1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Slide chuyên đề tài CHÍNH HÀNH VI

75 2,5K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Hành Vi
Tác giả Nhóm 10
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Thùy Linh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Chuyên Đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 337,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:◦ Hành vi không hợp lý: Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý đúng những thông tin mà họ có và thị t

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ:

TÀI CHÍNH HÀNH VI

GVHD: PGS.TS TRẦN THỊ THÙY LINH

Thực hiện: Nhóm 10 – Lớp Ngày 2 – K21

Trang 2

 PHẦN I: LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ

 PHẦN II: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

 PHẦN III: CÁC BIỂU HIỆN CỦA TÀI CHÍNH HÀNH VI Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

NỘI DUNG

Trang 3

 Khái niệm thị trường hiệu quả:…

Trang 4

 Khái quát lý thuyết:

Nền tảng của lý thuyết tài chính hành vi:

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 5

Khái niệm và Mục tiêu của tài chính hành vi

Lý thuyết tài chính hành vi là một phần của

môn tài chính nhằm tìm ra cách hiểu và dự đoán được các dấu hiệu của hệ thống thị trường tài chính các quyết định tâm lý Tài chính hành vi gần như bao gồm cả hành vi con người và hiện tượng thị trường và sử dụng các kiến thức có được từ ngành tâm lý học và lý thuyết tài chính (Fromlet, 2001).

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 6

Mục tiêu của Tài chính hành vi:

◦ Giải thích các mô hình lý luận của nhà đầu tư, bao gồm quá trình diễn biến cảm xúc và mức độ ảnh hưởng của chúng đến quyết định đầu tư.

◦ Nỗ lực giải thích ba câu hỏi cái gì, tại sao, như thế nào trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư.

◦ Nghiên cứu thị trường tài chính nhằm giải thích những hiện tượng bất thường của thị trường.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 7

Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:

giá trên thị trường tài chính

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 8

Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:

Hành vi không hợp lý: Các nhà đầu tư sẽ có

hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và

xử lý đúng những thông tin mà họ có và thị trường cung cấp, từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 9

 Có một số dạng lệch lạc trong nhận thức tiêu biểu trong thị trường chứng khoán như sau:

 Tự tin thái quá (overconfidence):…

 Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán:…

Trang 10

Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:

o Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống: Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng lên giá CP trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình)

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 11

 Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính

hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu

tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì việc định giá sai sẽ xuất hiện và

có thể bắt đầu kéo dài.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 12

 Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, nó tạo thành “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng Như vây, hiệu ứng bầy đàn sẽ không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn

là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành

vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 13

 Là hiện tượng các nhà đầu tư đi theo hoặc

bị tác động bởi hành động của số đông có thể là hợp lý hoặc bất hợp lý Tin tưởng rằng nếu có rất nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó chắc chắn đúng.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 14

 Bình thường, nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, vậy mà cũng có lúc họ lại bị áp đảo bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu

tư khác hành động theo một cách thức phổ biến nào đó Sự sợ hãi bị “bỏ rơi” hay thất bại khi bạn

bè, người thân, hàng xóm của họ có thể kiếm tiền một cách nhanh chóng, đã đưa đến sức mạnh áp đảo của đám đông

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 15

 Hiệu ứng bầy đàn thể hiện tương đối rõ nét nhất là ở trong giai đoạn đầu thị trường mới thành lập biểu hiện qua giá của đa số các cổ phiếu đều lên hoặc đều xuống, sự biến động này không phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu do yếu tố tâm lý nhà đầu tư.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 16

Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:

 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính: Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 17

 Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai?

◦ Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có 2 dạng:

 Định giá sai thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được

 Định giá sai không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 18

 Barberis và Thales (2003) chỉ ra rằng: “Kinh doanh chênh lệch giá không thể xảy ra vì có những tài sản về lý thuyết là có tính thay thế lẫn nhau hoàn hảo và có thể kinh doanh chênh lệch giá 2 tài sản đó, nhưng thực tế thì không như vậy, do đó tạo ra rủi ro tăng thêm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (vốn được xem là rủi ro thấp đến mức phi rủi ro) Ngoài ra, chi phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà đầu tư không hợp lý (gọi là noise trading) cũng ngăn cản điều này”.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 19

Những nguyên lý cơ bản và lý thuyết của tài chính hành vi:

◦ Phụ thuộc vào kinh nghiệm:…

◦ Lý thuyết tâm lý đám đông:…

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 20

Cấu trúc của tài chính hành vi:

Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá:

Định nghĩa: Kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) nói một cách đơn giản là nếu có hai thứ giống nhau nhưng giá cả khác nhau thì người ta sẽ mua thứ nào rẻ để bán lại với giá đắt và kiếm lợi nhuận Hay nói cách khác, kinh doanh chêch lệch là việc tìm kiếm lợi nhuận từ tình trạng mất cân bằng giữa hai hoặc nhiều hơn hai thị trường và lợi nhuận kiếm được đó là lợi nhuận phi rủi ro

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 21

Hạn chế của chênh lệch giá:

Sự hoài nghi về thị trường hiệu quả:

 Trong mô hình truyền thống, giả định tất cả những người tham gia thị trường đều hợp lý

và không có mâu thuẫn, giá của một chứng khoán sẽ bằng với “giá trị cơ bản” của nó.

 Giả thuyết cho rằng giá thị trường phản ánh chính xác giá trị cơ bản của chứng khoán được gọi là giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH).

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 22

 Theo giả thuyết EMH, “giá cả luôn luôn đúng”

và nó được tạo lập bởi những người tham gia thị trường hiểu và thi hành đúng luật Bayes.

 Trong một thị trường hiệu quả, “không có sự cho không nào cả”: không có một chiến lược đầu tư nào có thể kiếm được lợi nhuận vượt quá lợi nhuận bình quân có tính đến rủi ro, hay một lợi nhuận bình quân cao hơn cho những gì

bù đắp rủi ro.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 23

 Tài chính hành vi cho rằng trong thực tế có một sự chênh lệch thường xuyên giữa giá thị trường và giá cơ bản, và sự chênh lệch đó là

do sự hiện diện của những nhà đầu tư không hoàn toàn hợp lý.

 Friedman (1953): những nhà đầu tư hợp lý sẽ nhanh chóng điều chỉnh lại sự chênh lệch do những nhà đầu tư không hoàn toàn hợp lý gây ra.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 24

 Để minh họa cho lập luận này, giả sử giá trị cơ bản của một cổ phần (giá cổ phếu) của Ford là

20 $ Hãy tưởng tượng rằng có một nhóm các nhà đầu tư không hợp lý trở nên quá bi quan

về triển vọng tương lai của Ford và họ đã thể hiện sự bi quan này lên thị trường bằng cách bán ra các cổ phiếu của Ford làm giá thị trường của Ford cổ phiếu giảm xuống còn 15$.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 25

 Những người bảo vệ của mô hình truyền thống Thị trường hiệu quả (EMH) lập luận rằng những nhà đầu tư hợp lý sẽ cảm nhận một cơ hội hấp dẫn, sẽ mua chứng khoán Ford

ở mức giá cực hạ của nó và vào lúc này, họ sẽ bán khống một chứng khoán “thay thế”, chẳng hạn như General Motors Sau đó, áp lực mua vào cổ phiếu Ford sẽ khiến giá cổ phiếu của

họ trở về giá trị cơ bản.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 26

 Những lý luận của Friedman ban đầu rất thuyết phục ban đầu, về bản chất, nó được dựa trên hai giả định:

 Đầu tiên, ngay khi có sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá trị cơ bản trong ngắn hạn - một cơ hội đầu tư hấp dẫn sẽ được tạo ra.

 Thứ hai, những nhà đầu tư hợp lý ngay lập tức sẽ nhìn thấy cơ hội, qua đó sẽ tiến hành

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 27

 Tài chính hành vi không đồng tình với giả định thứ hai trong lý luận này: khi có những

cơ hội đầu tư hấp dẫn xuất hiện, nó khó có thể tin rằng nhà đầu tư không phải nhanh chóng khai thác

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 28

 Thêm vào đó, vẫn còn nhiều tranh cãi đối với giả định đầu tiên Theo những luận điểm mà chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở những phần sau, thì thậm chí khi một tài sản bị định giá sai với một mức chênh lệch lớn, những chiến lược được lập ra để điều chỉnh sự chênh lệch này có thể sẽ rất rủi ro, tốn nhiều chi phí và điều này sẽ làm cho “cơ hội” này không còn hấp dẫn nữa Kết quả là, sự chênh lệch giá cả này có thể sẽ không thay đổi.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 29

 Một kết quả tất yếu cho kiểu suy nghĩ này là việc hình thành hai mệnh đề “giá cả luôn luôn đúng” và “không có sự cho không nào cả”, hai mệnh đề này không tương đương với nhau Trong khi cả hai đều đúng trong một thị trường hiệu quả, “không có sự cho không nào cả” có thể là sự thật trong một thị trường không hiệu quả: khi giá cả vượt quá giá trị cơ bản, chưa chắc sẽ xuất hiện cơ hội tìm kiếm lợi nhuận không rủi ro

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 30

Các rủi ro khi đầu tư chênh lệch giá:

Rủi ro cơ bản - Fundamental Risk: Rủi ro dễ nhận

thấy nhất của một nhà kinh doanh chênh lệch giá khi anh ta mua một cổ phiếu của Ford trị giá 15$ là một thông tin xấu về giá trị cơ bản của Ford có thể làm giảm giá cổ phiếu và dẫn đến thua lỗ Dĩ nhiên những nhà kinh doanh chênh lệch giá cũng nhận thức được rủi ro này và họ chọn cách đầu tư vào các cổ phiếu thay thế như General Motors (GM) tại cùng thời điểm

họ mua vào cổ phiếu của Ford  chứng khoán thay thế hiếm khi hoàn hảo  các chứng khoán thay thế khó có

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 31

Các rủi ro khi đầu tư chênh lệch giá:

Rủi ro từ những nhà đầu tư “không hợp lý” - Noise trader risk: sự định giá thấp đang được tận dụng bởi

những nhà kinh doanh chênh lệch giá sẽ trở nên thấp hơn nữa trong ngắn hạn Ngay cả khi General Motors (GM) là một sự thay thế hoàn hảo cho Ford, những nhà kinh doanh chênh lệch giá vẫn phải đối mặt với rủi ro

mà những nhà đầu tư bi quan gây ra cho cổ phiếu Ford vốn đã đang bị định giá thấp, thậm chí bi quan hơn và làm cho giá cổ phiếu của Ford giảm sâu hơn nữa

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 32

 Rủi ro từ những nhà đầu tư “không hợp lý” là khá quan trọng vì nó có thể ngăn cản những người kinh doanh chênh lệch giá thanh toán vị thế của mình sớm, mang lại cho họ những khoản lỗ tiềm tàng khá lớn Hầu hết những nhà kinh doanh chênh lệch trên thị trường thật – những người chuyên nghiệp – thường không kinh doanh bằng tiền của chính họ mà kinh doanh bằng tiền của người khác.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 33

 Vấn đề đại diện này có những hệ quả quan trọng Những người đưa vốn của mình cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp “kinh doanh dùm” có thể là những người thiếu kiến thức chuyên môn để có thể xác định được chiến lược của những nhà kinh doanh chênh lệch giá, họ có thể dễ dàng đánh giá hiệu quả đầu

tư một cách rất đơn giản là dựa vào lợi nhuận

mà những nhà kinh doanh chênh lệch giá có

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 34

 Nếu một sự định giá nhầm đang được các nhà kinh doanh chênh lệch giá tận dụng trở nên tồi tệ hơn trong ngắn hạn, dẫn đến lợi nhuận âm, những người đầu tư có thể nhận định rằng những nhà quản lý này

là bất tài và quyết định rút vốn của họ ra

 Nếu điều này xảy ra nhà kinh doanh chênh lệch giá

sẽ đối mặt với việc phải thanh toán vị thế sớm để trả tiền lại cho khách hàng và chấp nhận chịu lỗ Nỗi sợ hãi về việc thanh toán sớm vị thế sẽ làm cho họ dè dặt hơn trong việc việc tận dụng sự định giá nhầm ngay lần đầu tiên, điều này sẽ làm cho “tính hiệu

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 35

Các rủi ro khi đầu tư chênh lệch giá:

Các chi phí thực hiện – Implementation costs: tiền

hoa hồng, chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán, tất cả những điều này có thể làm cho chênh lệch giá trở nên kém hấp dẫn Vì việc đầu cơ là cần thiết cho vấn

đề kinh doanh chênh lệch giá, điều này sẽ làm cho các chi phí giao dịch càng trở nên quan trọng hơn, chính các chi phí này sẽ làm cho việc thiết lập các vị thế ngắn hạn trở nên kém hấp dẫn hơn so với các vị thế dài hạn

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 36

 Một trong những loại phí bắt buộc là phí phải trả cho việc mượn chứng khoán để bán khống, thông thường chi phí cho việc này là tương đối nhỏ, nhưng trong một vài trường hợp cá biệt nó có thể sẽ lơn hơn rất nhiều lần.

 Ngoài các yếu tố về phí, còn có các yếu tố bắt buộc về luật pháp, một tỷ lệ lớn những nhà quản lý tiền tệ như là những quỹ hưu bổng, những quỹ tương hổ chẳng hạn, không được phép thực hiện nghiệp vụ bán khống.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 37

Những bằng chứng thực nghiệm:

◦ Cổ phiếu sinh đôi - “Twin shares”: Năm 1907, công ty vận tải Royal Dutch và Shell, vào thời điểm đó là công ty độc lập, đồng ý hợp nhất theo tỷ lệ 60:40 trong khi vẫn là những thực thể riêng Cổ phần của Royal Dutch, được giao dịch lần đầu ở Mỹ và Hà Lan, giá trị giao dịch lên đến 60% tổng dòng tiền của 2 công ty, trong khi Shell được giao dịch lần đầu ở Anh, có giá trị giao dịch chiếm 40%.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 38

 Nếu giá bằng với giá trị nội tại, giá trị tài sản theo giá thị trường của Royal Dutch luôn luôn bằng 1,5 lần giá trị tài sản theo giá thị trường của Shell.

 Froot và Daroba’s: tỷ số giá trị tài sản của Royal Dutch trên tài sản của Shell theo quan điểm chuẩn của thị trường hiệu quả sẽ là 1,5.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 40

 Hình bên trên cung cấp cho chúng ta những chứng cứ mạnh mẽ về sự không hiệu quả kéo dài, và những sự chênh lệch này không nhỏ chút nào Royal Dutch thỉnh thoảng ở dưới giá cân bằng khoảng 35%, khi thì vượt trên 15%.

 Chứng cứ về sự định giá sai này cũng đồng thời là chứng cứ về sự kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn.

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Trang 41

 Nếu những người kinh doanh chênh lệch muốn tận dụng hiện tượng định giá sai này, anh ấy sẽ mua vào một cổ phiếu liên quan bị đánh giá thấp và bán khống cái còn lại Bây giờ chúng ta sẽ đi làm một công việc: “loại bỏ bớt những rủi ro có thể loại bỏ” Khi một cổ phiếu là một sự thay thế hoàn hảo cho một cái khác, rủi ro cơ bản đã được phòng ngừa tốt, tin tức về những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hai cổ phiếu là tương tự nhau, và giúp nhà kinh doanh chênh lệch tránh được các rủi ro cơ bản.

 Ta cũng có thể xem như không có bất cứ chi phí thi hành nào lớn để kể, như vậy việc đầu cơ cổ phần của

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI

Ngày đăng: 07/01/2014, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w