Một trong những thành công lớn nhất của tài chính hành vi là tập hợp những luận điểm mang tính học thuật chỉ ra rằng trong một nền kinh tế, nơi mà những nhà đầu tư duy lý và nhà đầu tư c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN
BỘ MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
***************************
CHUYÊN ĐỀ
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
Nhóm thực hiện: Nhóm 5 Lớp: VB7BKT01 GVHD: Ths Trương Minh Tuấn
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2015
Trang 2Mục lục
1 Định nghĩa tài chính hành vi 3
2 Ba trụ cột của tài chính hành vi 3
2.1 Trụ cột 1: Nhà đầu tư khôn ngoan 3
2.2 Trụ cột 2: Các sai lệch không tương quan 4
2.3 Trụ cột 3: Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn 4
3 Ba điều kiện tồn tại của tài chính hành vi 5
3.1 Hành vi không hợp lý 5
3.2 Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống 5
3.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính5 4 Vận dụng lý thuyết tài chính hành vi trong quyết định đầu tư 6
4.1 Lý thuyết kỳ vọng 7
4.2 Sự không yêu thích rủi ro 7
4.3 Tính toán bất hợp lý 7
4.4 Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan 8
4.5 Lệch lạc do tình huống điển hình 9
4.6 Tính bảo thủ 9
4.7 Phụ thuộc vào kinh nghiệm 10
4.8 Định nghĩa hẹp 10
4.9 Lý thuyết tâm lý đám đông 10
Ví dụ: Phân tích thị trường Việt Nam từ góc nhìn của tài chính hành vi Sai lệch về niềm tin của nhà đầu tư, ảnh hưởng tâm lý bầy đàn 11
Danh sách tài liệu tham khảo 14
DANH SÁCH NHÓM 14
Trang 3NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
1 Định nghĩa tài chính hành vi
Lý thuyết tài chính chính thống đã lý giải thị trường tài chính bằng cách
sử dụng mẫu hình trong đó những người tham gia thị trường là những cá nhân duy lý
Đầu tiên, khi những người này nhận được thông tin mới, họ cập nhật niềm tin một cách chính xác Sau đó, dựa trên những niềm tin đã được cập nhật, họ đưa ra những lựa chọn để tối đa hoá các lý thuyết hữu dụng kỳ vọng
Truyền thống này xem ra có vẻ giản đơn và sẽ được thỏa mãn nếu dự đoán của nó đã được xác nhận trong thực tế Sau nhiều năm nghiên cứu cho thấy rõ ràng là những thực tế căn bản về tổng thể thị trường chứng khoán, thu nhập trung bình và hành vi mua bán cá nhân không dễ dàng để hiểu theo lý thuyết của lý thuyết chính thống
Tài chính hành vi là một cách tiếp cận thị trường tài chính theo cách mới: Giải thích các mô hình lý luận của nhà đầu tư với những diễn biến cảm xúc và mức độ ảnh hưởng của chúng lên các quyết định đầu tư và được xem như là một cách giải quyết cho những khó khăn mà thị trường tài chính chính thống đang gặp phải
Lý thuyết này cho rằng một vài hiện tượng tài chính có thể được hiểu tốt hơn khi dùng những mẫu trong đó những nhà đầu tư không duy lý hoàn toàn Đặc biệt hơn, lý thuyết tài chính hành vi còn phân tích điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta nới lỏng một hoặc cả hai trụ cột làm cơ sở cho sự duy lý cá nhân
Trong một vài mô hình tài chính hành vi, những người tham gia thị trường đã thất bại trong việc cập nhật những niềm tin của họ một cách chính xác Trong những trường hợp khác, những người này áp dụng luật Bayes (tính xác suất xảy ra của một sự kiện ngẫu nhiên A khi biết được sự kiện liên quan
B đã xảy ra) một cách đúng đắn nhưng dường như họ đã có những lựa chọn theo những tiêu chuẩn đáng nghi ngờ
Một trong những thành công lớn nhất của tài chính hành vi là tập hợp những luận điểm mang tính học thuật chỉ ra rằng trong một nền kinh tế, nơi
mà những nhà đầu tư duy lý và nhà đầu tư cảm tính ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, sự bất hợp lý có thể có ảnh hưởng quan trọng và lâu dài đến giá cả
2 Ba trụ cột của tài chính hành vi
2.1 Trụ cột 1: Nhà đầu tư khôn ngoan
Rất khó để có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ nhất về nhà đầu tư khôn ngoan hay nhà đầu tư duy lý Nhưng ta có thể hiểu nhà đầu tư khôn ngoan là những nhà đầu tư đánh giá chính xác giá trị cơ bản của chứng khoán và họ
Trang 4cũng phản ứng hay xử lý một các đúng đắn với tất cả thông tin Họ là “những con người hoàn hảo”
Bằng những thuật toán, những công cụ như mô hình CAPM(1), mô hình kinh doanh chệnh lệch giá (APT(2)), mô hình danh mục đầu tư của Markowitz(3),… để đánh giá giá trị cơ bản của tài sản, đưa nó về giá trị cơ bản nếu có việc định giá sai xảy ra
Nhưng thực tế, không phải ai cũng hoàn hảo như vậy, có những nhà đầu tư phản ứng bất thường trên thị trường và lý thuyết thị trường hiệu quả giả thiết rằng họ phản ứng không có tương quan hay mối liên hệ nào
2.2 Trụ cột 2: Các sai lệch không tương quan
Một vài nhà đầu tư có thể có các hành vi bất thường (còn được gọi là nhà đầu tư bất thường – irrational investors hay “nhà giao dịch gây nhiễu” – noise traders), tuy nhiên nếu những hoạt động đầu tư này chỉ mang tính ngẫu nhiên, tự phát (the random fashion) và không tương quan với nhau (uncorrelated) Thì liền sau đó giao dịch của họ sẽ bị loại trừ bởi các nhà đầu
tư khôn ngoan (rational investors) và kết quả hoạt động của họ không ảnh hưởng đến giá Tính logic đằng sau giả định này là hoạt động giao dịch của nhà đầu tư có tương quan kém với những người khác
Nếu hành vi của con người là ngẫu nhiên sẽ không có lo ngại về tính hiệu quả của thị trường, bởi vì giao dịch của họ có thể bị loại trừ Sẽ không gây ra một ảnh hưởng đáng kể nào đến giá
Các nhà tâm lý học bằng thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư bất thường với phán đoán sai thường có xu hướng chung – nghĩa là người ta thường đi chệch khỏi sự kỳ vọng của mình theo cùng một phương thức tương
tự nhau
Hành vi bất thường của họ có tính tương quan nhau thì nó có thể đẩy giá xa hơn nữa so với giá trị cơ bản
2.3 Trụ cột 3: Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn
Nếu các nhà đầu tư bất thường có hành vi phi lý, các hoạt động này lại
có tương quan cao với nhau Thì theo lý thuyết thị trường hiệu quả, các nhà đầu tư khôn ngoan nhìn thấy được việc định giá sai này, họ sẽ dùng nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage10), với giả thiết không bị giới hạn kinh doanh chênh lệch giá, để điều chỉnh việc định giá sai và xóa bỏ hành động bất thường của nhà đầu tư Từ đó, họ vừa tìm được lợi nhuận vừa đưa giá chứng khoán bị định giá sai về trạng thái giá trị thực ban đầu Bằng cách mua chứng khoán rẻ và bán chứng khoán mắc Kết quả là thị trường vẫn giữ nguyên tính hiệu quả
Thị trường hiệu quả cho rằng việc kinh doanh chênh lệch giá nó sẽ không tốn chi phí và gánh chịu rủi ro
Trang 53 Ba điều kiện tồn tại của tài chính hành vi
3.1 Hành vi không hợp lý
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và
xử lý “đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào Ngoài
ra, trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức”
Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức (cognitivepsychology) với trường phái tâm lý hành vi (behavioral psychology)
3.2 Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của giao dịch của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình) Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có bắt đầu kéo dài
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị“thực” (hay “hợp lý”) của chúng
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy
3.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng
Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai? Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có 2 dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại)
Trang 6Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật mang”, mà điển hình là bài học nổi tiếng của TCM kinh doanh chênh lệch giá của oyal Dutch và Shell và bị thua lỗ, nhưng ngay sau khi họ thua lỗ không bao lâu thì giá 2 cổ phiếu này điều chỉnh lại đúng như dự đoán của họ Đây là ví dụ cho thấy thực tế định giá sai có hể kéo dài rất lâu, và kiểu nhà đầu tư hợp lý như LTCM (được quản lý bởi hững người đoạt giải Nobel và rất hành công trong 4 năm trước thương vụ này) tham gia sửa chữa sai lầm nàythì sẽ thất bại
Barberis và Thaler (2003) chỉ ra rằng kinh doanh chênh lệch giá không
hể xảy ra vì có những tài sản về lý huyết là có tính thay thế lẫn nhau hoàn hảo
và có thể kinh doanh chênh lệch giá hai tài sản đó, nhưng thực tế thì không như vậy, do đó tạo ra rủi ro tăng thêm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (vốn được xem là rủi ro hấp đến mức phi rủi ro)
Ngoài ra, chi phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà đầu tư không hợp lý (gọi là noise trading) cũng ngăn cản điều này
Chính vì vậy, chúng ta đã từng thấy trong lịch sử nhiều vụ bong bóng giá ở Nhật (thập niên 1980), Đài Loan (1990), cổ phiếu công nghệ, truyền thông của Mỹ (1999 – 2000), rồi gần đây là chứng khoán Trung Quốc và VN cũng bị xem là “quá nóng”
Tuy nhiên, rõ ràng không hề có những điều chỉnh tức thời như người ta
kỳ vọng, mà những vụ bong bóng này kéo dài nhiều năm (nhất là ở các nước châu Á đang phát triển) Đây là dấu hiệu của giới hạn khả năng kinh doanh
chênh lệch giá
4 Vận dụng lý thuyết tài chính hành vi trong quyết định đầu tư
Một khi trong thị trường hội đủ ba yếu tố kể trên (hành vi bất hợp lý của nhà đầu tư, hiệu ứng bất hợp lý mang tính hệ thống, và giới hạn kinh doanh chênh lệch giá ), thì đó là lúc hiện tượng giá cổ phiếu (hay rộng ra là tài sản tài chính) bị định giá sai sẽ đáng kể và kéo dài Khi đó các lý thuyết tài chính truyền thống bị giảm hiệu quả, và lý thuyết tài chính hành vi là một bổ sung giá trị
Lý thuyết tài chính hành vi nhìn chung không phải là một trường phái tách biệt hay đối chọi lại trường phái tài chính chính thống ( mặc dù thường bị các nhà nghiên cứu thuộc trường phái thị trường hiệu quả, dẫn đầu là Fama đả kích )
Lý thuyết này còn ở dạnh khá sơ khai , còn tồn tại nhiều vấn đề gây tranh cãi ( chưa có những cơ sở và nguyên lý vững chắc như lý thuyết chính thống hiện đại như rủi ro - tỉ suất sinh lợi, thị trường hiệu quả, kinh doanh chênh lệch giá), và là một sự bổ sung hơn là tách biệt khỏi lý thuyết tài chính chính thống
Trang 7Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá (bao gồm định giá chứng khoán) sản phẩm phái sinh,…), cho đến ứng dụng trong lý thuyết quản trị công ty (corporate governance) hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau
4.1 Lý thuyết kỳ vọng
Nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn bởi họ cho rằng, cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương lai
Nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vì những thông tin có triển vọng do thị trường cung cấp và sẽ nhanh chóng bán cổ phiếu đó khi giá cổ phiếu tăng Bởi
vì họ tin rằng giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin này Khi cảm thấy đã đạt được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận
4.2 Sự không yêu thích rủi ro
Tính không cân xứng trong tâm lý rõ ràng giữa những giá trị mà con người kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ, được gọi là sự ghét rủi ro Những bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng thua lỗ thì được cân nặng gấp nhiều lần
so với lợi nhuận Điều này có thể diễn tả như là khái niệm mà mọi người có xu hướng đánh cược trong việc mất mát, chẳng hạn, nhà đầu tư có xu hướng giữ
ở vị thế lỗ với hy vọng rằng giá cuối cùng sẽ phục hồi
Không yêu thích rủi ro có thể giải thích rằng xu hướng của nhà đầu tư giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán lời quá sớm
4.3 Tính toán bất hợp lý
Nhà đầu tư có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta và tối đa hoá lợi ích từng tài khoản Và vì thế, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra là sai lầm
Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích nhiều hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ (loss aversion), và hiệu ứng phân bổ tài khoản khá phổ biến, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang
Trang 8lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ
Nhà đầu tư luôn cố gắng tối đa hoá tài khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì cứ giữ Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng hiệu ứng tự lừa dối hay sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân ra quyết định đầu tư kém, hay hiệu ứng tiếc nuối tức là lỡ bán rồi mà giá lên thì sao Hiệu ứng phân bổ tài khoản
lý giải một phần vì sao trong thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá ở các thị trường lớn
Ví dụ, khi mua cổ phiếu giá 30.000, sau đó giá giảm xuống 22.000 người ta vẫn không bán cổ phiếu (thậm chí còn mua tiếp), và chờ đến khi giá lên trên 30.000 một chút tâm lý đã được đề cập và đưa vào một số mô hình tài chính hành vi
4.4 Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan.
Nhà đầu tư thường xem bản thân họ tốt hơn những nhà đầu tư khác, đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác đánh giá, và họ thường phóng đại những hiểu biết của mình Những nhà đầu tư quá tự tin đã được chứng minh rằng, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác
Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư Nhà đầu tư quá tự tin cho rằng, hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận Những nhà đầu tư quá tự tin nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn, rủi ro càng cao và họ rất ít đa dạng hóa đầu tư và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà cho là mình đã quen thuộc
Bằng chứng gần đây nhất là việc nhiều nhà đầu tư ít đa dạng hóa danh mục của mình và đầu tư nhiều vào những công ty mà mình quen thuộc (một số nghiên cứu tranh cãi rằng có thể vì họ có thông tin nội bộ về những công ty
đó, nhưng những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực quản trị công ty đã bác bỏ luận cứ này)
Như vậy, một cách giải thích khả dĩ là các nhà đầu tư ít đa dạng hóa này
tự tin quá mức vào tầm hiểu biết của mình đối với công ty
4.5 Lệch lạc do tình huống điển hình
Thường được diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn Ví dụ khi giá cổ phiếu bắt đầu tăng liên tục 3,4
Trang 9năm hoặc dài hơi hơn (như trường hợp của Mỹ và Tây Âu từ 1982 đến 2000, hay Trung Quốc trong 10 năm trở lại đây, và có lẽ cũng có cả VN chúng ta nữa), trong đầu nhiều người bắt đầu suy nghĩ rằng lợi nhuận cao từ cổ phiếu
là việc “bình thường” Nếu trở lại giai đoạn 2001, 2002 của thị trường VN khi giá chứng khoán đi xuống, chắc hẳn những ai kinh doanh cổ phiếu niêm yết (không tính cổ phiếu OTC) trong giai đoạn này sẽ thấy sự khác biệt, một mức lợi nhuận 30 – 50% thời điểm ấy là không bình thường, song trong 1,2 năm gần đây là quá “bình thường”
Tversky và Kahneman (1974) đưa ra một định nghĩa hàn lâm hơn cho tình huống này là người ta đánh giá xác suất xảy ra của những sự kiện trong tương lai dựa vào mức độ “tương tự” với một tình huống điển hình nào đó Điểm quan trọng là người ta thường chỉ quan tâm đến một tình huống điển hình của một giai đoạn ngắn thay vì quan tâm đến một mẫu hình điển hình trong một giai đoạn dài (điều này gọi là luật số quan sát nhỏ, “law of small numbers”)
Chẳng hạn cho rằng điều kiện hiện nay của nền kinh tế VN “tương đồng” với giai đoạn này trong năm 2006 nhiều hơn là giống với năm 2001 thì đương nhiên sẽ cho rằng xác suất giá cổ phiếu còn lên nữa là cao hơn xác suất giá cổ phiếu sẽ giảm Nhưng nếu nhìn cho một giai đoạn 2000-2006, người ta
sẽ thấy thị trường lúc lên, lúc xuống, không phải lên mãi không ngừng, thì sẽ
có đánh giá khác về xác suất tăng, giảm
4.6 Tính bảo thủ
Khi điều kiện kinh tế vĩ mô hay vi mô thay đổi người ta có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài hạn trước đó Tức là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng kinh tế kém đi chỉ là tạm thời, dài hạn vẫn là đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó phát đi tín hiệu một chu kỳ suy thoái nhiều năm
đã bắt đầu Tuy nhiên, khi tình hình vẫn chưa cho thấy sự cải thiện sau một khoảng thời gian thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu Kết quả, lại dẫn đến phản ứng thái quá
Ví dụ, khi ban đầu tin tức công bố của một công ty cho thấy lợi nhuận giảm, người ta vẫn tin rằng đây chỉ làm giảm tạm thời, và phản ứng chậm với thông tin này, nên giá cổ phiếu công ty có tin xấu vẫn giảm chậm Đến khi liên tục vài quí sau, tình hình vẫn xấu, thì người ta đã “phát hiện” ra một tình huống điển hình mới: công ty này quí trước cũng kinh doanh kém, quí này cũng kinh doanh kém, vậy nên bán tống cổ phiếu công ty này đi tránh lỗ Thế
là mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu Kết quả, lại dẫn đến phản ứng thái quá
4.7 Phụ thuộc vào kinh nghiệm
Các kinh nghiệm, hay qui tắc học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều (chính các trường dạy về kinh tế về
Trang 10mặt nào đó cũng chỉ ra một số các qui tắc quyết định cho một số trường hợp kia mà) Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào các qui tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi Và đặc biệt là người ta thường đề cao hiệu quả của những qui tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng mà Tversky và Kahneman (1979) gọi là hiệu ứng qui tắc có sẵn (availability heuristic) Shiller (2000) đã đưa ra một ví dụ là khi nhiều người đều dùng Internet thì họ dễ dàng nghĩ đến những điển hình thành công và những đổi mới hấp dẫn đang diễn ra trên mạng, thế là họ nghĩ ngành kinh doanh này sẽ thành công, rốt cuộc đã dẫn đến vụ bùng nổ giá cổ phiếu các công ty công nghệ cao, dot.com vào cuối những năm 1990 Một ví dụ khác gây bất ngờ là của Benartzi và Thaler (2001) khi họ ghi nhận qua thí nghiệm cho một số người N lựa chọn cho việc đầu tư tiền tiết kiệm, nhiều người nhanh chóng áp dụng qui tắc 1/N (đa dạng hóa đầu tư kiểu đơn giản nhất, đầu tư 1/N
số tiền vào mỗi loại hình đầu tư), trong khi nếu phân tích kỹ, họ sẽ đầu tư theo những qui tắc khác (như chia phần nào vào cổ phiếu, phần nào vào chứng khoán thu nhập cố định, và tùy vào điều kiện thị trường v.v.)
Lý thuyết này giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử một cách vô ý thức
4.8 Định nghĩa hẹp
Cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp
ấy, thay vì cho toàn cục
Phương pháp này có thể hữu ích trong một số trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay không đủ thời gian phân tích nhiều Tuy nhiên, nó cũng có thể đưa đến sai lầm
4.9 Lý thuyết tâm lý đám đông
Một quan sát cơ bản về xã hội con người cho thấy con người có mối liên hệ giao tiếp với người khác có cùng suy nghĩ Điều này khá quan trọng để hiểu nguồn gốc của sự suy nghĩ tương tự nhau dưới tác động của các mối quan
hệ giao tiếp, dẫn đến những hành động giống nhau trong cùng một khoảng thời gian và làm thay đổi giá cả các tài sản
Ảnh hưởng xã hội có một tác động rất lớn lên phán đoán cá nhân Khi phải đối mặt với một tình huống mà nhà đầu tư cho rằng quyết định trở nên không chắc chắn thì ảnh hưởng hành vi và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân cảm thấy chắc chắn hơn
Tuy nhiên, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư, không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không Và lý thuyết ảnh hưởng tâm lý đám đông này càng rõ nét khi nhà đầu
tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần