi chỉ rõ những mặt trái của cuộc sống đang tác động mạnh mẽ đến đời sống con người trong xã hội, bằng tất cả nỗi lo lắng, đau đớn về cuộc sống, con người ở Hồ Anh Thái đã thể
hiện được lương tâm và trách nhiệm cao cả của một nhà văn với cuộc đời, với xã hội
2.1.2 Sáng tạo những tương phản kỳ quặc
Thủ pháp nghịch dị chính là một trong những chìa khóa quan trọng của tư duy hiện đại/ chủ nghĩa hiện đại trong nghệ thuật Bởi nó tập trung nhấn mạnh tính đối lập, chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên, ở chỗ kháng cự lại những sự nghiêm túc thái quá, các tính chất mô phỏng một cách cực đoan, trộn lẫn cả hai cực đối lập của tồn tại như cái cũ và mới, chết và sinh ra, v.v tạo ra tính lưỡng trị đồng thời phô bày tính đối kháng, sự tương phản, phi lí, v.v và quan trọng là thông qua đó
nó mở ra một cách nhìn khác về thế giới Trong tiểu thuyết của mình, Hồ Anh Thái không chỉ cường điệu hóa những mâu thuẩn trong cuộc sống mà ông còn sắp xếp đầy dụng ý những mảng màu đối kháng của bức tranh xã hội kỳ lạ đến mức trái hẳn lẽ thường, khó hiểu đầy tinh tế Đó là cách ông tạo ra những tương phản kỳ quặc giữa cái thiện và cái ác, giữa quá khứ và hiện tại, giữa tình yêu và thù hận, giữa những giá trị truyền thống và tư tưởng ngoại lai
Không khó phát hiện sự tương phản trong sáng tác của nhiều nhà văn Vũ
Trọng Phụng trong Số đỏ đã tạo tiếng cười sâu cay bằng sự tương phản đối lập giữa
các bình diện quan sát, miêu tả Ông vạch trần bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu
tư sản thành thị băng hoại đạo đức, khô héo tình người, chạy theo lối sống văn minh
rởm, vô cùng đồi bại, lố lăng Trong Giã biệt bóng tối, nhà văn Tạ Duy Anh với những
trang văn miêu tả một hiện thực đen tối, nhầy nhụa, những xấu xa, tàn độc nhưng bên cạnh không gian ngột ngạt, bốc mùi thù hận của sự tha hóa ấy vẫn le lói những tia hi vọng, mở ra một niềm tin với sự sám hối cùng bóng dáng của thiên thần Với Hồ Anh
Trang 38Thái, do có sự ảnh hưởng lớn của cảm quan carnaval nên ông đã sáng tạo trong tiểu thuyết của mình những tương phản thật kỳ quặc Đó có thể là những tương phản trong
sự đảo lộn vai trò và thiên chức của con người trong một gia đình nhỏ trong Mười lẻ
một đêm Bà mẹ thì: “Đa dạng hoá và đa phương hoá Đấy là phương châm của người
đàn bà lấy chồng không biết mệt này” trong khi đó, cô con gái 34 tuổi vẫn chưa một lần lấy chồng, luôn bị xem là gái già Khách khứa đến nhà hỏi bao giờ lập gia đình, mẹ đều tranh quyền trả lời hết “Mẹ cười khúc khích như thiếu nữ mười lăm” [70,54] Sự tương phản giữa bà mẹ và cô con gái lớn tuổi chưa chồng khiến gia đình trở nên thật buồn cười, “con gái luôn nghiêm túc chín chắn bao dung Bà mẹ luôn tươi trẻ hiếu động nông nổi lầm lỡ Con là mẹ và mẹ là con” [70,55-56] Sự tương phản còn trở nên
vô cùng kỳ quặc được thể hiện bằng hành vi đối kháng của họ trong cùng một hoàn cảnh, một thời điểm Đó là trong không gian ở một phòng thì người mẹ trong trạng thái nghiêm trang, niệm phật còn người con – gã họa sĩ lại vô tư trồng chuối trong trạng thái trần truồng: “ngay chính trong căn phòng hai mươi lăm mét vuông của gã Bên này gã vẫn mải miết dốc ngược đầu trần trụi Bên kia bà mẹ đắm chìm trong tiếng
mỏ cốc cốc tiếng chầu văn a à ới à.” [70,24] Một nghịch lý nhưng sự tồn tại của nó lại mang tính quy luật trong xã hội hiện đại, đó là sự đối lập giữa tên gọi sang trọng của hội thảo với bản chất thực tế của nó Những vấn đề như hội thảo quốc tế, nhà văn định nghĩa: “Hội thảo của ta tổ chức, một trường một viện đứng ra làm hội thảo, kéo về được một vài nghiên cứu sinh nước ngoài đang sống ở Việt Nam Chữ hội thảo lập tức được điềm nhiên đi kèm chữ quốc tế Tính chất hội thảo đã khác" [70,206] Cũng trong
Mười lẻ một đêm, Thằng bé Cá xuất hiện đậm chất trữ tình và cổ tích Nhưng thằng bé,
hình tượng trung tâm của câu chuyện, có đôi chân dính vào nhau như một cái đuôi cá, lại chết trong bể bơi Một sự tương phản của quy luật tạo sinh Câu chuyện đang được
làm lạ đi từ kiểu chuyện cổ tích Trong SBC là săn bắt chuột, Hồ Anh Thái đã nhại lời
bài hát Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa, để miêu tả một Hà Nội không thơ mộng, lãng mạn như mọi người thường nghĩ qua thơ nhạc, mà thay vào đó là một Hà Nội lầy lội trong mưa rét, nước ngập mênh mông Hà Nội trong thơ nhạc hoàn toàn đối lập, tương phản với Hà Nội trong đời thực: “Hà Nội mùa này, phố cũng như sông/ Cái rét đầu đông, chân em thâm vì ngâm nước lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố/ Đường Cổ Ngư xưa ngập tràn nước sông Hồng/ Hà Nội mùa này chiều không có nắng/ Phố vắng nước lên thành con sông/ Quán cóc nước dâng ngập qua mông/ Hồ Tây giờ không thấy bờ” [71,56] Bằng sự tương phản giữa hình thức và bản
Trang 39chất, Hồ Anh Thái còn nhằm lột tả nét bản chất lưu manh của một bộ phận trí thức: Giáo Sư lại là người vô đạo đức, con trai của Giáo Sư lại là tướng cướp, Luật Sư thì thích tốc độ, Thư Ký có sở thích làm rào làm giậu,… Sự tương phản không chỉ hiện ra
ở phạm vi rộng mà còn hiện ra ở từng chi tiết cụ thể trong những ngõ ngách sự việc, tâm hồn, tình cảm của con người Nếu ông Cốp thích ăn đất, môi tô đỏ trước khi diễn thuyết hay xuất hiện trước đám đông thì Luật Sư thích đám tang Luật sư chơi với những đám tang búp bê và trạng thái tâm lý dạt dào hưng phấn khi chứng kiến đám tang là một kiểu nghịch dị rất mới tạo nên bức tranh biếm họa về nhân vật: “đặc biệt
có ấn tượng với những đám tang, nghe nói đi đám tang ai là lòng bỗng rạo rực, ai rủ đi sinh nhật bạn bè, đi đám cưới cũng không hào hứng thế Nhưng nghe nói có người chết là linh hoạt hẳn, năng động hẳn, tâm lý phấn chấn hẳn” [71, 239]
Xây dựng những tương phản là cách tư duy tiểu thuyết hậu hiện đại nói chung
và tiểu thuyết Hồ Anh Thái nói riêng Hồ Anh Thái đã sáng tạo những tương phản bằng việc phá vỡ, đập bỏ những bất cập của các giá trị đã được mặc định Có thể thấy
rõ điều này trong tác phẩm Hồ Anh Thái Chẳng hạn, khi xây dựng tình huống tương phản giữa điều kiện thuận lợi của những thanh niên tri thức với lối sống ăn chơi, hưởng lạc, rượu chè, gái trai, lừa cha dối mẹ của những du học sinh là các cậu ấm, cô chiêu, tác giả lật tẩy bản chất một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, thiếu niềm tin Qua đó phơi bày thực trạng xã hội và những hệ lụy đối với tương lai đất nước
2.1.3 Cái nhìn trào lộng về cuộc sống, con người
Trong phạm trù cái hài, trào lộng là nghệ thuật gây ra tiếng cười mang ý nghĩa phê phán, mỉa mai, chế giễu con người và xã hội bằng cách thông qua việc xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu tạo nên những tình huống gây cười Sắc thái trào lộng nằm trên ý nghĩa của sự bỡn cợt Khi xã hội Việt Nam đang chuyển từ bao cấp sang kinh tế thị trường, bên cạnh sự xuất hiện của những cái mới, cái hiện đại thì nhiều vấn
đề bất cập, nhiều cái đáng khóc, đáng cười, nhiều thói hư tật xấu của con người cũng đồng thời nảy sinh Con người vì thế với những số phận khác nhau, bị cuộc sống xô
dạt, phải vật lộn với số phận trên đường đời của mình Không xa khỏi tôn chỉ nghệ
thuật trào phúng của văn học, Hồ Anh Thái tiếp tục nhìn cuộc đời với cái nhìn trào lộng
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, cuộc sống hỗn tạp, nhiễu nhương được phơi bày một cách chân thực và mới mẻ tạo ra nhiều sắc thái trào lộng độc đáo Có thể thấy bức
tranh đời sống xã hội đương đại trong tiểu thuyết Những đứa con rải rác trên đường
Trang 40được Hồ Anh Thái vẽ lại một cách chân thực như thế nào Ở đó, những tri thức mới Tây Âu được cậu du học sinh con ông Kễnh tiếp cận ở nhà vệ sinh của một trường đại
học Ông Kễnh - con người quyền uy đạo mạo lại sở hữu những 32 đứa con mà điểm nổi bật nhất di truyền cho con trai ông là cái “dai huyền dài” Trong cái xã hội hiện đại
hổ lốn ấy, du học của những thanh niên có điều kiện sung túc là cách để tiếp tục có đời sống ăn chơi, hưởng lạc Hồ Anh Thái đã lố bịch hóa, trào lộng hóa cái hiện thực đáng buồn cười mà cũng đáng buồn của xã hội Việt Nam đương đại để tự nó tạo ra sự kệch cỡm, lố bịch đang hiện diện Với cái nhìn trào lộng về cái mong muốn mang đậm chất nghịch dị ngay lập tức hóa thành một ông già tám mươi để nhận nuôi thầy bởi họ nuôi thầy để mà được phép ở lại đây cư trú hợp pháp, Hồ Anh Thái đã tạo ra trong cái nhìn trào lộng của mình một sự xót xa, cay đắng Sự tha hóa về tinh thần của những người trí thức trẻ tuổi ấy Ông Kễnh, ông Cốp, ông Víp đã làm sống động thêm sự hỗn tạp của đời sống xã hội đương thời Có thể nhận thấy, trào lộng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái không mang tính chất giải trí mà đó chính là những đòn công phá trực diện, hạ bệ những thói đời kệch cỡm và hổ lốn, những kẻ bề ngoài oai vệ, danh giá mà bên trong cực kì thối nát Đó là tiếng cười có tính chiến đấu, là những mũi dao rạch thẳng vào những ung nhọt của lối sống hiện đại, bởi lẽ chỉ có mổ xẻ nó ra mới trị được một cách
triệt để nhất
Cái nhìn trào lộng của Hồ Anh Thái còn thể hiện trong tiểu thuyết Người đàn bà
trên đảo Nhà văn miêu tả cái cảnh Tường phác họa chân dung “hải cẩu” của ông tài
vụ: “Tường thật sự thích thú nhận ra một nét khác lạ trên bộ mặt ông tài vụ Mũi và mồm ông ta đều nhô về phía trước, còn cái cằm ngắn củn thu về sau Ông ta giống một con hải cẩu Ngứa tay, Tường lấy quyển sổ trong chiếc túi áo khoác, dùng cái bút dạ màu đen phác mấy nét ký họa Một cái mũi và miệng hải cẩu lao về đằng trước như khiêu khích và sẵn sàng gây sự Nhưng cặp mắt thụt về sau lại đầy hốt hoảng, lo sợ, như sẵn sàng chạy trốn những con số rối mù Đang hưng phấn, thay cho mái tóc rễ tre trên đầu ông ta, Tường vẽ hai cái tai hải cẩu, rồi sổ một đường lung múp míp” [65,88]
Vẻ ngoại hình xấu xí, thô kệch, thông qua một vài nét vẽ sơ sài, một vài đặc điểm trên khuôn mặt, dáng người khiến chân dung ông “hải cẩu” mang đậm tính nghịch dị Cái ngoại hình nhân vật khiến người đọc bật lên tiếng cười nhưng sau đó là những nghĩ suy về vấn đề thân phận con người Vì hoàn cảnh xã hội và mục đích mưu sinh, con người dường như phải luôn lo lắng, sợ hãi Họ trở nên đầy ích kỷ và bảo thủ Hình ảnh