Khái niệm về phong cách và phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết hồ anh thái (Trang 30 - 58)

6. Ph-ơng pháp nghiên cứu

1.2. Khái niệm về phong cách và phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Với sáu cuốn tiểu thuyết, mỗi tác phẩm là một h-ơng vị riêng. Đi qua từng tác phẩm, Hồ Anh Thái dường như đã làm được những cuộc “lột xác”

mạnh mẽ hơn, ghi dấu từng b-ớc tiến trên nấc thang nghệ thuật. Tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã chạm tới những vấn đề nhạy cảm của xã hội, thể hiện ý thức luôn tìm tòi và tự làm mới mình của nhà văn. Trên ph-ơng diện nghệ thuật, Hồ Anh Thái không ngừng cách tân, biểu hiện rõ ở sự linh hoạt trong ph-ơng thức thể hiện và sự đa dạng trong từng giai đoạn. Sự cách tân thể loại trên ph-ơng diện nghệ thuật của Hồ Anh Thái biểu hiện ở nhiều bình diện, từ dung l-ợng, kết cấu, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo dựng không gian, thời gian nghệ thuật và rõ nhất là ở sự biến đổi của giọng điệu nghệ thuật, xác lập những kết cấu nghệ thuật mới mẻ qua từng tiểu thuyết.

Trên mặt bằng sáng tác tiểu thuyết đ-ơng đại, Hồ Anh Thái là nhà văn

để lại nhiều dấu ấn. Với mỗi cuốn tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã khẳng định những b-ớc tiến của mình trên con đ-ờng sáng tạo và cây bút ấy còn đầy hứa hẹn cho văn học Việt Nam đ-ơng đại.

1.2. Khái niệm về phong cách và phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

1.2.1. Khái niệm phong cách và những cấp độ của nó 1.2.1.1. Phong cách nghệ thuật và phong cách tác giả

Phong cách là thuật ngữ bắt nguồn từ thuật ngữ stylos (tiếng Hy Lạp, nghĩa là cái que), style (tiếng Pháp, nghĩa là nét chữ, bút pháp), đ-ợc sử dụng từ thời Cổ đại. Ngày nay, thuật ngữ này trở nên thông dụng và đ-ợc sử dụng

rộng rãi cả trong đời sống và trong nghệ thuật. Tuỳ vào từng lĩnh vực mà nội hàm của khái niệm này có ý nghĩa khác nhau. “Nghĩa phổ quát của phong cách là chỉ cấu trúc với “kiểu”, “vẻ”, “riêng”, với những đặc tr-ng khá ổn

định, bền vững, mang tính độc đáo của đối t-ợng đ-ợc bàn đến” [15, 29].

Phong cách nghệ thuật là phạm trù thẩm mĩ, “chỉ sự thống nhất tương

đối ổn định của hệ thống hình t-ợng, các ph-ơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, một tác phẩm riêng lẻ, trong trào l-u văn học hay văn học dân tộc” [20, 255 - 256]. Phong cách là thuật ngữ có nội hàm rộng. Do đó, để có đ-ợc sự đồng thuận trong việc minh

định khái niệm này là điều không dễ. Theo M. Kharapchenkô: “Nếu như dùng một công thức văn tắt thì phong cách cần phải đ-ợc định nghĩa nh- ph-ơng thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hiện thực đối với cuộc sống nh- là ph-ơng thức thuyết phục và thu hút độc giả” [33, 279]. Trong bài viết Một số khuynh h-ớng nghiên cứu phong cách, Tôn Thảo Miên cũng khẳng định: “Tựu trung lại, phong cách đ-ợc hiểu là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức, nó tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là nét riêng để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác”

[43, 78]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trong nghĩa rộng, phong cách là những nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một chỉnh thể có thể cảm nhận đ-ợc, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất” [20, 256].

Nh- vậy, tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau song có thể hiểu phong cách là những nét độc đáo phân biệt các tác giả, tác phẩm, trào l-u, thời

đại văn học.

Trong văn học nghệ thuật, phạm trù phong cách đ-ợc hiểu theo nhiều cấp độ. Có khái niệm phong cách nhằm chỉ phong cách của một tác giả

(phong cách nhà văn), đặc điểm về mặt ngôn ngữ của nhà văn, phong cách thể loại văn học, một trào l-u văn học, một khuynh h-ớng, tr-ờng phái hay một

nền văn học, một thời đại văn học. Trong các cấp độ này, phong cách nhà văn là khái niệm cơ bản. Nhà văn là ng-ời trực tiếp sáng tác ra tác phẩm, kết tinh quá trình sáng tạo, khởi đầu cho hoạt động văn ch-ơng. Phong cách nghệ thuật đ-ợc xem nh- th-ớc đo tài năng, là yếu tố xác lập vị trí của nhà văn trong tiến trình lịch sử văn học. Không phải nhà văn nào cũng có phong cách.

Lao động nghệ thuật là thứ lao động cá thể, lao động sáng tạo, muốn tạo dựng

đ-ợc phong cách đòi hỏi nhà văn phải có bản lĩnh nghệ thuật, có tài nghệ, biết kiếm tìm và phát hiện cuộc sống một cách độc đáo, đề xuất những t- t-ởng mới mẻ, có đóng góp cho văn học.

Có nhiều quan niệm khác nhau về phong cách nhà văn. Trong công trình Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Tôn Ph-ơng Lan khẳng

định: “Phong cách nghệ thuật của một nhà văn là cá tính của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn chất liệu và cách tiếp cận đời sống nghệ thuật, cách thức xây dựng tác phẩm, các thủ pháp và ph-ơng tiện biểu đạt nghệ thuật ngôn từ… Quá trình sáng tạo đó của ng-ời nghệ sĩ không đơn thuần là việc lựa chọn, càng không phải là việc chiếm lĩnh những yếu tố mà là tổ chức chúng lại thành một cấu trúc tinh vi, nhuần nhuyễn đến mức mà tất cả những dấu hiệu hình thức đều mang tính nội dung và ngược lại” [39, 30]. Phan Ngọc xác

định: “Phong cách là sự lặp đi lặp lại như một chùm nét khu biệt, những nét riêng này muốn tạo thành phong cách không đ-ợc có tần số quá thấp bởi nhiều khi tần số thấp nó không để lại trong óc người đọc một ấn tượng nào cả”

[49, 09].

Nh- vậy, có thể khái quát phong cách nhà văn là những đặc điểm riêng, bền vững, nhất quán đ-ợc biểu hiện qua tác phẩm, lặp đi lặp lại ở nhiều tác phẩm, thể hiện cái nhìn và cách chiếm lĩnh hiện thực độc đáo của nhà văn, giúp ng-ời đọc nhận diện g-ơng mặt nhà văn, phân biệt nhà văn này với nhà văn khác. Thiếu một cốt cách ổn định, vững bền sẽ không tạo đ-ợc phong

cách. Nh-ng sự ổn định này không đồng nghĩa với sự lặp lại đơn điệu, nhàm chán mà đó phải là sự đa dạng, là cái khả biến trên nền tảng ổn định.

Phong cách không phải do ý muốn chủ quan của ng-ời nghệ sĩ mà đó là kết tinh của cả quá trình lao động nghệ thuật nghiêm ngặt. M.Proust từng cho rằng: “Đối với nhà văn cũng nh- nhà hoạ sĩ, phong cách không phải vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn. Đó là một sự khám phá mà ng-ời ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một sự khám phá về chất, chỉ có đ-ợc trong cách cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [87, 51]. Phong cách là th-ớc đo tài năng. Quá trình tạo dựng phong cách là quá trình nỗ lực khẳng định bản ngã

của mình trong dòng chảy văn học của ng-ời nghệ sĩ.

Tác phẩm văn học là sự thống nhất hài hoà giữa nội dung và hình thức.

Do vậy, nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một tác giả không đơn thuần là việc tìm hiểu những nét riêng về t- t-ởng nội dung hay hình thức nghệ thuật.

Phong cách là phẩm chất thẩm thấu, xuyên suốt các yếu tố của một tác phẩm cụ thể hay nhiều tác phẩm khác và có thể bộc lộ rõ ở phạm vi nội dung hoặc hình thức tùy từng tr-ờng hợp cụ thể. Nh- vậy cũng có nghĩa phong cách tr-ớc hết là cái nhìn độc đáo của ng-ời nghệ sĩ đối với con ng-ời, đời sống. Từ cốt cách, bản lĩnh trong cách nhìn đời, nhà văn đã lựa chọn thể loại, nhân vật, hình thức câu văn, giọng điệu t-ơng ứng. Tất cả tập hợp lại tạo thành phong cách nghệ thuật, mở ra chân trời cho con ng-ời cảm nhận đời sống.

Phong cách nghệ thuật ghi nhận sự tr-ởng thành về mặt nghệ thuật của ng-ời nghệ sĩ. Do đó, một nền văn học càng lớn khi quy tụ đ-ợc nhiều phong cách nghệ thuật.

1.2.1.2. Phong cách thể loại và phong cách thể loại của một tác giả

Thể loại văn học trở thành nhân vật chính của lịch sử văn học, quy định cách kiến thiết, tổ chức tác phẩm cũng nh- quy định h-ớng tiếp cận. Nếu

chúng ta quan niệm phong cách là cái “riêng”, cái “độc đáo” thì trong lịch sử nghệ thuật tồn tại cấp độ phong cách thể loại.

Thể loại văn học là “dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành và tồn tại t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện t-ợng đời sống đ-ợc miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn

đối với các hiện tượng đời sống ấy” [20, 299]. Một thể loại văn học thể hiện phạm vi đời sống đ-ợc chiếm lĩnh, giới hạn tiếp xúc đời sống, một tr-ờng quan sát đối với đời sống cũng nh- các ph-ơng tiện thể hiện t-ơng ứng. Có nhiều cách chia loại văn học trong đó cách chia phổ biến dựa trên tiêu chí ph-ơng thức phản ánh đời sống chia thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch.

Tự sự, trữ tình và kịch cũng là ba ph-ơng thức cơ bản phản ánh hiện thực. Ba ph-ơng thức này chính là cơ sở tạo ra tính ổn định cho thể loại. Nói cách khác, bên cạnh biến động do sự phát triển của t- duy nghệ thuật trong mỗi thời kì không giống nhau thì thể loại có những yếu tố t-ơng đối ổn định nh- ph-ơng thức tiếp cận đời sống, cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm, cách giao tiếp đối với độc giả… Trên nền tảng ấy, mỗi loại văn học có những đặc tr-ng về phạm vi chiếm lĩnh đời sống, giới hạn tiếp xúc đời sống cũng nh- các ph-ơng tiện thể hiện t-ơng ứng.

Chẳng hạn, cùng h-ớng đến cách cảm nhận, nắm bắt và chiếm lĩnh đời sống nh-ng loại tự sự, trữ tình và kịch có những cách thức khác nhau. Nếu loại tự sự h-ớng tới nhận thức hiện thực, phát hiện, khái quát mối quan hệ xã hội,

đào sâu vào tầng vỉa của hiện thực đời sống để thấy đ-ợc sự tác động của nó

đối với con ng-ời thì ph-ơng thức trữ tình thiên về biểu hiện trực tiếp cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình, nắm bắt thế giới bên trong của con ng-ời.

Từ đó, mỗi thể loại quy định cách giao tiếp đối với ng-ời đọc. Ph-ơng thức tự sự yêu cầu độc giả có óc quan sát, phán xét, phân tích còn đối với thể loại trữ

tình, ng-ời đọc có tâm thế tiếp nhận xem tiếng nói trữ tình ấy chính là tiếng

nói của mình, nghĩa là phải có sự đồng cảm, tri âm. Riêng kịch lại chú trọng tới các mâu thuẫn, xung đột trong đời sống. Đặc tr-ng của loại tự sự là sự kiện, của loại trữ tình là cảm xúc thì kịch đánh giá cao hành động. Hành động trong kịch đ-ợc bộc lộ qua ngôn ngữ. Vì thế, nhà viết kịch có thể giảm tải

đ-ợc rất nhiều việc thể hiện những yếu tố khác so với tự sự. Do sự tác động và chi phối bởi yếu tố không gian và thời gian trình diễn nên nhân vật kịch cũng không đ-ợc khắc họa tỉ mỉ với nhiều khía cạnh nh- nhân vật trong tác phẩm tự sự. Nh- vậy, nghiên cứu phong cách theo h-ớng thể loại cũng là h-ớng đi

đúng để có những cách tiếp nhận và kiến giải tác phẩm hợp lí.

Tác giả văn học là một đơn vị, một bộ phận của quá trình văn học, một g-ơng mặt không thể thay thế tạo nên diện mạo chung của một thời kì, một thời đại văn học. Có ba ph-ơng thức phản ánh đời sống t-ơng ứng với ba loại văn học: tự sự, trữ tình và kịch. Với mỗi ph-ơng thức này đòi hỏi một kiểu t- duy nghệ thuật khác nhau. T- duy nghệ thuật là hoạt động trí tuệ h-ớng tới sáng tạo tác phẩm văn học, nảy sinh trên nền tảng tâm sinh lí cụ thể. Sáng tạo tác phẩm đối với ng-ời nghệ sĩ là sự huy động toàn bộ nội tâm, mĩ cảm, tầm văn hoá. Do vậy, d-ờng nh- mỗi tác giả có “miền” sáng tạo phù hợp với mĩ cảm của bản thân. Nói cách khác, mỗi nhà văn có thể phát huy đ-ợc toàn bộ năng lực sáng tạo của mình ở một thể loại văn học nhất định. Từ đây hình thành phong cách thể loại của một tác giả.

Phong cách thể loại của một tác giả đ-ợc hiểu là những nét riêng biệt,

độc đáo của tác giả ghi dấu ở thể loại văn học, có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thể loại ấy.

Thể loại văn học là một phạm trù siêu cá thể nh-ng mang những đặc

điểm của phong cách nhà văn. Mỗi thể loại văn học có những nét t-ơng đối cố

định về phạm vi chiếm lĩnh đời sống, hình thức tổ chức cấu trúc tác phẩm cũng nh- cách thức tiếp nhận tác phẩm. Song đối với những nhà văn có phong cách, họ luôn có ý thức làm mới thể loại đó, đóng dấu ấn cá nhân vào thể loại,

khẳng định bản sắc. Mỗi nhà văn có thể lựa chọn thể loại để sáng tác, nghĩa là lựa chọn cái đã có sẵn nh-ng bằng tài năng của mình, họ có thể cách tân, phá

vỡ khuôn hình sẵn có ấy. Vì thế, một ng-ời viết văn có thể tìm và thử sức với nhiểu thể loại văn học song lịch sử văn học sẽ ghi công cho họ chủ yếu ở thể loại mà họ sở tr-ờng.

Chẳng hạn, cùng sử dụng thể lục bát truyền thống - thể loại t-ơng đối ổn định nh-ng mỗi nhà thơ qua các thời kì đều có sự cách tân. Với kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đ-a thể lục bát phát triển đến đỉnh cao. Sang văn học hiện đại, nhiều nhà thơ đã làm mới thể lục bát quen thuộc bằng những đổi mới về tứ thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu, vần… Đó là Nguyễn Bính với những vần thơ chân chất về làng quê, là Hoàng Cầm với những tứ thơ lạ, là Tố Hữu cùng những câu thơ chuyên chở cả những vấn đề của cuộc sống kháng chiến, h-ớng về quần chúng, nói tiếng nói của quần chúng hay Bùi Giáng làm mới bằng chữ

nghĩa trùng trùng điệp điệp, phối hợp linh hoạt từ Hán - Việt và từ thuần Việt… Tất cả minh chứng cho sức sống mãnh liệt của thể lục bát.

Trong công cuộc hiện đại hóa văn học, từ đầu thế kỉ XX đến 1945 các thể loại văn học phát triển sôi nổi. Phóng sự là thể mới nh-ng đã gặt hái những thành tựu đáng kể. Nhiều cây bút thể nghiệm ở thể này (Tam Lang, Ngô Tất Tố…) nh-ng chỉ có Vũ Trọng Phụng đ-ợc tôn lên ngôi vị là “ông vua phóng sự đất Bắc” với nhiều trang viết sắc sảo, độc đáo, v-ợt lên các cây bút phóng sự đ-ơng thời. Cũng trong giai đoạn này, tùy bút được xem là thể loại “khinh binh”. Tuy nhiên, trở thành nhà tùy bút thực sự, có sức viết dồi dào chỉ có ở NguyÔn Tu©n.

Nh- vậy, ý thức tạo lập bản sắc của mỗi nhà văn ở thể loại là một động lực quan trọng giúp cho thể loại văn học không ngừng đổi mới. Thể loại văn học một mặt chịu sự quy định của môi tr-ờng văn hóa, mặt khác là kết quả

của việc phát huy tài năng, cá tính sáng tạo của mỗi ng-ời nghệ sĩ.

1.2.2. B-ớc đầu nhận diện phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái

1.2.2.1. Hồ Anh Thái - từ quan niệm về tiểu thuyết đến thực tiễn sáng tác

Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hồ Anh Thái, nhà văn ghi dấu ấn cá nhân của mình nhiều nhất ở thể loại tiểu thuyết. Thành công ấy bắt nguồn tr-ớc hết từ những quan niệm đúng đắn về tiểu thuyết của ông. Quan niệm tiểu thuyết của Hồ Anh Thái vừa đ-ợc thể hiện trực tiếp qua các ý kiến bàn luận về tiểu thuyết, vừa đ-ợc thể hiện qua sáng tác của nhà văn.

Cảm quan hiện thực của từng nhà văn là nhân tố cốt lõi chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn. Với Hồ Anh Thái, quan niệm hiện thực nh- là

đối t-ợng phản ánh, khám phá, nhận thức của văn học đ-ợc mở rộng, khơi sâu và mang tính toàn diện hơn. Ông cho rằng: “Hiện thực là những gì ta nhìn thấy, ta nghe là ch-a đủ, hiện thực là cái ta cảm nữa. Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi ng-ời, trong tâm và trí của họ. Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là

đã đào sâu, hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy” [66, 252]. Với cảm quan hiện thực nh- vậy, Hồ Anh Thái sáng tác tiểu thuyết không hề bị lệ thuộc đề tài hay cách nhìn đã đ-ợc định tr-ớc, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện thực đời sống; dung l-ợng phản ánh hiện thực cũng

đ-ợc nới rộng, xác lập quan niệm mới về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái không chỉ phản ánh thực tại ngoài đời mà còn là thế giới do nhà văn sáng tạo, có thể bao gồm cái có thực với cái không thể có, cái kì ảo đ-ợc tạo ra bằng trí t-ởng t-ợng có thể tồn tại bên cạnh những hình ảnh của hiện thực. Hồ Anh Thái khẳng định: “Tôi quan niệm tiểu thuyết nh- giấc mơ dài, gấp sách lại nguời ta vừa mừng rơn nh- thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” [66, 245].

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết hồ anh thái (Trang 30 - 58)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(137 trang)