Vào lúc 21h10 ngày 23122013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch (“Sở VHTTDL”) tỉnh GL đến kiểm tra Nhà trọ Hoàng Lan tại địa chỉ số 241 đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ cơ sở. Kết thúc buổi kiểm tra, Đoàn kiểm tra lập Biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC cùng ngày 23122013 với kết luận: “Nhà trọ Hoàng Lan đã có các hành vi vi phạm hành chính là nhà trọ thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi: 1) Phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ tình dục; 2) phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở chung phòng; 3) Chủ cơ sở không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành ở phòng 11”. Ngày 1032014, Phó giám đốc kiêm Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXP đối với bà Nguyễn Thị Tuyết với hình thức xử phạt chính là phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định 1672013NĐCP ngày 12 tháng 11cnăm 2013 của Chính phủ)”. Quyết định này bỏ trống ngày có hiệu lực và ngày phải thi hành. Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 23QĐXPHC, ngày 2432014, bà Tuyết làm đơn khiếu nại lên người có thẩm quyền giải quyết. Ngày 0742014, Sở VHTTDL tỉnh GL có Công văn số 167CVVHTTDL trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết với nội dung Thanh tra Sở ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHC theo Biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC là đúng quy định. Ngày 2042014, Thanh tra Sở ra Quyết định số 01QĐTTr giải quyết khiếu nại, giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 1032014. Ngày 0252014, bà Tuyết làm Đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh GL với yêu cầu: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động VHTTDL số 23QĐXPHC ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT
VỤ VIỆC DÂN SỰ
Mã số hồ sơ: LS.HC-12
“Kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính” Giáo viên phụ trách: Nguyễn Thị Mai và Lê Thu Thảo
Ngày diễn: 14 tháng 11 năm 2021
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2021
Họ tên học viên : MAI THÀNH TRUNG Ngày sinh : 25/01/1994
Lớp Luật sư : Lớp 23.2K.HCM
Số báo danh : 659
Trang 21 TÓM TẮT VỤ ÁN VÀ YÊU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG
Vào lúc 21h10 ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch (“Sở VHTTDL”) tỉnh GL đến kiểm tra Nhà trọ Hoàng Lan tại địa chỉ số
241 đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ cơ sở Kết thúc buổi kiểm tra, Đoàn kiểm tra lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BBVPHC cùng
ngày 23/12/2013 với kết luận: “Nhà trọ Hoàng Lan đã có các hành vi vi phạm hành chính là nhà trọ thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi: 1) Phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ tình dục; 2) phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở chung phòng; 3) Chủ cơ sở không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành ở phòng 11”
Ngày 10/3/2014, Phó giám đốc kiêm Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP đối với bà Nguyễn Thị Tuyết với
hình thức xử phạt chính là phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11cnăm 2013 của Chính phủ)” Quyết định này bỏ trống
ngày có hiệu lực và ngày phải thi hành
Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XPHC, ngày 24/3/2014, bà Tuyết làm đơn khiếu nại lên người có thẩm quyền giải quyết Ngày 07/4/2014, Sở VHTTDL tỉnh GL có Công văn số 167/CVVHTTDL trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết với nội dung Thanh tra Sở ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC theo Biên bản vi phạm hành chính số 11/BBVPHC là đúng quy định Ngày 20/4/2014, Thanh tra Sở
ra Quyết định số 01/QĐ-TTr giải quyết khiếu nại, giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 10/3/2014
Ngày 02/5/2014, bà Tuyết làm Đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh GL với yêu cầu: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động VHTTDL số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL
2 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỐ TỤNG
Hồ sơ vụ án đã thụ lý số 01/2014/TL-HCST ngày 13/5/2014 “Kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L”
2.1 Xác định tư cách đương sự:
Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật TTHC, đương sự trong vụ án hành chính bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người khởi kiện:
Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh ngày 1982
Trang 3Địa chỉ: tổ 9, phường Đông Lân, Thành phố P, Tỉnh GL.
Địa chỉ: số 33 Minh Khai, phường Bùi Thị Xuân, thành phố P, tỉnh GL
Đáp ứng điều kiện là người khởi kiện theo quy định Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC
2015, khoản 3 Điều 54 Luật TTHC 2015
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Mai Anh Tuấn, sinh năm 1977 Người đai diện theo ủy quyền của NKK tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật TTHC 2015
Người bị kiện: Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL
Địa chỉ: Số 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh GL
Đáp ứng điều kiện là người bị kiện theo quy định khoản 9 Điều 3 Luật TTHC 2015, khoản 5 Điều 54 Luật TTHC 2015
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Dương Văn Thành – Phó Chánh Thanh tra Sở VH-TT-DL tỉnh GL
Người đai diện theo ủy quyền của các đương sự tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật TTHC 2015
2.2 Xác định đối tượng khởi kiện và yêu cầu khởi kiện
- Đối tượng khởi kiện trong vụ án này là Quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TT-DL ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL: Quyết định này đáp ứng đủ điều kiện là các quyết định hành chính bị kiện quy định tại khoản 2, điều 3, Luật TTHC 2015
- Yêu cầu khởi kiện: Tuyên hủy Quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực VH-TT-DL ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở VH-TT-DL
Tp A
2.3 Căn cứ pháp lý dùng để xem xét giải quyết vụ việc
o Luật TTHC 2015;
o Luật Xử lý VPHC 2012;
o Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của CP về XPHC trong lĩnh vực ANTT, Tệ nạn XH;
o Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của CP về XPHC trong lĩnh vực VH-TT;
o Pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003;
o Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của CP thi hành Pháp lệnh phòng chống mại dâm;
Trang 4o Nghị định 72/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 của CP về XPHC trong lĩnh vực ANTT, Tệ nạn XH;
o Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ CA hướng dẫn NĐ 72/2009/NĐ-CP;
o Luật Khiếu nại 2011;
o Các văn bản điều chỉnh lãnh vực xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực VHTTDL, phòng chống tệ nạn xã hội
3 KẾ HOẠCH HỎI
Đối tượng hỏi và nội dung câu hỏi Diễn giải chi tiết về dụng ý
câu hỏi HỎI NGƯỜI BỊ KIỆN (10 câu)
Nhóm câu hỏi nhằm chứng minh QĐXPVPHC số
23 vi phạm thời hạn ban hành:
1 Vì sao đã có Biên bản VPHC số
11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 nhưng đến tận 78
ngày sau đó là vào ngày 10/3/2014 thì Ông
mới ban hành quyết định xử phạt?
2 a) Xin Ông cho biết, Ông có bất kỳ căn cứ nào
để chứng minh rằng trường hợp vi phạm của
Nhà trọ Hoàng Lan thuộc trường hợp (1) tình
tiết phức tạp, (2) phải giải trình, (3) đặc biệt
nghiêm trọng theo Khoản 1 Điều 66 Luật
XLVPHC hay không?
b) (Câu hỏi dự trù trường hợp NBK trả lời là
có chứng cứ chứng minh) Các chứng cứ Ông
vừa đề cập trên đã được cung cấp cho Tòa án
và thông báo cho phía NKK chúng tôi theo
quy định của Khoản 2 Điều 98 Bộ luật TTHC
2015 hay chưa?
3 Vui lòng cho biết có bất kỳ văn bản, quyết
định nào về việc gia hạn ban hành quyết định
XPVPHC đối với trường hợp Nhà trọ Hoàng
Lan theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật
XLVPHC hay không?
- Bên cạnh yêu cầu NBK cung cấp câu trả lời, LS còn cài cắm các quy định pháp luật, buộc NBK phải trả lời không chỉ cho có mà còn phải đối chiếu là câu trả lời đó có phù hợp với quy định pháp luật hay không
- Các câu hỏi có cụm từ “có bất kỳ…nào hay không” có tính chất có/không gây bất lợi trực diện cho NBK
Nhóm câu hỏi nhằm chứng minh QĐXPVPHC số
23 vi phạm về thẩm quyền ban hành:
Trang 54 Căn cứ quy định tại Điều 69 Nghị định này
thì, Thanh tra VHTTDL chỉ có thẩm quyền xử
phạt đối với những hành vi VPHC vi phạm về
phòng, chống bạo lực gia đình có đúng
không?
5 Như vậy, ông bà căn cứ vào quy định pháp
luật nào về thẩm quyền để ban hành quyết
định số 23 về phòng chống tệ nạn xã hội?
- Nếu NBK trả lời là “Đúng” thì: khẳng định NBK không có thẩm quyền trong
xử phạt phòng chống tệ nạn xã hội
- Nếu NBK trả lời là “Sai
hoặc không biết” thì cho thấy NBK không nắm được quy định pháp luật
mà chính là Nghị định 167/2013/NĐ-CP mà NBK
đã áp dụng trong QĐ số
23
- Câu hỏi buộc NBK phải chỉ ra được căn cứ pháp luật về thẩm quyền
Nhóm câu hỏi chứng minh QĐXPVPHC số 23 vi
phạm quy định về hình thức:
6 Căn cứ Điểm k Khoản 1 Điều 68 Luật
XLVPHC 2012 thì quyết định xử phạt vi
phạm hành chính phải bao gồm “k) Hiệu lực
của quyết định, thời hạn và nơi thi hành quyết
định xử phạt vi phạm hành chính, nơi nộp tiền
phạt” Vậy tại sao Quyết định số
23/QĐ-XPHC không xác định được ngày có hiệu lực
thi hành và thời hạn thi hành quyết định (bỏ
trống)?
7 Quyết định số 23/QĐ-XPHC đề cập “trong
thời hạn 3 ngày Quyết định này được gửi cho
Bà Nguyễn Thị Tuyết để thi hành” nhưng
không rõ là 3 ngày kể từ ngày nào?
8 Câu hỏi liên kết: Nếu Ông cho rằng là 3 ngày
kể từ ngày ban hành quyết định thì có trái với
quy định tại Điều 70 Luật XLVPHC 2012
“Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày
Các câu hỏi cài cắm các quy định pháp luật mà một Quyết định XPVPHC phải thuân thủ
về hình thức nhưng lại không được thể hiện trên thực tế Câu hỏi có tính chất giải trình Nhưng dù có trả lời thế nào thì NBK cũng gián tiếp đang “giải trình” cho việc mình không tuân thủ quy định pháp luật (tức là đang vi phạm quy định
về hình thức)
Trang 6ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có
lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra
quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ
chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ
quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”
hay không?
Nhóm câu hỏi chứng minh QĐXPVPHC số 23 lựa
chọn và áp dụng sai căn cứ pháp luật về mức
phạt:
9 Thời điểm xảy ra hành vi VPHC theo Biên
bản ngày 23/12/2013, xảy ra trước ngày Nghị
định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực Trong giai
đoạn chuyển tiếp áp dụng pháp luật, tai Khoản
1 Điều 73 của Nghị định này buộc“đối với
hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước ngày
Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị
phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì
áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ
chức vi phạm” Vậy, Ông đã áp dụng mức
phạt có lợi như thế nào cho bà Tuyết theo quy
định nói trên trong giai đoạn chuyển tiếp pháp
luật?
10 Đối với hành vi “thiếu tinh thần trách nhiệm
để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ
sở do mình quản lý” thì:
+ Khoản 1 Điều 25 Nghị định
167/2013/NĐ-CP quy định mức phạt là từ 15.000.000 đồng đến
20.000.000 đồng
+ Trong khi tại Điểm đ Khoản 3 Điều 14 Nghị
định 73/2010/NĐ-CP là nghị định có trước khi Nghị
định 167/2013/NĐ -CP có hiệu lực chỉ quy định
“phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng”,
Vậy Ông nhận thấy mức phạt tại Nghị định 73
có lợi hơn Nghị định 167 cho cá nhân, tổ chức vi
phạm đối với cùng hành vi vi phạm hay không?
- Buộc NBK chứng minh
họ có tuân thủ pháp luật
về việc áp dụng quy định có lợi cho bà Tuyết trong giai đoạn chuyển tiếp pháp luật hay không?
- Câu hỏi có tính chất nhận định để buộc NBK với vị thế, vai trò là cơ quan quản lý nhà nước, nắm các quy định pháp luật mà không thể thoái thác, buộc phải trả lời và đồng nghĩa việc thừa nhận Nghị định 73 có lợi hơn Nghị định 167 cho
cá nhân, tổ chức vi phạm đối với cùng hành
vi vi phạm
Nhóm câu hỏi chứng minh không xảy ra hoạt
Trang 7động mại dâm như kết luận của Biên bản
11/BB-XPHC và do đó, QĐXPVPHC số 23 xử phạt hành
vi “thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt
động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý”
là vô căn cứ:
11 Ông vui lòng cho biết, căn cứ nào để Đoàn
Kiểm tra để buộc chủ nhà trọ phải yêu cầu
khách thuê xuất trình Giấy kết hôn trước khi
thuê phòng?
12 Theo Ông, những cặp đôi yêu nhau, những
người sinh sống lâu dài với nhau như vợ
chồng, những cặp đôi được pháp luật thừa
nhận là “hôn nhân thực tế” khi thực hiện hành
vi quan hệ tình dục tự nguyện với nhau mà
không có “Giấy kết hôn” thì có đồng nghĩa
với việc đang mua bán dâm hay không?
13 Ông có căn cứ nào để chứng minh ông
Thường bà Lành, ông Văn bà Thùy là thực
hiện việc mua bán dâm hay không?
HỎI NHÂN CHỨNG (13 câu hỏi):
Chứng minh không có hoạt động mại dâm diễn ra
trên thực tế:
Hỏi ông Thuờng:
1 Ông vui lòng cho biết nghề nghiệp của Ông là gì?
(công tác tại Trung đoàn X tỉnh GL)
2 Ông với bà Lành có quan hệ thế nào?
3 Ông có trình bày (BL 31) thì Ông và bà Lành là vợ
chồng đúng không? Nếu có thì Ông Bà đã đăng ký
kết hôn hay chưa? Tại sao chưa đăng ký kết hôn?
Hỏi bà Lành:
1 Bà vui lòng cho biết nghề nghiệp của Bà là gì?
2 Bà với ông Thường có quan hệ thế nào?
3 Ngày 23/12/2013 theo (BL 31) thì Bà vượt đường
xá xa xôi từ thị trấn D.C xuống TP P để thăm ông
Thường đang là quân nhân đúng không?
Hỏi ông Văn:
Các câu hỏi nhằm dụng ý cho thấy:
- Các đương sự có nghề nghiệp, công việc ổn định, có người là quân nhân (tăng độ tin cậy), có người còn đang mang thai tại thời điểm lập Biên bản nên không thể là người hoạt động mại dâm
- Các đương sự có mối quan hệ rõ ràng, lâu dài,
có trường hợp đã có đám hỏi nhưng chưa kịp đăng
ký kết hôn và còn người đang mang thai
Trang 81 Ông vui lòng cho biết nghề nghiệp của Ông là gì?
2 Ông với bà Thùy có quan hệ thế nào?
3 Ông có trình bày (BL 32) thì Ông và bà Thùy đã
làm đám hỏi đúng không? Có hình ảnh của đám hỏi
hay không?
4 Vì sao đã làm đám hỏi rồi mà Ông Bà chưa đăng
ký kết hôn?
Hỏi bà Thùy:
1 Bà vui lòng cho biết nghề nghiệp của Bà là gì?
2 Bà với ông Văn có quan hệ thế nào?
3 Theo trình bày của Bà (BL 33) thì tại thời điểm
ngày 23/12/2013 bà đang mang thai đúng không? Có
gì chứng minh không?
- Hành vi tình dục giữa những người không có Giấy kết hôn với nhau không đồng nghĩa với hoạt động mua bán dâm,
họ có thể là cặp đôi yêu nhau, sinh sống với nhau như vợ chồng hoặc chưa kịp/chưa đủ điều kiện/chưa muốn thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn
HỎI NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA KHỞI KIỆN:
1 Kể từ hôm Bà Tuyết bị lập Biên bản vi phạm
hành chính số 11/BB-VPHC vào ngày
23/12/2013 thì đến khi nào bà nhận được Quyết
định XPVPHC số 23? Nhận bằng cách nào và từ
ai?
Xác nhận lại thời điểm nhận hồ
sơ, đồng thời để thân chủ nhấn mạnh về việc mình không nhận được quyết định sau thời hạn luật định
2 Bà Tuyết có biết mối quan hệ giữa ông Thường
và bà Lành, giữa ông Quyết và bà Thùy không?
Khi họ thuê phòng bà có yêu cầu họ cung cấp
giấy tờ gì chứng minh mối quan hệ của họ
không?
Thân chủ sẽ khẳng định bà không có quyền được biết về quan hệ của họ và không có quy định nào của pháp luật bắt buộc bà có nghĩa vụ yêu cầu khách thuê xuất trình?
3 Từ trước đến nay nhà trọ Hoàng Lan có bị xử
phạt hành vi hành chính nào không?
Nhằm để thân chủ trình bày dưới tư cách một công dân tuân thủ quy định pháp luật, chứng minh không có tình tiết tăng nặng và tạo thiện cảm cho HDXX về một nhà trọ tuân thủ pháp luật
4 BẢN LUẬN CỨ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN
Kính thưa HĐXX, vị đại diện VKSND tỉnh GL, các Luật sư đồng nghiệp và toàn thể mọi người có mặt trong phiên tòa ngày hôm nay,
Trang 9Tôi là Luật sư Mai Thành Trung thuộc Văn phòng luật sư Công Chính, Đoàn luật
sư tỉnh GL Theo yêu cầu của Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết và được sự chấp thuận của Quý tòa, tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện Trước hết, thay mặt thân chủ tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết và nhân danh cá nhân xin gửi tới HĐXX, vị đại diện VKSND lời chào trân trọng và bày tỏ sự tin tưởng về việc xét xử công minh, đúng pháp luật của HĐXX
Kính thưa HĐXX,
Ngày 02/5/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết có Đơn khởi kiện gửi đến TAND tỉnh GL
để khởi kiện vụ án hành chính với yêu cầu tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC (“QĐXPVPHC số 23”) đề ngày 10/3/2014 của Ông Trần Ngọc Minh - Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL đối với chủ cơ sở kinh doanh Hoàng Lan là
bà Nguyễn Thị Tuyết về hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” Xét thấy, QĐXPVPHC số 23 đề ngày 10/3/2014 là đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 và Điều 30 Luật TTHC 2015 Việc khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết còn trong thời hiệu theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 116 Luật TTHC 2015 Đồng thời, TAND tỉnh GL thụ lý là đúng thẩm quyền về loại việc theo Khoản 1 Điều 30 và thẩm quyền về lãnh thổ theo điểm k khoản 4 điều 32 Luật
tố tụng hành chính
Kính thưa HĐXX,
Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có liên quan và phần trả lời công khai của các bên trước Hội đồng xét xử tại phiên Toà hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VHTTDL, tôi xin trình bày một số ý kiến pháp lý của mình đối với vụ án như sau:
Yêu cầu Hủy Quyết định XPVPHV số 23/XPHC đề ngày 10/3/2014 bởi các lỹ lẽ sau:
Thứ nhất, Quyết định XPVPHC số 23/XPHC vi phạm thời hạn ban hành theo quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC 2012:
Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC thì “Người có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo
Trang 10cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày” Như vậy, thời hạn tối đa để ban
hành một quyết định XPVPHC có lập biên bản, kể cả thời gian gia hạn, là 60 ngày kể từ ngày lập biên bản Đồng thời, khi quá thời hạn quy định nói trên thì người có thẩm quyền cũng không được ban hành quyết định xử phạt theo Khoản 2 Điều 66 Luật XLVPHC
2012
Xét thấy, trường hợp nhà trọ Hoàng Lan của bà Tuyết thì phía Người bị kiện cũng không có chứng cứ nào chứng minh đây là trường hợp có tình tiết phức tạp, cần bổ sung chứng cứ hay thuộc trường hợp phải giải trình hay xuất trình được bất kỳ quyết định, văn bản nào về việc gia hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC 2012 nên thời hạn ban hành quyết định xử phạt VPHC chỉ có thể là 07 ngày hoặc tối đa là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản VPHC Vậy mà, Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC đã được lập vào ngày 23/12/2013 nhưng đến tận 78 ngày sau đó thì vào ngày 10/3/2014 thì Quyết định XPVPHC số 23 mới được ban hành
Như vậy, việc Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL ban hành Quyết định XPVPHC số 23/XPHC là vượt quá thời hạn ban hành theo quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC 2012 Và do đó, khi quá thời hạn này thì Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh
GL cũng không được bạn hành quyết định XPVPHC
Thứ hai, Quyết định XPVPHC số 23/XPHC được ban hành trái thẩm quyền theo quy định tại Điều 25 Nghị định 167/2013/NDD-CP:
Xét thấy, Chánh thanh tra Sở VHTTDL tỉnh GL ban hành Quyết định số
23/QĐ-XPHC với căn cứ pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính là Khoản 1 Điều 25, Mục 2, Chương II của Nghị định 167/2013/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
Tuy nhiên, căn cứ Điều 69 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì Thanh tra VHTTDL chỉ chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị định 163/2017/NĐ-CP (Vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình)
Như vậy, nhóm hành vi vi phạm về phòng chống tệ nạn xã hội nói chung và quy định xử phạt về hành vi vi phạm tại Khoản 1 Điều 25 là không thuộc thẩm quyền xử lý của Thanh tra Sở VHTTDL Do đó, Chánh thanh tra Sở VHTTDL ban hành Quyết định
số 23/QĐ-XPHC xử lý hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP
là trái thẩm quyền luật định
Thứ ba, Quyết định số 23/QĐ-XPHC có sai lầm trong việc lựa chọn và áp dụng căn cứ pháp luật trong việc xác định mức phạt:
Mặc dù thời điểm xảy ra hành vi VPHC ngày 23/12/2013 là xảy ra trước ngày Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 28/12/2013 theo khoản 1 Điều 72 Nghị