Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn chọn đề tàikhóa luận tốt nghiệp là: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao d
Trang 1LUẬN VĂN
"Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam "
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước khi trình bày luận văn, tôi xin trân trọng cảm ơn thày Đinh Xuân Trình - giáo viên hướng dẫn cùng toàn thể các anh, chị công tác tại phòng Thanh toán quốc tế, Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã chỉ bảo tận tình, hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Sinh viên Lưu Phương Lan
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: RỦI RO VÀ CÁC RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 4
I Khái niệm về rủi ro và phân loại 4
1 Khái niệm 5
2 Phân loại 6
II Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 6
1 Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 6
1.1 Rủi ro kỹ thuật 6
1.2 Rủi ro đạo đức 12
1.1 Rủi ro chính trị 15
2 Các loại L/C và những rủi ro tiềm ẩn 17
2.1 Khái niệm L/C 17
2.2 Nội dung của L/C 17
2.3.Các loại L/C và những rủi ro tiềm ẩn 19
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 23
I Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Sở giao dịch I 24
1 Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn xứng đáng là ngân hàng
Trang 4xung kích phục vụ đầu tư phát
triển 24
2 Sự ra đời và phát triển của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam 292.1 Sự ra đời 292.2.Hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm gần đây 30
II Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao
dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 32
1 Khái quát về tình hình thanh toán quốc tế tại
SGDI 32
2 Tình hình rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 382.1 Vận dụng phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động thanh
SGDI 38
2.2 Thực trạng về rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam 46
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN
CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 55
I Quan điểm định hướng trong việc đưa ra các giải
pháp 55
1 Các định hướng
chung 55
Trang 51.1 Các giải pháp phải phù hợp với thông lệ quốctế 56
1.2 Tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển 571.3 Phù hợp với tình hình thực tế ViệtNam 58
2 Định hướng hoạt động của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam 582.1 Định hướng hoạt động chung 582.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế bằng
phương thức thư tín dụng tại SGDI - Ngân hàng ĐT & PTVN 59
II Những giải pháp chủ yếu 60
1 Những giải pháp tầm vĩ mô 601.1 Sớm nghiên cứu, soạn thảo và áp dụng hệ thống luật, tạo môi
trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốctế 60
1.2 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng 611.3 Tổ chức thực hiện tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tạo điềukiện cho thị trường hối đoái Việt Nam ngày càng phát triển 62
2 Những giải pháp tầm vi mô 622.1 Chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứngtừ 62
Trang 62.5 Những giải pháp về hoạt động nghiệpvụ 65
2.6 Giải pháp về nguồn ngoại tệ để thanh toán L/C 672.7 Đảm bảo khả năng thanh toán trên cơ sở quản trị rủi ro hoạt
động ngoại bảng 682.8 Giải pháp về mặt kiểm tra - kiểmsoát 69
2.9 Giải pháp về hạn chế rủi ro từ phía khách hàng 69
3 Kiến nghị 703.1 Kiến nghị đối với Nhà nước và các ngành có liênquan 70
3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhànước 73
3.3 Kiến nghị đối với Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 73
KẾT LUẬN 81
Danh sách tài liệu tham khảo 82
Trang 72 Bảng 2 Doanh số thanh toán xuất khẩu, nhập khẩu tại SGDI - Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm qua
3 Bảng 3 Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế trong SGDI
4 Bảng 4 Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức L/C tại SGDI
5 Bảng 5 Dư nợ bảo lãnh L/C trả chậm tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nhân loại, hoạtđộng kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quantrọng đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta Với
tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thương mại quốc tế, công tác thanhtoán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và phát triển Song, khi thươngmại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua và người bán càngtrở nên đa dạng và phức tạp Điều này đồng nghĩa với nguy cơ rủi ro ngày càngcao trong buôn bán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng Bằngchứng là nếu nhìn lại công tác thanh toán quốc tế của các ngân hàng thươngmại Việt Nam trong thời gian qua, điều làm chúng ta không khỏi lo ngại lànhững con số thiệt hại đáng kể trong nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất nhậpkhẩu theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Nếu xét trong cả nềnkinh tế, hàng năm rủi ro trong phương thức này có thể lên tới hàng trăm triệuUSD, đe dọa sự an toàn trong kinh doanh của cả ngân hàng và các doanhnghiệp
Trong khi đó, với sự non trẻ và còn ít kinh nghiệm thực tế trong thanhtoán quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và Sở giao dịch I
- Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nói riêng đang gặp rất nhiều khókhăn trong việc đối phó với xu thế hội nhập ngân hàng khu vực và quốc tếcũng như tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt Do vậy, việc hoàn thiện vàphát triển công tác thanh toán quốc tế cụ thể là nghiên cứu và phòng tránh cácrủi ro trong thanh toán quốc tế là một trong các mối quan tâm hết sức cấp bách
và thường xuyên của mỗi ngân hàng
Trang 10Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
khóa luận tốt nghiệp là: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam cũng chỉ với mục đích làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ trong nền kinh tế, luận giải có tính hệ thống
cơ sở lý luận và thực tiễn, các ưu nhược điểm và nguyên nhân gây ra rủi rotrong phương thức thanh toán này Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tíndụng chứng từ nói riêng
2 Đối tượng nghiên cứu
Đây là đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về các rủi ro
trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những giải pháp để hạn chếrủi ro đó
3 Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi của một khoá luận, tôi cũng chỉ xin tập trung nghiên cứu vàtrình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động thanhtoán tín dụng chứng từ, thực tiễn về hoạt động này tại Sở giao dịch I - Ngânhàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm gần đây (từ năm 1999đến 2002)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm có hiệu quả, tôi đã sử dụng tập hợp các phương pháp như duy vật biện chứng, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh cùng với việc tham khảo các sách, tài liệu trong và nước ngoài có liên quan
5 Kết cấu của khoá luận
Trang 11Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận này có bố cục như sau:
Chương I: Rủi ro và các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Chương II: Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Trang 12CHƯƠNG I RỦI RO VÀ CÁC RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
III Khái niệm về rủi ro và phân loại
Kể từ đại hội Đảng VI - năm 1986, với chủ trương phát triển nền kinh tế
mở cửa nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với các nướctrong khu vực và trên thế giới, quan hệ thương mại giữa nước ta với các nướcđang không ngừng tăng lên Hằng năm, kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước tađạt bình quân khoảng từ 15 đến 18 tỷ USD (năm 1997 đạt khoảng 20 tỷ USD)trong đó ước tính đến 90% sử dụng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng.Qua đó có thể thấy được rằng nhờ vào tính ưu việt của mình, phương thức tíndụng chứng từ đã được sử dụng rộng rãi và đã góp phần đáng kể trong việc tạo
ra những kết quả đáng khích lệ nói trên Vì vậy, nếu một doanh nghiệp mới vàonghề kinh doanh xuất nhập khẩu cần một lời khuyên của ngân hàng trong thanhtoán thì lời khuyên đó sẽ là: "hãy chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ để đảm bảo Quyền và Nghĩa vụ của cả hai phía: người bán giao hàng sẽđược trả tiền, người mua trả tiền được quyền nhận hàng, trên cơ sở các nguyêntắc của UCP 500"
Tuy nhiên, do chúng ta đang trong quá trình hội nhập và mới làm quenvới các giao dịch kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường trong khi đối tác làcác nhà buôn chuyên nghiệp nước ngoài đã có kinh nghiệm hàng trăm năm nênkhông tránh khỏi nhiều bỡ ngỡ, sai lầm dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng.Thêm vào đó, đội ngũ chuyên gia giỏi thuộc các lĩnh vực liên quan còn thiếu
do công tác giáo dục, đào tạo chưa kịp đáp ứng yêu cầu Khâu yếu nhất hiệnnay là không ít giám đốc và cán bộ chủ chốt của các doanh nghiệp kinh doanhxuất nhập khẩu chưa sử dụng thành thạo ngoại ngữ khi đàm phán Theo điềutra gần đây, có tới 70 % số giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa qua đàotạo chính quy về nghiệp vụ ngoại thương Chính vì sự thiếu hụt kể trên mà rủi
ro là không thể tránh khỏi Rủi ro trong thanh toán nói chung và trong phương
Trang 13thức thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng rất đa dạng, có thể xuất phát từphía khách hàng cũng có thể từ phía các ngân hàng.
1 Khái niệm
Khi đề cập đến rủi ro, mọi người hay quan đó là những điều không tốtlành, tổn thất hay thậm chí thiệt hại về vật chất vô hình hay hữu hình xảy rangoài dự kiến do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan
Ta có thể định nghĩa rủi ro như sau:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con ngườithường có những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại
về người và tài sản Những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫunhiên như vậy được gọi là rủi ro
Để đối phó với các loại rủi ro không lường trước được đó, con người đã
cố gắng tìm kiếm mọi phương cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro Từ biệnpháp không thực hiện những việc làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy tắc
về an toàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế thậm chí lập ra những quỹ
dự phòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có thể gặpphải Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố gắng hạnchế đến mức tối đa và phòng tránh các loại rủi ro để mọi quá trình sản xuất,kinh doanh được diễn ra tốt đẹp
Trong thanh toán quốc tế cũng vậy, tuy là hoạt động mang đến cho ngânhàng thương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi
ro Người ta định nghĩa rủi ro trong thanh toán quốc tế là:
Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những hiện tượng khách quan có liênquan và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế
Nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia quan hệthanh toán quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cánhân và các tác nhân trung gian ) hoặc do các nhân tố khách quan khác gâynên Con người có thể nhận biết được các hiện tượng khách quan đó, songkhông thể lượng hóa các hiện tượng đó xảy ra vào lúc nào? ở đâu? và mức độthiệt hại thực sự đến thanh toán quốc tế
Trang 142 Phân loại
Các rủi ro trong thanh toán quốc tế có thể được phân loại như sau:
- Rủi ro kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp)
IV Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1 Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán theo phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ Trong phạm vi của luận văn này, chỉ xinđược đề cập đến những rủi ro thường gặp nhất trong thực tế, có thể chia thành
ba loại chính là: rủi ro kỹ thuật, rủi ro đạo đức và rủi ro chính trị trong đó rủi ro
kỹ thuật xảy ra nhiều nhất vì vậy phần đầu trước hết xin dành để nói về rủi ro
kỹ thuật
1.1 Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy trìnhthanh toán L/C, thường do các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quytrình nghiệp vụ thanh toán
Rủi ro đối với người xuất khẩu
Như ta đã biết, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngânhàng phát hành đứng ra cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuấttrình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng theoquy định của hợp đồng thương mại, L/C thường đòi hỏi nhiều điều khoản rấtchi tiết và khắt khe Chỉ với một sai khác dù rất nhỏ cũng có thể bị ngân hàng
Trang 15mở và người mua từ chối thanh toán với lý do có sự sai biệt hoặc không phùhợp với L/C Việc duy nhất mà người xuất khẩu có thể làm để tránh được rủi rotrên là nhanh chóng, khẩn trương lập bộ chứng từ phù hợp với L/C Một bộchứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Các chứng từ phải được lập ra đúng yêu cầu về số lượng, số loại, nội dungnhư đã quy định trong L/C
- Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm trả tiền quy định trong L/Ctrong thời hạn hiệu lực của L/C
Nhưng trong thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng
từ mà thường gặp nhất là:
- Sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ
bản của mỗi loại
+ Số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị L/C
+ Các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ,
về hãng vận tải, phương thức vận chuyển
Tất cả những sai sót trên đều có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro trongthanh toán, gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu
Khi nộp chứng từ cho ngân hàng chiết khấu, nếu ngân hàng phát hiện racác sai sót mà có thể sửa chữa được thì việc sửa chữa sẽ làm chậm quá trìnhthanh toán Nếu sai sót không thể sửa chữa thì bộ chứng từ không được chiếtkhấu hoặc chấp nhận mà phải đợi ý kiến của ngân hàng mở và người mua đểgiải quyết Như vậy, quá trình thanh toán sẽ bị kéo dài làm cho người bánkhông thể thu hồi vốn nhanh được Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở có
Trang 16thể dựa vào những sai biệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong khi
đó hàng hoá đã được gửi đi Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán giảmgiá hàng hoá hoặc tìm khách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là một cácchi phí như phí đền bù, cước lưu kho và các phí tổn phát sinh khác
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi tiếnhành giao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao hàngmuộn, xuất trình chứng từ muộn Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện sự viphạm một trong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá khôngđúng với hợp đồng mua bán Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tínhđộc lập giữa L/C và hợp đồng thương mại Việc thanh toán giữa ngân hàng haibên mua bán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình phùhợp với quy định của L/C tức là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về sự khớpđúng trên bề mặt giữa bộ chứng từ thanh toán với L/C chứ không chịu tráchnhiệm về tính chân thực của chứng từ và tình hình thực tế giao hàng Do vậy,người mua sẽ phải chịu rủi ro khi tiền hàng đã trả theo bộ chứng từ xuất trìnhcho ngân hàng đều phù hợp cả về số lượng, chất lượng nhưng thực tế thìhàng hoá nhận được lại không đúng với mong muốn, không giống như tronghợp đồng thương mại mà trước đó hai bên đã thoả thuận
Rủi ro đối với ngân hàng
Trong nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng đóng vai tròquan trọng không thể thiếu Vì vậy, cũng giống như khách hàng của mình, với
vị trí khác nhau, ngân hàng cũng có thể gặp những rủi ro khác nhau
Cũng như rủi ro trong nghiệp vụ tín dụng, rủi ro trong nghiệp vụ thanhtoán L/C không hẳn là những mất mát, thiệt hại xảy ra cho các ngân hàng dokhông thu hồi được vốn đã thanh toán cho nước ngoài, nhiều khi còn là việckhông thu hồi vốn đúng hạn, hoặc làm phát sinh các khoản chi phí vô ích khác
Ngân hàng mở L/C là người cam kết trả tiền cho người xuất khẩu Vì vậy,nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng mở là rất lớn
Trang 17- Rủi ro trong nghiệp vụ mở:
Việc đầu tiên của các ngân hàng thương mại khi mở L/C nhập khẩu làphải kiểm tra tính pháp lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp mới giaodịch lần đầu), hợp đồng thương mại, đơn xin mở L/C, nguồn vốn thanh toánbao gồm vốn vay hay vốn tự có và các chứng từ có liên quan khác Rủi ro ởcông đoạn này thường xảy ra ở phía doanh nghiệp thể hiện trong các điềukhoản của hợp đồng ngoại thương như giá cả, phương thức thanh toán, phươngthức vận tải, điều khoản trọng tài Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro, các cán bộ tácnghiệp của ngân hàng hết sức lưu ý nghiên cứu kỹ các điều khoản trong hợpđồng ngoại thương và đơn xin mở L/C để tư vấn cho doanh nghiệp lấy lại lợithế nếu thấy cần thiết Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp mà lợi thế thuộc vềkhách hàng nước ngoài và ngân hàng đã tư vấn dàn xếp ổn thoả theo đúng luậtcủa nước phát hành và quốc tế
Một rủi ro nữa mà ngân hàng có thể gặp phải khi mở L/C là dùng saihoặc sót trong từng chữ, dấu chấm, dấu phẩy so với đơn xin mở L/C củadoanh nghiệp Tất nhiên phí tu chỉnh cho những sai sót đó ngân hàng phải chịu
Vì vậy, để khắc phục rủi ro này, cần phải tiến hành kiểm tra lại kỹ càng sau khi
đã mở L/C trên máy Một điều cũng cần quan tâm là ngân hàng mở tuyệt đốikhông được tự thêm bớt nội dung vào L/C so với đơn xin mở, ngoại trừ sựthêm bớt đó làm tăng thêm lợi thế cho khách hàng của mình và phù hợp vớihợp đồng ngoại thương, và các văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn chiếutrong L/C như UCP 500 và Incoterms 2000
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứng từ đến và khi thanh toán
Có thể nói đây là nghiệp vụ "vạch lá tìm sâu" của ngân hàng mở nhằmphát hiện những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với nộidung và bề mặt của L/C đã mở Rủi ro cho ngân hàng sẽ xảy ra khôn lường nếungân hàng không kiểm tra kỹ bộ chứng từ mà vẫn thực hiện thanh toán hoặcchấp nhận thanh toán Bởi lẽ từ trước đến nay đã có những bộ chứng từ giả,đặc biệt là B/L giả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền, cũng có trường hợpghi "theo lệnh" (to order ) không đúng tên người nhận, làm cho việc nhậnhàng bị chậm trễ, tăng chi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại không chỉ cho khách
Trang 18hàng mà cả cho ngân hàng mở nếu lô hàng đó ngân hàng cho vay thanh toán.Nhằm hạn chế phần nào các trường hợp trên, các doanh nghiệp cũng như cácngân hàng thương mại khi mở L/C nhập khẩu nên quy định thêm điều khoản:Gửi lên tàu ngay sau khi giao hàng một bản sao bộ chứng từ cho người mởL/C, nhằm mục đích để cho người mở kiểm tra trước, nếu có sai sót thì kịp thời
tu chỉnh sửa đổi, đồng thời có tác dụng tăng thêm độ tin cậy rằng hàng đã đượcbốc xếp lên tàu
Sau khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng cũng có thể vấp phải một số rủi ro
kỹ thuật như không tuân thủ UCP, ví dụ: chuyển giao bộ chứng từ khôngphù hợp cho người mở đi nhận hàng, hoặc làm mất không trả lại chứng
từ cho phía xuất trình nguyên vẹn như khi nó nhận được, hoặc không giao chứng từ đó cho bên thứ ba do phía xuất trình chỉ định
Chúng ta đều biết rằng bằng việc đồng ý mở L/C, ngân hàng mở cam kếtthay mặt người mua thanh toán cho người xuất khẩu nếu anh ta thực hiện đúngnhư quy định của L/C Chính vì tính thay mặt cho người mua đã làm xuất hiệnkhả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở Đó là rủi ro không đòi được tiền
từ phía nhà nhập khẩu do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bịphá sản Đây chính là rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở.Nguyên nhân có thể là do ngân hàng không tiến hành thẩm định khi doanhnghiệp lần đầu tiên đến quan hệ mở L/C thậm chí ngân hàng có tiến hành thẩmđịnh nhưng không phải lúc nào kết quả thẩm định cũng chính xác do thông tinkhông đầy đủ, không tin cậy hoặc do lúc ngân hàng thẩm định thì tình hình tàichính của khách hàng rất tốt nhưng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhànhập khẩu bị thua lỗ liên tục mà ngân hàng không hay biết, chẳng hạn nhưhàng nhập khẩu về bán không thu được tiền, nợ đọng thuế nhập khẩu kéo dài bịhải quan cưỡng chế không cho nhận hàng
Trong nghiệp vụ thông báo L/C, ngân hàng mở có thể bị rủi ro do khônghành động đúng theo UCP mà L/C đã dẫn chiếu Theo UCP 500, ngân hàng mởđược miễn trách nhiệm thanh toán nếu toàn bộ chứng từ có sai biệt hay khôngphù hợp với L/C Tuy nhiên nếu ngân hàng mở không hành động đúng theo
Trang 19những quy định tại điều 13 UCP 500 thì ngân hàng mở gặp rủi ro trên chínhnhững bộ chứng từ không phù hợp đó Đó là các trường hợp:
+ Thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự sai biệt của chứng từ hoặcnhững điểm không phù hợp bị ngân hàng chiết khấu phủ nhận và trở nên không
có giá trị
+ Thông báo những sai biệt, không phù hợp và từ chối chứng từ vượtquá 7 ngày làm việc của ngân hàng
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng thông báo khi ngân hàng này quyết địnhthông báo phải một L/C giả hoặc một tu chỉnh L/C không có hiệu lực trong khichính ngân hàng chưa xác định được tình trạng mã khoá (hay mẫu chữ ký uỷquyền đối với trường hợp phát hành L/C bằng thư) hoặc khi ngân hàng thôngbáo quyết định của mình cho ngân hàng mở biết một cách chậm trễ
Theo quy định của UCP 500, khi trên thư tín dụng chuyển bằng điện cóghi "các chi tiết đầy đủ gửi sau" hay những từ có nội dung tương tự hoặc ghirằng thư xác nhận sẽ là văn bản có hiệu lực của thư tín dụng thì điện chuyển
sẽ không được xem như là văn bản có hiệu lực Vì vậy, nếu ngân hàng thôngbáo về thư tín dụng cho khách hàng thì phải ghi rõ trên thông báo: "thông báo
sơ bộ chưa có hiệu lực thi hành" Khi ngân hàng thông báo không làm đúngđiều đó để khách hàng hiểu lầm rằng đó là L/C có hiệu lực và thực hiện giaohàng thì mọi rủi ro ngân hàng sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là do không nắm chắc năng lựctài chính của ngân hàng mở lại vội đi xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi cuốicùng phải nhận lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở trongtrường hợp ngân hàng mở thiếu thiện chí hoặc mất khả năng thanh toán thậmchí bị phá sản
Đối với ngân hàng chiết khấu rủi ro xảy ra phần nhiều tuỳ thuộc vàothiện chí của ngân hàng mở và nhà nhập khẩu Ngân hàng chiết khấu sẽ khôngthu hồi được tiền hoặc thu chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, thậm
Trang 20chí từ chối thanh toán thông qua việc "bới bèo ra bọ" trong việc kiểm tra chứng
từ của ngân hàng mở Lý do để người nhập khẩu trì hoãn chủ yếu là do gặp khókhăn trong thanh toán hoặc cũng có thể do bên mua không tin tưởng bên bán vìhay giao hàng trễ, giao hàng kém chất lượng Mục đích của người mua là muốnhàng thật sự về cảng, nhìn thấy hàng rồi mới trả tiền Để trì hoãn thanh toán, họ
sẽ yêu cầu ngân hàng mở thông báo những sai biệt của chứng từ trong vòng 7ngày làm việc để dành quyền được từ chối thanh toán sau này Đối với ngânhàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng dài, ngân hàng bị chiếmdụng vốn càng lâu
Về phía người xuất khẩu, họ có thể lợi dụng về tính độc lập giữa bộchứng từ thanh toán và tình hình giao hàng thực tế để lập ra những bộ chứng từgiả mạo phù hợp với L/C nhằm đòi tiền hàng Vấn đề chứng từ giả mạo hiệnđang là vấn đề khó khăn chưa có giải pháp nào quy định trong UCP 500 Điềuđáng chú ý là trong UCP 500, có quy định cho ngân hàng được miễn tráchnhiệm về chứng từ giả mạo vì thực tế ngân hàng cũng khó phát hiện chứng từgiả mạo nhưng dù sao quy định này lại trở thành khe hở để cho hành vi gianlận, giả mạo dễ bề len lỏi
Về phía người nhập khẩu, họ có thể không hoặc kéo dài thời gian đinhận chứng từ và trả tiền khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng do cơhội kinh doanh đã mất hay do các mối hàng khác hoặc tình hình trên thị trườnghàng hoá có những biến động bất lợi Đặc biệt khi vay ngân hàng để mở L/C,
họ có thể sử dụng số tiền bán hàng vào mục đích khác, kinh doanh quay vòngthay vì thanh toán cho ngân hàng ngay như là một hình thức chiếm dụng vốncủa ngân hàng
Trang 21Đặc biệt các ngân hàng mở cũng có thể vi phạm cam kết của mình nhưđứng về phía người nhập khẩu từ chối hoặc trì hoãn thanh toán cho người xuấtkhẩu Đó là chưa kể tới không ít trường hợp cán bộ ngân hàng và khách hàngthông đồng với nhau cố tình vi phạm quy trình thanh toán của ngân hàng nhằmchiếm dụng vốn của ngân hàng và bạn hàng.
Tất cả những rủi ro do những vi phạm nêu trên đều được coi là rủi ro đạođức Ngày nay, khi quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế được mở rộng thì rủi ro đạo đức trở thành mối quan tâm lớn không chỉ của các ngân hàng mà cả doanh nghiệp nhằm bảo toàn vốn và an toàn trong kinh doanh Mặc dù trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã có sự cam kết của ngân hàng mở, nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người bán và người mua vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả của thanh toán quốc tế Khi người mua có thiện chí thì việc thanh toán sẽ diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều cho dù bộ chứng từ có sai sót cũng dễ được chấp nhận Ngược lại, khi họ có ý không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể do cơ hội kinh doanh đã mất hay do các mối hàng khác họ có thể dựa vào những sai sót dù là rất nhỏ của chứng
từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán Với người mua, sự trung thực của người báncũng rất quan trọng, bởi vì ngân hàng chỉ làm việc với những chứng từ
mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không Do đó, người mua có thể vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà không nhậnđược hàng hoá theo đúng hợp đồng Các vi phạm về hợp đồng có thể được giải quyết sau đó nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, trước hết là người mua mất cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng vốn Song, không chỉ người mua và người bán mà cả ngân hàng cũng đang đứng trước mối đe dọa to lớn đó Con số thiệt hại hàng năm trong thanh toán xuất nhập khẩu của các ngân hàng thương mại không phải nhỏ, gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng Trước hết, ngân hàng chịu ảnh
hưởng gián tiếp từ những rủi ro của khách hàng Khi người mua không nhận được hàng theo đúng yêu cầu và kế hoạch kinh doanh của họ bị phá
Trang 22vỡ thì họ không thể trả ngân hàng số tiền đã vay của ngân hàng để thanh toán L/C Khi người bán không nhận được tiền hàng thị họ không thể thanh toán cho ngân hàng khoản vay để sản xuất, thu gom hàng xuất khẩu Song ảnh hưởng gián tiếp chỉ là rất nhỏ so với những rủi ro trực tiếp mà nó có thể gây ra Nguyên nhân chủ yếu của rủi ro đạo đức là vấn
đề thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác Chính vì vậy mà đưa ra những phán quyết sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán
Để hạn chế rủi ro đạo đức, vấn đề cốt lõi là khắc phục tình trạng thôngtin không cân xứng Đứng ở góc độ ngân hàng, phải tiến hành điều tra, thu thậpthông tin chính xác về khách hàng để có thể sàng lọc những khách hàng chấtlượng Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn cả vẫn là uy tín của khách hàng
1.3 Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụngchứng từ là những rủi ro bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế, chính trị của cácnước có liên quan trong quá trình thanh toán
Tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề, có quan hệ với nhiều đốitượng kinh tế của nhiều quốc gia, thanh toán quốc tế mà chủ yếu là phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trườngkinh tế - chính trị - xã hội của các quốc gia Một khi các yếu tố trên biến động
dù là nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng tới quá trìnhthanh toán
Rủi ro chính trị thường gặp nhất là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lýđặc biệt ở những nước có hệ thống pháp luật chưa ổn định, thường xuyên cósửa chữa bổ sung Những rủi ro pháp lý thường liên quan đến việc thay đối cácquy định về dự trữ, thuế hay việc ban hành các quy định cản trở hoạt động củangân hàng trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Trong thực tế, những thay đổi này
Trang 23thường khiến các bên xuất nhập khẩu và ngân hàng không thực hiện nghĩa vụcủa mình, làm cho L/C bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên Sự phong toả kinh
tế của các quốc gia vì mục đích chính trị như trường hợp CuBa Iraq hay ViệtNam trước đây cũng mang lại những rủi ro tương tự
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảochính, đình công cũng có thể gây ra rủi ro cho quá trình thanh toán như mấtchứng từ, hàng hoá bị mất mát, hư hỏng, ngân hàng bị phong toả hoặc tạmngừng hoạt động
Những biểu hiện bất lợi của các yếu tố kinh tế - chính trị còn được nhânlên gấp nhiều lần khi nó ảnh hưởng đến sự ổn định giá trị đồng tiền Vì phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc gia khácnhau với đồng tiền khác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là một rủi rorất lớn tuy không xuất phát từ quá trình thanh toán Một ngân hàng có thể bịthiệt hại khi cho khách hàng vay để mở L/C hoặc chiết khấu chứng từ khi tỷgiá thay đổi Trong các giao dịch, người ta thường dùng các ngoại tệ mạnh hơn
để làm đơn vị tiền tệ, mà chủ yếu là USD Thông thường, ngân hàng cho kháchhàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C, và có thể phải mua ngoại tệ này ở nơikhác Khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giá tăng thì ngân hàng thuđược một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung Ngược lại, nếu tỷ giá giảm thìkhoản phí thu được chưa chắc đã bù đắp được khoản lỗ do chênh lệch tỷ giágây ra Ngoài việc ngân hàng buộc khách hàng phải ký quỹ mở L/C bằng ngoại
tệ mạnh sẽ không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng trong giai đoạn tỷ giá không
ổn định mà nhiều khi còn tiềm ẩn những rủi ro đối với ngân hàng Vì ngânhàng nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ trượt giá đồng nội tệ
so với ngoại tệ mạnh nên khi hàng nhập về, tỷ giá trượt mạnh, đối với nhữngmặt hàng bán giá cạnh tranh không thể tăng giá được, nhà nhập khẩu khôngmuốn nhập hàng vì sợ bị lỗ Trong trường hợp đó, nếu tỷ lệ ký quỹ không bùđắp tỷ lệ trượt giá nội tệ thì rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng phát hành
Các biến động kinh tế, chính trị, xã hội dù trực tiếp hay gián tiếp, tức thìhay lâu dài đều gây những ảnh hưởng tới hoạt động của các ngân hàng và
Trang 24khách hàng Vì vậy, rủi ro chính trị luôn là mối đe dọa đến hoạt động thanhtoán quốc tế của ngân hàng.
Bên cạnh những rủi ro trên, hoạt động thanh toán quốc tế theo phươngthức tín dụng chứng từ cũng như các hoạt động khác của ngân hàng còn gặpphải nhiều rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn gây thiệt hại cho cácbên nói riêng và nền kinh tế nói chung
Ngoài ra, các loại L/C cũng tiềm ẩn trong nó những rủi ro riêng Hiệnnay, L/C là phương thức thanh toán có nhiều loại hình đa dạng và thuận tiệnnhất cho các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và phát triển Do
đó, việc nghiên cứu các loại L/C hiện có và rủi ro của nó cũng rất cần thiết
2 Các loại L/C và những rủi ro tiềm ẩn
2.1 Khái niệm L/C:
Thư tín dụng (viết tắt là L/C - Letter of Credit) là một chứng thư trong
đó ngân hàng mở cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình đượcmột bộ chứng từ phù hợp với nội dung của thư tín dụng Nó là căn cứ pháp lý
để ngân hàng trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu chứng từ và cũng là cơ sở đểngười mua quyết định trả tiền cho ngân hàng phát hành
Về tính chất, L/C hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại, có nghĩa
là khi thanh toán các ngân hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà không cần biếtđến nội dung của hợp đồng mua bán cũng như không phụ thuộc vào mối quan
hệ giữa người mua và người bán hay mối quan hệ giữa ngân hàng với ngườimua mà chỉ căn cứ vào nội dung của L/C để trả tiền Ngân hàng cũng không cónghĩâ vụ xem xét nội dung của L/C có đúng hợp đồng hay không, việc giaohàng thực tế có đúng với nội dung của chứng từ xuất trình cho ngân hàng haykhông, mà chỉ căn cứ vào những chứng từ do người bán xuất trình Ngân hàng
sẽ trả tiền cho người bán nếu các chứng từ đó phù hợp trên bề mặt với các điềukhoản và điều kiện của L/C
Trang 25Thông thường, thư tín dụng được bên nhập khẩu mở trước ngày giaohàng một thời gian nhất định để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn
bị hàng hoá gửi đi Nếu L/C được mở sớm thì người xuất khẩu sẽ có lợi vì có
đủ điều kiện tốt để gửi hàng đi Nhưng ngược lại, nếu mở L/C quá sớm trướcngày giao hàng thì bên nhập khẩu sẽ bị đọng vốn đối với khoản ký quỹ là mộtphần hay toàn bộ L/C Vì vậy, thời gian mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai bênxuất và nhập khẩu
2.2 Nội dung của L/C
Theo khái niệm trên thì thư tín dụng là một phương tiện thanh toán rấtquan trọng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Nó liên quan chặtchẽ tới quyền lợi của các bên Trong trường hợp thư tín dụng không mở đượcthì phương thức thanh toán này không được xác lập và tất yếu sẽ không có việcgiao hàng cũng như việc thanh toán giữa người mua và người bán Còn khi thưtín dụng đã được mở thì nội dung của nó là một bộ phận vô cùng quan trọng vàtrở thành cốt lõi để các bên thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo quyền lợi cho đối táccũng như bản thân mình Vì vậy, nội dung của thư tín dụng phải đầy đủ, rõràng và chính xác Mỗi thư tín dụng mang một nội dung riêng biệt tuỳ theo nộidung của từng thương vụ, nhưng nhìn chung chúng có những nội dung cơ bảngiống nhau và thường không thể thiếu được trong một L/C, bao gồm: địa điểm
mở thư tín dụng, ngày mở thư tín dụng, số hiệu của thư tín dụng, loại thư tíndụng, số tiền, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán, nộidung về hàng hoá, các nội dung về vận tải và giao nhận và đặc biệt là bộ chứng
từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
Các bên liên quan khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từcần chú ý tới tất cả các nội dung nêu trên, đặc biệt là điều khoản yêu cầu
về bộ chứng từ mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng mở bởi đây chính là điều kiện để cam kết thanh toán được thực hiện Đối với người mua, thông thường họ muốn bộ chứng từ phải thật đầy đủ Ngược lại, người bán lại muốn bộ chứng từ càng đơn giản càng tốt, tránh mất nhiều thời gian và chi phí Bởi ngoài giấy tờ mà họ thể chủ động lập ra còn có
Trang 26rất nhiều chứng từ khác đòi hỏi được lập bởi một bên thứ ba Khi đó bộ chứng từ được lập ra sẽ mất nhiều thời gian, ảnh hưởng tới tốc độ thu tiền hàng của người bán, thậm chí còn dẫn đến vi phạm thời gian xuất trình chứng từ, tạo ra nhiều cơ hội để ngân hàng kiểm tra chứng từ có thểtìm ra sự sai biệt, tăng nguy cơ không đòi được tiền từ phía người mua Khi lập bộ chứng từ phải hết sức chú ý đến sự phù hợp của các chứng từ
và không trái với quy định của các văn bản pháp luật điều chúng Đây là điều kiện tiên quyết để người bán đòi được tiền hàng Ngoài nội dung trên ra, một số điều khoản khác cũng cần phải hết sức chú ý như: loại thưtín dụng, số tiền, ngày và nơi thư tín dụng hết hạn hiệu lực, thời hạn xuấttrình chứng từ Cụ thể là đối với người mua, bao giờ họ cũng muốn
mở thư tín dụng có thể huỷ ngang không xác nhận, hết hạn hiệu lực ở ngân hàng mở (ngân hàng phục vụ mình) để có thể chủ động trong mua bán hoặc đưa thêm một điều khoản có lợi cho mình Trong khi đó người bán lại mở thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận đảm bảo cho việc thu được tiền hàng
Thường người bán muốn thư tín dụng được mở sớm và hết hạn tại nước
họ để chủ động cho việc lập chứng từ, muốn thời hạn xuất trình chứng từ kéodài và L/C cho phép đòi tiền bằng điện
Chính vì những mâu thuẫn trên mà L/C rất đa dạng, mỗi hoạt động xuấtnhập khẩu lại có thể sử dụng mội loại hình L/C riêng phù hợp và do các bênthoả thuận với nhau
2.3 Các loại L/C và những rủi ro tiềm ẩn
Các loại L/C cơ bản:
(1) Thư tín dụng không huỷ ngang
(Irrevocable letter of credit)
Đây là loại L/C mà sau khi đã được mở ra thì ngân hàng không được đơnphương sửa đổi hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực nếu không có sự đồng ý của
cả người xuất khẩu và người nhập khẩu
Trang 27Như vậy, nếu không có sự nhất trí của người xuất khẩu, của ngân hàngxác nhận (nếu có) thì ngân hàng mở không được phép thực hiện theo yêu cầucủa bên nhập khẩu thay đổi L/C Do đó quyền lợi của người bán được đảm bảohơn.
Tín dụng không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng khá an toàn và cóthể cân bằng được quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng rộngrãi trong thương mại quốc tế ngày nay Tuy nhiên, rủi ro cũng vẫn có thể xảy rakhi ngân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, người xuất khẩu sẽ không thuđược tiền và trong khi người nhập khẩu đã thanh toán
(2) Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận
Confirmed L/C
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một ngân hàng thứ ba đứng
ra xác nhận và chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người hưởng lợi khi ngânhàng mở không có khả năng thanh toán
Nguyên nhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợi không tintưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C Tuy đây là loại L/C tạocho người bán một sự đảm bảo hai lần trong việc sẽ được thanh toán tiền hàng
- vậy là rất an toàn - nhưng nó lại thường không nhận được sự hưởng ứngnhiều của ngân hàng mở L/C do nó gián tiếp làm giảm uy tín của họ Đôi khiviệc thoả thuận lựa chọn ngân hàng xác nhận cũng gây chậm chễ, khó khăn vớicác bên liên quan: bên bán chậm thu được tiền để nhanh chóng tiếp tục đầu tưtái sản xuất; bên mua chậm nhận được hàng vì bên bán không giao hàng khi L/
C chưa được xác nhận, dẫn đến mất cơ hội kinh doanh; ngân hàng mở L/Ccũng có thể bị mất uy tín trên thị trường khi các khách hàng khác nắm đượcthông tin này và cũng không còn tin tưởng vào khả năng thanh toán của họnữa Hơn nữa, ngân hàng được chỉ thị xác nhận L/C không phải lúc nào cũngsẵn sàng xác nhận nếu họ cảm thấy có điều khoản bất lợi trong cam kết củamình Ngoài ra, một điểm rất bất lợi nữa của loại L/C này là chi phí do cộngthêm cam kết rất cao Như vậy, rủi ro là không thể tránh khỏi
(3) Thư tín dụng trả ngay
Trang 28(4) Thư tín dụng trả chậm
Deferred L/C
Là thư tín dụng trong đó ngân hàng mở L/C phải thanh toán số tiền ghitrong L/C cho nhà xuất khẩu sau một thời gian xác định trong tương lai khinhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp
Loại L/C sẽ gây rủi ro tỷ giá nếu thời gian xác định trong L/C kéo dài
mà trong thời gian đó có sự biến động tỷ giá ngoại tệ Nếu tỷ giá tăng mạnh thì
sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng mở Ngược lại, nếu tỷ giá giảm sẽ gây thiệt hại
cho nhà xuất khẩu
Các loại L/C đặc biệt
(5) Thư tín dụng có điều khoản đỏ
Đây là loại L/C đặc biệt, nó mang hình thức tài trợ cho nhà xuất khẩu.Ngân hàng phát hành L/C sẽ chuyển một khoản ứng trước để nhà xuất khẩu cóvốn sản xuất và giao hàng
Nhà xuất khẩu phải cam kết bồi hoàn số tiền nhận ứng trước nếu khôngnộp đủ chứng từ phù hợp theo thời gian quy định
Loại L/C này được gọi là tín dụng điều khoản đỏ vì ngân hàng phát hànhkhi ghi điều khoản ứng trước đó vào định khoản có dùng mực đỏ để tập trung
sự chú ý tới L/C đặc biệt này
Loại L/C này tuy có lợi cho nhà xuất khẩu do được tài trợ tín dụng songrủi ro nảy sinh là tiền ứng trước đó có thể bị sử dụng không đúng mục đích.Người bán có thể lập chứng từ không hoàn lại được tiền ứng trước cho ngân
Trang 29hàng Do đó nó gây bất lợi và rủi ro cho nhà nhập khẩu và ngân hàng pháthành.
(6) Thư tín dụng tuần hoàn
Là loại L/C mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết hạn hiệu lực lại tựđộng có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời gian nhất định chođến khi hoàn tất hợp đồng
Thư tín dụng tuần hoàn có hai loại:
- Thư tín dụng tuần hoàn tích luỹ: Đây là loại L/C cho phép chuyển số dư
sang giai đoạn tiếp theo, cứ như vậy cộng dồn đến L/C cuối cùng Như vậy, nócho phép cộng dồn số tiền của L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/Ctrước chưa sử dụng hết
Loại L/C này làm cho vốn của nhà nhập khẩu (phần L/C chưa sử dụnghết) bị chiếm dụng trong thời gian từ lúc L/C trước hết hạn hiệu lực đến khi L/
C tiếp theo được mở
- Thư tín dụng tuần hoàn không tích luỹ: Đây là loại L/C không cho phép
chuyển số dư của giai đoạn trước sang giai đoạn kế tiếp Như vậy, nó khôngcho phép cộng dồn số tiền của L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/Ctrước chưa sử dụng hết
(7) Thư tín dụng chuyển nhượng
Thường là loại L/C không huỷ ngang cho phép chuyển từ người hưởnglợi ban đầu sang một hay nhiều bên khác (người hưởng lợi thứ hai) theo yêucầu của người hưởng lợi thứ nhất
Một L/C chuyển nhượng chỉ có thể chuyển nhưọng một lần những phầntiền chuyển nhượng mà không vượt quá số tiền của L/C
Thủ tục phí và lệ phí chuyển nhượng sẽ do người hưởng lợi thứ nhấtchịu
Tuy nhiên trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người hưởng lợi thứhai chịu nhiều rủi ro hơn cả, họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi thứnhất được người mua thanh toán Vì vậy, họ phải gánh chịu mọi rủi ro không
Trang 30những về người mua và ngân hàng phát hành mà còn về người hưởng lợi thứnhất và ngân hàng chuyển nhượng.
(8) Thư tín dụng giáp lưng
Là loại L/C được mở ra dựa trên cơ sở tiền của một L/C khác đã được
mở trước đó Loại L/C này thường được sử dụng nhiều trong phương thức giaodịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu Việc thực hiện quá trình thanh toántheo loại hình thư tín dụng này nói chung khá phức tạm: đặc biệt là những điềukiện về thời hạn, về bộ chứng từ vì thế rất hay có sự sai sót gây thiệt hại chocác bên
Nói chung, ngày nay trong thương mại quốc tế, hình thức mua hàng đổihàng ít nên L/C đối ứng hiếm khi được sử dụng
Trang 31CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
V Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Sở giao dịch I.
1 Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam luôn xứng đáng là ngân hàng xung kích phục vụ đầu tư phát triển.
Sáu năm sau ngày Ngân hàng Quốc gia của nước Việt Nam Dân chủcộng hòa non trẻ được thành lập, ngày 26 tháng 4 năm 1957 Thủ tướng Chínhphủ đã ký quyết định khai sinh Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (tiền thân củaNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam), một thành viên của hệ thống ngânhàng Việt Nam Suốt chặng đường 46 năm qua, dù với tên gọi nào, hoạt độngvới mô hình nào Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vẫn luôn là ngườilính xung kích trên mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển đấtnước
TỪ THỰC THI NHIỆM VỤ CẤP PHÁT VỐN ĐẦU TƯ XDCB (1957
- 1994)
Suốt 37 năm là người lính thực hiện cấp vốn ngân sách cho đầu tư xâydựng cơ bản (khoảng 42% NSNN hàng năm), Ngân hàng Kiến thiết đã hoànthành xuất sắc nhiệm vụ không chỉ cấp phát mà còn quản lý nâng cao hiệu quảvốn đầu tư thông qua việc tham gia thiết kế, thẩm định dự toán, kiểm tra khốilượng hoàn thành, nghiệm thu, cấp phát vốn và quyết toán công trình theo Điều
lệ cấp phát vốn đầu tư XDCB đầu tiên của nước ta (Nghị định 64 CP ngày19/11/1960), qua đó góp phần nâng cao hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí vốnđầu tư cho ngân sách
Trang 32Trong thời kỳ 1957 - 1964, đất nước hàn gắn vết thương chiến tranh,khôi phục kinh tế và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước chân ngườicán bộ ngân hàng đã đến từng công trình từ Mục Nam Quan đến bờ sông BếnHải với hàng trăm công trình đầu lòng của Chủ nghĩa xã hội như Đại thuỷ nôngBắc Hưng Hải, phục hồi các nhà máy điện Yên Phụ, Uông Bí, Vinh, xi măngHải Phòng, đài phát thanh Mễ Trì, trường đại học Bách Khoa, đại học Kinh tế -
Kế hoạch, hệ thống đường sắt từ Hà Nội tỏa đi Lạng Sơn, Thái Nguyên, HảiPhòng, Vinh và các tuyến đường quốc lộ then chốt, khu công nghiệp Cao - Xà
- Lá, khu gang thép Thái Nguyên, đường điện cao thế 110 Kv Việt Trì - ĐôngAnh - Thái Nguyên, nhà máy điện Bản Thạch - Thanh Hóa, nhà máy đườngVạn Điển, Supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy phân đạm Hà Bắc 10 nămphục vụ nền kinh tế thời chiến 1965 - 1975, Ngân hàng Kiến thiết đã cấp phátgần 30.500 tỷ đồng để phục hồi các công trình giao thông vận tải, thuỷ điệnThác Bà, đường ống dẫn dầu và các công trình công nghiệp khác
Đất nước thống nhất, 15 năm (1976 - 1990) phục vụ đường lối phát triểnkinh tế của Đảng, Nhà nước, Ngân hàng Kiến thiết đã cấp phát xây dựng cáccông trình thuộc các ngành, lĩnh vực then chốt, góp phần tăng năng lực sảnxuất của nền kinh tế Trong số hàng ngàn công trình mà ngân hàng cấp phátthời kỳ này có 358 công trình lớn trên hạn ngạch, có thể kể đến: khôi phụcđường sắt Thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đài truyền hình Việt Nam,thuỷ điện Hoà Bình, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, xi măng Bỉm Sơn, HoàngThạch, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, thuỷ lợi Dầu Tiếng
37 năm, một chặng đường để hình thành nên một nền móng, một đội ngũ
và một nghề nghiệp truyền thống phục vụ đầu tư phát triển Đó là hành trangquý giá của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cho những chặng đường phát triểntiếp theo
ĐẾN 300 TỶ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TIÊN (1990)
Năm 1990 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động củaNgân hàng ĐT & PT Việt Nam Lần đầu tiên Ngân hàng ĐT & PT được Nhànước giao 300 tỷ để thử nghiệm một cơ chế cung ứng vốn mới cho đầu tư pháttriển của Đảng theo hướng "mọi công trình, mọi dự án sản xuất kinh doanh có
Trang 33thu hồi vốn dưới mọi hình thức đều phải đi vay để đầu tư" Cơ chế mới gắn bóchặt chẽ với trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc hoàn trả vốn vay, nâng caohiệu quả sử dụng vốn và từng bước khắc phục tình trạng bao cấp trong đầu tưXDCB.
Một vấn đề bức thiết được đặt ra cho ngân hàng là làm thế nào để chovay mà vốn vay phát huy được hiệu quả và đảm bảo khả năng thu hồi Với mộtđội ngũ cán bộ có kinh nghiệm trong lĩnh vực phân tích, thẩm định hiệu quả dự
án đầu tư, năm 1990, Ngân hàng ĐT & PT đã cho vay 600 dự án vừa và nhỏđầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị của các doanh nghiệp với mục tiêu vựcdậy sản xuất Ngay trong năm đầu tiên đã thu được 30 tỷ đồng và cơ bản thuhết nợ vào năm 1995 Trong vòng 5 năm từ 1990-1995, Ngân hàng ĐT &PTViệt Nam đã cung ứng vốn cho hàng nghìn dự án đầu tư phát triển với doanh
số cho vay đạt hơn 6.300 tỷ đồng
Bước khởi đầu thành công trong thử nghiệm cơ chế mới đã tạo ra tiền đềcho Ngân hàng ĐT & PT tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới: đi vay đểcho vay phục vụ đầu tư phát triển
ĐẾN CHÍNH SÁCH TẠO VỐN PHỤC VỤ CHO VAY ĐẦU TƯ PHÁTTRIỂN
Muốn có công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì phải bắt đầu đầu tư, trướchết là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Phục vụ đầu tư phát triển phải bắt đầu từviệc trả lời câu hỏi nguồn vốn để cho vay Chính sách tạo vốn cho vay dài hạn,
do đó được coi là nền tảng của hoạt động ngân hàng Ngay từ năm 1993, Ngânhàng ĐT & PT đã vươn lên từng bước tự lo nguồn vốn phục vụ cho vay đầu tưphát triển Với chủ trương "vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước làquan trọng", Ngân hàng đã luôn chủ động, sáng tạo, đi đầu trong việc áp dụngcác hình thức huy động vốn bằng VNĐ và ngoại tệ Qua nhiều đợt phát hànhtrái phiếu định kỳ từ năm 1994 đến nay đã huy động được hơn 8.000 tỷ đồngvốn trung, dài hạn Đồng thời đã góp phần hình thành nên một sản phẩm mớicho thị trường tài chính Cho đến nay, trái phiếu được coi là sản phẩm đặctrưng của Ngân hàng ĐT &PT, là hình thức đầu tư an toàn, mang lại lợi íchkinh tế cao và được dân chúng hưởng ứng gửi tiền với số lượng lớn
Trang 34Bên cạnh đó, ngân hàng ĐT & PT cũng tranh thủ tối đa nguồn vốn nướcngoài thông qua nhiều hình thức vay vốn khác nhau như vay thương mại, vayhợp vốn, vay qua các hạn mức thanh toán, vay theo các hiệp định khung về tàitrợ xuất nhập khẩu Với chính sách tạo vốn hiệu quả, từ 300 tỷ đồng năm 1990,nguồn vốn huy động của ngân hàng đã đủ đáp ứng cho một dư nợ đầu tư pháttriển gần 25.000 tỷ đồng vào năm 2001
Đặc biệt từ năm 1999, sau Quyết định 13/ TTg của Thủ tướng Chínhphủ, các dự án kế hoạch Nhà nước được chuyển sang vay tại Quỹ Hỗ trợ pháttriển, Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam mạnh sang tự tìm kiếm để cho vay các dự
án theo cơ chế tín dụng thương mại Với phương châm "hiệu quả kinh doanhcủa bạn hàng là mục tiêu hoạt động của Ngân hàng" và với nhiều hình thức tíndụng phong phú, ngân hàng đã chủ động tìm đến khách hàng, lựa chọn các dự
án có hiệu quả để cho vay đầu tư tập trung vào các dự án, chương trình lớn củaNhà nước, các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng kinh tế đặc thù như miền núi,Tây Nguyên, miền trung, đồng bằng sông Cửu Long Doanh số cho vay đầu tưphát triển của Ngân hàng ĐT & PT liên tục tăng lên, năm sau gấp đôi nămtrước và đạt 60.000 tỷ trong hơn 10 năm đổi mới
Ngân hàng ĐT & PT đã trở thành đối tác tin cậy của các chủ đầu tư.Hàng loạt các dự án lớn thuộc các ngành điện lực, thép, dầu khí, xi măng đang là đối tượng phục vụ của hệ thống Ngân hàng ĐT & PT Tấm Huânchương độc lập hạng III được Đảng và Nhà nước trao tặng là phần thưởngxứng đáng cho những nỗ lực không biết mệt mỏi phục vụ cho đầu tư phát triểntrong 10 năm đổi mới của tập thể cán bộ Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam
VÀ PHỤC VỤ NHIỀU HƠN CHO CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI
HÓA ĐẤT NƯỚCNghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IX đã khẳng định tiếp tục đường lốiđổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng đất nước ViệtNam thành một nước công nghiệp mà trong đó hệ thống ngân hàng với nhiệm
vụ thực thi chính sách tiền tệ, huy động và tập trung mọi nguồn vốn phục vụphát triển kinh tế, là một kênh quan trọng để thực hiện Trong đó có đóng gópnhỏ bé của Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam Với nghề nghệp truyền thống,
Trang 35Ngân hàng ĐT & PT đang nỗ lực, tập trung thực hiện đổi mới theo hướng pháttriển bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, gópphần cùng các ngân hàng thương mại Nhà nước phát huy vai trò chủ lực thựchiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hộitheo đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động của Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam(BIDV) là:
- Vì sự nghiệp đầu tư phát triển và mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
- Vì hiệu quả sản xuất kinh doanh của bạn hàng
- Vì sự phát triển bền vững và hội nhập khu vực và quốc tế
Trong quá trình thực hiện, Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam luôn:
- Cùng các ngân hàng quốc doanh, là lực lượng chủ đạo thực hiện có hiệu quảchính sách tiền tệ quốc gia nhằm ổn định tiền tệ, phát triển kinh tế - xã hội
- Phát huy truyền thống ngân hàng chủ lực trong phục vụ đầu tư phát triển,xây dựng lực lượng sản xuất tiên tiến
- Vì sự hợp tác và cùng phát triển trong quan hệ hợp tác quốc tế
- Phát huy nội lực giữ vững vị thế và uy tín của BIDV trong nước và trên thịtrường quốc tế
Phương châm thực hiện:
Toàn hệ thống BIDV nhận thức đầy đủ những thuận lợi, cơ hội cũng nhưkhó khăn thách thức to lớn, đó là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ mới và đổi mới mạnh mẽ giá trị - điều hành theo đòi hỏi của thông lệ quốc tế Tiến lên hay tụt hậu luôn luôn là thách thức thường xuyên và liên tục đối với mỗi người, mỗi bộ phận, mỗi công việc và đối với toàn hệ thống Tranh thủ thời cơ để giữ vứng và đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng đáp ứng nhu cầu vốn, dịch vụ của khách hàng; đồng thời tăng trưởng phải đặt trên cơ sở bảo đảm hiệu quả và an toàn hệ thống
2 Sự ra đời và phát triển của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam
Trang 362.1 Sự ra đời
Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 28 tháng 3 năm 1991, Sở giao dịch I Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam là một trong những đơn vị vữngmạnh và luôn đi đầu về mọi mặt trong hệ thống Ngân hàng ĐT & PT ViệtNam Hiện nay, SGDI có trụ sở tại số 53 Quanh Trung - quận Hai Bà Trưng -
-Hà Nội Với hơn 200 cán bộ công nhân viên, SGDI có bộ máy đầy đủ cácphòng ban của một chi nhánh ngân hàng và hoạt động rất hiệu quả
Từ năm 1993 trở về trước, do chịu ảnh hưởng vì những tồn tại của cơchế quản lý tập trung, sự sụp đổ và phá sản của hàng loạt Quỹ tín dụng nhândân, cơ sở vật chất còn nghèo nàn cùng với sự khó khăn của đất nước, sảnphẩm dịch vụ của SGDI còn đơn điệu, khách hàng thưa thớt, vốn không có thịtrường tiêu thụ Đội ngũ cán bộ chủ yếu được đào tạo trong cơ chế cũ, đông về
số lượng song yếu về chất lượng, quy mô hoạt động còn khiêm tốn Nguồn tiềngửi tại SGDI hầu hết là từ dân cư với thời hạn ngắn gây ảnh hưởng tới nhữnghoạt động cho vay trung và dài hạn Tuy đứng trước những khó khăn to lớnnhư vậy nhưng từ năm 1993 đến nay, do nhu cầu đổi mới nền kinh tế, toànngành ngân hàng nói chung và Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triểnViệt Nam nói riêng cũng đã có sự đổi mới, cải tiến và phát triển vượt bậc nhưđầu tư, tăng cường mạnh mẽ vào cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ, đa dạnghóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu phong phúcủa mọi thành phần kinh tế Ngoài các loại tín dụng truyền thống như tín dụngngắn, trung và dài hạn thì SGDI còn tham gia xây dựng, thực hiện các nghiệp
vụ mới như tài trợ uỷ thác, cho vay thanh toán công nợ, đồng tài trợ, bảo lãnh
Cũng vào thời gian này, đất nước đã dần vững bước vào thời kỳ đổi mới,thúc đẩy xuất nhập khẩu ngày càng tăng mạnh Cộng với sự nỗ lực của bảnthân, hoạt động kinh doanh đối ngoại đã phát triển và chiếm một vị trí quantrọng trong bảng tổng kết của SGDI Đội ngũ cán bộ cũng đã được đào tạo lạivới những kiến thức tiến bộ và dần thích ứng với cơ chế thị trường Hoạt độngkinh doanh đã bắt đầu phát triển mạnh, đồng đều trên các mặt nghiệp vụ,không ngừng mở rộng mạng lưới kinh doanh và phát triển sản phẩm mới Vớinhững kết quả đã đạt được, Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển
Trang 37Việt Nam đã và đang luôn đi đầu, được đánh giá là xuất sắc nhất trong toàn hệthống và tấm huân chương lao động hạng ba của Chính phủ trao tặng chính làphần thưởng xứng đáng minh chứng cho những thành tích đó.
2.2 Hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam trong những năm gần đây.
Ngay từ khi mới thành lập, SGDI đã có những bước tiến quan trọngtrong hoạt động kinh doanh tiền tệ như: chuyển đổi mô hình tổ chức từ cơ chếvừa dọc vừa ngang sang bộ máy của một ngân hàng thương mại; củng cố lạimạng lưới quỹ tiết kiệm trực thuộc và các phòng giao dịch tại khu vực tậptrung dân cư và kinh tế phát triển; bước đầu thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ;xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý điều hành kinh doanh theo nguyên tắc bảođảm tập trung thống nhất, phát huy được tính năng động, sáng tạo Đặc biệt,cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây, SGDIcũng đã thu được những thành quả đáng khích lệ trong hoạt động kinh doanh,tạo dựng được một vị trí quan trọng trong hệ thống cũng như trong nền kinh tế.Qua nhiều năm đổi mới và tự hoàn thiện mình, SGDI đã học hỏi được nhiềukinh nghiệm của các nước phát triển, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật đểtheo kịp với trình độ nghiệp vụ ngân hàng của toàn cầu, khuyếch trương quan
hệ buôn bán trên các thị trường lớn và đầy tiềm năng Hiện nay, SGDI thực sựvững chắc đứng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt đồng thời ngày càngkhẳng định mình là một đơn vị đứng đầu trong hệ thống, cố gắng vươn lên vớiphương châm “uy tín - hiệu quả - luôn mang đến sự hài lòng cho mọi kháchhàng” Để có được vóc dáng mới như trên, đội ngũ nhân viên của Sở đã hết sức
nỗ lực cố gắng xây dựng các chính sách kinh doanh phù hợp
Trước hết, SGDI đã tiến hành đổi mới chính sách huy động vốn, trởthành đơn vị có nguồn vốn lớn nhất toàn hệ thống
SGDI cải tiến chính sách huy động vốn bằng cách áp dụng công nghệhiện đại, tiết kiệm chi phí quản lý, từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra mức lãi suất
ưu đãi đồng thời đa dạng hóa các hình thức cũng như phương thức huy động.Đặc biệt là thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ là rất tốt,gây được hình ảnh đẹp và lòng tin cho khách hàng Hiện nay, SGDI đã xây
Trang 38dựng thành công mô hình “phòng thanh niên kiểu mẫu” - nơi tập trung một độingũ thanh niên có trình độ, năng động, sáng tạo, nhiệt tình luôn chu đáo vớikhách hàng vì thế luôn tập trung khối lượng giao dịch lớn nhất của SGDI trongcông tác huy động vốn Không chỉ tập trung đơn thuần vào chính sách huyđộng, SGDI còn luôn chú ý đẩy mạnh cải tiến các mảng hoạt động khác như tíndụng, thanh toán cũng như các tiện ích hỗ trợ khác nhằm đáp ứng tối đa nhucầu của khách hàng, nâng cao uy tín của Sở nhằm thu hút thêm nhiều kháchhàng tham gia vào hoạt động huy động vốn của mình.
Về khách quan, mấy năm gần đây, nhờ vào chính sách mới thông thoángcủa Nhà nước nên số lượng doanh nghiệp được thành lập tăng vọt Nhờ đó màngân hàng có điều kiện thiết lập và phát triển các mối quan hệ với những đơn
vị đó Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho vốn huy động từ các doanhnghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động Có thể nói điềunày báo hiệu một tín hiệu đáng mừng vì khi quan hệ với các doanh nghiệp,ngân hàng sẽ có điều kiện để phát triển các dịch vụ khác như thanh toán quốc
tế, cho vay, tài trợ đáp ứng nhu cầu đa dạng của họ đồng thời nâng cao thunhập cho ngân hàng
Đi đôi với nghiệp vụ huy động vốn, SGDI còn chú trọng tới nghiệp vụtín dụng Tốc độ tăng của bộ phận tiền gửi là rất lớn và khiến cho nhiều ngườiphải giật mình Đây cũng là điều kiện thuận lợi để SGDI phát triển hoạt độngkinh doanh của mình bởi xét từng món thì tiền gửi không kỳ hạn có tính chấtkhông ổn định nhưng nếu xét về tổng thể thì ngược lại nên ngân hàng có thể sửdụng nguồn vốn này mở rộng hoạt động tín dụng với chi phí huy động thấp, tạođiều kiện giảm lãi suất cho vay đối với đối với những khách hàng truyền thống
và thu hút thêm khách hàng tiềm năng
Cùng với sự tăng trưởng tín dụng, SGDI cũng đã chú trọng trong côngtác nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường đôn đốc thu hồi nợ quá hạn và nợkhó đòi Ngoài ra, SGDI còn tiến hành một loạt các biện pháp đồng bộ nângcao chất lượng tín dụng như thắt chặt các điều kiện đảm bảo, thế chấp khi cấptín dụng cũng như theo dõi chặt chẽ và tích cựu đôn đốc tình hình thu hồi công
nợ của các doanh nghiệp
Trang 39Bằng biện pháp tích cực khơi tăng nguồn vốn, đẩy mạnh cho vay, tăngtrưởng dư nợ lành mạnh, đa dạng hóa các nghiệp vụ, thực hiện tiết kiệm chitiêu nên SGDI luôn kinh doanh có lãi, tạo nguồn tích lũy và hàng năm đónggóp cho NSNN một nguồn thu đáng kể.
VI Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao
dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
1 Khái quát về tình hình thanh toán quốc tế tại SGDI
Trong những năm gần đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
đã có sự phát triển khá hơn so với những năm trước do sự phục hồi kinh tế của các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malayxia là những nước có quan hệ nhiều với Việt Nam và do các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong nước đã thâm nhập được vào một số thị trường mới tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu càng thêm phát triển Cụ thể lànhững năm 1999, xuất khẩu đạt 11,52 tỷ USD tăng 23,1% so với năm 1998 trong khi đó nhập khẩu đạt 11,63 tỷ USD khiến cho thâm hụt thương mại chỉ còn 113 triệu USD - mức thấp nhất trong vòng 7 năm qua
Cùng với sự phát triển hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của đấtnước, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêngcủa Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam cũng từng bướcphát triển vững chắc
Do có đội ngũ cán bộ trẻ, năng động lại biết sử dụng các biện pháp thuhút khách hàng hợp lý, cố gắng chủ động về ngoại tệ và không ngừng mở rộngmối quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng uy tín trên thế giới nhằm cải thiện chấtlượng thanh toán và giảm chi phí nên trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, Sởgiao dịch I đã đạt được tốc độ tăng trưởng ổn định và nhanh chóng
Bảng 1 Tình hình thanh toán xuất nhập khẩu qua Sở giao dịch I trong những năm gần đây
n v : 1.000 USD Đơn vị: 1.000 USD ị: 1.000 USD
Trang 40năm gần đây và đặc biệt là do sự nhạy bén trong việc đáp ứng nhu cầu này của bản thân SGDI Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế của
SGDI cũng không thể tránh khỏi những lúc thăng trầm Năm 1998, tổng doanh thu bị sụt giảm tới 7,416 triệu USD tương ứng với 15% so với
năm 1997 Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là do sự suy thoái kinh tế Châu Á đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế khu vực và làm
suy giảm hoạt động xuất nhập khẩu Năm 1999, tổng doanh số thanh
toán quốc tế của SGDI không những đã được thực sự phục hồi mà còn bước vào giai đoạn tăng trưởng vượt bậc, năm sau cao năm trước tới hơn
100 triệu USD Điều này cho thấy SGDI đã gây dựng được uy tín lớn
với khách hàng trong mảng hoạt động này
Thành công càng được khẳng định hơn vào năm 2002 khi mà kim ngạchthanh toán lên tới 680 triệu USD, tăng 23,64% so với năm 2001 đóng góp mộtphần không nhỏ cho kim ngạch toàn hệ thống Như vậy, đối với SGDI thìthanh toán quốc tế vẫn là một hoạt động kinh doanh đầy tiềm năng và cần đượccải tiến chất lượng thưòng xuyên nhằm đạt được những thành quả cao hơntrong tương lai Để đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi SGDI tăng cường những