Ngày 02012015, Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh cùng ký hợp đồng nguyên tắc số 012015NLBNKL. Theo nội dung hợp đồng:(1)Công ty Kim Lân sẽ bán cho Công ty Nhật Linh các loại hàng hóa với số lượng, quy cách, đơn giá theo đơn đặt hàng chi tiết (Điều 1 Hợp đồng);(2)Bên mua sẽ thanh toán tiền hàng cho Bên Bán trong vòng 06 tháng “kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hoá đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết.” (Điều 2 Hợp đồng)(3)Trong trường hợp Bên mua thanh toán cho Bên bán trễ hạn nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán thì bên mua phải chịu lãi suất 10% tháng trên toàn bộ giá trị của phần chưa thanh toán (Điều 4.4 Hợp đồng):(4)Hợp đồng có hiệu lực trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký.(5)Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hoặc tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản. Nếu không thỏa thuận được hai bên sẽ viện đến trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội, phán quyết của trọng tài kinh tế TP. Hà nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành. Các chi phí kiểm tra, xác minh và lệ phí tòa án do bên có lỗi chịu.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Mã số hồ sơ: LS.DS-13/KDTM “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Giáo viên phụ trách: Nguyễn Hồng Quang Ngày diễn: 02 tháng 10 năm 2021 Vai diễn: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 10 năm 2021
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU HỒ SƠ
1 Nội dung vụ án
1.1 Tóm tắt tình tiết:
Họ tên học viên : MAI THÀNH TRUNG Ngày sinh : 25/01/1994
Lớp Luật sư : Lớp 23.2K.HCM
Số báo danh : 659
Trang 2Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh cùng ký hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL Theo nội dung hợp đồng:
(1) Công ty Kim Lân sẽ bán cho Công ty Nhật Linh các loại hàng hóa với số lượng, quy cách, đơn giá theo đơn đặt hàng chi tiết (Điều 1 Hợp đồng);
(2) Bên mua sẽ thanh toán tiền hàng cho Bên Bán trong vòng 06 tháng “kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hoá đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết.” (Điều 2 Hợp đồng)
(3) Trong trường hợp Bên mua thanh toán cho Bên bán trễ hạn nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán thì bên mua phải chịu lãi suất 10% tháng trên toàn bộ giá trị của phần chưa thanh toán (Điều 4.4 Hợp đồng): (4) Hợp đồng có hiệu lực trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký
(5) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hoặc tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản Nếu không thỏa thuận được hai bên sẽ viện đến trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội, phán quyết của trọng tài kinh tế TP Hà nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành Các chi phí kiểm tra, xác minh và lệ phí tòa án do bên có lỗi chịu
Sau một quá trình thực hiện, Công ty Nhật Linh vẫn chưa thanh toán hết số tiền hàng
đã mua của Công ty Kim Lân, cụ thể như sau:
(1) Căn cứ vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 về việc chốt nợ của năm 2015 là: 3.250.319.430 VNĐ
(2) Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016 để xác nhận công nợ đến ngày 30/04/2016, số tiền công ty Nhật Linh đang nợ chưa thanh toán là 3.177.970.970 đồng
(3) Ngày 09/05/2016 Công ty Kim Lân gửi công văn số 0506/ĐN/CN yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán số tiền trên vì thời hạn trả nợ đã hết Theo đó,
số tiền công ty TNHH Nhật Linh Bắc Ninh và công ty TNHH Nhật Linh Lioa
còn nợ công ty TNHH Kim Lân số tiền là 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm
bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng) Ngày 17/05/2016 công ty Kim Lân và công ty Nhật Linh đã có làm việc với nhau về việc giải quyết việc thanh toán và lộ trình, phương thức thanh toán đối với khoản nợ trên Tuy nhiên phía công ty Nhật Linh vẫn không thanh toán tiền cho công ty Kim Lân
Ngày 27/5/2016, Công ty Nhật Linh gửi Công văn số 77 cho Công ty Kim Lân, thông báo lộ trình và phương thức thanh toán: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016
Tuy nhiên sau đó Công ty Nhật Linh vẫn không thanh toán nợ, do đó ngày 10/07/2016, Công ty TNHH Kim Lân nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH Nhật Linh tại Tòa
án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ trong
hồ sơ vụ án, Công ty Kim Lân yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau: Buộc Công ty
Nhật Linh thanh toán cho Công ty Kim Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng (ba tỷ hai
Trang 3trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy
định của pháp luật
Phía Bị đơn cho rằng:
Ngày 17/05/2016, hai bên đã họp lại và thống nhất phương án giải quyết về số tiền nợ chưa thanh toán và tài sản của Công ty Nhật Linh như sau: Đối với số tiền nợ Công ty Nhật Linh sẽ thanh toán cho Công ty Kim Lân theo lộ trình và phương thức như thỏa thuận Đối với số tài sản thì Công ty Nhật Linh sẽ lên danh sách tài sản trên đất của Công ty Kim Lân để Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh xác nhận lại Sau đó, Công ty Nhật Linh đã gửi 02 công văn cho Công ty Kim Lân trình bày lộ trình và phương thức thanh toán số nợ và xử lý tài sản trên đất tuy nhiên phía Công ty Kim Lân không hợp tác để cùng thực hiện thỏa thuận
mà còn khởi kiện Công ty Nhật Linh
Do vậy Công ty Nhật Linh yêu cầu Tòa án buộc Công ty Kim Lân thực hiện đúng thỏa thuận trong biên bản ngày 17/05/2016 và không được sử dụng trái phép tài sản của Công ty Nhật Linh khi tài sản còn đang tranh chấp
Tới ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh đã đưa ra yêu cầu phản tố là yêu cầu Công ty Kim Lân ký xác nhận và hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh trên quyền sử dụng đất của Công ty Kim Lân Phía Công ty Kim Lân cũng yêu cầu xác định lại số tiền yêu cầu
Công ty Nhật Linh trả là: 3.250.319.430 đồng (ba tỷ hai trăm năm mươi triệu ba trăm mười
chín ngàn bốn trăm ba mươi đồng) và lãi suất theo quy định của Ngân hàng nhà nước tạm
tính là: 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
Qua quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án nhưng các bên cũng không thương lượng được với nhau về việc giải quyết vụ án Đồng thời không bên nào rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình Chính vì vậy
vụ án được Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa ra xét xử
1.2 Các nội dung đã thống nhất và chưa thống nhất:
- Nội dung đã thống nhất:
(1) Công ty TNHH Nhật Linh cam kết thanh toán tiền hàng còn nợ Cty TNHH Kim Lân theo lộ trình và phương thức thanh toán thỏa thuận
(2) Công ty TNHH Nhật Linh sẽ tiến hành lập danh sách liệt kê một số tài sản để lại trên đất của Công ty Kim Lân, sau đó gửi cho Công ty Kim Lân và cùng ký tên xác nhận
- Nội dung chưa thống nhất:
(1) Chưa thống nhất về số tiền phải thanh toán và thời điểm thanh toán vì Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán công nợ và lãi suất là 3.500.319.430 đồng (Ba tỷ năm trăm năm mươi ba trăm mười chin ngàn bốn trăm ba mươi đồng)
(2) Chưa thống nhất về việc ký biên bản liệt kê tài sản: Công ty Nhật Linh yêu cầu Công ty Kim Lân thực hiện thỏa thuận là ký vào danh sách liệt kê tài sản
1.3 Chứng cứ chứng minh:
- Chứng cứ đã nộp:
(1) Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 ;
(2) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH Kim Lân
(3) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH Nhật Linh;
Trang 4(4) Chứng minh nhân dân người đại diện theo pháp luật;
(5) Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016;
(6) Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016;
(7) Công văn số 0506 ĐN/CN ngày 09/05/2016;
(8) Công văn số 87/CV-NL ngày 07/06/2016;
(9) Biên bản làm việc ngày 17 tháng 05 năm 2016 giữa Công ty Nhật Linh và Công ty
Kim Lân;
(10)Phiếu nhập kho các ngày : 05/01, 08/01, 10/01,15/01, 18/01, 02/02, 06/02, 21/02,
25/02, 27/02, 06/03 của năm 2016;
(11) Ủy nhiệm chi ngày 11/01/206 và ủy nhiệm chi ngày 30/01/2016;
(12)Giấy ủy quyền đại diện của Luật sư bên Công ty Kim Lân.
- Chứng cứ Bị đơn cần nộp:
(1) Thỏa thuận góp vốn giữa Công ty Nhật Linh Bắc Ninh, Công Ty Nhật Linh, Công
Ty Kim Lân (Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 3/10/2008)
(2) Chứng nhận đầu tư số 21121/000 088 ngày 17/10/2008
(3) Giấy xác nhận về việc ông Linh và công ty TNHH Nhật Linh đã đầu tư tiền, tài sản vào công ty TNHH Kim Lân do ông Hà Anh Tuấn ký
(4) Biên bản xác nhận tài sản của Công ty Nhật Linh đầu tư xây dựng trên đất công ty Kim Lân ngày 6/3/2012;
(5) Chứng cứ Nhật Linh đầu tư xây dựng nhà xưởng, kho tàng, mua sắm các máy móc thiết bị sản xuất và đưa dự án nhà máy thiết bị điện Lioa trên diện tích đất của Kim Lân góp vốn
- Chứng cứ Nguyên đơn cần cung cấp:
(1) Công văn 77/CV-NL ngày 27/05/2016 do Nhật Linh gửi Kim Lân
(2) Công văn 87/CV-NL ngày 07/06/2016 do Nhật Linh gửi Kim Lân
(3) Chứng cứ về việc công ty TNHH Nhật Linh đã thanh toán trả công ty TNHH Kim Lân 72.348.460 đồng, sau khi thanh toán Nhật Linh đã gửi bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 cho công ty TNHH Kim Lân
- Chứng cứ yêu cầu Tòa án thu thập:
(1) Bổ sung vai trò tố tụng của Công Ty Nhật Linh
(2) Yêu cầu giám định giá 12 tài sản của Công Ty Nhật Linh
2 Nhận xét một số vấn đề về tố tụng
2.1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Công ty Kim Lân (bên bán) và Công ty Nhật Linh (bên mua) có ký hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL vào ngày 2/1/201 để mua bán hàng hóa theo các đơn đặt hàng chi tiết của bên mua Sau thời gian dài không nhận được tiền thanh toán của Nhật Linh, Kim Lân cho rằng phía Nhật Linh vi phạm nghĩa vụ thanh toán và điều khoản lãi phạt chậm tra nên đã khởi kiện Đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc tranh chấp về kinh doanh thương mại giữa giữa hai tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
2.2 Quyền khởi kiện
Trong quan hệ pháp luật tranh chấp trên, sau nhiều lần làm việc giữa hai bên, Công ty Kim Lân cho rằng bên Nhật Linh chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp
Trang 5đồng đã thỏa thuận giữa hai bên nên đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 Công ty Kim Lân là pháp nhân thành lập hợp pháp theo quy định của Luật Doanh ngiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nên có đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự, đại diện theo pháp luật của Công ty Kim Lân đã trực tiếp ký Đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, 189 BLTTDS 2015
2.3 Thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợpquy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 237 Luật này Theo đó, do bên Kim Lân nhận định số tiền Nhật Linh phải trả theo bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2013 Do đó, thời hiệu khởi kiện
là từ ngày 25/02/2013 tới ngày 25/02/2015 Như vậy, tính đến ngày Kim Lân khởi kiện là 10/06/2013 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn
2.4 Thẩm quyền Tòa án
Việc TAND Huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật theo các căn cứ pháp lý sau:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 30 của BLTTDS 2015 sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;
- Ngoài ra, mặc dù Hợp đồng nguyên tắc có thỏa thuận trọng tài và theo Luật trọng tài
2010 thì “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được” nhưng do Hợp đồng nguyên tắc này đã hết hiệu lực nên không áp dụng thỏa thuận trọng tài trong trường hợp này
2.5 Thành phần và tư cách đương sự
1) Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Hàn Anh Tuấn, giám đốc làm người đại diện theo pháp luật
Người đại diện theo ủy quyền: bà Kiều Thị Hải Vân, luật sư văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn luật sư Tp Hà Nội
2) Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Nguyễn Chí Linh, Tổng giám đốc làm đại diện
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tiến Công, phó giám đốc Công ty TNHH Nhật Linh
2.6 Thủ tục tiền tố tụng
a Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Trang 6Sau khi Bị đơn có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do ngay sau khi thực hiện các thủ tục tống đạt quyết định thi hành án và phong tỏa tài sản, ngoài việc vẫn vào khu nhà ăn đến ngày 28/11/2016 công ty TNHH Kim Lân lại ngang nhiên vào khu nhà xưởng dây nguồn để sử dụng tài sản đã bị phong tỏa, công ty TNHH Kim Lân đã thể hiện hành vi coi thường pháp luật, chống đối lại cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ, cố tình xâm phạm trái phép tài sản của công ty Nhật Linh thì TAND huyện Thuận Thành đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2016/QĐ- BPKCTT ngày 22/11/2016 bằng hình thức phong tỏa tài sản của Công ty TNHH Nhật Linh đang để trên đất đất của công ty TNHH Kim Lân Sau đó, TAND huyện Thuận Thành lại tiếp tục có Quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Số 01/2016/QĐ-BPKCTT theo yêu cầu của Bị Đơn
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này là vội vàng chưa đáp ứng theo quy
định tại Điều 111, BLTTDS 2015 “để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án” vì chỉ dựa vào yêu cầu của công ty TNHH Nhật Linh mà không xem xét khách quan đến
các chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của các tài sản đó Bảng kê tài sản đề nghị phong tỏa kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời của công ty TNHH Nhật Linh đã liệt kê không chính xác tài sản được phong tỏa Cụ thể, trong tổng số 12 tên loại tài sản
đã liệt kê có 2 danh mục tài sản bị trùng lặp (là nhà điều hành 3 tầng), nhà để xe và nhà chứa vật liệu nằm ở vị trí nào trên đất của Kim Lân
b Về việc TAND Thuận Thành chấp nhận đơn phản tố của Bị đơn:
Công ty Nhật Linh đã thực hiện việc phản tố vào ngày 17/11/2016 là sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải ngày 03/09/2016 nhưng Tòa án vẫn thụ lý đơn phản tố là vi phạm nghiêm trọng tổ tụng Căn cứ Khoản 3 Điều
200 BLTTDS 2015: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”
Đơn phản tố của Bị đơn đề ngày 17/11/2016, nhưng thời điểm Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố là ngày 29/10/2016, biên lai thu tiền vào ngày 06/11/2016
là có sự mâu thuẫn về trình tự thời gian và trái với quy định của pháp luật
c Về tư cách tố tụng của Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn – Ông Nguyễn Tiến Công:
Căn cứ theo Giấy ủy quyền tại bút lục số 43 của hồ sơ vụ án, nội dung ủy quyền giữa người đại diện theo pháp luật của Bị đơn Công ty Nhật Linh, thì ông Nguyễn Tiến Công chỉ có quyền tham gia trong vụ việc giải quyết tranh chấp tài sản giữa Công ty Nhật Linh và Công ty Kim Lân, chứ không phải trong vụ án kiện đòi tiền hàng, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa này Do đó, cần xem xét lại nội dung ủy quyền và tư cách tham gia tố tụng, toàn bộ những
ý kiến, đề nghị, chứng cứ do ông Nguyễn Tiến Công cung cấp từ ngày 22/8/2016 là không có giá trị pháp lý trong quá trình giải quyết vụ án
d Về việc Bị đơn yêu cầu tòa án đình chỉ giải quyết vụ án:
Căn cứ Công ty Nhật Linh đưa ra để yêu cầu tòa án đình chỉ giải quyết vụ án là
“Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền công ty TNHH Nhật
Trang 7Linh còn nợ công ty TNHH Kim Lân trong khi nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn Có nghĩa là nguyên đơn chưa đủ điều kiện để khởi kiện đòi tiền bị đơn theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 168 BLTTDS” và “khuất tất giữa chủ tịch UBND xa Thanh Khương và công ty Kim Lân khi chủ tịch UBND xa Thanh Khương đa ký chứng thực bản sao đúng với bản chính bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2013 giữa hai công ty” Căn cứ trên của công ty Nhật Linh không phù hợp với các quy định của pháp luật
về đình chỉ vụ án dân sự được quy định tại Điều 92 BLTTDS và Điều 24 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐT Như vậy, tòa án đã không chấp nhận đề nghị này là có cơ sở
2.7 Văn bản pháp luật áp dụng chủ yếu:
- Bộ luật dân sự 2005 (Hợp đồng nguyên tắc và các giao dịch xảy ra trước 01/01/2017)
- Luật thương mại 2005
- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Luật trọng tài thương mại 2010;
- Luật doanh nghiệp 2005 (tình tiết góp vốn năm 2008)
- Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
PHẦN 2: PHẦN CHUẨN BỊ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CHO BỊ ĐƠN
1 Chuẩn bị phần trình bày cho Bị đơn:
Năm 2006, ông Hàn Anh Tuấn - Giám đốc Công ty TNHH Kim Lân (gọi tắt là Công ty Kim Lân) có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Chí Linh, Giám đốc Công ty TNHH Nhật Linh gọi tắt là Công ty Nhật Linh) và mời chào đầu tư góp vốn để mời đầu tư góp vốn vào Công ty Kim Lân, theo đó: Ông Nguyễn Chí Linh sẽ góp vốn bằng tiền mặt và Ông Hàn Anh Tuấn góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo tỷ lệ góp vốn là 50/50 Sau đó cả hai cùng nhau bỏ tiền ra đầu tư xây dựng nhà xưởng, nhà điều hành, nhà ăn, kho tàng, trạm biến áp, hạ tầng cơ sở
và các thiết bị máy móc khác trên đất của Kim Lân trên thửa đất với diện tích là 11.735,4 m2
do Kim Lân góp vốn bằng quyền sử dụng đất Vì góp vốn vào Kim Lân lúc bấy giờ chỉ dưới hình thức bổ sung thêm thành viên góp vốn cho nên giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cấp ngày 12/03/2007 cùng 1 số hóa đơn chứng từ, hạng mục công trình xây dựng, máy móc thiết bị đều đứng tên Kim Lân (ông Tuấn với tư cách Giám đốc Kim Lân đã viết giấy xác nhận việc ông Linh và Nhật Linh đã đầu tư tiền, tài sản vào Kim Lân và cam kết hoàn trả lại) Tháng 6/2008 để mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, Công ty Kim Lân đã quyết định hợp tác cùng với Ông Nguyễn Chí Linh và Bà Đặng Thúy Phương thành lập Công ty Nhật Linh (với trụ sở tại cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh) với tư cách là sáng lập viên
Tháng 10/2010, do nhu cầu cần bổ sung vốn để đầu tư xây dựng nhà máy thiết bị Lioa, Công ty Kim Lân đã quyết định góp vốn vào Công ty Nhật Linh quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 11.735,4 m2 Tổng giá trị tài sản được định giá tại thời điểm góp vốn của Công ty Kim Lân tại thời điểm này là 1 tỷ đồng (Có Hợp đồng góp vốn số 288/HD/2008 ngày
Trang 803/10/2008 đã được phòng công chứng số 8 tỉnh Bắc Ninh chứng nhận và Giấy chứng nhận đầu
tư số 21121/000088 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 17/10/2008).Đến ngày 17/05/2016, hai bên đã họp lại và thống nhất phương án giải quyết về số tiền nợ chưa thanh toán và tài sản của Công ty Nhật Linh Công ty Kim Lân đã đồng ý với ý kiến của Công ty Nhật Linh về lộ trình thanh toán, phương thức thanh toán số tiền còn thiếu và ký biên bản xác nhận, bàn giao lại tài sản trên quyền sử dụng đất của Công ty Kim Lân do Công ty Nhật Linh đầu tư Công ty Nhật Linh đã xúc tiến thực hiện thỏa thuận giữa hai bên nhưng Công ty Kim Lân không thực hiện đúng thỏa thuận
Do đó nay Công ty Nhật Linh yêu cầu Tòa án buộc Công ty Kim Lân thực hiện đúng thỏa thuận trong biên bản ngày 17/05/2016 và không được sử dụng trái phép tài sản của Công
ty Nhật Linh khi tài sản còn đang tranh chấp Đồng thời yêu cầu Công ty Kim Lân ký xác nhận
và hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh trên quyền sử dụng đất của Công ty Kim Lân
2 Kế hoạch hỏi đáp:
Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, kế hoạch hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của tôi như sau:
Tình tiết, nội
dung cần chứng
minh
Đối tượng hỏi
1 Chứng minh
nguyên đơn chưa
hoàn thành nghĩa
vụ cung cấp
chứng từ và do
đó, không xác
định được con số
công nợ chính
xác cuối cùng và
thời điểm phát
sinh lãi trả chậm
1 Yêu cầu thanh toán của phía ND (toàn bộ số tiền bao gồm công nợ và phần lãi suất) có phải căn cứ vào Hợp đồng Nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 không?
2 Thời điểm phát sinh nghĩa thanh toán theo yêu cầu của Nguyên Đơn
là khi nào và căn cứ vào đâu để xác định thời điểm này?
3 NĐ đã cung cấp đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT, giấy
đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết cho BĐ chưa? Có gì chứng minh?
4 Căn cứ nào để NĐ tính được số tiền và số lãi mà BĐ phải thanh toán?
5 Tại sao NĐ căn cứ vào các Biên bản đối chiếu công nợ nhưng số tiền yêu cầu thanh toán lại thay đổi liên tục từ Đơn khởi kiện qua đến Biên bản lấy lời khai đương sự? Biên bản đối chiếu công nợ đó có phải là chứng từ xác đáng để yêu cầu BĐ phải thanh toán?
6 Phía BD của chúng tôi đã có bất kỳ văn bản, chứng từ nào xác nhận với ND về số tiền cuối cùng phải thanh toán giữa hai bên hay chưa? Về
lộ trình, thời điểm thanh toán chưa?
7 Trong HĐNT có thỏa thuận về việc tranh chấp sẽ được giải quyết tại trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội, tại sao NĐ lại khởi kiện tại TAND huyện Thuận Thành? Việc này có phải là trái với Luật trọng tài thương mại 2010 và thỏa thuận trong HĐNT rồi hay không?
2 Chứng minh 1 Chủ sở hữu Công Ty Nhật Linh tại Hà Nội và Công ty Kim Lân có
Trang 9Tình tiết, nội
dung cần chứng
minh
Đối tượng hỏi
mối quan hệ góp
vốn giữa hai bên
và Bị đơn có để
lại các tài sản
trên đất
phải là cùng một người là ông Hàn Anh Tuấn?
2 NĐ đã góp vốn vào Công ty TNHH Nhật Linh bằng Quyền sử dụng đất đúng không? Tỷ lệ là bao nhiêu?
3 Ông Tuấn - GĐ Kim Lân đã xác nhận BĐ đã đầu tư tiền, tài sản vào Kim Lân và hứa hoàn trả lại cho BĐ toàn bộ số tiền và tài sản đúng không?
4 Theo Đơn khiếu nại ngày 26/11/2016, NĐ thừa nhận 3 danh mục tài sản gồm máy phát điện, nhà kho 3 tầng và xe ô tô là thuộc về BĐ đúng không?
5 Công ty TNHH Kim Lân đã quyết định góp vốn vào công ty TNHH Nhật Linh 11.735.4m2 đất cùng với toàn bộ tài sản, công trình xây dựng tạo dựng trên đất theo Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 3/10/2008 đã được phòng công chứng số 8 tỉnh Bắc Ninh chứng nhận đúng không?
3 Bài luận cứ bảo vệ cho Bị đơn
Kính thưa: Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, Luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay
Tôi là Mai Thành Trung - Luật sư của Văn phòng luật sư K- Đoàn Luật sư Thành phố
Hồ Chí Minh, tôi đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn Công ty Kim Lân Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi và lắng nghe quan điểm trình bày của Nguyên đơn và vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, phía Bị đơn chúng tôi có các ý kiến và các yêu cầu như sau:
Đối với yêu cầu Bị đơn thanh toán theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016:
Mặc dù Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 đã hết hiệu lực nhưng cả hai bên đều thừa nhận mối quan hệ hợp tác, giao dịch mua bán đã phát sinh theo đồng này Phía
Bị đơn chúng tôi cũng đồng ý là, theo quan hệ hợp tác, làm ăn nói trên, thì Bị đơn còn đang có công nợ với Nguyên đơn Tuy nhiên, Bị đơn cũng cho rằng, công nợ này chưa đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán bởi vì:
Một là, Theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng nguyên tắc, “Bên mua sẽ thanh toán
cho bên bán trong vòng 06 tháng kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết” Căn cứ theo quy định tại Điều
34 và Điều 42 Luật Thương mại 2005 thì bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng; trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua trong thời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức
đã thỏa thuận Do đó, căn cứ theo nội dung nêu trên thì phía Bị đơn chỉ phải thực hiện nghĩa vụ
Trang 10thanh toán trong thời hạn 06 tháng bắt đầu từ khi Công ty Kim Lân cung cấp đầy đủ các giấy
tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết Trong hợp đồng song vụ, nghĩa vụ bên này đối ứng với nghĩa vụ bên còn lại, nghĩa vụ của bị đơn theo hợp đồng phát sinh khi nghĩa vu của nguyên đơn hoàn thành
Hai là, trong hoạt động mua bán hàng hóa, mưa đứt bán đoạn thì việc giao đủ bộ chứng
từ này rất quan trọng, là căn cứ để cho hai bên chốt chính xác số công nợ cuối cùng và xác định thời điểm bắt đầu thời hạn Công ty Nhật Linh phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Kim Lân Vậy mà, tính đến thời điểm diễn ra phiên tòa này, phía Nguyên đơn chưa hề xuất trình được các chứng cứ chứng minh cho việc hoàn thành nghĩa vụ giao chứng từ cho Bị đơn Đó là lý do vì sao mà Nguyên đơn bất nhất trong việc xác định số tiền mà Bị đơn còn thiếu nguyên đơn trong suốt quá trình giải quyết vụ việc Đó là chưa kể phía Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn 72.348.460 đồng Do đó, hai bên cần điều chỉnh công nợ Và phía Kim Lân cũng đã đóng dấu xác nhận vào bản công nợ này
Do đó, phía Bị đơn xin khẳng địng trong hợp đồng song vụ, nghĩa vụ cung cấp chứng từ để chốt con số công nợ chính xác cuối cùng của Nguyên Đơn chưa thực hiện nên Bị đơn chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán căn cứ theo thỏa thuận như trong hợp đồng nguyên tắc Do vậy, yêu cầu của Nguyên đơn là không có căn cứ
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi chậm trả:
Bị đơn đề nghị bác hoàn toàn yêu cầu này của nguyên đơn vì:
Một là, như đã trình bày ở trên, Nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ giao chứng từ do đó,
chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn, mà phía Bị đơn chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán thì không thể có việc chậm trả
Hai là, Tại Khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng nguyên tắc thì “Trong trường hợp bên mua thanh toán cho bên bán trễ hạn theo Điều 2 của hợp đồng, (nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán) thì bên mua phải chịu lai suất 10% tháng trên toàn bộ giá trị của phần chưa thanh toán.” Nếu bên bán muốn thực hiện quyền tính lãi chậm trả này thì phải chứng
minh là việc bên mua chậm trả nhưng chưa thông báo hoặc chưa thỏa thuận với bên bán
Ba là, theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 thì trường hợp bên vi phạm
hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh
toán tương ứng với thời gian chậm trả và theo Án lệ 09/2016 thì “cần lấy mức lai suất quá hạn
trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam ) để tính lại tiền lai do chậm thanh toán cho đúng quy định của pháp luật” Do đó, Nguyên đơn đang tính lãi chậm trả vượt quá qui định của
pháp luật
Như vậy, yêu cầu thanh toán lãi chậm trả do chậm thanh toán tiền hàng của nguyên đơn
là không có căn cứ vì bị đơn chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán và đây yêu cầu này cũng trái với quy định của hợp đồng, của Luật thương mại và Án lệ 09/2016
Về phía Bị đơn, chúng tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu là Công ty TNHH Kim Lân phải ký xác nhận vào danh sách liệt kê tài sản với những lý lẽ sau: