Tài chính hành vi là một phần của tài chính, nghiên cứu để hiểu và giải thích những biểu hiện mang tính tâm lý của con người trên thị trường tài chính, sử dụng những kiến thức thuộc phạm
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I:
LUẬN ĐIỂM RA ĐỜI CỦA LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
I Sự cần thiết của lý thuyết tài chính hành vi ……….4
II Lý thuyết thị trường hiệu quả (The efficient market hypothesis) làm nảy sinh lý thuyết tài chính hành vi (behaviour finance)………4
III Khái niệm tài chính hành vi………5
CHƯƠNG II: BA LUẬN CỨ VỀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI I Hành vi không hợp lý……….7
1 Lý thuyết triển vọng (prospect theory)………7
2 Sự trải nghiệm hay thuật toán (Heuristics) và xu hướng lệch lạc (Bias)………….8
3 Tâm lý con người (Psychological Human)……… 9
II Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống………10
III.Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính………11
CHƯƠNG III: CÁC BIỂU HIỆN TÀI CHÍNH HÀNH VI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN I Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam………11
1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán………11
2 Tổng quan về thị trường chứng khoán……… 12
3 Chức năng của thị trường chứng khoán……….12
II Các biểu hiện của tài chính hành vi trên thị trường chứng khoán……… 13
CHƯƠNG IV: ỨNG DỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÀI CHÍNH HÀNH VI TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP I Ứng dụng lý thuyết tài chính hành vi………16
II Ảnh hưởng của tài chính hành vi trong quản trị doanh nghiệp……….17
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 18
Trang 3NHẬN XÉT
Trang 4
CHƯƠNG I LUẬN ĐIỂM RA ĐỜI CỦA LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
I Sự cần thiết của lý thuyết tài chính hành vi
Trong vài thập niên gần đây, một khái niệm tài chính mới được nhắc đến nhiều và rất gần gũi với các nhà kinh tế Đó là Lý thuyết về tài chính hành vi (Behavioral finance theory) Ngày nay, việc ứng dụng và nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi trở thành khá phổ biến và còn giúp nhiều nhà đầu tư cải thiện đáng kể chiến lược đầu tư của mình
Tài chính hành vi là một phần của tài chính, nghiên cứu để hiểu và giải thích những biểu hiện mang tính tâm lý của con người trên thị trường tài chính, sử dụng những kiến thức thuộc phạm trù tâm lý học, xã hội học và tài chính học để lý giải những hành vi bất thường của nhà đầu tư
mà chưa được lý giải trong nền tảng của lý thuyết truyền thống
Nghiên cứu tài chính hành vi là nghiên cứu ảnh hưởng tâm lý của nhà đầu tư và những hệ quả theo sau lên thị trường tài chính Tài chính hành vi đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải thích tại sao và làm thế nào thị trường có thể không hiệu quả
II Lý thuyết thị tr ư ờng hiệu quả (The efficient market hypothesis) làm nảy sinh lý thuyết tài chính hành vi (behaviour finance)
Thị trường hiệu quả có thể được hiểu nôm na là nơi mà tại bất kỳ thời điểm nào, tất cả các thông tin mới đều được những người tham gia thị trường nắm bắt một cách nhanh chóng, thông tin nhanh chóng được phản ánh vào giá cả thị trường và các nhà đầu tư phản ứng một cách đúng đắn với tất cả thông tin sẵn có
Theo lý thuyết này thì “giá luôn đúng” (prices are right), và đúng bằng giá trị cơ bản (fundamental value) của tài sản đó Đây chính là tổng chiết khấu của dòng tiền kỳ vọng trong tương lai, nhà đầu tư phản ứng một cách chính xác với thông tin sẵn có, và tỷ suất chiết khấu phù hợp với các mẫu hình lựa chọn phù hợp một cách chuẩn tắc
Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả:
Nhà đầu tư khôn ngoan (Rational Investors) hay nhà đầu tư duy lý
Các sai lệch không tương quan
Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn
Trang 5Bằng những nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường người ta phát hiện ra rằng có những thời điểm cả 03 trụ cột này không thể giải thích được thực tế thị trường Và đôi khi sự định giá sai này không những không được điều chỉnh về giá trị cơbản mà nó còn bị đẩy đi rất xa
Qua hàm ý trên dường như lý thuyết thị trường hiệu quả không đủ để giải thích kết quả thực nghiệm trên thị trường và dường như “thị trường thì có thể hiệu quả nhưng con người thì không hiệu quả”, mà chủ thể tham gia thị trường chính là con người
Trước thực tế của các cuộc khủng khoảng tài chính và sự “nổi loạn” của thị trường tài chính người ta đòi hỏi một lý thuyết hay một công trình nghiên cứu khác bổ sung cho thị trường hiệu quả và từ đó khái niệm lý thuyết tài chính hành vi xuất hiện thường xuyên hơn, giúp giải thích các hiện tượng mà lý thuyết thị trường hiệu quả không giải thích được
III Khái niệm tài chính hành vi
Trước đây, các nhà kinh tế học có khuynh hướng đưa tài chính thành một bộ môn khoa học tự nhiên, mà khoa học tự nhiên thì được giải thích bằng các quy luật, các định đề khô khan,… và tách nó khỏi khoa học xã hội Chính vì thế mà một thời gian dài, khái niệm “tài chính hành vi” được ít người quan tâm đến
Vậy tài chính hành vi là gì?Khi nào thì tác động từ hành vi của con người ảnh hưởngmạnh mẽ đến việc định giá sai? Nó giải thích, bổ sung cho thị trường hiệu quả ra sao?
Lý thuyết tài chính hành vi,hay tài chính hành vi, có thể được hiểu một cách dân dã là lý thuyết
sử dụng các nghiên cứu về tâm lý và hành vi con người nhằm lý giải các vấn đề tài chính
Hay hàn lâm hơn: Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của tài chính, nó nghiên cứu bổ sung cho những lý thuyết tài chính truyền thống (standard therories of finance) bằng việc giới thiệu hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định Tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và cách thức thu nhận, sử dụng thông tin Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự báo những dính líu giữa quá trình ra quyết định mang tính tâm lý với hệ thống tài chính
Có thể diễn giải tài chính hành vi (Behaviour Finance) thông qua các yếu tố chi phối đến nó như sau:
Trang 6 Tâm lý học (Psychology): là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động) Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người
Xã hội học (Sociology): là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chungvớiđặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xácđịnh về mặt lịch sử; là khoa học
về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp, tôn giáo, văn hóavà các dân tộc
Tài chính (Finance): là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, có thể đại diện bằngcác mô hình, lý thuyết tài chính
Ba điều kiện tồn tại của tài chính hành vi:
Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng bất kỳ sự định giá sai (mispricing) nào xảy ra trên thị trường, thì bằng 03 trụ cột trên của thị trường hiệu quả sẽ đưa giá về đúng giá trị thực của nó Nhưng nếu điều đó không xảy ra mà xảy ra đồng thời 03 điều điện saucủa tài chính hành vi thì việc định giá sai sẽ trở nên trầm trọng hơn thậm chí gây ra khủng hoảng tài chính
Tồn tại hành vi không hợp lý
Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống
Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá
Trang 7Chính 03 điều kiện này đã làm cho lý thuyết tài chính hành vi (behaviourfinancetheory ) với nền tảng cơ bản là “thị trường không luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết
“thị trường hiệu quả”
Có rất nhiều các trường phái nghiên cứu về tâm lý học nhưng trong đó sự kết hợp chủ yếu giữa tâm lý học nhận thức (coginitive psychology) và tâm lý học hành vi (behavioral psychology) gây
ra những hành vi không hợp lý, cấu thành lý thuyết về tài chính hành vi
CHƯƠNG II
BA LUẬN CỨ VỀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
I Hành vi không hợp lý :
1 Lý thuyết triển vọng (prospect theory)
Nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn bởi họ cho rằng, cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương lai Nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vì những thông tin có triển vọng do thị trường cung cấp và sẽ nhanh chóng bán cổ phiếu đó khi giá cổ phiếu tăng Bởi vì họ tin rằng giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin này Khi cảm thấy đã đạt được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận
+ Định nghĩa hẹp (narow framing) cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp
ấy, thay vì cho toàn cục Phương pháp này có thể hữu ích trong một số trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay không đủ thời gian phân tích nhiều Tuy nhiên, nó cũng có thể đưa đến sai lầm + Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting): Nhà đầu tư có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta và tối đa hoá lợi ích từng tài khoản Và vì thế, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng
là hợp lý, mà thật ra là sai lầm
Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích nhiều hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ (loss aversion), và hiệu ứng phân
bổ tài khoản khá phổ biến, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh
Trang 8mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ.
Ví dụ, khi mua cổ phiếu giá 30.000, sau đó giá giảm xuống 22.000, người ta vẫn không bán cổ phiếu (thậm chí còn mua tiếp) và chờ đến khi giá lên trên 30.000 một chút mới bán ngay kiếm lời.Giá có giảm tiếp người ta cũng cứ giữ cổ phiếu đó tiếp Vì họ đã tách biệt giữa “tài khoản lời” và “tài khoản lỗ” trong tâm trí của mình, cho nên họ cố tối đa hoá tài khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì cứ giữ, xem như nó chưa bị chuyển qua tài khoản lỗ Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng hiệu ứng tự lừa dối (sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân ra quyết định đầu tư kém), hay hiệu ứng tiếc nuối (lỡ bán rồi mà giá lên thì sao) Hiệu ứng phân bổ tài khoản lý giải một phần vì sao trong thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại Mỹ và Nhật + Tự điều chỉnh (Self-Control): Sự tự điều chỉnh làm giảm nhẹ tính toán bất hợp lý và tâm lý chấp nhận hơn trong rủi ro thua lỗ
2 Sự trải nghiệm hay thuật toán (Heuristics) và xu hướng lệch lạc (Bias)
Sự trải nghiệm hay thuật toán (Heuristics): Các kinh nghiệm, hay quy tắc học được thường
giúp chúng ta ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi Và đặc biệt là người ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng Lý thuyết này giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử một cách vô ý thức
Xu hướng lệch lạc (Bias):
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness): thường được diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn trong quá khứ
Sự neo vào (Anchoring): Sự neo vào mô tả trường hợp trong đó người ta sử dụng một số hoặc giá trị như một điểm khởi đầu, được biết đến như là một điểm neo (anchor), và điều chỉnh thông tin cho đến khi đạt được một giá trị có thể chấp nhận được (Epley & Gilovich, 2005) “Điểm khác nhau bắt đầu ra các ước tính khác nhau, mà thiên về các giá trị ban đầu Chúng tôi gọi hiện tượng này là neo đậu." Tversky và Kahneman (1974) Giá trị ban đầu tự tạo ra bằng cách tham gia xây dựng các vấn đề hay là kết quả của việc tính toán một phần, hoặc có thể được cung cấp bởi một thí nghiệm hoặc các nguồn khác bên ngoài Điều chỉnh xảy ra khi sử dụng một điểm neo tự tạo ra Thông qua nghiên cứu, các nhà tâm lý học đã kết luận rằng mọi người có xu hướng điều chỉnh không đầy đủ vì họ
Trang 9ngừng điều chỉnh một khi họ đã đạt đến một phạm vi nhất định các giá trị chính đáng (Epley, Keysar, Van Boven, & Gilovich, 2004) Vì vậy, ước tính của họ có xu hướng nằm gần phía neo phạm vi của họ An anchoring and adjustment Gregory Northcraft và Magaret Neale đã tiến hành nghiên cứu “Experts, amateurs, and real estate: perspective
on property pricing decisions” (1987) xem có hay không việc neo quyết định có thể xảy
ra trong quá trình định giá bất động sản Hai nhóm chuyên gia bất động sản được lựa chọn ngẫu nhiên và được dẫn đến một ngôi nhà với yêu cầu định giá ngôi nhà đó Họ được dẫn đi xem ngôi nhà và nhận được một lượng thông tin xác định như nhau, gồm có giá niêm yết của ngôi nhà Điểm khác nhau duy nhất giữa hai nhóm này là nhóm I được đưa giá niêm yết vào khoảng $65,900, trong khi nhóm II được đưa giá niêm yết vào khoảng $83,900 Mức định giá trung bình của nhóm I vào khoảng $67,811, và của nhóm
II là khoảng $75,190 Tính toán này có thể được tóm tắt trong bảng sau:
Giá niêm yết và mức định giá: Số tiền
Giá niêm yết thấp $65,900
Mức định giá thấp $67,811
Giá niêm yết cao $83,900
Mức định giá cao $75,190
Rõ ràng, các chuyên gia niêm yết bất động sản đã bị neo vào giá niêm yết mà họ đã được đưa
ra trước đó
Và sẽ thật là thiếu xót nếu nghiên cứu về hành vi bất hợp lý của con người mà chúng ta không nghiên cứu về chính tâm lý con người, bởi lẽ con người là chủ thể của thị trường Bên cạnh các yếu tố về tư duy, nhận thức hành vi thì tâm lý con người ảnh hưởng rất lớn đến quyết định
và các vấn đề về tài chính
E ngại sự mơ hồ (ambiguous aversion) : con người thường dễ dàng chấp nhận tham gia một cuộc chơi nếu họ cảm thấy am hiểu, nghĩa là, nếu họ cảm thấy đủ khả năng chiến thắng và cảm thấy e ngại với sự mơ hồ
3 Tâm lý con người (Psychological Human)
Lý thuyết tiếc nuối (regret theory): tâm lý của con người là cảm thấy đau khổ, hối tiếc vì làm sai, thậm chí là lỗi sai nhỏ Họ cảm thấy rất hối hận về quyết định mà nó gây ra kết quả xấu Nếu ai đó mong rằng có thể tránh nỗi đau của sự hối hận, họ có thể thay đổi hành vi của họ theo cách mà đôi khi là bất hợp lý
Tâm lý sợ mất mát (loss aversion) Sợ mất mát là ám ảnh lớn của con người Việc thua lỗ sẽ gây hậu quả tâm lý nặng nề hơn niềm vui mang lại do thành công dù là thua hoặc được cùng
Trang 10một món tiền Một nhà đầu tư mua cổ phiếu, bán đi, có lời 10 triệu chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn một nhà đầu tư khác cũng chơi cổ phiếu, đầu tiên được 50 triệu, sau đó thua lại 40 triệu
dù khi tổng kết cả hai người đều lời một số tiền như nhau
Quá tự tin (overconfidence) và phản ứng thái quá hay bi quan (overreaction or underreaction): mọi người có khuynh hướng thổi phồng tài năng của mình và đánh giá thấp khả năng xảy ra của một kết quả xấu có thể xảy ra mà họ không kiểm soát được Sự kết hợp giữa tự tin thái quá và tính lạc quan làm cho người ta đánh giá quá cao khả năng tri thức của họ, đánh giá thấp rủi ro và thổi phồng khả năng của họ trong việc kiểm soát tình hình, mà nó dẫn đến việc giao dịch quá lớn và bong bong đầu cơ
Tâm lý bảo thủ (convervatism): tâm lý bảo thủ ám chỉ một hiện tượng tâm lý mà ở đó người
ta ngờ vực bất kỳ thông tin mới và đưa ra quá nhiều đối trọng đến khả năng xảy ra trước có của các sự kiện trong một tình huống đã xảy ra trước đó hoặc đã định sẵn mẫu hình
II Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống :
Có ba lý do giải thích cho hành vi này của con người
Thứ nhất, đó là áp lực tuân theo xã hội Hầu hết mọi người đều muốn hòa đồng và được chấp nhận bởi xã hội thay vì bị ruồng bỏ, do đó họ thường cư xử theo hành vi của đám đông Khi
áp lực lớn tới mức buộc phải tuân theo thì một người thay đổi quan điểm riêng không phải chỉ
vì anh ta thực sự tin vào quan điểm đám đông mà chỉ là việc thay đổi quan điểm riêng dễ hơn việc thoát ra khỏi xã hội
Thứ hai, đó là trí tuệ đám đông Ngay cả khi bạn tin rằng hành động của đám đông là sai, bạn vẫn thực hiện theo họ bởi tin rằng họ có thông tin gì mà bạn chưa biết Khi người ta bị đương đầu với những đánh giá của một nhóm lớn, họ có khuynh hướng thay đổi những câu trả lời
“sai” của họ Họ nghĩ đơn giản rằng tất cả những người khác không thể sai hay “đám đông luôn đúng”
Thứ ba, đó là áp lực từ chính nhà đầu tư Họ hoài nghi về khả năng của mình và có phần quá tin vào khả năng của đám đông Mâu thuẫn trong lựa chọn của họ nên theo đám đông hay tách lập với đám đông, kết quả là họ thiên về đám đông Họ bán theo tâm lý bầy đàn bởi họ được
an ủi rằng nếu mình mất tiền thì những người khác cũng sẽ mất
Từ ba yếu tố trên hình thành nên hành vi bầy đàn, bao gồm 02 loại:
Hành vi “gượng ép” (enforced herd behavior hay not voluntarily) Chẳng hạn, mọi người cảm
thấy không thể thắng được đám đông, nên để tránh bị dậm chân mà họ gượng ép theo đám