BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ Mã số hồ sơ: LS.DS09 “Tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải” Giáo viên phụ trách: Hoàng Trung Sỹ Ngày diễn: 02 tháng 10 năm 2021
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Mã số hồ sơ: LS.DS-09 “Tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải”
Giáo viên phụ trách: Hoàng Trung Sỹ Ngày diễn: 02 tháng 10 năm 2021
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 10 năm 2021
Họ tên học viên : MAI THÀNH TRUNG Ngày sinh : 25/01/1994
Lớp Luật sư : Lớp 23.2K.HCM
Số báo danh : 659
Trang 2PHẦN 1: NGHIÊN CỨU HỒ SƠ
1 Nội dung vụ án
1.1 Tóm tắt tình tiết:
Ngày 17/7/2006, Bà Trần Thị Thu và Công ty TNHH YD Việt Nam (Công ty YD) thỏa thuận ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn
Sau thời gian nghỉ thai sản, ngày 09/12/2015 bà Thu quay trở lại Công ty làm việc nhưng không được bố trí làm việc trước đây đã làm Tại các cuộc họp ngày 15/12/2015 và ngày 25/12/2015, Công ty YD cho rằng trong thời gian làm việc, Bà Thu đã có sai sót trong hoạt động tài chính kế toán nên đã không bố trí bà Thu trở lại làm việc vị trí kế toán trưởng
Ngày 05/01/2016, bà Thu nhận được Quyết định số S008-14/QĐ của Tổng giám đốc Công ty YD với nội dung bà Thu được bố trí làm công việc kế toán phụ trách kho rác Bà Thu cho rằng Công ty không bố trí công việc đúng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, không phù hợp với điều kiện sức khỏe nên đã không làm việc Bà Thu đề nghị Công ty bố trí công việc đúng quy định hoặc chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết các chế độ theo quy định của pháp luật nhưng không được chấp nhận Công ty YD cho rằng bà Thu không đến làm việc là vi phạm nội quy Công ty, hành vi đó phải chịu mức kỷ luật là sa thải Ngày 20/3/2016 Công ty
YD đã tổ chức cuộc họp xử lý vi phạm của bà Thu với hình thức sa thải
Không đồng ý với hình thức kỷ luật là sa thải, ngày 06/7/2016 bà Thu có Đơn khởi kiện Công ty YD ra Tòa án nhân dân huyện AD, TP Hải Phòng, ngày 11/5/2017, bà Thu có Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện Các yêu cầu khởi kiện của bà Thu là:
- Buộc Công ty YD hủy Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016;
- Buộc Công ty YD khôi phục mọi quyền lợi:
+ Thanh toán toàn bộ tiền lương, bảo hiểm trong thời gian không được làm việc
kể từ ngày 9/12/2015 đến khi được nhận lại theo mức lương 20.393.000 đồng/tháng, tạm tính đến 09/5/2017 (17 tháng): 20.393.000 x 17 = 346.681.000 đồng;
+ Bồi thường 02 tháng tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động 2012, số tiền 20.393.000 x 2 = 40.786.000 đồng;
- Do hiện nay bà Thu không có nhu cầu quay trở lại Công ty YD làm việc nên ngoài khoản tiền nêu trên, Công ty YD còn phải bồi thường thêm:
+ Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc, số tiền 25.491.250 đồng;
+ Bồi thường 2 tháng tiền lương theo khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động 2012, số tiền số tiền 20.393.000 x 2 = 40.786.000 đồng;
+ Buộc Công ty YD thực hiện ngay việc chốt sổ bảo hiểm xã hội
Ngày 22/8/2017 Tòa án nhân dân huyện AD đã ban hành quyết định số 01/2017/QĐST – LĐ đưa vụ án ra xét xử
1.2 Chứng cứ chứng minh:
(1) Bản sao CMND, Sổ hộ khẩu
(2) Giấy xác nhận CMND của Công an thành phố Hải Phòng;
(3) Giấy uỷ quyền cho Công ty Luật K ngày 22/12/2015;
(4) Hợp đồng lao động ký ngày 17/10/2008
(5) Thông báo ngày 5/12/2015; ngày 20/12/2015 của Công ty YD;
Trang 3(6) Công văn đề nghị giải quyết quyền lợi của Công ty Luật K ngày 9/1/2016; ngày 28/1/2016; ngày 3/3/2016; ngày 29/5/2016;
(7) Biên bản cuộc họp kỷ luật ngày 25/12/2016; ngày 20/3/2016;
(8) Quyết định số 008/14QĐ ngaỳ 30/12/2015 của Công ty YD;
(9) Công văn đề nghị phối hợp hoà giải tranh chấp lao động cá nhân của Ban quản lý khu kinh tế Hải phòng ngày 1/4/2016;
(10) Biên bản làm việc tại Công đoàn khu Kinh tế Hải phòng ngày 14/5/2016
(11) Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp lao động cá nhân số 12/2016/CV-K ngày
(12) 12/03/2016; số 20/2016 ngày 27/3/2016 của Công ty Luật K
(13) Công văn số 39/LĐTBXH ngày 25/03/2016 của Phòng Lao động, Thương binh – Xã hội huyện AD, TP Hải Phòng
(14) Theo biên bác xác minh với Bảo hiểm xã hội huyện AD, thành phố Hải Phòng
về kết quả tra cứu của Bảo hiểm xã hội huyện AD, quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Thu
2 Nhận xét một số vấn đề về tố tụng
2.1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Bà Trần Thị Thu ký hợp đồng lao động với Công ty YD theo quy định của pháp luật Công ty chưa ra quyết định kỷ luật sa thải nhưng Công ty đã thực hiện trình tự thủ tục để xử lý
vi phạm của bà Thu, đã có biên bản ngày 20/3/2015 họp xử lý vi phạm của bà Thu và kết luận bằng hình thức sa thải Biên bản được Tổng giám đốc và Chủ tịch công đoàn Công ty cùng ký
và gửi cho bà Thu Như vậy tranh chấp này là tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải
2.2 Quyền khởi kiện
Bà Trần Thị Thu ký hợp đồng lao động với Công ty YD theo quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện hợp đồng hai bên xảy ra mâu thuẫn Mặc dù tại thời điểm bà Thu nộp đơn khởi kiện, Công ty chưa ra quyết định kỷ luật sa thải nhưng Công ty đã thực hiện trình tự thủ tục để xử lý vi phạm của bà Thu, đã có biên bản ngày 20/3/2015 họp xử lý vi phạm của bà Thu và kết luận bằng hình thức sa thải Biên bản được Tổng giám đốc và Chủ tịch công đoàn Công ty cùng ký và gửi cho bà Thu Do đó, Bà Thu có đã có cơ sở cho rằng quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và có quyền khởi kiện Công ty xử lý kỷ luật sa thải trái luật theo Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động ngày 20/3/2015
Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, Bà Thu đã trên 18 tuổi, không bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nên bà Thu có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, bà Thu cũng đã tự mình trực tiếp ký Đơn khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 69, 189 BLTTDS 2015
2.3 Thời hiệu khởi kiện
Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ Luật Lao động 2012, thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Thu cho biết tại cuộc họp ngày 14/5/2016 bà mới bất ngờ nhận được Biên bản xử lý kỷ luật đề ngày 20/3/2016 theo đó Công ty YD xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải đối với bà Ngày 06/7/2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện ra Tòa án
Trang 4Vậy tính từ thời điểm nộp đơn khởi kiện thì vẫn nằm trong thời hiệu 01 năm kể từ ngày 14/5/2016, là ngày bà Thu biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm
2.4 Thẩm quyền Tòa án
Theo nội dung đơn khởi kiện, Bà Thu kiện Công ty YD với lý do đã sa thải trái pháp luật Do đó theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 32, Điểm c Khoản 1 Điều 35 và Bộ Luật TTDS 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện AD
Việc TAND Huyện AD (Hải Phòng) đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật theo các căn cứ pháp lý sau:
- Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015, tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 39 thì tranh chấp này sẽ do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết; Bị đơn là Công ty
YD có trụ sở tại Lô J12xx khu Công nghiệp NM, huyện AD, Tp Hải Phòng là Nhật Linh có trụ sở chính ở huyện AD nên Tòa án huyện AD (Hải Phòng) là tòa án có thẩm quyền giải quyết
2.5 Thành phần và tư cách đương sự
1) Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu, sinh năm 1985
Nơi thường trú: 6xx, phố Đ, P Hoàng Văn Thụ, Q Hồng Bàng, TP Hải Phòng
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu Hà – Luật sư Công ty Luật K, Đoàn Luật sư TP Hải Phòng, địa chỉ: Số 1xx, Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Hải Phòng
2) Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam
Trụ sở: Lô J12xx khu Công nghiệp NM – Hải Phòng, Tp Hải Phòng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Shuhei – Chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Huyền, sinh năm 1991, địa chỉ: Số 2xx, Trung Hành 5,
P Đằng Lâm, quận Hải An, TP Hải Phòng
2.6 Thủ tục tiền tố tụng
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 32, Bộ Luật TTDS 2015 thì tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải
Ngoài ra, Bị đơn có đơn kháng cáo về Quyết định Tạm đình chỉ vụ án của Tòa án nhân dân huyện AD Lý do của việc kháng cáo: Theo quyết định tạm đình chỉ mà Bị đơn nhận được thì lý do tạm đình chỉ mà Tòa án huyện AD nêu ra là: “Cần đợi kết quả trả lời của BQL Khu kinh tế Hải Phòng về người đại diện theo pháp luật của Bị đơn, Công ty YD Việt Nam mới giải quyết được vụ án”
Có thể thấy, việc kháng cáo này của Bị đơn là có căn cứ, bởi vì:
- Căn cứ theo Đơn khởi kiện ngày 06/07/2016, Nguyên đơn đã xác định người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH YD Việt Nam là ông Shuhei – Tổng giám đốc
- Căn cứ công văn trả lời của Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng số 54/BQL-LĐ ngày 12/01/2017 gửi Tòa án nhân dân huyện AD
Theo đó, cả hai bên Nguyên đơn, bị đơn đều mặc nhiên công nhận ông SHUHEI –Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty YD Việt Nam Căn cứ khoản 2 Điều 92
Bộ luật Tố tụng dân sự 2005: Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh “Một bên đương
Trang 5sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh” và Điều 93 về Chứng cứ Như vậy những chứng cứ mà hai bên đã cung cấp là đầy đủ, do đó Tòa
án nhân dân huyện AD không cần phải tìm chứng cứ chứng minh ai là người đại diện theo pháp luật của Công ty YD Việt Nam mà căn cứ vào hồ sơ thì mặc nhiên ông SHUHEI – Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH YD Việt Nam Đồng thời, ban quản lý khu kinh tế đã có công văn trả lời Tòa án nhân dân huyện AD từ ngày 12/01/2017 Vậy, lý do tạm đình chỉ vụ án của TAND huyện AD đưa ra là không có căn cứ
2.7 Văn bản pháp luật áp dụng chủ yếu:
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH Ban hành Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ
Trang 6PHẦN 2: PHẦN CHUẨN BỊ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
2 Kế hoạch hỏi đáp:
Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, kế hoạch hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của tôi như sau:
Tình tiết, nội
dung cần chứng
minh
Hỏi Nguyên đơn
1 Chứng minh
Bị đơn đã có
hành vi thực
hiện việc sa thải
bà Thu trên
thực tế kể từ
20/3/2016
1 Phía Bị đơn đã gửi Biên bản cuộc họp ngày 20/3/2016 và kết luận hình thức kỷ luật sa thải cho bà Thu đúng không?
2 Đại diện theo pháp luật của Công ty (Tổng Giám đốc), Chủ tịch Công đoàn đã ký Biên bản xử lý kỷ thuận đúng không?
3 Theo biên bác xác minh với Bảo hiểm xã hội huyện AD, thành phố Hải Phòng về kết quả tra cứu của Bảo hiểm xã hội huyện
AD, quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Thu được thể hiện: thời gian chốt sổ bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Thu là hết tháng 12/2015, lý do báo giảm: chấm dứt hợp đồng lao động Tại sao Bị đơn lại báo giảm lao động, ngừng đóng bảo hiểm xã hội cho Bà Thu từ thời điểm tháng 12/2015?
2 Chứng minh
hành vi sa thải
bà Thu là không
có căn cứ và trái
quy định pháp
luật
1 Chức danh chuyên môn của bà Thu khi ký hợp đồng lao động là gì?
2 Vì sao trong QĐ số S008-14/QĐ lại bố trí nguyên đơn sang kho rác?
3 Phía Bị đơn có biết bà Thu vừa nghỉ thai sản xong và đang trong giai
đoạn nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi không?
4 Phiên họp xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 không có tham dự của bà Thu hay không?
5 Công ty nêu đã gửi bằng bưu điện ba lần thông báo cho bà Thu đến tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, các vận đơn mà Công ty cung cấp có nội dung nào thể hiện về nội dung bên trong thư, thông báo tham
dự phiên họp kỷ luật hay không?
6 Thời điểm bắt đầu bà Thu trở lại làm việc sau kỳ nghỉ thai sản là ngày 9/12/2015 đã bị bảo vệ cản trở, Công ty có biết chuyện này không?
3 Bài luận cứ bảo vệ cho Bị đơn
Kính thưa: Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, Luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay
Tôi là Mai Thành Trung - Luật sư của Văn phòng luật sư Công Chính- Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của Nguyên Đơn Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả hỏi và lắng nghe quan điểm trình bày của Bị đơn và vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
Trang 7của Bị đơn tại phiên tòa hôm nay, phía Nguyên đơn chúng tôi có các ý kiến và các yêu cầu như sau:
1 Về việc Nguyên đơn cho rằng sau cuộc họp ngày 20/3/2016, Công ty không ban hành quyết định sa thải đối với bà Thu nên mối quan hệ lao động vẫn còn; Công ty chính thức sa thải bà Thu ngày 15/8/2016 chứ không phải ngày 20/3/2016:
Phí Nguyên đơn chúng tôi xin bác bỏ hoàn toàn nội dung này của Nguyên đơn, việc xác định thời điểm bà Thu bị sa thải ngày 20/3/2016 là có căn cứ bởi các lý lẽ sau:
Thứ nhất, mặc dù Công ty chưa ban hành quyết định chính thức về việc sa thải nhưng Công ty đã có đầy đủ các hoạt động của việc thực hiện trình tự, thủ tục xử lý vi phạm bằng hình thức sa thải tại Biên bản cuộc họp ngày 20/3/2016 và kết luận hình thức kỷ luật sa thải Đại diện theo pháp luật của Công ty (Tổng Giám đốc), Chủ tịch Công đoàn đã ký Biên bản, đồng thời Biên bản đã được gửi đến bà Thu Trong quá trình Tòa án đang thụ lý giải quyết, Công ty tiếp tục tiến hành cuộc họp ngày 14/8/2016 và ban hành QĐ số 02 ngày 15/8/2016 để xử lý kỷ luật sa thải bà Thu với cùng hành vi không đến làm việc theo QĐ số S008-14/QĐ ngày 05/01/2016, cùng hành vi so với Biên bản ngày 20/3/2016
Thứ hai, theo biên bác xác minh với Bảo hiểm xã hội huyện AD, thành phố Hải Phòng
về kết quả tra cứu của Bảo hiểm xã hội huyện AD, quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Thu được thể hiện: thời gian chốt sổ bảo hiểm xã hội của bà Trần Thị Thu là hết tháng 12/2015 (chốt vào ngày 28/9/2016); thời gian đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí,
tử tuất đến hết tháng 12/2015 là 08 năm 10 tháng; thời gian đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến tháng 12/2015 là 05 năm 02 tháng Căn cứ để chốt sổ bảo hiểm cho bà Thu dựa vào báo giảm đóng bảo hiểm xã hội của Công ty TNHH YD Như vậy, Bị đơn đã báo giảm lao động, ngừng đóng bảo hiểm xã hội với lý do chấm dứt hợp đồng từ thời điểm tháng 12/2015
Do vậy, việc xác định thời điểm bà Thu bị sa thải là ngày 20/3/2016, thậm chí trước đó vào 12/2015 là hoàn toàn có căn cứ, chứ không phải như trình bày của Bị đơn là không ban hành quyết định sa thải đối với bà Thu nên mối quan hệ lao động vẫn còn chỉ sa chính thức sa thải vào ngày 15/8/2016
2 Về hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật sa thải của bên Bị Đơn:
Phía Nguyên đơn chúng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm cho rằng, tại Biên bản làm việc ngày 20/3/2016, Bị đơn xác định lỗi của bà Thu tự ý nghỉ việc (theo QĐ số S008-14/QĐ) là không có lý do chính đáng vởi các lẽ sau:
Thứ nhất, Công ty ban hành QĐ số S008-14/QĐ hoàn toàn trái pháp luật: Nội dung của quyết định có việc điều chuyển mà không hề báo trước và không có thỏa thuận với bà Thu là vi phạm Điều 31, Điều 158 Bộ luật Lao động 2012 Theo đó, bà Thu là lao động nữ được đảm bảo việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại Khoản 1 và khoản 3 Điều 157 Bộ luật lao động 2012, trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản Trong khi tại phần hỏi, đại diện Công ty đã khẳng định mức lương tại vị trí công việc mới này sẽ giảm so với mức lương bà Thu được hưởng trước khi nghỉ thai sản Hơn nữa, công việc theo Quyết định số 008-14/QĐ là công việc có tính chất độc hại mà lại giao cho người lao động
Trang 8đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là Công ty đã vi phạm Điều 160 Bộ luật Lao động và Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH Ban hành Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ Theo nhận thức thông thường, Sức khỏe là thứ không thể đánh đổi nên bà Thu không thể thử nghiệm đến Công ty làm việc để biết rằng công việc đó có độc thật hay không, khi mà theo nhận thức thông thường thì “kho rác” là vô cùng độc hại, ảnh hưởng sức khỏe
Thứ hai, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật là không phù hợp với trình tự thủ tục luật định: Biên bản họp xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 không có tham dự của bà Thu theo đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 Bộ luật lao động 2012, thực tế đến ngày 14/5/2016 khi tham dự cuộc họp để giải quyết tranh chấp bà Thu mới nhận được Theo trình bày của đại diện Công ty nêu đã gửi bằng bưu điện ba lần thông báo cho bà Thu đến tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động Tuy nhiên, các vận đơn mà Công ty cung cấp không thể hiện có kèm theo nội dung thông báo của Công ty gửi bà Thu là gì, có báo phát người nhận hay chưa (BL136) Hơn nữa, bà Thu
là Chủ tịch công đoàn, việc sa thải của Nguyên đơn mà không tuân thủ quy định Khoản 7 Điều
192 Bộ luật lao động năm 2012
Thứ ba, việc xử lý kỷ luật của Công ty không tuân thủ nguyên tắc xử lý kỷ luật theo quy định điểm d Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Lao động khi bà Thu là người lao động đang trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi
Vậy, từ những phân tích nêu trên cho thấy việc Công ty tiến hành xử lý kỷ luật vi phạm lao động, lập biên bản xử lý vi phạm bằng hình thức sa thải ngày 20/3/2016 đối với bà Thu là không có căn cứ và vi phạm các quy định hiện hành của Bộ luật Lao động 2012
3 Về thời gian yêu cầu hưởng lương trong thời gian không được làm việc:
Thời điểm bắt đầu bà Thu trở lại làm việc sau kỳ nghỉ thai sản là ngày 9/12/2015 nhưng
đã bị cản trở bởi hành vi trái pháp luật của Công ty YD, đồng thời, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Thu đã có đơn khởi kiện gửi Tòa án có thẩm quyền Vì vậy, việc bà Thu yêu cầu Công ty YD phải thanh toán tiền lương trong thời gian không được làm việc từ ngày 09/12/2015 đến ngày diễn ra phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp quy định tại Khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động 2012
4 Về trợ cấp thôi việc và bồi thường tiền lương:
Có thể thấy, mâu thuẫn giữa hai bên là không thể điều hòa, Nguyên đơn của chúng tôi cũng không có nhu cầu quay trở lại làm việc tại Công ty YD Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 42 Bộ luật lao động 2012 để tuyên Công ty YD phải trợ cấp thôi việc và bồi thường thiệt hại cho bà Thu
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Từ các tình tiết khách quan của vụ án, trên cơ sở đánh giá toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật, phía Nguyên đơn nhận thấy có đầy đủ căn cứ vững chắc để kính đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo hướng:
1) Việc xử lý kỷ luật với hình thức sa thải của Công ty YD đối với bà Thu là trái pháp luật;
2) Buộc Công ty YD:
- Thanh toán toàn bộ tiền lương, bảo hiểm trong thời gian bà Thu không được làm việc kể từ ngày 09/12/2015 đến khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật theo mức
Trang 9lương 20.393.000 đồng/tháng, tạm tính đến 09/5/2017 (17 tháng): 20.393.000 x 17 = 346.681.000 đồng; Mức lương này đã được các bên thống nhất tại Biên bản hòa giải ngày 02/8/2017 (BL132-134)
- Bồi thường 02 tháng tiền lương theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động
2012, số tiền 20.393.000 x 2 = 40.786.000 đồng;
- Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật từ thời điểm bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty YD 17/7/2006, số tiền 25.491.250 đồng;
- Buộc Công ty YD thực hiện ngay việc chốt sổ bảo hiểm xã hội đến hết thời điểm bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật; thực hiện trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Thu Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử và những người có mặt trong phiên tòa đã chú ý lắng nghe!
Trang 10PHẦN 3: NHẬN XÉT BUỔI DIỄN ÁN
1 Nhận xét chung:
- Quá trình tổ chức phiên tòa được diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, trình tự pháp luật Tổ diễn án có tác phong, sự chuẩn bị tốt Các đương sự tham gia đúng quy định, thực hiện theo đúng sự điều phối của thẩm phán chủ tọa phiên tòa
- Tổ diễn án chưa hiểu bản chất của phần tranh tụng, cả luật sư và hội đồng xét xử, luật sư lặp lại luận cứ quá nhiều lần, không đưa được các luận cứ mới, phản biện như đọc bài nhưng chủ tọa phiên tòa không có động thái điều phối phù hợp Trong khi “tranh tụng là khâu đột phá” thể hiện vai trò của luật sư nhưng tổ diễn án không làm tốt
- Các luật sư của Nguyên đơn trình bày câu hỏi lặp lại trong hồ sơ quá nhiều, không làm nổi bật được những mâu thuẫn những tình tiết chưa thống nhất
- Các Luật sư nguyên đơn còn quá bị động để cho thân chủ trả lời gần như hầu hết các câu hỏi trong phần hỏi đáp Không biết các bạn có chủ ý muốn khai thác tâm lý hội động xét
xử trước “sự yếu thế của người lao động” hay không, nhưng việc để người lao động – thân chủ trả lời “không biết”, “không quan tâm” quá nhiều có thể cho thấy sự yếu kém thể hiện vai trò của luật sư Chưa kể, ngay cả trong phần trả lời này, nếu tận dụng tốt, luật sư có thể cài cắm nhiều nội dung có lợi cho thân chủ
- Ở phần tranh luận, Luật sư nguyên đơn chuẩn bị bài sơ sài, đọc nhanh, không cảm xúc, không nhấn nhá, không tách bạch được các luận cứ Việc trình bày luận cứ thì có nhưng cách diễn đạt không làm nổi bật được Chưa khai thác được các luận cứ đặc biệt như người lao động là chủ tịch công đoàn, bản xác minh của bảo hiểm xã hội chốt sổ bảo hiểm với lý
do chấm dứt hợp đồng lao động
- Các luật sư Bị đơn mặc dù ở thế yếu về hồ sơ, và cái nhìn chung của pháp luật về lao động
là bảo vệ người lao động nhưng đã chuẩn bị hồ sơ khá tốt, căn cứ lặp luận rõ ràng, xác đáng bảo vệ được cho phía Công ty Luật sư bị đơn liên tục đưa ra các luận cứ tốt phản biện lại nguyên đơn (chi tiết bên dưới) Phần trình bày của luật sư bị đơn cũng rành mạch, đanh thép, có nhấn nhá, có cảm xúc
2 Nhận xét cụ thể từng vai diễn:
1 – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (TRẦN NAM HÙNG)
Ưu điểm:
- Ăn mặc chỉnh tề
- Giọng nói điềm đạm, dứt khoát
- Tác phong nghiêm chỉnh, cứng rắn
Hạn chế:
- Giọng nhỏ, hơi rụt rè
Ưu điểm:
- Nắm rõ trình thự, thủ tục điều khiển diễn biến phiên tòa
- Có các câu hỏi thể hiện nắm được hồ sơ, làm rõ được các vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án
- Chấn chỉnh, ngăn chặn đương sự chen ngang phần xét hỏi
Hạn chế: Trong phần tranh tụng, uật sư lặp lại luận cứ rất nhiều, làm mất thời gian phần tranh tụng nhưng không có động thái điều phối phù hợp