1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HS06 TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

14 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 450,8 KB
File đính kèm DA06_LS23.2K_Mai Thanh Trung_659_26.09.2021.zip (440 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HS06 TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc có 04 người con chung là: Chu Thị Thanh (Chu Thị Hồng Thanh), Chu Thị Loan, Chu Khắc Sinh (Chu Văn Sinh), Chu Thị The. Ông Trường chết năm 1945 và bà Cúc chết năm 1990 đều không có di chúc. Tài sản để lại là: ngôi nhà hai gian với diện tích đất 777 m2 tại tờ bản đồ số 2 thửa đất 40 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu và một số cây lưu niên như nhãn, dừa và một số cây khác.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA

GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

Mã số hồ sơ: LS.DS-06/B3.TH1-DA2/DS “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Giáo viên phụ trách: Nguyễn Thị Hương Giang

Ngày diễn: 26 tháng 09 năm 2021

Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 9 năm 2021

Họ tên học viên : MAI THÀNH TRUNG Ngày sinh : 25/01/1994

Lớp Luật sư : Lớp 23.2K.HCM

Số báo danh : 659

Trang 2

2

PHẦN 1: NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1 Nội dung vụ án

1.1 Tóm tắt tình tiết:

Ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc có 04 người con chung là: Chu Thị Thanh (Chu Thị Hồng Thanh), Chu Thị Loan, Chu Khắc Sinh (Chu Văn Sinh), Chu Thị The Ông Trường chết năm 1945 và bà Cúc chết năm 1990 đều không có di chúc Tài sản để lại là: ngôi nhà hai gian với diện tích đất 777 m2 tại tờ bản đồ số 2 thửa đất 40 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu và một số cây lưu niên như nhãn, dừa và một số cây khác

Ngày 20/01/1994, ông Sinh có “Đơn chuyển quyền thừa kế” với nội dung chuyển quyền

sử dụng thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất cho ông Chu Khắc Kha (hay còn gọi là Thuyên) là chồng của Bị đơn Đinh Thị Tám kể từ ngày 24/01/1994 với giá 1.500.000đ, ông Thuyên đã trả cho ông Sinh 500.000đ

Sau đó, bà Thanh phát hiện sự việc này và đã khiếu nại đến UBND xã Phù Vân Ngày

10/4/1994, UBND xã Phù Vân đã có thông báo tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế này “chờ

giải quyết xong thì văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lý” Đồng thời, tháng 4/1994, bà Thanh

và bà The có “Giấy giao quyền trông nom” để ông Chu Khắc Thuyên quản lý nhà đất, thu hoạch hoa quả trong thời hạn 05 năm kể từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999 và có trách nhiệm đóng thuế nhà đất

Năm 1999, ông Thuyên chết, bà Đinh Thị Tám tiếp tục thu hoạch hoa quả hàng năm Cuối năm 2011, bà Tám cùng con gái là Chu Thị Mai làm nhà trên mảnh đất này Bà Thanh đã báo chính quyền địa phương xã Phù Vân can thiệp nhưng bà Tám vẫn tiếp tục xây dựng Tranh chấp giữa bà Thanh, ông Sinh và bà Tám đã được UBND xã Phù Vân tổ chức hòa giải 02 lần nhưng không thành

Ngày 05/11/2016, ông Sinh và bà Thanh khởi kiện bà Tám tại Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Ông Sinh và bà Thanh yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Yêu cầu bà Tám trả lại 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 cho 04 chị em Nguyên đơn

- Buộc bà Tám phải trả nhà, đất, cây cối trên diện tích đất và hoa màu trên đất với giá trị 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994

Sau nhiều phiên hòa giải không thành, ngày 03/8/2017, Tòa ra quyết định số

65/2017/QĐST-DS đưa vụ án ra xét xử

1.2 Chứng cứ chứng minh:

- Giấy chứng tử của bà Chu Thị Cúc (sao y công chứng);

- Giấy xác nhận ông Chu Khắc Trường chết năm 1945 (sao y công chứng);

- Giấy tờ chứng thực cá nhân và sổ hộ khẩu của bà Chu Thị Thanh, ông Chu Khắc Sinh, Chu Thị Loan, Chu Thị The (bản sao y công chứng);

- Giấy khai sinh của Chu Thị Thanh, Chu Khắc Sinh, Chu Thị Loan, Chu Thị The (bản sao y công chứng);

- Thông báo số 05/TB-UB ngày 10/04/1994 của UBND xã Phù Vân về việc tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế;

- Giấy giao quyền trông nom ngày 15/04/1994;

- Tờ bản đồ số 2 năm 1998 (sao y công chứng);

Trang 3

3

- Giấy giao quyền sử dụng ngày 22/11/2001;

- Biên bản họp gia đình ngày 10/01/2007;

- Biên bản họp gia đình ngày 05/06/2016;

- Giấy xác nhận ngày 06/06/2016;

- Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 19/06/2016;

- Biên bản hòa giải ngày 25/10/2016;

- Báo cáo kết quả hòa giải tranh chấp đất đai số 79/BC-UBND ngày 25/10/2016

2 Nhận xét một số vấn đề về tố tụng

2.1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

Theo bản đồ địa chính lập năm 1998 thì phần đất tranh chấp là của bà Cúc Đồng thời, các bên tranh chấp và cả chính quyền địa phương cũng xác nhận nguồn gốc đất là của bà Cúc

Bà Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền sử dụng cho vợ chồng bà năm 1994 theo “Đơn chuyển quyền thừa kế” Khi chồng bà Tám mất thì bà có quyền sử dụng đổi với thửa đất đất này

Bà Thanh, bà Loan, ông Sinh, bà The cho rằng đây là tài sản của bà Cúc để lại và họ là những người thừa kế theo pháp luật nên đất này là của họ, một mình ông Sinh không có quyền chuyển quyền sử dụng đất Do đó, đây là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.2 Quyền khởi kiện

Trong quan hệ pháp luật tranh chấp trên, sau khi đã được hòa giải nhưng không thành, bà Thanh và ông Sinh cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phậm nên đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Việc khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015

Ông Sinh và Bà Thanh có đủ năng lực hành vi dân sự, không bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên ông Sinh và bà Thanh cũng có đủ năng lực hành vi tố tụng dân

sự, ông Sinh và Bà Thanh đã trực tiếp ký Đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, 189 BLTTDS 2015

2.3 Thời hiệu khởi kiện

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 184 BLTTDS 2015 và Điểm c Khoản 2 Điều 23

Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP thì “đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất theo pháp luật đất

đai liên quan tới tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện”

2.4 Thẩm quyền Tòa án

Việc TAND Thành phố Phủ Lý đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo

quy định của pháp luật theo các căn cứ pháp lý sau:

- Căn cứ Khoản 9 Điều 26 BLTTDS 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Khoản 9 Điều 26 Luật TTDS 2015 sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;

- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 39 Luật TTDS 2015, trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết

Trang 4

4

- Phần đất tranh chấp mặc dù chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng theo bản đồ địa chính

số 02 lập năm 1998 thì phần đất tranh chấp là của bà Cúc Các bên tranh chấp và cả chính quyền địa phương cũng xác nhận nguồn gốc đất là của bà Cúc Bà Thanh, bà Loan, ông Sinh, bà The chỉ tranh chấp quyền sử dụng đất khi bà Tám chiếm hữu trái pháp luật, yêu cầu bà Tám trả lại đất chứ không phải tranh chấp ai có quyền sở hữu quyền sử dụng đất

Do vậy, căn cứ vào Điểm b Khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP thì tranh

chấp này không bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở

2.5 Thành phần và tư cách đương sự

Nguyên đơn:

1) Bà Chu Thị Hồng Thanh

Tên gọi khác Chu Thị Thanh, sinh năm 1930 Địa chỉ: Số 12, Tổ 16 phường Nam Thanh,

TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thanh: Chị Chu Thị Hồng Tâm

Sinh năm 1970 Địa chỉ: Số 61, Tổ 16 phường Nam Thanh, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

2) Ông Chu Văn Sinh

Tên gọi khác Chu Khắc Sinh, sinh năm 1936 Địa chỉ: Thôn Vạn Thắng, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

Bị đơn:

Bà Đinh Thị Tám

Sinh năm 1930 Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Bà Chu Thị Loan

Sinh năm 1935 Địa chỉ: tổ 3 phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

2) Bà Chu Thị The

Sinh năm 1944 Địa chỉ: đội 1 thôn Diên Điền, xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Đại diện theo ủy quyền của bà Loan, bà The: Ông Chu Anh Quyết

Sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

3) Ông Chu Khắc Hồng, sinh năm 1956;

4) Bà Trần Thị Đắc, sinh năm 1957;

5) Bà Chu Thị Mai, sinh năm 1952

Cùng địa chỉ: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

2.6 Thủ tục tiền tố tụng

Tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn và bị đơn đã được UBND xã Phù Vân tiến hành hòa giải 02 lần nhưng không thành (BL 25, 26, 27, 28, 29) Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013, điều kiện thủ tục tiền tố tụng đã đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật Tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định

có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

2.7 Văn bản pháp luật áp dụng

- Luật đất đai 1993; 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1990 (Đơn chuyển quyền thừa kế xác lập năm 1994);

Trang 5

5

- Pháp lệnh thừa kế năm 1990;

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

- Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 Hường dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế

- Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự số: 52-LCT/HĐNN8 (gọi tắt là “Pháp lệnh 1991”)

- Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS” đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS;

- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS;

- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1

và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

Trang 6

6

PHẦN 2: PHẦN CHUẨN BỊ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP

PHÁP CHO BỊ ĐƠN

1 Trình bày của Bị đơn:

Nguồn gốc thửa đất 40 tờ bản đồ số 02 là của ông bà nội ông Thuyên (chồng bà Tám) và ông bà nội ông Sinh để lại cho bố mẹ ông Sinh, bà Thanh là ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc Khi bà Cúc mất năm 1990 (ông Trường mất trước đó, không nhớ rõ năm), vợ chồng bà Tám, ông Thuyên đứng ra lo tang cho bà do các con bà thoát lý khỏi địa phương không về và

quản lý, thực hiện nghĩa vụ thuế đối với thửa đất kể từ đó Năm 1994, ông Sinh về viết “Đơn

chuyển quyền thừa kế” để chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ thửa đất, nhà và cây cối cho

vợ chồng ông Thuyên, bà Tám với giá 1.500.000 đ, ông Sinh đã nhận 500.000 đ, số tiền còn lại

sẽ trả trong năm 1994 khi ông Sinh về quê nhưng sau đó ông Sinh không về và cho đến nay cũng chưa có yêu cầu trả số tiền còn thiếu Vợ chồng ông Thuyên, bà Tám quản lý, sử dụng, thu hoa lợi trên thửa đất và đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước từ năm 1990 đến nay (trong đó từ 1990 đến

1993 do vợ chồng con trai bà Tám nộp) Cuối năm 2011, bà Tám đã xây dựng mới một căn nhà cấp bốn ba gian trên thửa đất (do căn nhà cũ bị sụp đổ), tôn tạo, cải tạo đất và trồng mới nhiều cây lâu năm khác Mặc dù hiện nay thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vợ chồng bà Tám khẳng định đã được ông Sinh chuyển quyền sử dụng đất từ năm 1994 nên bà không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn, bà đề nghị Tòa công nhận bà là người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất

2 Kế hoạch hỏi đáp:

Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, kế hoạch hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của tôi như sau:

Tình tiết, nội

dung cần chứng

minh

Đối tượng hỏi

1 Ông Thuyên,

bà Tám quản lý

thửa đất từ 1990

hay từ 1994

1 Hỏi Ông Sinh, Bà Thanh:

- Trước khi mẹ ông/bà mất, ông/bà đang ở đâu, làm gì? Khi mẹ ông/bà mất ông/bà có về lo tang cho mẹ không? Có gì chứng minh không?

- Sau khi mẹ ông/bà mất, từ năm 1990 đến 1993, ai là người sống trên mảnh đất này?

2 Hỏi Bà Thanh

- Vì sao bà biết từ năm 1990 đến 1993, ông Sinh và anh Thành sống trên mảnh đất này (BL35)? Khi đó anh Thành bao nhiêu tuổi? Ngoài anh Thành còn ai không?

3 Hỏi bị đơn:

- Trước khi bà Cúc mất năm 1990, ai là người sống cùng và chăm sóc bà Cúc Khi bà Cúc mất, ai là người lo tang cho bà Cúc?

- Ai là người đóng nghĩa vụ thuế đối với thửa đất? (trong đó có 1990-1994)?

Trang 7

7

Tình tiết, nội

dung cần chứng

minh

Đối tượng hỏi

2 Giấy trông

nom là không có

giá trị pháp lý

1 Bà Thanh:

- Vì sao Giấy trong nom này chỉ có chữ ký của bà, không có chữ ký bà Loan, bà The và ông Sinh?

- Sau khi thời hạn giấy trông nom hết, bà có gia hạn hay tự mình thực hiện công việc trông nom?

2 Hỏi ông Sinh:

- Tại BL 36, 71 thì bà Thanh và ông Sinh khai rằng cả 4 chị em ông bà

đã họp bàn và thống nhất lập giấy giao quyền Tuy nhiên, tại BL 57, 60 thì bà Loan và bà The khai rằng chỉ có 3 chị em bà họp bàn, không có mặt ông Sinh Vậy lúc lập giấy trong nom này ông có mặt không?

- Nếu ông có mặt tại sao lại để cho Giấy trông nom có nội dung nhạn xét ông “là con trai nhưng thiếu trách nhiệm với cha mẹ khi sống cho đến khi chết đi cũng như ngày nay”

3 Hỏi bà Loan:

- Bà có biết việc hai chị của bà (bà Thanh, The) đã lập giấy giao quyền trông nom ngày 15/4/1994 cho ông Thuyên không? Vì sao bà không ký

vào Giấy giao quyền? Ông Sinh có biết việc lập giấy này không?

3 Đơn chuyển

quyền thừa kế

(BL7,8) là hợp

đồng chuyển

quyền sử dụng

đất, tài sản gắn

liền với đất

1 Hỏi ông Sinh:

-Trong Đơn chuyển quyền thừa kế, ông khẳng định “qua sự bàn bạc và thống nhất với các anh chị em trong gia đình”, “nên nhất trí chuyển quyền thừa kế” đúng không? Vì sao ông lại khẳng định như vậy?

- Sau khi nhận được Thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế này có nội dung “chờ giải quyết thực hiện theo đúng luật thừa kế” và “khi nào giải quyết xong thì văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lý”, ông có định làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế không?

- Ông có nhận tiền của vợ chồng Bị đơn khi thực hiện “chuyển quyền thừa kế” không, nếu có thì nhận bao nhiêu?

- Tại sao ông lại mời trưởng tộc họ Chu khắc làm chứng và đồng ý trong văn bản “đơn chuyển quyền thừa kế”, có phải ông là con trai cả được nhận toàn quyền thừa kế được thừa nhận bởi trưởng tộc họ Chu Khắc hay không?

2 Hỏi bị đơn:

- Vợ chồng bà thỏa thuận với ông Sinh về việc chuyển quyền sử dụng đất như nào?

4 Công sức tôn

tạo thửa đất của

bà Tám

1 Hỏi ông Sinh, Bà Thanh:

- Tài sản bố mẹ ông bà để lại năm 1990 gồm những gì?

- Ông/bà biết bà Tám xây dựng trên thửa đất khi nào? (BL 36,58,61,72: tháng 5/2016)

Trang 8

8

Tình tiết, nội

dung cần chứng

minh

Đối tượng hỏi

- Ông/Bà có thực hiện nghĩa vụ thuế đối với thửa đất không? Ông/bà có biết ai đã thực hiện không?

2 Hỏi bị đơn:

-Từ năm 1990 khi bắt đầu quản lý thửa đất, tài sản gồm những gì?

- Tài sản hiện trên thửa đất gồm những gì? Do ai tạo lập?

- Bà xây lại căn nhà cấp 4 từ khi nào? (BL 39,69: cuối 2011)? Ngoài việc xây nhà, bà đã làm tôn tạo, cải tạo gì trên thửa đất?

- Bà có ý kiến gì về các tài sản và giá trị tài sản trong Biên bản định giá? (BL 90, 91, 92)

3 Bài luận cứ bảo vệ cho Bị đơn

Kính thưa: Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, Luật sư đồng nghiệp và mọi người

có mặt tại phiên tòa hôm nay

Tôi là Mai Thành Trung - Luật sư của Văn phòng luật sư K- Đoàn Luật sư Thành phố

Hồ Chí Minh, tôi đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn Đinh Thị Tám Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi và lắng nghe quan điểm trình bày của vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, phía Bị đơn chúng tôi có các ý kiến và các yêu cầu như sau:

Đối với ý kiến của phía Nguyên đơn về việc những người thừa kế của ông Trường,

bà Cúc (là các ông bà Sinh, Thanh, Loan, The) chỉ giao quyền trông nom cho ông Thuyên chứ không chuyển quyền sử dụng đất:

Phía bị đơn chúng tôi hoàn toàn bác bỏ quan điểm này Chúng tôi cho rằng, việc giao quyền trông nom được xác lập theo Giấy giao quyền trông nom (BL 10,11) là không có giá trị pháp lý vì sau khi bà Cúc chết, các đồng thừa kế có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với di sản (chưa được chia) nhưng giấy trông nom đối với phần di sản này chỉ được lập bởi bà Thanh, minh chứng bởi các căn cứ sau:

Một là, lời khai của các nguyên đơn (bà Thanh, ông Sinh) và những người có quyền, lợi

ích liên quan (bà The, bà Loan) về việc xác lập giấy giao quyền trông nom này có nhiều mâu thuẫn nhau Tại BL 36, 71 thì bà Thanh và ông Sinh khai rằng cả 4 chị em ông bà đã họp bàn và thống nhất lập giấy giao quyền Tuy nhiên, tại BL 57, 60 thì bà Loan và bà The khai rằng chỉ có

3 chị em bà họp bàn, không có mặt ông Sinh

Hai là, trong nội dung giấy trông nom, có đoạn bà Thanh đã nhận xét ông Sinh “là con

trai nhưng thiếu trách nhiệm với cha mẹ khi sống cho đến khi chết đi cũng như ngày nay” Nhận xét này phù hợp với nội dung tại biên bản họp gia đình (BL 15) ngày 5/6/2016, bà Thanh và bà Loan đã thừa nhận: 02 bà đã biệt tin tức không rõ ông Sinh sống chết ở đâu, biệt tin tức từ trước khi bà Cúc mất từ năm 1990 cho đến thời điểm năm 2016 Theo đó, không thể có chuyện ông Sinh đã cùng các chị của mình họp bàn, thống nhất lập Giấy giao quyền trông nom mà lại tự phê phán, trách móc bản thân mình như thế

Trang 9

9

Ba là, giấy trong nom này chỉ có chữ ký của bà Thanh, không có chữ ký bà Loan, bà The

và ông Sinh Như vậy, hoàn toàn không có căn cứ để khẳng định bà The, bà Loan có sự thống nhất Giấy giao quyền trông nom này

Như vậy, Giấy trông nom mà phía Nguyên đơn dùng để lập luận cho việc chỉ giao quyền trông nom cho ông Thuyên chứ không chuyển quyền sử dụng đất là không hợp pháp vì chỉ được lập bởi bà Thanh, không phải bởi tất cả các đồng thừa kế

Đối với ý kiến của Nguyên đơn về việc Đơn chuyển quyền thừa kế là không hợp pháp vì ngày 10/4/1994, UBND xã Phù Vân đã có thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế này

Phía bị đơn chúng tôi hoàn toàn bác bỏ ý kiến này Bởi lẽ, trong Thông báo số 05/TB-UB tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế này có nội dung “chờ giải quyết thực hiện theo đúng luật thừa kế” và “khi nào giải quyết xong thì văn bản có giá trị và hiệu lực pháp lý” Như vậy, nội dung thông báo này là vì việc ông Sinh được nhận thừa kế nhưng chưa thực hiện khai nhận di sản, sau khi ông Sinh khai nhận di sản để trở thành sở hữu hợp pháp đối với việc sử dụng đất thì

giao dịch “chuyển quyền thừa kế” của ông Sinh với ông Thuyên sẽ có giá trị và hiệu lực pháp lý

Phía Bị đơn chúng tôi có những yêu cầu sau:

Thứ nhất, yêu cầu công nhận giao dịch chuyển quyền sử dụng đất giữa ông Sinh và ông Thuyên xác lập theo Giấy chuyển nhượng thừa kế (BL 7) đối với phần sử dụng đất thuộc quyền thừa kế của ông Sinh:

Căn cứ:

Tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần II tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ngày 10/8/2004 về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì đối với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993, Toà án phải công nhận hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

- Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn

tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

- Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền

- Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc không có công chứng chứng thực thì nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước

Trang 10

10

về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng

Xét thấy: Tại thời điểm ngày 20/01/1994 thì:

Thứ nhất, giữa ông Sinh và ông Thuyên có phát sinh giao dịch chuyển quyền sử dụng đất

theo Đơn chuyển quyền thừa kế (BL 7) và ông Sinh cũng có nhận tiền từ ông Thuyên (BL 52) thì cả 2 đều hoàn toàn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật

Thứ hai, Ông Sinh, ông Thuyên hoàn toàn tự nguyện tham gia giao kết, không ai ép buộc

ai, phù hợp với ý chí, nhận thức của ông Sinh, ông Thuyên về quyền được chuyển nhượng và quyền được nhận chuyển nhượng

Thứ ba, mục đích và nội dung của “Giấy chuyển nhượng quyền thừa kế” không trái pháp

luật và đạo đức xã hội Với nhận thức rằng mình đã thoát ly khỏi địa phương, các chị em của mình đều đã xuất giá và ở xa và đều không có xu hướng trở về quê Vì vậy, ông Sinh và các chị

em của mình có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất Trong BL 7, BL 8, ông Sinh đã khẳng định đã thống nhất trao đổi với các chị em mình, do đó, ông vừa nhân danh mình vừa là đại diện theo ủy quyền của các chị em của mình để thực hiện giao dịch chuyển quyền Phía ngược lại, ông Thuyên

bà Tám nhận thức rằng, thửa đất này có nguồn gốc của ông bà nội mình giao cho chú ruột của mình là ông Trường sử dụng, nay chú thím mình đã mất, trong khi đó các em là con của chú thím

đã thoát ly khỏi địa phương, không có xu hướng trở về quê và lại có ý định chuyển nhượng thửa đất Vì vậy, với mong muốn giữ lại đất đai của tổ tiên, ông Thuyên bà Tám mặc dù có khó khăn

về tài chính nhưng đã xin được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất này (trả ngay 500.000đ và xin nợ lại 1.000.000đ) và đã được ông Sinh đồng ý

Thứ tư, Giấy chuyển nhượng quyền thừa kế (BL 7) đã được UBND xã Phù Vân chứng

thực ngày 24/1/1994

Thứ năm, sau khi nhận chuyển nhượng, ông Thuyên bà Tám đã sinh sống lâu dài, đóng

thuế, trồng cây lâu năm, tôn tạo, cải tạo làm gia tăng giá trị sử dụng thửa đất cho đến tận thời điểm tranh chấp, cụ thể như sau:

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước đối với thửa đất từ năm 1994 đến nay (BL 55,56,62);

- Lấp phần diện tích ao 289m2 để tạo lập vườn cây lưu niên;

- Xây dựng căn nhà cấp 4 mới;

- Tồng thêm nhiều cây lâu năm;

Vậy: Giữa ông Sinh và ông Thuyên có phát sinh giao dịch chuyển quyền sử dụng đất theo Đơn chuyển quyền thừa kế (BL 7) và ông Sinh cũng có nhận tiền từ ông Thuyên (BL 52) đã xác lập giao dịch hợp pháp và Tòa án phải công nhận giao dịch này theo hướng dẫn tại Tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần II tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ngày 10/8/2004 về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì đối với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993

2 Yêu cầu ông Sinh bồi thường đối với phần giao dịch vô hiệu do chuyển quyền sử dụng đất không thuộc quyền sở hữu của ông Sinh (của các đồng thừa kế còn lại)

Nhận thấy:

Tại thời điểm năm 1994, giao kết giữa ông Sinh và ông Thuyên:

Ngày đăng: 27/09/2021, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w