LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Hiện nay xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế khách quan lôi cuốn tất cả nước hội nhập và giao lưu với nhau trong hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Hoạt động kinh tế quốc tế của Việt Nam cũng đang ngày càng sôi động, biến chuyển mạnh mẽ không ngừng và có nhiều sắc thái mới mà trong đó TTQT đóng góp một phần không nhỏ. Quan hệ thương mại và thanh toán giữa các nước thường diễn ra vô cùng phức tạp, dễ gặp nhiều rủi ro bởi rất nhiều nguyên nhân. Vì vậy cả người xuất khẩu và người nhập khẩu đều cố gắng chọn cho mình phương thức thanh toán có khả năng giảm thiểu rủi ro trong quá trình mua bán. Phương thức thanh toán L/C ngày càng được “ưa chuộng” trong TTQT. Thanh toán bằng L/C mang lại hiệu quả cao trong TTQT nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều rủi ro, đe dọa tới sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng và các doanh nghiệp. Việc nghiên cứu rút ra những bài học và phòng tránh các rủi ro trong thanh toán L/C là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là ngân hàng No&PTNT Thanh Trì. Vì thế em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài chuyên đề “Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì”. Với mục đích nhằm đánh giá hoạt động thanh toán L/C, hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng. 2. Phạm vi nghiên cứu. Chuyên đề tập trung nghiên cứu và trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động thanh toán L/C, thực tiễn về hoạt động này và những rủi ro thường gặp tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trong những năm gần đây từ đó nghiên cứu, tìm ra giải pháp hạn chế những rủi ro đó. 3. Phương pháp nghiên cứu. Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, minh họa bằng bảng biểu, số liệu qua các năm. Cùng với việc tham khảo sách, báo chí, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động TTQT của ngân hàng. 4. Kết cấu của chuyên đề. Chuyên đề được bố cục thành ba phần lớn: Chương 1: Giới thiệu chung về nghiệp vụ thanh toán L/C. Chương 2: Thực trạng thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Giới thiệu chung về nghiệp vụ thanh toán L/C 2
1.1 Phương thức thanh toán L/C 2
1.1.1 Khái niệm L/C 2
1.1.2 Cơ sở pháp lý của phương thức thanh toán L/C 2
1.1.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C 3
1.1.4 Nội dung của L/C 5
1.1.5 Phân loại L/C 5
1.2 Những rủi ro trong phương thức thanh toán L/C 6
1.2.1 Rủi ro kĩ thuật nghiệp vụ 6
1.2.2 Rủi ro đạo đức 9
1.2.3 Rủi ro chính trị 10
1.2.4 Rủi ro bất khả kháng 10
Chương 2 Thực trạng thanh toán L/C của ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 11
2.1 Tổng quan tình hình thanh toán quốc tế tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 11
2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán L/C tại Agribank Thanh Trì 13
2.2.1 Tình hình thanh toán L/C hàng nhập của Agribank Thanh Trì 14
2.2.2 Rủi ro trong thanh toán L/C hàng nhập 15
2.2.3 Tình hình thanh toán L/C hàng xuất của Agribank Thanh Trì 18
2.2.4 Rủi ro trong thanh toán L/C hàng xuất 19
2.3 Đánh giá chung về rủi ro trong TTQT theo phương thức L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 20
2.3.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 20
Trang 22.3.2 Những tồn tại dẫn đến rủi ro trong thanh toán L/C của ngân hàng
No&PTNT Thanh Trì 22
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 25
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 30
3.1 Định hướng hoạt động TTQT trong thời gian tới 31
3.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 31
3.2.1 Những giải pháp về nghiệp vụ 31
3.2.2 Nâng cao trình độ nghiệp vụ thanh toán viên 35
3.2.3 Đẩy mạnh công tác kiểm soát nội bộ 37
3.2.4 Giải pháp về mặt công nghệ ngân hàng 38
3.2.5 Mở rộng có hiệu quả mạng lưới ngân hàng đại lý 39
3.2.6 Phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, tăng cường biện pháp nghiệp vụ hỗ trợ cho TTQT 42
3.2.7 Thực hiện chính sách khách hàng linh hoạt.3.2.8 Nâng cao chất lượng và tốc độ xử lý chứng từ 44
3.3 Kiến nghị 45
3.3.1 Đối với Chính phủ 45
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 46
3.3.3 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 47
3.3.4 Đối với ngân hàng No&PTNT Việt Nam 47
KẾT LUẬN 48
Trang 3DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
No&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
KDNT Kinh doanh ngoại tệ
Documentary Credit
ISBP International Standard Banking Practice Under
Documentary CreditIncoterms 2000 International Commercial Terms 2000 (Điều kiện
thương mại quốc tế)
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C 4
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của chi nhánh 11Biểu 2.1: Doanh số TTQT của ngân hàng No&PTNT Thanh Trì 12Bảng 2.1: Tốc độ tẳng trưởng TTQT và KDNT của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì 13Bảng 2.2: Doanh số hoạt động thanh toán L/C của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì 14Bảng 2.3: Tình hình thanh toán L/C hàng nhập của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì 14Bảng 2.4: Tình hình thanh toán L/C hàng xuất của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì 18
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang dần trở thành xu thế khách quan lôi cuốn tất cả nước hội nhập và giao lưu với nhau trong hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hoạt động kinh tế quốc tế của Việt Nam cũng đang ngày càng sôi động, biến chuyển mạnh mẽ không ngừng và
có nhiều sắc thái mới mà trong đó TTQT đóng góp một phần không nhỏ
Quan hệ thương mại và thanh toán giữa các nước thường diễn ra vô cùng phức tạp, dễ gặp nhiều rủi ro bởi rất nhiều nguyên nhân Vì vậy cả người xuất khẩu và người nhập khẩu đều cố gắng chọn cho mình phương thức thanh toán có khả năng giảm thiểu rủi ro trong quá trình mua bán Phương thức thanh toán L/C ngày càng được “ưa chuộng” trong TTQT Thanh toán bằng L/C mang lại hiệu quả cao trong TTQT nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều rủi ro, đe dọa tới sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng và các doanh nghiệp Việc nghiên cứu rút ra những bài học và phòng tránh các rủi ro trong thanh toán L/C là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là ngân hàng No&PTNT Thanh Trì Vì thế em
đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài chuyên đề “Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì” Với mục
đích nhằm đánh giá hoạt động thanh toán L/C, hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng
2 Phạm vi nghiên cứu.
Chuyên đề tập trung nghiên cứu và trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động thanh toán L/C, thực tiễn về hoạt động này và những rủi ro thường gặp tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì trong những năm gần đây từ đó nghiên cứu, tìm ra giải pháp hạn chế những rủi ro đó
Trang 63 Phương pháp nghiên cứu.
Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, minh họa bằng bảng biểu, số liệu qua các năm Cùng với việc tham khảo sách, báo chí, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động TTQT của ngân hàng
4 Kết cấu của chuyên đề.
Chuyên đề được bố cục thành ba phần lớn:
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiệp vụ thanh toán L/C
Chương 2: Thực trạng thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán L/C tại ngân hàng No&PTNT Thanh Trì
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN L/C
1.1 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN L/C
1.1.1 Khái niệm L/C
Phương thức thanh toán L/C là một sự thỏa thuận, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (ngân hàng phát hành L/C) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit), theo đó, NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C
Theo điều 2, UCP 600 nêu rõ: “Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kì, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc
Trang 7chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
L/C còn có những tên gọi khác như: Thư tín dụng, tín dụng thư, tín dụng chứng từ
Trong phạm vi của một bài chuyên đề, L/C được đề cập đến trong hoạt động thanh toán ngoại thương Theo đó ngân hàng phát hành một L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu được hưởng, cam kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán
1.1.2 Cơ sở pháp lý của phương thức thanh toán L/C.
Hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C chịu sự điều chỉnh đồng thời bởi các nguồn luật, công ước quốc tế liên quan và các nguồn luật quốc gia; đồng thời nó chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các thông lệ và tập quán quốc tế,
đó là:
- Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniform Customs And Practice For Documentary Credit – viết tắt là UCP)
- Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế trong kiểm tra chứng từ theo L/C (International Standard Banking Practice Under Documentary Credit – viết tắt là ISBP)
- Bản phụ trương UCP về xuất trình chứng từ điện tử (Supplement To The Uniform Custom And Practice For Documentary Credit For Electronic Presentation – viết tắt là eUCP)
- Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng theo L/C (Uniform Rules For Bank – To – Bank Riembursements Uder Documentary Credit – viết tắt là URR)
Trang 8Trong đó, UCP là văn bản chính, còn các văn bản khác có tính chất giải thích và làm rõ việc áp dụng và thực hiện UCP.
1.1.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C.
1.1.3.1 Các bên tham gia
- Người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C): Là người nhập khẩu, là
bên mà theo yêu cầu của bên đó, tín dụng được phát hành
- Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C): Là người xuất khẩu, là bên
được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C
- Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): Là ngân hàng phục vụ người
nhập khẩu, thực hiện phát hành L/C theo đơn của Người yêu cầu, nghĩa là cấp tín dụng cho Người yêu cầu
- Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông
báo L/C cho Người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước nhà xuất khẩu
- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác
nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH
- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó
L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất
kì ngân hàng nào cũng đều có thể trở thành NHĐCĐ Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của NHĐCĐ là giống như NHPH khi nhận được bộ chứng từ
1.1.3.2 Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C
Trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng không đóng vai trò bị động như trong phương thức chuyển tiền và nhờ thu mà ngân hàng phát hành
là người đưa ra cam kết đồng thời chịu trách nhiệm (hoặc ủy quyền cho ngân
Trang 9hàng khác) thực hiện cam kết thanh toán thông qua phát hành L/C Giữa L/C
và HĐTM không có mối quan hệ với nhau Mặc dù L/C ra đời dựa trên cơ sở
là HĐTM, nhưng L/C lại chỉ ra mối quan hệ trách nhiệm giữa các bên liên quan và không liên quan đến hàng hóa Còn giữa L/C và bộ chứng từ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phù hợp của chứng từ đối với L/C là điều kiện
để ngân hàng trả tiền Căn cứ để ngân hàng trả tiền là chứng từ chứ không phải hàng hóa Sừ tồn tại của bộ chứng từ và sự phù hợp của nó là cơ sở nền tảng của L/C Chính mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau này đã làm phát sinh rủi
ro trong quá trình thanh toán L/C
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant)
(8)(7)(2)
(3) (5) (6) (1) (9) (10)
(4)
(hợ
p Hợp đồng
Trang 10(2) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đáp ứng các yêu cầu, ngân hàng sẽ phát hành L/C và thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu để thông báo tới người thụ hưởng.
(3) Ngân hàng thông báo khi nhận được thư tín dụng sẽ khẩn trương thông báo, chuyển giao thư tín dụng này cho người xuất khẩu
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì tiến hành giao hàng theo điều kiện hợp đồng
(5) Sau khi đã hoàn thành việc giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo thư tín dụng, gửi tới ngân hàng phục vụ mình đề nghị thanh toán
(6) Ngân hàng này được chỉ định là ngân hàng thanh toán, tiến hành kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong thư tín dụng thì tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu (trả tiền ngay, hoặc chấp nhận, hoặc chiết khấu)
(7) Sau khi đã thanh toán, ngân hàng chuyển bộ chứng từ sang ngân hàng phát hành và đòi tiền
(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ, nếu đáp ứng những điều kiện của L/C thì hoàn lại tiền cho ngân hàng đã thanh toán
(9) Ngân hàng phát hành báo cho người nhập khẩu biết bộ chứng từ đã đến, đề nghị họ làm thủ tục thanh toán
(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì tiến hành trả tiền (hoặc chấp nhận), ngân hàng sẽ trao bộ chứng từ để họ đi nhận hàng Trong trường hợp người nhập khẩu không thanh toán, thì ngân hàng cũng không trao chứng từ cho họ
1.1.4 Nội dung của L/C.
Trang 11Một L/C được phát hành phải tồn tại những nội dung sau:
- Số hiệu L/C (Credit Number)
- Địa điểm phát hành L/C
- Ngày phát hành L/C (Date of Issuance)
- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C
- Số tiền, loại tiền, khối lượng và đơn giá (Credit Currency and Amount)
- Thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C
- Thời hạn trả tiền của L/C (Date of Payment)
- Ngày giao hàng (Shipment date)
- Những nội dung liên quan đến hàng hóa
- Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa
- Bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình
1.1.5 Phân loại L/C
Căn cứ vào đặc điểm nghiệp vụ và tính chất thông dụng của L/C, ta có các loại L/C sau:
- L/C có thể hủy ngang (Revocable L/C)
- L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)
- L/C không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C)
- L/C không thể hủy ngang miễn truy đòi (Intervocable without recourse L/C)
- L/C chuyển nhượng (Transferable L/C)
- L/C tuần hoàn (Revolving L/C)
Trang 12- L/C giáp lưng (Back to back L/C).
- L/C đối ứng (Reciprocal L/C)
- L/C dự phòng (Stand by L/C)
- L/C thanh toán dần (Defered payment L/C)
- L/C điều khoản đỏ (Red Clause Credit)
1.2 NHỮNG RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN L/C
1.2.1 Rủi ro kĩ thuật nghiệp vụ.
Xẩy ra khi có sự sai sót về kĩ thuật nghiệp vụ trong quá trình thực hiện thanh toán Chẳng hạn sự khác nhau giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung của L/C, hay các bên có sự sai thiếu trong một khâu của quy trình, hoặc trái với điều khoản của L/C
1.2.1.1 Rủi ro đối với người nhập khẩu
Ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu dựa trên việc kiểm tra bộ chứng từ chứ không hề kiểm tra hàng hóa Hơn nữa,ngân hàng cũng chỉ kiểm tra tính chất “bề ngoài” của bộ chứng từ chứ không chịu trách nhiệm về tính chất “bên trong” của nó, cũng như số lượng và chất lượng hàng hóa Nếu như nhà xuất khẩu có chủ tâm gian lận, thì hoàn toàn có thể xuất trình một bộ chứng từ giả mạo, nhưng vẫn phù hợp với L/C, cho ngân hàng chỉ định để được thanh toán Như vậy không có một sự đảm bảo chắc chắn nào về việc nhà nhập khẩu sẽ được nhận được hàng hóa đúng số lượng và chất lượng Trong trường hợp này nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn lại tiền cho NHPH
Nếu NHXN, hay một NHĐCĐ đã thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, mà ngân hàng này lại do chính nhà nhập khẩu chỉ định thì NHPH có quyền truy đòi lại người nhập khẩu, trong trường hợp này, nhà nhập khẩu vẫn
Trang 13phải chấp nhận điều khoản này Nếu có sự tranh chấp xẩy ra, thì dù có hay không có được xử lí đi chăng nữa, thì rất tốn kém về mặt thời gian và chi phí.
NHPH có thể không đảm bảo khả năng thanh toán cho nhà nhập khẩu Khi hàng hóa đến nơi, lại không thanh toán, dẫn đến chậm trễ, hàng hóa ứ đọng, tranh chấp,…
Nhiều khi, hàng hóa đến nơi mà vận đơn chưa có, nhưng nhà nhập khẩu cần gấp hàng hóa, khi đó cần phải được bảo lãnh của ngân hàng Nhưng muốn được bảo lãnh, nhà nhập khẩu phải kí quỹ một khoản chi phí và chấp nhận rủi
ro nếu vận đơn về và có sai sót
1.2.1.2 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu
Khi L/C được sử dụng để thanh toán tiền hàng trong hợp đồng ngoại thương NHPH đứng ra cam kết sẽ thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C Để có được một bộ chứng từ hoàn hảo, đảm bảo các điều khoản khắt khe và phù hợp L/C là một việc không hề đơn giản đối với nhà xuất khẩu, nó đòi hỏi nhà xuất khẩu phải có trình độ hiểu biết về luật lệ, tập quán quốc tế cũng như nghiệp vụ ngoại thương
Rủi ro khi sử dụng L/C có thể hủy ngang, là khi NHPH có thể sửa đổi,
bổ sung, hay hủy bỏ mà không cần sự đồng ý của nhà xuất khẩu
Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương sẽ dẫn đến những thủ tục sửa đổi bổ sung L/C
Một khi xuất bộ chứng từ không hợp lý với L/C thì mọi khoản thanh toán, chấp nhận đều có thể bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải tự xử lí hàng hóa, chịu mọi chi phí, trong khi vẫn không chắc chắn về việc nhà nhập khẩu sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng
Trang 14Nếu NHPH hoặc NHXN mất khả năng thanh toán, thì dù cho bộ chứng
từ là hoàn hảo cũng không được thanh toán Hoặc là ngân hàng không chấp nhận hối phiếu kỳ hạn thì cũng sẽ không được trả tiền
Nếu nhà xuất khẩu nhận trực tiếp một L/C từ NHPH, mà không thông qua NHTB, thì có khả năng nhận được một L/C giả
1.2.1.3 Rủi ro đối với ngân hàng
a.Đối với NHPH:
Rủi ro trong nghiệp vụ mở L/C:
Mở L/C là bước đầu tiên của quy trình thanh toán L/C, được xem như
là hình thức tài trợ của ngân hàng dành cho nhà xuất khẩu Khi ngân hàng đồng ý mở L/C cho nhà xuất khẩu có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán cho người hưởng lợi L/C nếu bộ chứng từ là hợp lý Ngân hàng sẽ ghánh chịu rủi ro nếu như không thẩm định kĩ đơn yêu cầu, tình hình tài chính, không phát hiện ra lỗi trong quá trình mở L/C
Một rủi ro khác mà NHPH gặp phải khi mở L/C đó là dùng sai sót trong từng câu chữ, dấu câu,…so với đơn xin mở L/C của doanh nghiệp, do
đó chính ngân hàng lại phải chịu chi phí tu chỉnh lại L/C Một điều cần lưu ý
là ngân hàng không được tự ý thêm bớt nội dung vào L/C, ngoại trừ việc nó làm tăng lợi thế cho khách hàng của mình, phù hợp với hợp đồng ngoại thương và các văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn chiếu trong L/C như UCP 600, Incoterms 2000
Rủi ro trong nghiệp vụ kiểm tra chứng từ đến và thanh toán:
Khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ do nhà xuất khẩu gửi đến, ngân hàng phải kiểm tra tính chân thực bề ngoài của bộ chứng từ Nghiệp vụ này nhằm tìm ra những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với
bề mặt và nội dung của L/C Ngân hàng sẽ gặp rủi ro nếu không kiểm tra bộ
Trang 15chứng từ mà vẫn tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, bởi vì, vẫn
có những bộ chứng từ giả, đặc biệt là vận đơn giả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền Chẳng hạn, nếu nhập nguyên đơn xin mở L/C của khách hàng vào L/C mà không để ý đến một điều khoản bất lợi là “chứng từ được phép xuất trình sau thời hạn hiệu lực của L/C”, dẫn đến bị lợi dụng, khách hàng đòi lại tiền khi L/C hết hiệu lực Hoặc có thể do tắc trách, cán bộ ngân hàng nhận chứng từ rồi để quên trong ngăn kéo, quá 7 ngày bị ngân hàng nước ngoài phạt chậm thanh toán hay chứng từ có sai sót thì đã mất quyền từ chối thanh toán
Rủi ro khi không hành động theo đúng UCP đã dẫn chiếu:
Chẳng hạn chuyển giao chứng từ không phù hợp cho người mở đi nhận hàng, làm mất không trả lại chứng từ cho phía xuất trình, hoặc trả lại nhưng không nguyên vẹn như lúc nhận được, hoặc không giao chứng từ đó cho bên thứ ba do phía xuất trình chỉ định
Rủi ro khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản:Đây là rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở, bởi vì ngân hàng buộc phải thanh toán cho nhà xuất khẩu mà không thu hồi vốn được từ phía nhà nhập khẩu
b Đối với NHTB
NHTB là ngân hàng được NHPH L/C yêu cầu thông báo L/C đó cho người xuất khẩu Rủi ro xẩy ra với NHTB là khi ngân hàng thông báo phải một L/C giả hoặc tu chỉnh một L/C không có hiệu lực, trong khi chính ngân hàng này chưa đồng ý với tình trạng mã khóa (hay mẫu chữ ký ủy quyền trong trường hợp phát hành L/C bằng thư) mà không có bất kỳ một ghi chú nào về tình trạng mã khóa hay mẫu chữ ký ủy quyền đó cho người bán biết,
Trang 16hoặc khi NHTB quyết định không thông báo L/C mà không gửi thông báo về quyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách kịp thời.
c Đối với NHXN (nếu có).
NHXN thường là ngân hàng lớn có uy tín hoặc là ngân hàng có quan hệ đại lý, có quan hệ tiền gửi, tiền vay với NHPH, được NHPH yêu cầu xác nhận
và cam kết trả tiền cho người bán nếu như NHPH không thực hiện được nghĩa
vụ của mình Việc xác nhận L/C là nhằm ràng buộc trách nhiệm của NHXN vào nghĩa vụ thanh toán L/C nếu có tranh chấp xảy ra giữa hai hệ thống pháp luật khác nhau Rủi ro xảy ra đối với NHXN là khi không nắm được tình hình tài chính của ngân hàng mở cũng như tập quán, luật pháp nước đó mà vội đi xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi phải lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho NHPH, do NHPH thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản Vì nếu bộ chứng từ hoàn hảo, thì NHXN phải trả tiền cho người xuất khẩu bất luận là có truy đòi được tiền từ NHPH hay không Như vậy, NHXN chịu rủi ro tín dụng với NHPH, cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế chính sách của nước NHPH
d Đối với NHĐCĐ (nếu có).
NHĐCĐ có thể là NHXN nếu là L/C xác nhận, hoặc là NHPH nếu người thụ hưởng không muốn xuất trình chứng từ cho ngân hàng thứ ba Rủi
ro xẩy ra đối với NHĐCĐ phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của NHPH và nhà nhập khẩu NHĐCĐ sẽ không thu hồi được tiền hoặc thu hồi chậm là do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán hoặc thanh toán chậm qua việc bắt lỗi chứng từ Việc kéo dài thời gian bắt lỗi chứng từ càng dài thì NHĐCĐ càng
bị chiếm dụng vốn càng lâu
1.2.2 Rủi ro đạo đức.
Trang 17Rủi ro đạo đức xẩy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên còn lại.
1.2.2.1 Từ phía nhà nhập khẩu
Khi nhận được bộ chứng từ nhà nhập khẩu mặc dù có nghĩa vụ trả tiền cho NHPH song cố tình chậm trả, tìm mọi cách để trì hoãn hoặc từ chối thanh toán, thậm chí lừa gạt ngân hàng sau khi bán hết hàng vẫn không nộp tiền vào ngân hàng mà sử dụng vào mục đích khác
Nhà nhập khẩu cũng có thể lợi dụng sự không phù hợp của bộ chứng từ
để buộc tội người xuất khẩu phải giảm giá hàng bán hoặc không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng khi nhận thầy cơ hội kinh doanh đã mất hoặc do có mối hàng khác hoặc tình hình trên thị trường hàng hóa có những biến động bất lợi cho mình
1.2.2.2 Từ phía nhà xuất khẩu
Sau khi giao hàng người xuất khẩu lập bộ chứng từ và gửi tới ngân hàng phục vụ mình Nếu có chủ tâm lừa gạt ngân hàng và người bán nhà xuất khẩu có thể lợi dụng vào tính độc lập giữa bộ chứng từ với tình hình giao hàng thực tế, lập ra những chứng từ giả mạo phù hợp với những điều khoản, điều kiện của L/C để đòi tiền hàng Tức là trên thực tế họ đã giao hàng xấu, thiếu, thậm chí khác chủng loại mà vẫn lập chứng từ phù hợp với L/C để được thanh toán
Nếu như nhà xuất khẩu là một tổ chức “ma”, lừa đảo hoặc bị phá sản trong khi nhà nhập khẩu không có đủ năng lực tài chính để bồi thường cho NHPH thì NHPH sẽ gặp rủi ro
1.2.2.3 Từ phía ngân hàng
Trang 18Các ngân hàng phát hành L/C có thể vi phạm cam kết khi đứng về phía người nhập khẩu, cố tình bắt lỗi bộ chứng từ, trì hoãn hay từ chối nghĩa vụ thanh toán tiền hàng
Ngày nay, khi quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế đã phát triển mang tính chất toàn cầu hóa thì rủi ro đạo đức trở thành mối quan tâm lớn không chỉ của các ngân hàng mà các doanh nghiệp cũng đều phải xem xét kỹ lưỡng trước khi ký hợp đồng
Nguyên nhân chính gây rủi ro đạo đức là vấn đề thông tin không đáp ứng kịp thời Đó là các bên tham gia không có đầy đủ những thông tin cần biết về khả năng tài chính, về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác hoặc những được cung cấp thông tin không chính xác Vì vậy mà đưa ra những phán đoán và quyết định sai lầm gây rủi
ro trong thanh toán
1.2.3 Rủi ro chính trị.
Đây là những rủi ro mà ngân hàng phải ghánh chịu do sự thay đổi của môi trường pháp lý, đặc biệt là ở những nước có hệ thống pháp luật không ổn định, thường xuyên có sửa đổi, bổ sung Những rủi ro này thường liên quan đến việc thay đổi các quy định về dự trữ, thuế hay việc ban hành các quy định khác làm cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và ngân hàng, ví dụ:
- Chính sách quản lý ngoại hối, thuế quan, hạn ngạch
- Chính sách tuyển dụng lao động
- Lãi suất
- Giấy phép độc quyền, chính sách tài trợ hoặc bảo trợ
- Môi trường, sức khỏe và an toàn,…
Trang 191.2.4 Rủi ro bất khả kháng.
Là những rủi ro mà không thể lường trước được, hoặc có thể dự tính trước, nhưng không có biện pháp nào để tránh được, như: thiên tai, nổi loạn, đình công, bạo động chiến tranh,…
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THANH TOÁN L/C TẠI NGÂN HÀNG No&PTNT
vị thế
Mô hình của ngân hàng.
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của chi nhánh
P.Kế hoạch kinh doanh
P.Kế toán ngân quỹ
P.Kinh doanh ngoại hối
Trang 20Chú thích: PGĐ – Phó giám đốc, P – Phòng, PGD – Phòng giao dịch.
Xét theo xu hướng phát triển trong những năm gần đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam đang ngày càng nâng cao cả về mặt chất và lượng, nguyên nhân của sự phát triển là sụ phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tiền tệ của các nước trong khu vực như Japan, Thailand, Singapore, Korean,…là những nước có quan hệ thương mại nhiều nhất với Việt Nam; và
do các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đã xâm nhập được vào một
sô thị trường mới tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển Mặt khác, do chính sách kinh tế mở cửa của Chính phủ Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp kinh doanh với nước ngoài hay chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài được thành lập Đây là những đơn vị có nhu cầu về dịch
vụ TTQT rất lớn Những yếu tố trên đã góp phần thúc đẩy hoạt động TTQT của cả hệ thống ngân hàng nói chung, và hoạt động của hệ thống ngân hàng No&PTNT Thanh Trì nói riêng ngày càng phát triển hơn
Nhìn vào biểu 2.1, dễ dàng thấy rằng tình hình TTQT và KDNT của ngân hàng ngày càng phát triển Doanh số TTQT năm 2005 là 14,68 triệu
PGD
Vạn Xuân
PGDNgũ Hiệp
PGDLinh Đàm
PGDCầu Bưu
PGDĐông Mỹ
PGDKhương Đình
Trang 21USD với tổng số món là 365 món; năm 2006 là đạt 22.02 triệu USD với 396 món; và năm 2007 đạt 26.03 triệu USD với tổng số 468 món Trong đó, năm
2006 thanh toán hàng nhập tăng mạnh, đạt 19.51 triệu USD, tăng 112.5% so với năm 2005; tuy nhiên thanh toán hàng xuất lại giảm đột ngột 54,4% chỉ còn mức 2.51 triệu USD so với năm 2005 Năm 2007 thanh toán hàng xuất đã tăng lên 20% đạt 3,01 triệu USD so với năm 2006; thanh toán hàng nhập đạt 23.02 triệu USD, tăng 18% so với năm 2006 Đến năm 2008, TTQT đạt 36.44 triệu USD với thanh toán hàng xuất đạt 4.5 triệu USD, và thanh toán hàng nhập đạt 32 triệu USD
Biểu 2.1: Doanh số TTQT của ngân hàng No&PTNT Thanh Trì
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì
Bên cạnh đó, KDNT cũng phát triển mạnh, đồng đều Năm 2005 doanh
số KDNT đạt 28.9 triệu USD, với doanh số mua vào là 14.64 triệu USD, doanh số bán ra là 14.26 triệu USD Năm 2006 tổng doanh số đạt 36.39 triệu USD, doanh số mua vào là 18.03 triệu USD, doanh số bán ra là 18.36 triệu
Trang 22USD Năm 2007 doanh số đạt 42.32 triệu USD, doanh số mua vào đạt 20,97 triệu USD, doanh số bán ra là 21,35 triệu USD Đến năm 2008 KDNT tăng mạnh 80% đạt 76.18 triệu USD, doanh số mua vào là 37.75 triệu USD, doanh
số
Tăng trưởng lũy
kế %
Tốc độ tăng trưởng %
Doanh số
Tăng trưởng lũy
Trang 23kể, từ 50.8% lên 60.5% và 61.5% theo từng năm 2005, 2006 và 2007 Năm
2008 tuy tỷ lệ TTQT có tăng mạnh so với các năm nhưng lạo không bằng tốc
độ tăng của KDNT nên tỷ trong TTQT/KDNT cũng chỉ ở mức 47.83%, giảm
so với các năm trước
2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN L/C TẠI
NGÂN HÀNG No&PTNT THANH TRÌ.
2.2.1 Tình hình thanh toán L/C hàng nhập của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.
Bảng 2.2: Doanh số hoạt động thanh toán L/C của ngân hàng No&PTNT
Số tiền (trUSD)
Số món (món)
Số tiền (trUSD)
Số món (món)
Số tiền (trUSD)
Số món (món)
Số tiền (trUSD)
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của ngân hàng No&PTNT
Thanh Trì
Bảng 2.3: Tình hình thanh toán L/C hàng nhập của Ngân hàng
No&PTNT Thanh Trì&PTNT Thanh Trì
Trang 24ra đối với L/C hàng nhập nên tốc độ tăng trưởng không nhanh là điều khó tránh khỏi đối với các ngân hàng còn non trẻ trong kinh doanh lĩnh vực này Khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những đơn vị sản xuất kinh doanh nên nghiệp vụ TTQT của chi nhánh chủ yếu phục vụ cho mở và thanh toán L/C nhập khẩu Vì thế nên tỷ trọng số món L/C hàng nhập so với tổng số món L/C luôn là những con số lớn.
2.2.2 Rủi ro trong thanh toán L/C hàng nhập.
Tình hình rủi ro trong TTQT theo phương thức L/C tại Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì chủ yếu là do các nguyên nhân về tồn đọng vốn trong thanh toán, kéo dài thời hạn thanh toán, thanh toán trả chậm, nợ quá hạn, mất vốn,…Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn hoạt động TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng và những rủi ro cho thấy, chỉ nhìn vào những con số chúng
ta chưa thấy hết những vấn đề phát sinh từ phương thức này Rủi ro xẩy ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao hàm cả những nguyên nhân chủ quan và
Trang 25khách quan, rủi ro từ nhiều phía là các nhà nhập khẩu, các nhà xuất khẩu và các ngân hàng tham gia vận hành phương thức này.
2.2.2.1 Rủi ro tín dụng của khách hàng
Thực tế cho thấy, hiện nay rất nhiều công ty được thành lập ở nước ta, tuy nhiên chỉ một trong số những công tu đó là có tiềm năng thực sự, còn nữa thì là những công ty có năng lực tài chình yếu Những công ty này hoạt động chủ yếu dựa trên vốn vay các ngân hàng Do đó, khi quan hệ thương mại quốc
tế bị thua lỗ, thì ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng tín dụng và uy tín của các ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cũng vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đều được ngân hàng cho vay, tài trợ vốn để nhập khẩu hàng hóa, vật tư, máy móc thiết bị,…Khi làm thủ tục mở L/C, nếu khách hàng thiếu vốn thì có thể kí quỹ một phần, phần còn lại được ngân hàng cho vay, thậm chí còn được ngân hàng cho vay 100% giá trị L/C Một khi mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản, giải thể thì sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Hoặc khi làm phương án kinh doanh vay vốn của ngân hàng để nhập khẩu, phương
án rất khả thi và tại thời điểm này, khi hàng hóa nhập về thì bán rất chạy, sinh lãi nhiều Nhưng từ lúc mở L/C cho đến khi hàng hóa về, thị trường trong nước có nhiều biến động, nếu hàng hóa xuất khẩu về mà giá trong nước hạ thấp, khả năng tiêu thụ hàng chậm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh thì ngân hàng khó có thể thu hồi vốn đúng hạn Như vậy, rủi ro trong thanh toán L/C không những gây cho ngân hàng việc không thu hồi vốn được mà có khi là việc không thể thu hồi vốn đúng thời hạn hoặc phát sinh những khoản chi phí
vô ích
2.2.2.2 Rủi ro đạo đức
Trong phương thức thanh toán L/C, việc thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ mà không căn cứ vào chất lượng hoặc thực tế hàng hóa được giao nên nhiều khi khách hàng nước ngoài đã lợi dụng khẽ hở này để lừa đảo,
Trang 26chiếm đoạt tài sản của khách hàng và ngân hàng nhập khẩu Khi bộ chứng từ hoàn hảo, phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C thì ngân hàng buộc phải thanh toán cho người xuất khẩu Còn việc hàng hóa không được giao, hoặc giao không đúng, không đủ như trong hợp đồng thương mại thì lại
là tranh chấp hợp đồng giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu, được giải quyết tại tòa án hoặc trung tâm trọng tài quốc tế theo hợp đồng đã kí kết Lúc này nhà nhập khẩu chỉ có thể thắng kiện người xuất khẩu trên cơ sở hợp đồng thương mại, chứ không phải là từ chối thanh toán L/C và ngân hàng chỉ có thể đình chỉ việc thanh toán khi có quyết định của ngân hàng nước sở tại Vì thế, tranh chấp giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đã dẫn đến tranh chấp giữa NHPH và NHĐCĐ
Các tranh chấp phát sinh trong quá trình thanh toán hàng nhập khẩu bằng phương thức L/C không chỉ bắt nguồn từ sự không trung thực của đối tác nước ngoài mà nhiều trường hợp còn do các doanh nghiệp Việt Nam gây
ra Nhiều khi các doanh nghiệp này chỉ quan tâm đến quyền lợi trước mắt mà không giữ chữ tín để còn quan hệ lâu dài Sau khi kí hợp đồng thương mại và yêu cầu ngân hàng mở L/C, thấy giá cả của hàng hóa trong nước có xu hướng giảm thì nhà nhập khẩu lại muốn ngân hàng tìm mọi cách trì hoãn thanh toán,
“truy xét” bộ chứng từ nhằm gây sức ép với các công ty nước ngoài để họ giảm giá, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn từ chối thanh toán và không chịu nhận hàng ngay cả khi hàng hóa đã được giao đúng phẩm chất, quy cách, đầy
đủ về số lượng và bộ chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp Những trường hợp như vậy đã đẩy ngân hàng vào thế khó xử, nếu không thanh toán thì vi phạm thông lệ quốc tế, mất uy tín và có thể bị ngân hàng nước ngoài khởi kiện, còn nếu thanh toán thì sẽ phải dùng tiền của ngân hàng trả thay mà việc đòi lại thì sẽ rất khó khăn, nhiều trường hợp gây ra tranh chấp giữa chi nhánh với khách hàng trong nước
Trang 272.2.2.3 Rủi ro pháp lý.
Khi không vận dụng đồng nhất các nguồn luật điều chỉnh L/C và UCP
600 thì có nguy cơ xảy ra rủi ro này Như chúng ta đã biết, việc sử dụng L/C trong thanh toán xuất nhập khẩu ngày càng được các ngân hàng trên thế giới
sử dụng dựa vào cơ sở là UCP 600 Nhưng ở từng nước, giao dịch này còn bị điều chỉnh và chi phối bởi hệ thống pháp luật quốc gia UCP 600 và luật quốc gia tạo hành lang pháp lý cho giao dịch L/C của các ngân hàng thương mại trên thế giới Tuy nhiên mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của mỗi nước lại khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của nước đó Mặc dù luật quốc gia tôn trọng và ít đối đầu với UCP, nhưng không phải là không có mâu thuẫn Một khi có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch với UCP 600 thì luật quốc gia sẽ vượt lên trên tất cả và phải được tuân thủ Hiện nay, ở một số quốc gia, luật pháp cho phép tòa án áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo vệ quyền lợi của người nhập khẩu trong nước, đảm bảo quyền lợi quốc gia, bất kể quyết định đó có trái với UCP 600 hay không Chính vì vậy những rủi ro về sự khác nhau của luật pháp giữa các nước là không thể tránh khỏi
2.2.2.4 Rủi ro ngoại hối
Khách hàng mở L/C tại Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì thường chỉ
có đồng Việt Nam, chủ yếu trông chờ vào nguồn thu mua ngoại tệ của ngân hàng để thanh toán Trong giao dịch thanh toán L/C để đảm bảo uy tín cho mình, ngân hàng cũng phải ghánh chịu những rủi ro về ngoại hối, những rủi
ro này xuất hiện khi có trạng thái ngoại hối về loại đó khác 0 Nếu trạng thái ngoại hối là âm thì ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro khi đồng tiền
đó lên giá, ngược lại nếu là trạng thái ngoại hối dương thì ngân hàng lại đối mặt với rủi ro ngoại hối khi đồng tiền đó mất giá so với đồng bản tệ Để tránh những rủi ro này, ngân hàng cần sử dụng các công cụ tài chính để quản lí và
Trang 28bảo hiểm rủi ro hối đoái, như: hợp đồng mua bán ngoại tệ có kì hạn, hợp đồng lựa chọn, hợp đồng tương lai, hoán đổi ngoại tệ,…
2.2.2.5 Rủi ro tác nghiệp
Là những rủi ro về sai sót kĩ thuật nghiệp vụ do chính bản thân các bên tham gia gây nên, cũng là sai sót chủ yếu gây rủi ro cho ngân hàng
Đối với người nhập khẩu, NHPH chỉ đối chiếu những thông tin ghi trên
bề mặt của chứng từ sao cho các chứng từ không mâu thuẫn với nhau, mặt khác nhiều nhà nhập khẩu đã không quy định rõ ràng nội dung trong chứng từ xuất trình, dẫn đến rủi ro phải thanh toán lô hàng mà mình không sử dụng
Đối với NHPH, rủi ro thường gặp liên quan đến việc phát hành L/C Chính vì vậy, nhân viên nghiệp vụ phải xem xét hết sức cẩn thận ngay từ khâu phát hành, chỉ một lỗi nhỏ trong chính tả, câu chữ,…cũng có thể dẫn đến rủi ro Việc NHPH kiểm tra chứng từ, bắt lỗi chứng từ không chính xác đã thông báo cho người nhập khẩu và người nhập khẩu đã từ chối bộ chứng từ nhưng NHPH lại không bảo vệ được ý kiến của mình trước NHĐCĐ sẽ gây ra những thiệt hại cho NHPH
2.2.3 Tình hình thanh toán L/C hàng xuất của Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.
Trang 29Bảng 2.4: Tình hình thanh toán L/C hàng xuất của Ngân hàng
từ 2.86 triệu USD năm 2005 xuống chỉ còn 0.57 triệu USD, giảm tới 80.1%
so với năm 2005 Năm 2007 kim ngạch có tăng nhẹ 26.3% đạt 0.72 triệu USD, năm 2008 có tiến triển tôt, kim ngạch tăng 66.7% Năm 2005, lượng L/C hàng xuất chiếm 24.3% trong tổng L/C, nhưng đến năm 2006, 2007,
2008 con số này chỉ còn là 3.02%, 3.23% và 3.84% Số món L/C giảm qua các năm, năm 2006 giảm mạnh so với 2005, từ 40 món xuống 18 món, tương đương từ chiếm 57.97% xuống còn chiếm 24% Năm 2007 và 2008 số món tăng nhẹ lên là 21 món chiếm 23.86% và 26 món chiếm 21.7% tổng số món L/C Ta thấy, số L/C hàng xuất chiếm con số tương đối nhỏ, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động TTQT và kết quả kinh doanh của ngân hàng Đặc biệt tỷ trọng L/C hàng xuất trong thanh toán L/C chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, tuy có xu hướng tăng nhưng vẫn cho thấy được sự không cân xứng trong hoạt
Trang 30động thanh toán L/C hàng xuất và hàng nhập của chi nhánh Bên cạnh đó, số món L/C lại giảm dần, dấu hiệu này chứng tỏ khách hàng ít đến với ngân hàng để tiến hành thanh toán hàng xuất Đặc điểm này là do trên địa bàn hoạt động của chi nhánh có ít doanh nghiệp hàng xuất khẩu, một phần do hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam còn rất khiêm tốn, và do những vấn
đề bất cập từ quy trình thanh toán L/C hàng xuất của chính ngân hàng
2.2.4 Rủi ro trong thanh toán L/C hàng xuất.
Theo lý thuyết, rủi ro trong nghiệp vụ thanh toán L/C hàng xuất thường gây thiệt hại nhỏ hơn trong nghiệp vụ thanh toán L/C hàng nhập, và trên thực
tế cũng đã chứng minh điều đó Đối với loại nghiệp vụ này, nguyên nhân xảy
ra các rủi ro cho ngân hàng thường mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ Khi các rủi ro này xẩy ra, quá trình thanh toán bị chậm trễ; tuy nhiên sau khi khắc phục, quá trình chậm trễ về mặt thời gian vẫn làm cho lợi ích của doanh nghiệp cũng như uy tín của ngân hàng cũng bị giảm sút Từ đó ngân hàng sẽ mất đi một lượng khách hàng, dẫn đến sự giảm sút trong hoạt động thanh toán bằng L/C, đồng thời ngân hàng cũng mất đi nguồn ngoại tệ gửi của các doanh nghiệp xuất khẩu
2.2.4.1 Rủi ro tác nghiệp
Như đã trình bày, NHPH chỉ có nhiệm vụ kiểm tra tính bề ngoài của bộ chứng từ Do đó phương thức này đòi hỏi một cách khắt khe về sự phù hợp tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán và L/C Bất kể một sai sót nhỏ, một sự không tương thích nhỏ nào cũng có thể bị từ chối thanh toán Đây là một trở ngại lớn đối với nhà xuất khẩu vì họ rất khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu khắt khe đó Thông thường, nhiều nhà xuất khẩu (đặc biệt với những công
ty không có bộ phận chuyên trách để lập và xử lý chứng từ L/C) khi nhận
Trang 31được thông báo L/C họ thường chỉ quan tâm đến các vấn đề: giá trị L/C là bao nhiêu? Ngân hàng đã có trách nhiệm kiểm tra nội dung của L/C? Khi mà sự quan tâm của doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có vậy, thì rõ ràng việc lập bộ chứng từ theo L/C có sai sót là điều đương nhiên Khi sai sót xẩy ra, họ lại chú tâm vào việc xử lý các sai sót, họ coi đó là quá trình thanh toán bằng L/C
Có những sai sót mà nhà xuất khẩu có thể sửa chữa được như các sai sót trên hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết hàng hóa, hối phiếu,…vì đây là những chứng từ do nhà xuất khẩu lập Còn những sai sót về vận đơn, xuất xứ hàng hóa, kiểm định,…hoặc chứng từ do bên thứ ba lập, thì nhà xuất khẩu không thể khắc phục được Vì vậy những rủi ro do sai sót chứng từ là hay gặp nhất Ngoài ra sai sót mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ có thể thấy thông qua việc còn thiếu một lượng lớn các ngân hàng đại lý phục vụ cho nhu cầu thanh toán ngoại thương đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ Hiện tại ngân hàng có quan hệ đại lý với 979 ngân hàng trên 113 quốc gia, nhưng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên nhanh chóng Tuy có nhiều ngân hàng có quan hệ thanh toán nhưng không có quan hệ đại lý gây nhiều khó khăn trong việc xác định tính chân thật của các L/C cũng như trong việc đòi tiền Trường hợp này nếu xảy ra với các ngân hàng không có quan hệ đại
lý với Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì thì phải xác nhận thông qua một ngân hàng thứ ba Như vậy, đã có những L/C hoặc sửa đổi L/C sau hàng tháng mới thông báo được, thậm chí còn phải trả lại L/C gây thiệt hại cho ngân hàng Mặc dù đã không ngừng hoàn thiện mạng SWIFT tạo thuận lợi cho quá trình TTQT nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót mang tính kỹ thuật nghiệp vụ
2.2.4.2 Một số rủi ro khác
Một việc dễ gây rủi ro cho ngân hàng đó là quá trình đòi tiền của ngân hàng hoàn trả khác ngân hàng mở L/C Khi bộ chứng từ phù hợp, việc đòi tiền
Trang 32thuận lợi Song trên thực tế các chứng từ hàng xuất vẫn đang có những tỷ lệ sai sót nhất định, nên khi gửi chứng từ đòi tiền, chi nhánh phải chờ ngân hàng
mở chấp nhận thanh toán mới được đòi tiền ngân hàng hoàn trả gây tốn kém điện phí và chậm trễ Ngoài ra bộ chứng từ thường có sai sót nên bị ngân hàng
và ngăn chặn kịp thời những rủi ro tiềm ẩn trong phương thức thanh toán này
2.3.1.1 Về nghiệp vụ
Trong những năm gần đây, doanh số phát hành L/C và dư nợ bảo lãnh nhập khẩu hàng trả chậm đã giảm đi rất nhiều và hiện chiếm một tỷ lệ không đáng kể, và hầu như không phát sinh do đó đã ngăn chặn được những nguy cơ rủi ro tiềm tàng từ phương thức thanh toán này Việc phát hành L/C trả chậm
đã không diễn ra một cách tràn lan mà chỉ chấp nhận cho những doanh nghiệp cần nhập khẩu dây chuyền công nghệ mới hoặc nguyên vật liệu trong nước chưa sản xuất được,…Đồng thời ngân hàng đã tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tiệu thụ hàng hóa của các doanh nghệp để thu hồi vốn cho ngân hàng Ngoài ra, những rủi ro tác nghiệp từ phía ngân hàng hầu như không còn
Trang 33xảy ra nữa, những trục trặc do chậm trễ hay sai sot trên đường truyền đã được khắc phục một cách cơ bản Chi nhánh đã nắm vững hơn về nghiệp vụ và được thực hiện giao dịch trực tiếp với ngân hàng nước ngoài, giúp quá trình hình thành và thanh toán L/C ngày càng được nhanh chóng kịp thời.
2.3.1.2 Về cơ sở vật chất kỹ thuật
Đây là vấn đề nổi bật nhất trong những thành tựu mà ngân hàng đạt được Hiện nay, ngân hàng đã thay đổi hầu như toàn bộ hệ thống máy tính mới, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hệ thống mạng SWIFT phát triển đã tiết kiệm được thời gian, chi phí và độ an toàn, chính xác cao Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng mạng Internet để cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn
Cùng theo sự phát triển chung của hệ thông ngân hàng No&PTNT Việt Nam, là một loạt các dự án công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt được triển khai, cụ thể: Dự án IPCAS giai đoạn II; Dự án kết nối thẻ Visa, Master Card, Banknetvn; Nâng cấp mạng truyền thông; Kết nối trực tuyến với công ty chứng khoán; Cung cấp dịch vụ SMS; Dự án tư vấn chiến lược phát triển công nghệ thông tin và dịch vu tới năm 2015; Mua bản quyền Microsoft Office cho toàn hệ thống
Một số dự án quan trọng khác như hệ thống xác thực tập trung PKI, hệ thống đào tạo trực tuyến E-learning, dự án xây dựng Trung tâm hỗ trợ chi nhánh và khách hàng Contact Center, phát hành thẻ chip theo chuẩn EMV cũng đã được triển khai, tạo nền tảng công nghệ tiên tiến để Ngân hàng No&PTNT cung cấp nhiều sản phẩm ngân hàng hiện đại như gửi nhiều nơi, rút nhiều nơi, Telephone Bankinh, Internet Banking
Chiến lược công nghệ thông tin của Ngân hàng No&PTNT là tiếp tục đầu tư hiện đại hóa công nghệ phục vụ hoạt động ngân hàng, chuẩn hóa cơ
Trang 34cấu tổ chức công nghệ thông tin phù hợp với mô hình xử lý tập trung của ngân hàng hiện đại, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cạnh tranh hội nhập.
Chính nhờ triển khai những nghiệp vụ trên mà nghiệp vụ TTQT đã trở nên đơn giản hóa và nhanh chóng hơn Cán bộ TTQT có thể tự quản lý khách hàng của mình Các phòng kết nối với nhau nên nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng kịp thời
2.3.1.3 Phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới
Thời gian gần đây, ngân hàng đã đưa các loại L/C đặc biệt vào tài trợ xuất nhập khẩu như: L/C chuyển nhượng, nhận tư vấn cho khách hàng về bộ chứng từ hoàn hảo, chiết khấu bộ chứng từ theo L/C,…thủ tục thanh toán L/C được thực hiện ngày càng nhanh chóng, gọn nhẹ, đơn giản tiến tới phù hợp với thông lệ quốc tế
2.3.1.4 Về chất lượng cán bộ TTQT
Lượng thanh toán viên có trình độ cao ngày càng tăng Hiện tại phòng Kinh doanh ngoại hối có 100% cán bộ là có trình độ đại học Chi nhánh liên tục tạo điều kiện cho cán bộ TTQT đi học để nâng cao trình độ nghiệp vụ tại các trung tâm đào tạo sau đại học có uy tín chất lượng tốt Cùng với sự phát triển vượt bậc này đã mang lại lượng khách hàng ngày càng gia tăng, uy tín của ngân hàng ngày càng được khẳng định
2.3.1.5 Về kết hợp kiểm tra,kiểm sát
Ngân hàng No&PTNT Thanh Trì đã phục vụ tốt các yêu cầu công tác của các cơ quan thanh tra và kiểm soát, đồng thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng cũng đã kết hợp tốt với một số bộ phận và cơ quan quản lý cấp trên trong việc giải quyết các vướng mắc phát sinh trong giao dịch thanh toán theo phương thức L/C với khách hàng và ngân hàng nước ngoài
Trang 352.3.2 Những tồn tại dẫn đến rủi ro trong thanh toán L/C của ngân hàng No&PTNT Thanh Trì.
2.3.2.1 Bản thân phương thức thanh toán L/C còn những tồn tại
Thanh toán bằng L/C chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu của các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng No&PTNT Thanh Trì nói riêng, và nó cũng là phương thức thanh toán phức tạp nhất trong ba phương thức thanh toán đang được sử dụng Vì vậy, những vướng mắc mà thanh toán bằng L/C mang lại cũng là nhiều nhất
và chủ yếu nhất Những vướng mắc do nó mang lại thường là:
Căn cứ trả tiền duy nhất trong thanh toán L/C là bộ chứng từ gửi hàng Nhưng nhận thức được thế nào là bộ chứng từ hoàn hảo lại thực sự chưa thống nhất giữa các ngân hàng: cùng một bộ chứng từ từ, ở ngân hàng này nó
là phù hợp, nhưng ở ngân hàng khác nó lại không được chấp nhận, việc này gây nên tranh chấp khó giải quyết
Việc thanh toán chỉ dựa trên bộ chứng từ mà không căn cứ vào hàng hóa đã là một khe hở để một số tổ chức cá nhân tiến hành lừa đảo
Thực hiện thanh toán bằng L/C đòi hỏi nghiệp vụ cao, phức tạp gồm cả nghiệp vụ ngoại thương, vận tải, bảo hiểm,…đồng thời đòi hỏi phải thực hiện chính sách tuyệt đối mà không phải lúc nào các bên tham gia cũng có khả năng thực hiện đúng như yêu cầu
Đối với L/C xuất khẩu.
L/C được mở bằng thư hoặc có xác nhận bằng thư sai mẫu chữ ký rất nhiều Tại những ngân hàng có quan hệ đại lý, việc xác nhận chữ ký có nhiều khó khăn, song những ngân hàng không có quan hệ đại lý phải xác nhận qua một ngân hàng thứ ba Bên cạnh đó, một số ngân hàng thứ ba không đồng ý
Trang 36thực hiện dịch vụ nên phải yêu cầu qua một ngân hàng khác tạo ra nhiều bất lợi cho ngân hàng xuất khẩu.
Với hạn chế số lượng ngân hàng đại lý, Chi nhánh gặp không ít khó khăn trong việc thông báo L/C cũng như mất đi một lượng khách hàng xuất khẩu qua ngân hàng, càng làm cho tình tràng thiếu hụt ngoại tệ trở nên trầm trọng, gây rủi ro cho thanh toán
Kiến thức về vận tải và bảo hiểm của cán bộ ngân hàng còn rất hạn chế nên gây ra không ít rủi ro cho khách hàng lẫn ngân hàng
a Đối với khách hàng xuất khẩu.
Khi nhận được thông báo L/C doanh nghiệp xuất khẩu kiểm tra L/C chưa kỹ, không phát hiện ra dấu hiệu mập mờ hay những điều khoản mà phía mình khó thực hiện, những điều khoản bất lợi Dẫn đến việc thực hiện không đúng L/C, kết quả bị nước ngoài trừ tiền chậm trả, có khi là bị từ chối chấp nhận thanh toán
Đối với các đơn vị xuất khẩu, sai sót trong quá trình lập chứng từ là một tồn tại chủ yếu từ trước cho đến nay vẫn chưa khắc phục được Nguyên nhân trực tiếp là do trình độ nghiệp vụ ngoại thương, nghiệp vụ TTQT còn thấp Trong quá trình thực hiện L/C, khi nhận được các L/C dài, nhiều nội
Trang 37dung, yêu cầu nhiều chứng từ và sử dụng ngôn ngữ khó hiểu đã dẫn đến hiểu sai và nhầm lẫn.
Vận đơn là một chứng từ quan trọng, bị kiểm tra rất chặt, vậy mà vẫn
có lỗi: người ký Bill of Lading (B/L) không chỉ rõ năng lực của mình, B/L ghi như vậy sẽ bị người mua từ chối ngay Các lỗi khác như không kỳ vận đơn, nội dung B/L khác với nội dung L/C
Bên cạnh những lỗi nghiệp vụ là những lỗi trong văn bản tiếng Anh về ngữ pháp, lỗi chính tả, lỗi đánh máy,…đó là những lỗi rất nhỏ nhưng nếu không phát hiện ra để sữa chữa thì vẫn có thể bị từ chối thanh toán
Trên thực tế, lập được một bộ chứng từ hoàn hảo, không có một lỗi nào
là một điều hiếm thấy Việc trả tiền dựa vào thiện chí người mua là chủ yếu, nếu chưa muốn trả tiền ngay thì họ có thể tìm mọi cách để trì hoãn Vì vậy, cán bộ TTQT tư vấn giúp khách hàng lập được bộ chứng từ phù hợp là điều rất cần thiết
b Đối với khách hàng nhập khẩu.
Nghiệp vụ mở L/C nhập của các doanh nghiệp nhập khẩu còn thấp, thường mắc lỗi, không bám sát hợp đồng dẫn tới bên bán hàng không chấp nhận, phải sửa đổi lại gây tổn thất chi phí vô ích, mất thời gian Nhiều khi việc mở L/C nhập còn thiếu sót gây thiệt hại cho chính đợn nhập khẩu Điều này chỉ có doanh nghiệp nhập khẩu tự khắc phục Ngân hàng chỉ mở L/C theo đúng đơn yêu cầu mở L/C của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhập khẩu cũng có thể gặp rủi ro bấ khả kháng Chẳng hạn một công ty xuất nhập khẩu mở L/C trả chậm nhập khẩu xe máy cũ của Nhật Hàng về đến cảng Hải Phòng, nhưng trong thời gian đó văn bản của Chính phủ cấm nhập ô tô, xe máy cũ Vì vậy ngân hàng không ký hậu B/L để doanh nghiệp đi nhận hàng Việc nhận hàng và thanh toán bị đình lại