1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH DIÊN ÁN HỒ SƠ 07 TRANH CHẤP LY HÔN

13 77 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 247,23 KB
File đính kèm DA07_LS23.2HCM_Mai Thanh Trung_659_25.09.2021.zip (245 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn ngày 2631999 tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương. Vợ chồng ông bà đã có hai con chung là: Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04012000 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 1362007. Do mâu thuẫn vợ chồng, hơn một năm trở lại đây ông bà đã sống ly thân. Nguyên nhân của mâu thuẫn vợ chồng anh là do bà Hảo hay ghen đã nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ, và đã từng xảy ra xung đột, bạo lực giữa ông và gia đình nhà bố mẹ bà Hảo. Sau khi ly thân thì cháu Nguyễn Thị Nhi đang ở với bà Hảo còn cháu Nguyễn Đức Anh đang ở với ông Nguyệt. Đến ngày 02012016 bà Hoàng Thị Hảo đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương yêu cầu:  Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt;  Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh, không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng.  Yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA

GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

Mã số hồ sơ: LS.DS 07/DA1 Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Giáo viên phụ trách: Nguyễn Thị Hằng Ngày diễn: 25 tháng 09 năm 2021

Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2021

Họ tên học viên : MAI THÀNH TRUNG Ngày sinh : 25/01/1994

Lớp Luật sư : 23.2K.HCM

Số báo danh : 659

Trang 2

PHẦN 1: NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1 Nội dung vụ án

1.1 Tóm tắt tình tiết:

Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương Vợ chồng ông bà đã có hai con chung là: Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007

Do mâu thuẫn vợ chồng, hơn một năm trở lại đây ông bà đã sống ly thân Nguyên nhân của mâu thuẫn vợ chồng anh là do bà Hảo hay ghen đã nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ, và đã từng xảy ra xung đột, bạo lực giữa ông và gia đình nhà bố mẹ bà Hảo Sau khi ly thân thì cháu Nguyễn Thị Nhi đang ở với bà Hảo còn cháu Nguyễn Đức Anh đang ở với ông Nguyệt

Đến ngày 02/01/2016 bà Hoàng Thị Hảo đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương yêu cầu:

 Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt;

 Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh, không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng

 Yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216

m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Ông Nguyệt không đồng ý với yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 vì ông cho rằng nhà đất này là do cha mẹ ruột và anh em trong gia đình ông mua, không phải cho riêng vợ chồng ông Vì gia đình cha mẹ ông Nguyệt mua thửa đất này, có công san lấp ¾ thửa đất, chỉ cho vợ chồng ông Hảo ở nhờ chưa có bất kỳ giấy tờ nào là căn cứ chuyển nhượng hay cho tặng anh cho vợ chồng ông Nguyệt Năm 1999, ông và bà Hảo sống trên phần đất này có xây dựng công trình là ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp, nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3 Đồng thời, ông bà có khoảng vay nợ 30.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Năm 2006 cần vốn để làm ăn ông Nguyệt bà Hảo đã thế chấp mảnh đất này vay 10tr đồng Năm 2011 vợ chồng ông bà lại vay lần hai 20 triệu đồng cả hai lần trên đã thanh toán xong đầy đủ Năm 2014 hai vợ chồng vay tiếp 30 triệu đồng số tiền trên, chỉ một mình ông Nguyệt trả cả gốc lẫn lãi là 14 triệu đồng Do đó mảnh đất trên đang được thế chấp tại ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Về số nợ ông Nguyệt không yêu cầu bà Hảo phải trả nợ cùng Còn về đất ruộng, ao khoán 1965 m2 hết hạn năm 2013 một mình ông Nguyệt ký hợp đồng do đó anh không đồng ý chi đôi cho bà Hảo

1.2 Chứng cứ chứng minh:

- Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/3/1999;

- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh 13/6/2007;

- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi 04/01/2000;

- Sổ hộ khẩu;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H497 cấp ngày 31/12/2005;

- Sổ vay vốn hộ gia đình Nguyễn Văn Nguyệt tại ngân hàng Agribank;

- Đơn đề nghị của cháu Nhi;

Trang 3

- Đơn đề nghị của cháu Đức Anh;

- Đơn xin thuê đất nông nghiệp;

- Danh sách các hộ gia đình, cá nhân xin cấp giấy chứng nhận QSD;

- Bảng tổng hợp danh sách các hộ gia đình, cá nhân được cấp giấy chứng nhận QSDĐ

2 Nhận xét một số vấn đề về tố tụng

2.1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

Tranh chấp phát sinh giữa bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt trên cơ sở quan hệ hôn nhân nên đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình Hơn nữa, yêu cầu trong đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hảo gồm ly hôn, quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn nên tranh

chấp thuộc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Khoản 1

Điều 28 BLTTDS2015

2.2 Quyền khởi kiện

Trong quan hệ pháp luật tranh chấp trên, do mâu thuẫn vợ chồng, hơn một năm trở lại đây vợ chồng đã sống ly thân, nên bà Hảo xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích của hôn nhân không thể đạt được nên đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 Đồng thời, bà Hoa có đủ năng lực hành vi dân sự, không bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên bà Hoa cũng có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự,

đã trực tiếp ký Đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, Điều 189 BLTTDS 2015

2.3 Thời hiệu khởi kiện

Căn cứ Điều 25 BLDS 2015 về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình nên ly hôn

là một trong các quyền nhân thân Mặt khác, theo Khoản 1 Điều 155 BLDS 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền nhân thân Do đó, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với vụ án này

2.4 Thẩm quyền Tòa án

Việc TAND Thành phố Hải Dương đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật theo các căn cứ pháp lý sau:

- Thẩm quyền theo vụ việc: Căn cứ Khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015, tranh chấp về hôn

nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

- Thẩm quyền theo cấp tòa án: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, tranh

chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 BLTTDS 2015 sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện (Thành phố Hải Dương) có thẩm quyền giải quyết;

- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015,

thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc và Tòa án nơi có bất động sản (đều là ở xã Thương Đạt, Thành phố Hải Dương) có thẩm quyền giải quyết

2.5 Thành phần và tư cách đương sự

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt

Trang 4

Địa chỉ: thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) UBND Thành phố Hải Dương

2) Ông Nguyễn Văn Cang, cha ông Nguyệt;

Và bà Nguyễn Thị Thoa, mẹ ông Nguyệt;

Cùng địa chỉ: Khu dân cư số 2, Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương.

2.6 Thủ tục tiền tố tụng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc ly hôn có thể tiến hành hòa giải trước khi Tòa án giải quyết thủ tục ly hôn Cụ thể:

- Hòa giải tại cơ sở: Theo quy định tại Điều 52 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở Việc hòa giải tại cơ sở là cơ hội để các cặp vợ/chồng giải quyết mâu thuẩn được nhà nước

khuyến khích chứ không bắt buộc.

- Hòa giải tại Tòa án: Theo đó, tại Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định

sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải theo

quy định của pháp luật về tố tụng dân sự ngoại trừ các trường hợp quy định tại Điều

207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sau thì không thể tiến hành hòa giải được:

 Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt;

 Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng;

 Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự;

 Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải

TAND Thành phố Hải Dương đã tiến hành hòa giải vào ngày 19/5/2016 với kết quả hai bên đã thỏa thuận được việc thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được về quyền nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung nên TAND Thành phố Hải Dương đã thực hiện thủ tục tiền tố tụng đã đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật

Ngoài ra, tranh chấp này cũng chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong nhiều văn bản tố tụng, tiền tố tụng TAND Thành phố Hải Dương có sự sai sót trong việc xác định tên nguyên đơn là “Hoàng Thị Hảo” vì trong đơn khởi kiện nguyên đơn ký và ghi họ tên là “Hoàng Thị Hảo” trong khi tất cả các giấy tờ về nhân thân, giấy tờ chứng minh về tài sản, hộ tịch thì nguyên đơn đều mang tên “Nguyễn Thị Hảo”

2.7 Văn bản pháp luật áp dụng

- Luật Hôn nhân và gia đình 1986 (do kết hôn vào năm 1999, áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết);

- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (khởi kiện ly hôn năm 2016)

- Luật Đất đai 2003 (quyền sử dụng đất được cấp giấy năm 2005);

- Bộ luật dân sự 2015;

Trang 5

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi

hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của BLTTDS;

- Án lệ 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm

2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Trang 6

PHẦN 2: PHẦN CHUẨN BỊ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP

PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN

1 Chuẩn bị phần trình bày cho Nguyên đơn:

Nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo (địa chỉ Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài khi ly hôn với chồng là ông Nguyễn Văn Nguyệt (địa chỉ Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) Nội dung khởi kiện bao gồm các yêu cầu sau:

- Yêu cầu thứ nhất, về quan hệ hôn nhân, Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với Bị đơn:

Bà Hảo và ông Nguyệt đã kết hôn ngày 26/3/1999 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, nay là thành phố Hải Dương Sau khi kết hôn bà và ông Nguyệt sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn Bà Hảo và ông Nguyệt sống ly thân hơn 01 năm nay Nguyên đơn xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích của hôn nhân không thể đạt được

- Yêu cầu thứ hai, Nguyên đơn muốn được giao quyền nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng: Bà Hảo và ông Nguyệt có với nhau 02 đứa con chung gồm: con gái Nguyễn

Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001) và con trai Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007)

- Yêu cầu thứ ba, chia đôi tài sản chung gồm nhà và quyền sử dụng đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2: Nhà là do

công chứng của hai vợ chồng xây dựng và tôn tạo; còn đất thì do cha mẹ chồng đã cho chúng tôi ở từ trước đến nay, trong nhà không ai có ý kiên gì, vợ chồng tôi cũng đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2 Kế hoạch hỏi đáp:

Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, kế hoạch hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của tôi như sau:

Hỏi Bị đơn ông

Nguyễn Văn

Nguyệt

Nhóm câu hỏi nhằm chứng minh ông Nguyệt không có khả năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái:

1 Ông vui lòng cho biết hiện tại ông đang làm công việc gì và thu nhập như thế nào?

2 Bà Hảo cho rằng nguyên nhân ly hôn cũng một phần là do ông chơi bời, hay đánh đập vợ con, ông có ý kiến nào về vấn đề này?

3 Biên bản tự khai ngày 20/01/2016 (BL 24) của ông tự viết thì ông viết sai chính tả khá nhiều Vì sao ông lại viết sai chính tả nhiều như vậy, trình độ học vấn của ông là như thế nào?

4 Ông thường làm gì để giải quyết mâu thuẫn giữa ông và bà Hảo? Ông có chửi, hay đánh đập bà Hảo không?

5 Ông có đóng góp gì trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái trong suốt thời gian qua?

Nhóm câu hỏi chứng minh quyền sử dụng đất là được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân:

1 Ông và bà Hảo sinh sống trên mảnh đất tranh chấp kể từ thời điểm

Trang 7

nào? Trong quá trình sống có di chuyển đến nơi khác hay không? Có xây dựng nhà, bếp hay không?

2 Các bộ địa chính xã là ông Nguyễn Văn Bích trình bày rằng năm

2001, chính ông Nguyệt và Bà Hảo đã ký vào biên bản xác minh, kê khai và yêu cầu cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Ông có ý kiến gì về vấn

đề này?

3 Năm 2005 đến nay là hơn 10 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận QSĐ được cấp cho ông và bà Hảo, ông hay các thành viên trong gia đình ông có ý kiến phản đổi, yêu cầu hủy quyết định cấp giấy CN QSĐ

nào hay không?

4 Ông nhiều lần cho rằng UBND cấp giấy CN QSDĐ sai nhưng vì sao chính ông lại dùng giấy chứng nhận này để đi vay vốn cho mình ở ngân hàng Agribank?

Hỏi người có

quyền lợi và

nghĩa vụ liên

quan – Đại diện

UBND Thành

phố Hải Dương

Nhóm câu hỏi chứng minh việc cấp giấy CN QSDĐ cho anh Nguyệt

và chị Hảo là có căn cứ pháp luật và đúng quy trình:

1 Căn cứ nào để UBND huyện Nam Sách (nay là UBND thành phố Hải Dương) cấp giấy CN QSDĐ thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2?

2 Kể từ khi cấp Giấy CN QSDĐ nói trên, UBND Thành phố Hải Dương

có nhận được bất kỳ ý kiến phản đối, yêu cầu hủy quyết định cấp giấy của cá nhân, tổ chức nào hay không?

Hỏi người có

quyền lợi và

nghĩa vụ liên

quan – Bà Thoa

(mẹ ông Nguyệt)

Nhóm câu hỏi chứng minh khi gia đình ông Nguyệt và bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các thành viên trong gia đình không có ý kiến phản đối và cũng thừa nhận việc sinh sống của

họ trên đất 15 năm nay:

1 Theo Bản tự khai ngày 6/5/2016 của bà thì “Nguyệt và Hảo ở trên đất

từ năm 1999 đến nay”, trong thời gian dài như vậy, bà có phản đối hay

có tranh chấp gì với việc sử dụng đất của ông Hảo và bà Nguyệt hay không?

2 Trong quy trình và hồ sơ cấp Giấy CN QSD cho 30 hộ dân, thì hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt số thứ tự 17, còn hộ của bà số 18 (kế bên) Bà có biết việc UBND cấp giấy CN QSDĐ hay không? Cả hai hộ nằm kế nhau trong danh sách, giáp ranh nhau, có ký biên bản giáp ranh tại sao bà lại không biết?

3 Năm 2005 đến nay là hơn 10 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận QSĐ được cấp cho ông và bà Hảo, bà hay các thành viên trong gia đình

bà có ý kiến phản đổi, yêu cầu hủy quyết định cấp giấy CN QSĐ nói

trên hay không?

Hỏi Nguyên đơn

bà Nguyễn Thị

Hảo

Nhóm câu hỏi nhằm giúp nguyên đơn chứng minh được khả năng nuôi dưỡng, giáo dục con

1 Bà đang làm công việc gì, thu nhập như thế nào?

Trang 8

2 Bà đã có những đóng góp gì cho việc nuôi dạy, chăm sóc con từ trước đến nay? Từ lúc sinh cháu Đức Anh đến giờ, ai là người trực tiếp chăm sóc cháu?

3 Ông Nguyệt có đóng góp gì phụ bà để chăm lo gia đình và các cháu hay không? Khi xảy ra mâu thuẫn ông Nguyệt có chửi, đánh đập bà và các con không? Có ai chứng kiến biết việc này không? 2

4 Bà có lường trước những khó khăn nếu sau khi được ly hôn một mình phải gánh vác nuôi 2 con nhỏ, nuôi dạy chăm lo cho con ăn học trở thành người có ích cho xã hội? Bà đã lên kế hoạch như thế nào cho việc này?

3 Bài luận cứ bảo vệ cho Bị đơn

Kính thưa: Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, Luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay

Tôi là Mai Thành Trung - Luật sư của Văn phòng luật sư K- Đoàn Luật sư Thành phố

Hồ Chí Minh, tôi đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn Nguyễn Thị Hảo Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi và lắng nghe quan điểm trình bày của vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

Bị đơn tại phiên tòa hôm nay, phía Nguyên đơn chúng tôi có các ý kiến và yêu cầu như sau:

Thứ nhất, yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn là có căn cứ bởi các lý lẽ sau:

Một là, qua các bằng chứng, lời khai của các đương sự đều cho thấy tình trạng của vợ

chồng Nguyên đơn và Bị đơn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Cụ thể tại các bút lục số 17, 18, 19, 20, 24, 61, 64, 81, 83, 84, 92, 104,

108, 115 thì sau khi cưới được khoảng thời gian 02 năm thì ông Nguyệt và bà Hảo phát sinh mâu thuẫn do ông Nguyệt thường xuyên tụ tập ăn chơi, và đánh, chửi mẹ con bà Hảo, vợ chồng tính tình không hợp nhau, không hợp cả về lối sống và sinh hoạt Khi xảy ra mâu thuẫn thì ông Nguyệt thường đánh, chửi và đuổi bà Hảo ra khỏi nhà Gia đình ông Nguyệt cũng biết chuyện mâu thuẫn giữa hai người Đồng thời, theo như lời khai của bà Hảo và có sự chứng kiến của những người trong xóm đều chứng kiến việc ông Nguyệt đánh, chửi mẹ con bà Vợ chồng ông

bà hiện nay đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2014, không còn quan tâm giúp đỡ gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn Căn cứ Điều 51, Điều 54, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm

2014 thì tình trạng hôn nhân nói trên thuộc điện đáp ứng điều kiện ly hôn

Hai là, tại biên bản hòa giải ngày 17/6/2016, cả bà Hảo và ông Nguyệt đã cùng thỏa

thuận được việc thuận tình ly hôn (BL 189-192) Thỏa thuận thống nhất này của hai bên cần được ghi nhận theo guyên tắc Tòa án phải “Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự”

Vậy, qua những bằng chứng xác thực và căn cứ pháp lý nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Hảo thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài, họ đã không còn sống với nhau từ năm 2014 và cả hai đều có mong muốn ly hôn nên

đề nghị HĐXX cho thân chủ tôi được ly hôn theo như yêu cầu

Trang 9

Thứ hai, Nguyên đơn yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai đứa con sau khi được ly hôn là phù hợp với thực tế và phù hợp quy định pháp luật hôn nhân gia đình, cụ thể như sau:

Một là, cả hai cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh đều có nguyện vọng muốn

được ở chung với mẹ ghi nhận tại Bút lục số 30, 166 Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân

và gia đình năm 2014 quy định “nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” Do đó, việc xem xét nguyện vọng của các con là ưu tiên hàng đầu trong việc xác định

quyền nuôi con khi ly hôn

Hai là, hiện tại bà Hảo và cháu Nhi đang sinh sống tại nhà của mẹ ruột mình và có công

việc ổn định tại Công ty Trấn An với mức thu nhập hằng tháng là 6.000.000 đồng Trước khi xảy ra mâu thuẫn, bà Hảo cũng là người thường xuyên chăm sóc, nuôi dưỡng con cái Trong khi đó, ông Nguyệt không có công ăn việc làm ổn định (đi nghĩa vụ quân sự về), hay chơi bời, thường xuyên đánh đập vợ con, trình độ văn hóa chưa cao nên không đủ điều kiện nuôi dưỡng

và không thể giáo dục con cái theo chiều hướng tốt nhất được

Vậy, với những lý lẽ và căn cứ pháp luật trên cho thấy, việc trao quyền nuôi con trực tiếp cho thân chủ của tôi là bà Hảo là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật, đáp ứng lợi ích tốt nhất và nguyện vọng thực tế của các con

Thứ ba, nguyên đơn có thửa đất tranh chấp là tài sản mà vợ chồng bà Hảo được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu chia đôi tài sản chung này là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình:

Sỏ dĩ, phía nguyên đơn khẳng định, quyền sử dụng đất này là tài sản chung được tặng

cho trong thời kỳ hôn nhân là vì căn cứ theo Án lệ số 03/2016/AL: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất” Như vậy,

theo Án lệ này thì:

Một là, căn cứ vào hồ sơ địa chính thì nguồn gốc đất là do cha mẹ ông Nguyệt mua từ

năm 1994, mẹ ông Nguyệt đi nộp tiền Sau này cả gia đình bà Thoa đã giao cho vợ chồng ông Nguyệt xây dựng nhà, bếp kiên cố và sinh sống lâu trên phần đất này từ năm 1999 theo thừa nhận của cả hai bên đương sự và các nhân chứng (BL số 75, 81, 83, 84, 92, 96, 97, 99, 112,

113, 121, 137, 138, 175)

Hai là, trong suốt giai đoạn hơn 15 năm từ khi vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo sinh sống

lâu dài trên mảnh đất này thì các người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì, cả cha

mẹ và các anh em trong gia đình đều cho phép ông và thừa nhận việc sinh sống của ông Nguyệt

và bà Hảo trên phần đất này (BL 92-95)

Ba là, vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo đã tiến hành kê khai đất được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất hợp pháp bởi UBND xã: Ngày 25/10/2001, 30 hộ dân hộ dân đã có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận QSĐ trong dg đó có gia đình ông Nguyệt bà Hảo Cán bộ địa chính khi đó là ông Nguyễn Văn Bích đã trực tiếp xuống các hộ dân đo đạc, lập biên xác minh

Trang 10

hiện trạng có chữ ký của chủ sử dụng đất là anh Nguyệt, chị Hảo, có chữ ký của các hộ giáp ranh Sau đó, UBND xã hoàn chỉnh hồ sơ trình lãnh đạo UBND xã Thượng Đạt phê duyệt niêm yết công khai danh sách của 30 hộ gia đình được cấp đất đồng lọat Sau thời gian niêm yết công

bố công khai, không có ai có ý kiến gì thì UBND xã Thượng Đạt đã trình UBND huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhậnn QSĐ cho 30 hộ dân theo đúng quy trình thủ tục luật định Từ khi ông Nguyệt và bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận QSĐ đến nay thì các thành viên trong gia đình anh Nguyệt không có ý kiến gì, họ cũng đã sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp ranh cũng như với ông Cang, bà Thoa Trong danh sách 30 hộ được cấp giấy và trong quá trình ký giáp ranh, cả hộ bà Thoa và hộ ông Nguyệt đều được cấp giấy và nằm trong danh sách được niêm yết công khai với số thứ tự 17, 18 kế nhau, cả hai đều ký tên vào danh sách nên không có chuyện bà Thoa không biết việc UBND cấp giấy cho ông Nguyệt được Điều đó cho thấy, ông Nguyệt và bà Hảo đã tiến hành kê khai và được UBND huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận QSĐ là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật

Như vậy, kể từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (năm 2005) cho đến khi có việc ly hôn (năm 2016) vợ chồng ông Hảo và Bà Nguyệt đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định, gia đình cha mẹ ông Nguyệt cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này Điều đó thể hiện ý chí của gia đình cha mẹ ông Nguyệt là đã cho ông Nguyệt và

bả Hảo diện tích đất nêu trên Do đó, việc ông Hảo khai rằng là đất của cha mẹ ông, không cho

vợ chồng ông là không có cơ sở chấp nhận Đồng thời, có căn cứ xác định lời khai của bà Hảo

về việc gia đình cha mẹ ông Nguyệt đã cho vợ chồng họ diện tích đất trên, là có cơ sở và chấp nhận diện tích đất ở trên và tài sản gắn liền trên đất là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Án lệ số 03/2016/AL nên là tài sản chung của vợ chồng họ trong thời kỳ hôn nhân Do đó, căn cứ Khoản 2, Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì khi ly hôn Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi đồng thời phải cân nhắc xem xét đến quy định dành phần ưu tiên nhiều hơn vì lợi ích của người vợ và các con chưa thành niên theo tinh thần của pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành

Kính thưa HĐXX,

Với những căn cứ, nhận định nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của

bà Hảo như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hảo;

2 Giao hai cháu Nguyễn Thị Nhi, Nguyễn Đức Anh cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng;

3 Chia đôi tài sản chung có xem xét đến lợi ích của con chưa thành niên gồm căn nhà

và quyền sử đụng đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 là tài sản chung của bà Hảo và ông Nguyệt trong thời kỳ hôn nhân

Trên đây là toàn bộ quan điểm pháp lý của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Xin trân trọng cảm ơn!

Ngày đăng: 27/09/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w